1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

quy trình xử lý các công việc của ủy ban tài chính – ngân sách

11 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 102,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy trình xử lý các công việc của Ủy ban Tài chính – Ngân sáchMục đích Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cấp từ cấp Vụ, Tiểu ban, Thường trực Ủy ban, Thành viên

Trang 1

Quy trình xử lý các công việc của Ủy ban Tài chính – Ngân sách

GIỚI THIỆU

Những năm qua, trong tiến trình đổi mới của đất nước, cùng với việc tăng cường công tác lập pháp, Quốc hội đã chú trọng và chủ động hơn trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó có vấn

đề tài chính, ngân sách Quốc hội đã ngày càng thể hiện rõ là cơ quan có quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những chính sách cơ bản của đất nước Đồng thời, Quốc hội cũng là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn

bộ hoạt động của Nhà nước Quốc hội đã tiến hành giám sát khá toàn diện việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng được thể chế hóa trong các Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ tài chính, về chấp hành ngân sách Nhà nước, về chính sách tài khóa Những vấn đề tài chính, ngân sách Nhà nước được Quốc hội quyết định và thực hiện giám sát đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đóng góp tích cực vào việc kiện toàn bộ máy Nhà nước, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Quốc hội với các cơ quan chức năng, nhất là trong việc tìm kiếm biện pháp giải quyết các vấn đề bức xúc về tài chính, tiền tệ của đất nước Trong đó, Ủy ban Tài chính, Ngân sách là đại diện, là cơ quan gác cổng cho Quốc hội về các vấn đề tài chính, ngân sách, tham mưu cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội quyết định các vấn đề liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngân sách Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy ban là nhiệm vụ thường niên, cần thiết

để các hoạt động thẩm tra, giám sát của Ủy ban ngày càng có chất lượng, có tính phản biện cao Do vậy, việc xây dựng quy trình tác nghiệp hay chính là quy trình sử lý công việc chuyên môn là rất quan trọng, nó đảm bảo việc kiểm soát hệ thống các văn bản có tính chất liên quan, ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, tài chính của đất nước, đồng thời giúp cho các Quốc hội yên tâm, tin tưởng khi quyết định các vấn đề quan trọng về tài chính, ngân sách, quyết định

sử dụng đồng thuế của nhân dân đóng góp có hiệu quả nhất

Trang 2

1 Quy trình xử lý các công việc của Ủy ban Tài chính – Ngân sách

Mục đích

Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cấp từ cấp

Vụ, Tiểu ban, Thường trực Ủy ban, Thành viên Ủy ban, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội, các cơ quan khác của Quốc hội, Chính phủ trong việc thẩm tra trình Quốc hội xem xét các Báo cáo về ngân sách nhà nước, các dự án Luật có liên quan

Nguyên tắc

- Tuân thủ quy trình của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội; thực hiện theo Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003

về việc ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước

- Bảo đảm sự chỉ đạo tập trung của Chủ nhiệm Ủy ban, Vụ trưởng Vụ TC-NS; phát huy tính sáng tạo, chủ động của cán bộ Vụ Tài chính - Ngân sách

và các đại biểu Quốc hội

- Bảo đảm xử lý công việc khách quan, công khai, rõ người thực hiện, rõ công việc cần triển khai

- Cho phép xử lý linh hoạt, mềm dẻo trong một số trường hợp cụ thể, vừa bảo đảm không máy móc theo quy trình, vừa trên cơ sở được sự nhất trí, đồng ý của người có thẩm quyền

- Bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số

Về quy trình chung

Thực hiện các nhiệm vụ được phân công của Ủy ban thường vụ Quốc

hội, Lãnh đạo Quốc hội giao cho Ủy ban thực hiện chức năng thẩm tra, giám sát các vấn đề về ngân sách, các dự án Luật liên quan Ủy ban Tài chính - Ngân sách có trách nhiệm xây dựng các Báo cáo thẩm tra, Báo cáo giám sát trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội cho ý kiến, xem xét, quyết định theo chức năng, thẩm quyền

Trang 3

Quy trình phân công:

- Chủ nhiệm Ủy ban giao cho các Trưởng Tiểu ban có liên quan chỉ đạo trực tiếp việc xây dựng nội dung các Báo cáo thẩm tra, báo cáo giám sát

- Trưởng Tiểu ban có trách nhiệm chỉ đạo Lãnh đạo Vụ (Vụ trưởng hoặc

Vụ phó phụ trách nhóm) trong việc xây dựng nội dung Báo cáo theo tiến độ

- Lãnh đạo Vụ tiếp nhận ý kiến chỉ đạo của Đ/c Trưởng Tiểu Ban, chỉ đạo các Đ/c chuyên viên thuộc các nhóm dự thảo nội dung các Báo cáo

Quy trình họp thẩm tra các Báo cáo:

- Tiểu ban tổ chức các cuộc họp, làm việc với các Bộ, ngành của Chính

phủ để tiến hành thẩm tra sơ bộ (do Trưởng các tiểu ban chủ trì thực hiện;

trong trường hợp cần thiết có thể mời của các Đồng chí trong Thường trực Ủy ban tham gia nhưng không bắt buộc)

- Thường trực Ủy ban mời họp, làm việc với các Bộ, ngành của Chính phủ để tiến hành thẩm tra chính thức các nội dung liên quan (Chủ nhiệm Ủy ban chủ trì phiên họp; trong trường hợp Chủ nhiệm Ủy ban không tham dự thì

ủy quyền cho Trưởng Tiểu ban chủ trì) Kết thúc họp, Trưởng Tiểu ban chuẩn

bị ý kiến của Tiểu ban gửi các Đ/c Thường trực Ủy ban

- Họp toàn thể Ủy ban Tài chính - Ngân sách thẩm tra chính thức về các

nội dung liên quan Trưởng Tiểu ban chuẩn bị Báo cáo ý kiến của Thường trực

Ủy ban (sau khi đã xin ý kiến các Đ/c Thường trực Ủy ban) gửi các Đ/c thành viên Ủy ban tại phiên họp toàn thể Ủy ban

Quy trình trình duyệt Báo cáo:

Chuyên viên -> Phó Vụ trưởng phụ trách nhóm -> Vụ trưởng -> Trưởng Tiểu ban và Phó trưởng Tiểu ban -> Thường trực Ủy ban -> Chủ nhiệm Ủy ban

Đối với Báo cáo thẩm tra trình Ủy ban TVQH, Quốc hội

1 Đ/c chuyên viên theo sự phân công của Đ/c Phó Vụ trưởng phụ trách nhóm dự thảo Báo cáo thẩm tra lần 1, gửi xin ý kiến Đ/c Vụ phó phụ trách nhóm; Đ/c Vụ phó phụ trách nhóm cho ý kiến, gửi xin ý kiến Đ/c Vụ trưởng;

Trang 4

Đ/c Vụ trưởng cho ý kiến và trình xin ý kiến Đ/c Phó trưởng Tiểu ban và Đ/c Trưởng Tiểu ban Dự thảo Báo cáo thẩm tra lần 1 được xây dựng sau khi có Tờ trình của Chính phủ gửi Ủy ban Tài chính - Ngân sách tại cuộc họp Thường trực Ủy ban

2 Sau phiên họp toàn thể Ủy ban, dự thảo Báo cáo thẩm tra lần 2, hoàn chỉnh thêm 01 bước trên cơ sở tiếp thu ý kiến các Đ/c thành viên Ủy ban, gửi xin ý kiến Vụ trưởng Đ/c Vụ trưởng gửi xin ý kiến Đ/c Phó trưởng Tiểu ban

và Đ/c Trưởng Tiểu ban, hoàn thiện Báo cáo gửi xin ý kiến các Đ/c Thường trực Ủy ban lần 2 (có cả Đ/c Chủ nhiệm Ủy ban)

3 Dự thảo lần 3 Báo cáo thẩm tra sau khi tiếp thu ý kiến các Đ/c Thường trực Ủy ban lần 2, Đ/c Vụ trưởng chỉ đạo hoàn thiện Báo cáo, gửi xin

ý kiến trực tiếp Đ/c Trưởng Tiểu ban và Chủ nhiệm Ủy ban (gửi xin ý kiến đồng thời)

4 Dự thảo lần 4 hoặc lần 5 (nếu có) do Chủ nhiệm Ủy ban quyết định

và phê duyệt Đ/c Vụ Trưởng ký tắt, trình Đ/c Trưởng Tiểu ban, Chỉ sau khi có

ý kiến của Trưởng tiểu ban (ký tắt), báo cáo mới đủ điều kiện để trình Chủ nhiệm Ủy ban xem xét, ký Báo cáo thẩm tra, giám sát trình Ủy ban thường vụ

Quốc hội, Quốc hội (có mẫu trình ký kèm theo)

Chủ nhiệm Ủy ban xem xét, chỉnh sửa Báo cáo lần cuối trước khi ký duyệt Báo cáo (nếu thấy cần thiết, là vấn đề lớn, phức tạp thì có thể trao đổi lại với Đ/c Trưởng Tiểu ban hoặc Thường trực Ủy ban)

Đối với các Báo cáo thẩm tra có phạm vi hẹp, mức độ không phức tạp

do Chính phủ trình Ủy ban TVQH

Quy trình thiết kế, xây dựng và hoàn thiện Báo cáo ý kiến như đối với Báo cáo thẩm tra (ở Điều 4), tuy nhiên quy trình ngắn gọn, đơn giản hơn

Tiểu ban được phân công thẩm tra có trách nhiệm mời các Bộ, ngành, địa phương (nếu thấy cần thiết) đến làm việc về nội dung có liên quan; Đ/c Vụ trưởng gửi xin ý kiến các Đ/c Thường trực Ủy ban; tiếp thu ý kiến và trình Đ/c

Trang 5

Vụ trưởng, Đ/c Trưởng Tiểu ban và Đ/c Chủ nhiệm Ủy ban xem xét, quyết định ký gửi Ủy ban TVQH

Tài liệu gửi xin ý kiến Uỷ ban TVQH bao gồm: Tờ trình của Chính phủ; Báo cáo ý kiến của Ủy ban TCNS; Dự thảo Thông báo ý kiến của Ủy ban TVQH gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các tài liệu khác có liên quan

Đối với các Thông báo ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:

Các nhóm dự thảo công văn gửi xin ý kiến Đ/c Vụ trưởng, tiếp thu gửi xin ý kiến Trưởng Tiểu ban; tiếp thu, gửi xin ý kiến các Đ/c Thường trực Ủy ban

Hoàn thiện văn bản gửi xin ý kiến (tài liệu gửi xin ý kiến như phần trên)

các Đ/c thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội (trong các trường hợp quan trọng, liên quan đến các vấn đề lớn, nhạy cảm cần xin ý kiến Đ/c Phó Chủ tịch Quốc hội phụ trách trước khi gửi xin ý kiến các Đ/c thành viên Ủy ban TVQH

để tạo sự đồng thuận, thống nhất)

Tiếp thu và giải trình ý kiến đóng góp của các Đ/c thành viên Ủy ban TVQH, gửi xin ý kiến Đ/c Trưởng Tiểu ban, có văn bản trình Đ/c Chủ nhiệm

Ủy ban ký trình Chủ tịch Quốc hội hoặc Phó Chủ tịch Quốc hội ký văn bản (có văn bản giải trình những vấn đề tiếp thu, những vấn đề không tiếp thu kèm theo)

Trong trường hợp được sự nhất trí của Lãnh đạo Quốc hội, ở một số văn bản của Ủy ban TVQH không cần gửi xin ý kiến của các Đ/c thành viên Ủy ban TVQH mà trình trực tiếp Lãnh đạo Quốc hội xem xét, ký ban hành văn bản

Đối với các Báo cáo góp ý về cơ chế, chính sách, đề án do các cơ quan Chính phủ gửi đến Ủy ban Tài chính – Ngân sách.

Quy trình thiết kế, xây dựng và hoàn thiện Báo cáo góp ý chủ yếu tập trung vào Đ/c Vụ trưởng, Phó Trưởng Tiểu ban, Trưởng Tiểu ban và Chủ nhiệm Ủy ban; gửi các Đ/c Thường trực Ủy ban biết

Trang 6

Đ/c Chuyên viên xây dựng dự thảo đóng góp ý kiến -> Đ/c Phó Vụ trưởng -> Đ/c Vụ trưởng -> Đ/c Phó Trưởng Tiểu ban và Đ/c Trưởng Tiểu ban -> xin ý kiến Chủ nhiệm Ủy ban -> Tiếp thu ý kiến Chủ nhiệm Ủy ban, trình Đ/c Trưởng Tiểu ban xem xét, ký văn bản góp ý gửi các cơ quan

Đối với Báo cáo kết quả giám sát theo chuyên đề.

Quy trình thiết kế, xây dựng và hoàn thiện Báo cáo giám sát như đối với Báo cáo thẩm tra (Điều 4) nhưng cần thiết phải:

- Gửi xin ý kiến các Đ/c thành viên Đoàn giám sát

- Đối với Báo cáo giám sát của Ủy ban TCNS: gửi xin ý kiến các Đ/c thành viên Ủy ban TCNS

- Đối với Báo cáo giám sát của Ủy ban TVQH: phải chuẩn bị Báo cáo

và các tài liệu liên quan (nếu có), trình bày tại phiên họp Ủy ban TVQH

Đối với các Báo cáo giám sát tại các địa phương; Báo cáo công tác nước ngoài

- Chậm nhất 10 ngày sau khi kết thúc chuyến công tác, Đoàn giám sát phải hoàn thành Báo cáo giám sát gửi các Đ/c Ủy ban TVQH về các nội dung

mà Đoàn giám sát đã đến làm việc tại các địa phương

- Báo cáo giám sát của địa phương do Đ/c Trưởng đoàn phân công thành viên trong Đoàn xây dựng, xin ý kiến các Đ/c thành viên trong Đoàn, trình Trưởng Đoàn giám sát xem xét, ký gửi Ủy ban TVQH và các thành viên Đoàn giám sát

- Đối với các Báo cáo công tác nước ngoài: do Đ/c Trưởng đoàn phân công thành viên trong Đoàn xây dựng, xin ý kiến các Đ/c thành viên trong Đoàn, trình Đoàn xem xét, ký gửi Ủy ban TVQH và các thành viên Đoàn công tác Trong trường hợp cần thiết, Chủ nhiệm Ủy ban có thể quyết định tổ chức Tọa đàm để phổ biến kết quả, kinh nghiệm nước ngoài cho cán bộ Vụ và thành viên Ủy ban Tài chính- Ngân sách

Đối với Công văn đề nghị báo cáo, giấy mời họp, báo cáo công tác tuần, tháng, quý, năm

Trang 7

Công văn đề nghị Báo cáo: các Bộ, ngành, cơ quan trung ương, các địa phương và các cơ quan hữu quan khác báo cáo nội dung thuộc phạm vi giám sát theo nội dung yêu cầu của Ủy ban TCNS; chuyên viên được phân công (theo nội dung của từng nhóm) dự thảo Công văn, chuyển Đ/c Vụ phó, nhóm trưởng phụ trách nhóm chỉnh sửa, gửi xin ý kiến Đ/c Vụ trưởng, Đ/c Trưởng Tiểu ban và Chủ nhiệm Ủy ban cho ý kiến Các Đ/c Trưởng tiểu ban thay mặt

Ủy ban ký gửi loại Công văn này

Đối với giấy mời họp và Thông báo kết luận cuộc họp Thường trực Ủy ban, Ủy ban: trên cơ sở kế hoạch công tác tháng, quý, năm Chủ nhiệm Ủy ban phân công Đ/c Phó Chủ nhiệm Ủy ban phụ trách công tác văn phòng ký gửi giấy mời họp toàn thể Ủy ban; Phó Vụ trưởng phụ trách công tác văn phòng xem xét, xin ý kiến Chủ nhiệm Ủy ban, trình Phó Chủ nhiệm Ủy ban phụ trách công tác văn phòng ký gửi

Giấy mời họp Thường trực Ủy ban liên quan đến nội dung công tác chuyên môn của Trưởng Tiểu ban do Đ/c Trưởng Tiểu ban ký gửi sau khi đã thống nhất với Chủ nhiệm Ủy ban (Đ/c chuyên viên dự thảo giấy mời, Thông báo gửi Lãnh đạo vụ và trưởng nhóm; gửi Vụ trưởng cho ý kiến, trình Trưởng Tiểu ban ký ban hành)

Đối với Báo cáo công tác tuần, tháng, quý, năm:

Do Tiểu ban thị trường và văn phòng chuẩn bị; Đ/c chuyên viên nhóm văn phòng gửi xin kế hoạch công tác tới các Đ/c Thường trực và các nhóm; tổng hợp gửi xin ý kiến các Đ/c Lãnh đạo Vụ và trưởng nhóm; tổng hợp xin ý kiến Đ/c Vụ trưởng; tiếp thu ý kiến của Vụ trưởng trình Phó Chủ nhiệm phụ trách công tác văn phòng ký gửi

Đối với các Văn bản trình vượt cấp do Đ/c Chủ nhiệm Ủy ban xem xét,

ký gửi

Đối với việc xây dựng Luật và Nghị quyết của Quốc hội

Trang 8

Thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2003; riêng Nghị quyết về dự toán NSNN thực hiện quy trình Phụ lục

số 2

2 Những tồn tại khi thực hiện quy trình làm việc như trên:

- Quy trình còn quá cứng nhắc, nhiều khi không linh động, đôi lúc làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các nhiệm vụ của Ủy ban

- Quy trình tác nghiệp, phối hợp giữa các tiểu ban, các thành viên trong nhóm chưa cao, còn thụ động trông chờ vào sự điều hành của lãnh đạo

- Có sự chênh lệch về trình độ, năng lực giữa các cán bộ của Vụ, do vậy việc phân công nhiệm vụ còn không đều, nhiều cán bộ quá nhiều việc, có cán

bộ không có việc gì làm do sợ ảnh hưởng đến tiến độ công việc nên không được lãnh đạo giao nhiệm vụ

- Chưa có sự chủ động tìm kiếm tài liệu, xây dựng các báo cáo thẩm tra trước khi Chính phủ trình dự án Luật, do vậy thời gian chuẩn bị còn ngắn làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng các báo cáo thẩm tra cũng như chất lượng các dự án Luật khi trình Quốc hội xem xét thông qua

- Tính bao quát của Ủy ban trên các lĩnh vực, nhiệm vụ được giao còn thiếu, do thiếu về con người, thông tin, đội ngũ tham mưu, giúp việc còn mỏng, chưa tương sứng với chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban

- Việc không chính thức hóa quy trình làm việc của Ủy ban cũng gây khó khăn cho các đồng chí mới, cũng như việc xem xét kiểm điểm trách nhiệm khi xẩy ra các vấn đề còn bất cập, không đúng

3 Giải pháp để nâng cao chất lượng quy trình hoạt động

- Cần ban hành ngay quy trình làm việc của Ủy ban

- Nâng cao sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm, cũng như các chuyên gia liên quan đến lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân sách để tiếp thu được các ý kiến, ý tưởng mới, đúng đắn góp phần nâng caoa chất lượng các báo cáo thẩm tra của Ủy ban

Trang 9

- Có quy định mở để sử lý các vấn đề cấp bách, đảm bảo tiến độ của Ủy ban

4 Áp dụng môn học quản trị trong công việc hiện nay:

Trong môn quản trị hoạt động có phần nói về việc xác định Một bản tuyên

bố sứ mệnh (Mission Statement), Sứ mệnh của công ty là một khái niệm dùng

để xác định các mục đích của công ty, những lý do công ty đó ra đời và căn cứ tồn tại, phát triển của nó Sứ mệnh của công ty chính là bản tuyên ngôn của công ty đó đối với xã hội, nó chứng minh tính hữu ích và các ý nghĩa trong sự tồn tại của công ty đối với xã hội

Thực chất bản tuyên bố về sứ mệnh của công ty tập trung chỉ làm sáng tỏ một vấn đề hết sức quan trọng: "công việc kinh doanh của công ty nhằm mục đích gì?" Phạm vi của bản tuyên bố về sứ mệnh thường liên quan đến sản phẩm, thị trường khách hàng công nghệ và những triết lý khác mà công ty theo đuổi Như vậy có thể nói chính bản tuyên bố về sứ mệnh cho thấy ý nghĩa tồn tại của một tổ chức, những cái mà họ muốn trở thành, những khách hàng mà họ muốn phục vụ, những phương thức mà họ hoạt động

Nội dung của một bản sứ mệnh

• Khách hàng: ai là người tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của công ty?

• Sản phẩm hay dịch vụ cốt lõi: dịch vụ hay sản phẩm chính của công ty là gì?

• Thị trường: công ty cạnh tranh tại thị trường nào?

• Công nghệ: công nghệ có phải là mối quan tâm hàng đầu của công ty hay không?

• Sự quan tâm đối với vấn đề quan trọng khác: như sự sống còn, phát triển; khả năng sinh lời: công ty có ràng buộc với các mục tiêu kinh doanh nào khác hay không?

• Triết lý: đâu là niềm tin cơ bản, giá trị, nguyện vọng và các ưu tiên triết

lý của công ty?

Trang 10

• Tự đánh giá về mình: những năng lực đặc biệt hoặc ưu thế cạnh tranh chủ yếu của công ty là gì?

• Mối quan tâm đối với hình ảnh cộng đồng: hình ảnh cộng đồng có là mối quan tâm chủ yếu đối với công ty hay không?

• Mối quan tâm đối với nhân viên: thái độ của công ty với nhân viên như thế nào?

Với công việc hiện nay, thì việc xây dựng một bản sử mệnh cho cơ quan

là rất cần thiết, là kim chỉ nam, là đường lối thực hiện các mục tiêu, mục đích

đề ra, việc xây dựng chiến lược lâu dài cho Ủy ban, cũng nhưng cụ thể hóa các bước tiến, các nội dung cụ thể, xây dựng được một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời có khả năng phát triển, luân chuyển đi nhiều

vị trí công tác mới, có khả năng đảm đương được các vị trí trọng trách của đất nước, góp phần vào việc bảo đảm lợi ích hài hòa của Nhà nước và lợi ích của cộng đồng Đưa tầm quản lý tài chính, ngân sách, tiền tệ lên một bước mới, chặt chẽ hơn, trúng hơn, đúng hơn, coi việc sử dụng tiền của Nhà nước là việc

sử dụng đồng tiền của chính mình để chắc chiu, tính toán kỹ lưỡng mỗi khi quyết định sử dụng đồng thuế của nhân dân đóng góp

IV KẾT LUẬN

Việc xây dựng cho mỗi tổ chức một chiến lược hoạt động cụ thể là một việc làm hết sức cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, đơn vị Việc xây dựng một chiến lượng, quy trình hoạt động cụ thể tạo ra tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, cũng như đảm bảo mọi hoạt động được xuyên suốt, góp phần nâng cao hiệu suất làm việc, cũng như khai thác tối đa được năng lực trí tuệ của mõi thành viên trong tổ chức

Trong những năm gần đây, Quốc hội Việt Nam đã dần dần thể hiện được vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thể hiện được tiếng nói và nguyện vọng của đông đảo cử tri cả nước, đây là sự nỗ lực của các cơ quan của Quốc hội trong việc tham mưu, gác cổng cho Quốc hội sáng suốt quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân

Ngày đăng: 28/09/2018, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w