Đề tài nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, những khám phá trong đề tài
Trang 1NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng- Năm 2017
Trang 2NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
N ườ ướn n o ọ PGS TS Hoàn T n
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn ký và ghi rõ họ tên
Hồ Thị Hải Liên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 4
7 Kết cấu luận văn 4
8 Tổng quan tài liệu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 9
1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Các yếu tố cấu thành 10
1.1.3 Các lý thuyết về cấu trúc vốn 12
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn 18
1.2 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 20
1.2.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp và hiệu quả tài chính doanh nghiệp 20
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 21
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính 24
1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
Trang 5CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT NGÀNH VẬT LIỆU XÂY DỰNG 39
2.1.1 Giới thiệu khái quát ngành vật liệu xây dựng Việt Nam 39
2.1.2 Giới thiệu các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 40
2.1.3 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 40
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 42
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.2 Mô hình nghiên cứu 45
2.2.3 Dữ liệu nghiên cứu 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 59
3.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN 61
3.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY 62
3.3.1 Mô hình Pooled OLS 63
3.3.2 Kết quả hồi quy theo phương pháp hồi quy tác động cố định (FEM) 64
3.3.3 Kết quả hồi quy theo phương pháp ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM)66 3.3.4 Kết quả kiểm định Hausman 68
3.3.5 Kết quả kiểm định Modified Wald test 70
3.4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ CÁC BIẾN CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 76
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 76
4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 78
4.2.1 Đối với các cơ quan có thẩm quyền 78
Trang 64.2.2 Đối với các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng 83
4.2.3 Đối với các nhà đầu tư 83
4.3 HẠN CHẾ 83
4.4 HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 83
KẾT LUẬN 83 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản sao)
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
1.1 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây 36
2.1 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của các DN ngành
vật liệu xây dựng niêm yết trên TTCK VN 41
2.3 Kỳ vọng về dấu của các biến 54 2.4 Danh sách các công ty trong mẫu nghiên cứu 55 3.1 Phân tích mô tả dữ liệu các biến 60 3.2 Ma trận hệ số tương quan 61 3.3 Kết quả kiểm tra hiện tượng đa công tuyến 61 3.4 Kết quả hồi quy ROE theo phương pháp Pooled OLS 63 3.5 Kết quả hồi quy ROE theo phương pháp FEM 63 3.6 Tóm tắt kết quả hồi quy ROE theo phương pháp FEM 65 3.7 Kết quả hồi quy ROE theo phương pháp REM 64 3.8 Tóm tắt kết quả hồi quy ROE theo phương pháp REM 67 3.9 Kết quả kiểm định Hausman cho hồi quy ROE 69 3.10 Kiểm định phương sai sai số thay đổi cho hồi quy ROE 70 3.11 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 73
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
VCSH Vốn chủ sở hữu
ĐBTC Đòn bẩy tài chính
PV Giá trị hiện tại
OLS Ordinary Least Squares - Phương pháp bình thương tối thiểu FEM Fixed Effect Model - Mô hình tác động cố định
REM Random Effect Model - Mô hình tác động ngẫu nhiên
FGLS
Feasible Generalized Least Square - Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi
HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
HOSE Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
ROE Return on Equity - Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
TD Total Dept - Tỷ lệ tổng nợ
LTD Long Term Dept - Tỷ lệ nợ dài hạn
STD Short term Dept - Tỷ lệ nợ ngắn hạn
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tín ấp t ết ủ đề tà
Hoạch định cấu trúc vốn là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng
mà các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp hết sức quan tâm Đặc biệt, trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì việc lựa chọn một cấu trúc vốn phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp tồn tại được trong thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển Tuy nhiên, một quyết định sai về cấu trúc vốn có thể dẫn đến những tổn thất
vô cùng to lớn cũng như khiến doanh nghiệp phá sản Chính vì lẽ đó việc xem xét đánh giá sự tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả tài chính của công
ty là vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp
Thực tế ở Việt Nam cho thấy vấn đề nội lực của các doanh nghiệp còn khá hạn chế so với những yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Do
đó, các doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ của các kênh huy động vốn từ bên ngoài Việc xem xét, đánh giá, lựa chọn cấu trúc vốn như thế nào? Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp ra sao? Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố góp phần rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có những đặc trưng riêng do đó cấu trúc vốn cũng có những đặc trưng khác nhau Vì vậy, việc đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp hoạt động trong các nhóm ngành khác nhau là hết sức cần thiết
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nhu cầu đô thị hóa cao vì vậy các nhóm ngành xây dựng và vật liệu xây dựng rất phát triển Hơn hết, ngành vật liệu xây dựng là ngành sản xuất và kinh doanh các mặt hàng phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng, một bước chuẩn bị tất yếu cho phát triển kinh tế Đặc biệt, các doanh nghiệp nhóm ngành vật liệu xây dựng là những doanh nghiệp sở hữu khối lượng tài sản cố định hữu hình rất lớn, nhu cầu về sử dụng vốn để
Trang 10đầu tư là rất cao Nguồn vốn này không thể chỉ dựa vào lợi nhuận giữ lại mà cần phải huy động thêm vốn vay bên ngoài Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Vì vậy, việc xem xét, đánh giác tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả tài chính là rất cần thiết Do đó, tác giả chọn đề
tài: “N ên ứu tá động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt N m” làm đề tài nghiên cứu
2 Mụ t êu n ên ứu
- Đo lường, nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Đề xuất, gợi ý các chính sách liên quan đến cấu trúc vốn nhằm nâng cao hiệu quả tài chính đối với các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Việc đo lường tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam ra sao
- Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả tài chính đối với các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4 Đố tượn và p ạm v n ên ứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: các công ty cổ phần niêm yết hoạt động trong ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí
Trang 11Minh và Hà Nội
- Phạm vi về thời gian: dữ liệu về Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết hoạt động trong ngành vật liệu xây dựng trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ năm
2014 đến năm 2016
5 P ươn p áp n ên ứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp định lượng Thông qua việc phân tích thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan, thực hiện các kiểm định và chạy mô hình hồi quy với phần mềm Stata Việc phân tích dữ liệu được thực hiện theo trình tự:
- Phân tích thống kê mô tả để xác định các chỉ số thông thường qua đó cho thấy một cách tổng quát về đặc tính cơ bản của các biến số trong mô hình nghiên cứu
- Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu nhằm phát hiện mối liên hệ giữa các biến
- Thực hiện các kiểm định để lựa chọn mô hình hồi quy với phương pháp ước lượng phù hợp nhất
- Áp dụng phương pháp ước lượng để tìm ra mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
- Sau khi hồi quy, dựa vào kết quả thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và kết quả sẽ được liên hệ ứng dụng vào thực tế
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập bao gồm báo cáo tài chính từ năm 2014 đến năm 2016 của các công ty cổ phần niêm yết hoạt động trong ngành vật liệu xây dựng từ website Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh (http://www.hsx.vn), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (http://www.hnx.vn)
Trang 126 Ý n ĩ o ọ và t ự t ễn ủ đề tà
Ý n ĩ o ọc: Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, các kết quả
nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước về cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp làm cơ sở nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm mô hình nghiên cứu từ đó chứng minh sự tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Ý n ĩ t ực tiễn: Trong vấn đề hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu đề
tài có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn Đề tài nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, những khám phá trong đề tài
sẽ làm rõ hơn tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp như thế nào từ đó cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản trị
có cơ sở điều chỉnh hoặc có quyết định lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý giúp gia tăng hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, cũng như giúp các nhà đầu tư hoạch định chiến lược cũng như chính sách kinh doanh trong thời gian tới
Ngoài ra nghiên cứu còn giúp thấy được tầm quan trọng của từng yếu tố trong mô hình tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ
đó giúp các doanh nghiệp lựa chọn được các chính sách hoạt động kinh doanh hợp lý hơn
7 Kết ấu luận văn
Luận văn gồm có 04 chương được trình bày theo thứ tự như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách
Trang 138 Tổn qu n tà l ệu
Lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp: Tổng hợp lý thuyết về cấu trúc vốn như: Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn; Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modilligani và Miller; Lý thuyết trật tự phân hạng; Lý thuyết chi phí đại diện; Lý thuyết đánh đổi; Lý thuyết đánh đổi tĩnh
Lý thuyết về hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: Tổng hợp các khái niệm về Hiệu quả tài chính doanh nghiệp Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp
Phương pháp, cách tiếp cận liên quan đến đề tài: Giả sử cấu trúc vốn có tác động một cách đáng kể đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng Như vậy khi doanh nghiệp ngày càng có cơ hội tiếp cận với nhiều nguồn vốn thì việc cân nhắc nên lựa chọn nguồn vốn với cơ cấu như thế nào để làm tăng hiệu quả tài chính là điều mà các giám đốc tài chính quan tâm Một cấu trúc vốn hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp trụ vững và phát triển trong thị trường đầy cạnh tranh, nhưng ngược lại cũng có thể làm cho doanh nghiệp phá sản Trong giai đoạn hiện nay khi môi trường hội nhập thế giới càng mở rộng doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn khác nhau để đầu tư phát triển kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của mình Vì vậy vấn đề đặt ra là cấu trúc vốn sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp nên có cấu trúc vốn như thế nào là hợp lý để nâng cao hiệu quả tài chính trong quá trình hoạt động
Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp cụ thể như sau:
Các nghiên cứu trên thế giới:
Trang 14Trên thế giới việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến cấu trúc vốn, tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp được nghiên cứu thực hiện từ rất sớm, có thể kể đến các nghiên cứu của Abor, J (2005), El-Sayed Ebaid, I (2009), Dzung Nguyen, et al (2012), Ahmad, Z., Abdullah, N.M.H., & Roslan, S (2012), Mahfuzah Salim, Dr.Raj Yadav (2012), Zeitun, R., & Tian, G G (2014), Dawar, V (2014) Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa Nợ dài hạn/Tổng tài sản (LTD), Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản (STD) lên ROA và ROE Các biến khác như: quy mô doanh nghiệp (SIZE), tính thanh khoản (LIQ), tài sản cố định hữu hình (TANG), quảng cáo (ADV) có mối quan hệ đồng biến; tăng trưởng (GROW) không ảnh hưởng đến ROA và ROE, thâm niên hoạt động (AGE) có quan hệ nghịch biến với ROA và ROE
Các nghiên cứu trong nước:
Tại Việt Nam các nghiên cứu về chủ đề cấu trúc vốn, ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là đề tài nghiên cứu thực nghiệm phổ biến trong những năm gần đây, trong đó tiêu biểu là các nghiên cứu của Trần Hùng Sơn và Trần Viết Hoàng (2008), hai tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của mẫu gồm 50 công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị trường Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ số nợ với ROA và ROE Ngoài ra, hai biến kiểm soát là tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROWTH) và quy mô công ty (SIZE) không có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), tác giả nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp với cách tiếp cận theo phương pháp phân tích đường dẫn (path analysis) Nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính, bao gồm:
Trang 15hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh, cấu trúc tài sản và qui mô của doanh nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động giữa hiệu quả kinh doanh
và cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cả Hiệu quả hoạt động kinh doanh và Cấu trúc tài chính có tác động cùng chiều đến ROE và hai nhân tố này giải thích được 90% sự biến động của ROE
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phúc (2014), về ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa Tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn – được đo lường bằng nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, tổng nợ lên hiệu quả hoạt động được đo lường bằng ROA và ROE cho mẫu nghiên cứu 1.302 quan sát của 217 công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2007 đến năm 2012 Nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ ngược chiều giữa cấu trúc vốn và kết quả kinh doanh với mức ý nghĩa 1%
Nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Nguyễn Thành Phú (2014), xem xét tác động của tỷ lệ nợ vay đến giá trị doanh nghiệp, là các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu xác định ngưỡng nợ vay tối ưu đối với mỗi nhóm ngành trên Sàn Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008-2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại tác động của tỷ lệ nợ vay đến giá trị doanh nghiệp và tồn tại ngưỡng tỷ lệ nợ tối ưu ở mỗi nhóm ngành mà tại đó giá trị doanh nghiệp được tăng lên
Nghiên cứu của Võ Hồng Đức và Võ Tường Luân (2014), tác giả nghiên cứu nhằm mục đích đo lường tác động theo ngưỡng của mức sử dụng nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp và đề xuất ứng dụng xác định hạn mức sử dụng nợ hợp lí nhằm đảm bảo khả năng sinh lời Nghiên cứu tiến hành trên tập dữ liệu gồm 191 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành
Trang 16phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội với dữ liệu khảo sát trong giai đoạn 2005 – 2012 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn tại hiệu ứng tác động theo 2 ngưỡng của mức sử dụng nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tùy theo tỉ lệ nợ khác nhau, tác động của mức sử dụng nợ đến khả năng sinh lời là khác nhau
Đối chiếu với các nghiên cứu trên thì chưa có nghiên cứu của tác giả nào
đề cập đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam Việc nghiên cứu cấu trúc vốn ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả tài chính từ mẫu nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các doanh nghiệp trong ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam điều chỉnh hoặc có quyết định cấu trúc vốn hợp
lý, từ đó gia tăng hiệu quả tài chính cũng như hoạt động kinh doanh, tăng sức cạnh tranh khi Việt Nam đang trong giai đoạn bước vào sân chơi kinh tế toàn cầu
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN
1.1.1 K á n ệm
Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và đầu tư cho hoạt động kinh doanh của mình
Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính thông qua các phương án kết hợp giữa bán cổ phần, quyền chọn mua cổ phần, phát hành trái phiếu và đi vay
Theo Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2013), [5], “Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi
và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp”
Cấu trúc vốn xuất phát từ cấu trúc của Bảng cân đối kế toán Trong Bảng cân đối kế toán, cấu trúc vốn chỉ ra được phần nào của tổng tài sản (tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) được hình thành từ vốn góp của chủ sở hữu và lợi nhuận được giữ lại đầu tư cho hoạt động doanh nghiệp (nguồn vốn chủ sở hữu) và phần nào hình thành từ các nguồn có tính chất công nợ (các khoản nợ phải trả)
Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các giám đốc tài chính là phải lựa chọn một cấu trúc vốn sao cho tối đa hóa giá trị thị trường của doanh
Trang 18nghiệp Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp Cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
1.1.2 Cá yếu tố ấu t àn
a Nợ phải trả
Nợ phải trả là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số nợ phải trả tại thời điểm báo cáo, gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Việc phân loại các khoản phải trả bao gồm phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải trả khác được thực hiện theo nguyên tắc:
- Phải trả người bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại
phát sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản và người bán (là đơn vị độc lập với người mua, gồm cả các khoản phải trả giữa công ty mẹ và công ty con, công ty liên doanh, liên kết) Khoản phải trả này gồm cả các khoản phải trả khi nhập khẩu thông qua người nhận ủy thác (trong giao dịch nhập khẩu
ủy thác);
- Phải trả nội bộ gồm các khoản phải trả giữa đơn vị cấp trên và đơn vị
cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc;
- Phải trả khác gồm các khoản phải trả không có tính thương mại,
không liên quan đến giao dịch mua, bán, cung cấp hàng hóa dịch vụ
Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải trả để phân loại là ngắn hạn hoặc dài hạn
- Nợ ngắn hạn: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường
- Nợ dài hạn: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông
Trang 19thường
b Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản vốn kinh doanh thuộc sở hữu của cổ đông, thành viên góp vốn Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sở hữu; Thặng dư vốn cổ phần; Vốn khác của chủ sở hữu; Cổ phiếu quỹ; Chênh lệch đánh giá lại tài sản; Chênh lệch tỷ giá hối đoái; Quỹ đầu tư phát triển …
c Các tỷ số đo lường
Cấu trúc vốn là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, trong tổng số nguồn vốn của công ty được dùng để tài trợ quyết định đầu tư của một doanh nghiệp Được đo lường bằng các chỉ tiêu như sau:
- Tỷ số nợ:
Tỷ số nợ cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản được tài trợ bằng nợ Tỷ
số này càng cao chứng tỏ khả năng vay nợ của doanh nghiệp càng tốt nhưng lại gây ra rủi ro tài chính càng cao cho doanh nghiệp
- Tỷ số tự tài trợ:
Tỷ số tự tài trợ cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản được tài trợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu Tỷ số này càng cao chứng tỏ khả năng tự chủ về tài chính càng tốt nhưng ngược lại doanh nghiệp lại chưa tận dụng được đòn bẩy tài chính
- Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu:
Tỷ số nợ =
Tổng nợ Tổng tài sản
Tỷ số tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản
Trang 20
Tỷ số này cho biết nợ dài hạn chiếm bao nhiêu phần trăm so với vốn chủ sở hữu
1.1.3 Các lý t uyết về ấu trú vốn
a Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn
Quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn, thuận lợi vượt trội hơn bất lợi Chi phí nợ thấp, kết hợp với thuận lợi về thuế sẽ khiến chi phí vốn bình quân gia quyền giảm khi nợ tăng Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu tăng, tác động của
tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của
họ (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng) Ở mức tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ cũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả được
nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn) Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ
và vốn chủ sở hữu cao hơn, chi phí vốn bình quân gia quyền sẽ tăng
Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là không có một lý thuyết cơ
sở thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ
và vốn chủ sở hữu hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do ảnh hưởng của nguy
cơ vỡ nợ
b Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (mô hình MM)
Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) [16] đã
tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn
Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ra một số những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính: họ giả định thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí
Tỷ số nợ dài hạn =
Nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu
Trang 21giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hoàn toàn bằng tính không ổn định của các luồng tiền
Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, MM tranh luận rằng thế thì các doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không phải dựa trên cách thức cấp vốn Từ đây, có thể rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau cũng phải có chi phí vốn bình quân gia quyền giống nhau
ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu
Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuy nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến kết quả
1 Giả định là không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và một trong những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi tiêu tiền lãi
2 Nguy cơ trong lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn bởi tính biến đổi của các luồng tiền Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng
vì vỡ nợ Đây là một vấn đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí vốn chủ sở hữu tăng cùng với nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn)
Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính xác Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn Với các giả thuyết trên, dẫn đến
Trang 22phương trình cho lý thuyết của MM như sau:
Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ
Năm 1963, Modilligani và Miller [17] đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp Theo MM, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình:
Vg = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ Trong đó, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ
Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ
c Thuyết trật tự phân hạng (thông tin bất cân xứng)
Nền tảng đầu tiên cho thuyết trật tự phân hạng là những nghiên cứu của Donalson (1961) [11] được phát triển bởi Stewart Myers và Nicolas Majluf (1984) lý giải các quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cơ
sở thông tin bất cân xứng Bởi vì các nhà quản trị hiểu rõ hơn các nhà đầu tư bên ngoài về tình hình kinh doanh của công ty cũng như khả năng sinh lợi của các dự án trong tương lai Do đó, nếu các dự án có triển vọng, đem lại lợi nhuận cao thì cách tài trợ tốt nhất là dùng nguồn s n có từ lợi nhuận giữ lại Trong trường hợp nguồn này không đủ thì nguồn vốn vay với lãi suất cố định thường thấp hơn tỷ suất sinh lời của dự án sẽ được lựa chọn để không phải chia sẻ lợi nhuận với các cổ đông mới Nhà quản trị chỉ xem xét sử
Trang 23dụng nguồn tài trợ từ vốn cổ phần khi cổ phiếu của công ty đang được định giá cao hơn giá trị thực trên thị trường Theo lý thuyết trật tự phân hạng, không có một hỗn hợp nợ và vốn cổ phần mục tiêu nào được xác định rõ Myers cho rằng khó có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu bởi vì vốn chủ sở hữu lần lượt được xếp ở vị trí đầu tiên (lợi nhuận giữ lại) và cuối cùng (phát hành cổ phần mới) trong trật tự phân hạng Một tỷ lệ nợ quan sát được của mỗi doanh nghiệp phản ánh các nhu cầu tích luỹ của doanh nghiệp đối với tài trợ từ bên ngoài
d Lý thuyết chi phí đại diện
Trong bối cảnh những năm 1970 với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, sự đa dạng trong các loại hình công ty và sự thiếu hụt các lý thuyết nền tảng về quyền sở hữu công ty cũng như mối quan hệ giữa người chủ và người quản lý thông qua hợp đồng đại diện thì lý thuyết chi phí đại diện ra đời Những nghiên cứu đầu tiên tập trung vào những vấn đề về thông tin bất cân xứng giữa người chủ và người quản lý trong ngành bảo hiểm và nhanh chóng trở thành một lý thuyết khái quát những vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện trong các lĩnh vực khác
Lý thuyết này cho ta thấy sự tồn tại của một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp bởi vì sự có mặt của chi phí đại diện Chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn của cổ đông và trái chủ, còn chi phí đại diện của vốn chủ
sở hữu phát sinh từ mâu thuẫn giữa cổ đông với các trái chủ và nhà quản lý
Chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ
Khi một công ty sử dụng nợ, các cổ đông và trái chủ sẽ có sự mâu thuẫn về mặt lợi ích Trong trường hợp công ty đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính, các cổ đông, những người trong ban quản trị có thể sẽ thực hiện một vài hành vi để tranh giành lợi ích với các trái chủ Các hành vi này
sẽ làm phát sinh chi phí, vì chúng gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị của
Trang 24doanh nghiệp
Chi phí đại diện của vốn cổ phần
Lý thuyết này nói lên việc một người sẽ làm việc cho bản thân mình tốt hơn so với làm việc cho người khác Đồng thời người đó cũng sẽ làm tốt hơn cho công ty nếu như phần vốn góp trong công ty nhiều hơn Một nhà quản lý
có sở hữu cổ phần của của công ty sẽ làm việc tốt hơn một nhà quản lý không có sở hữu cổ phần vì lợi ích của công ty gắn liền với lợi ích của cổ đông Trong trường hợp này, nếu như tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà quản lý tại công ty càng nhiều, các khoản chi phí này sẽ càng ít bởi vì phần gánh chịu của người đó càng nhiều Thậm chí, nếu một người không sở hữu cổ phần công ty, các cổ đông khó yên tâm về việc các dự án có NPV<0 (NPV: giá trị hiện tại thuần) được đảm bảo chắc chắn sẽ không triển khai
Như vậy, lý thuyết chi phí đại diện đề cập đến mối quan hệ giữa một bên là người chủ của công ty và một bên là người quản lý, người đại diện thực hiện các quyết định của công ty Lý thuyết chi phí đại diện nêu ra vấn
đề chính là làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất của người chủ khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của chủ doanh nghiệp
e Lý thuyết đánh đổi
Được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973) [14] cho rằng nhà quản trị của doanh nghiệp có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị công ty dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ Lợi ích từ nợ đó là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay Còn chi phí tiềm tàng từ việc sử dụng nợ là chi phí kiệt quệ tài chính (Financial Distress Cost) bao gồm các chi phí như chi phí trả cho luật sư giải quyết phá sản, chi phí trả cho kế toán và nhân viên quản trị công ty trong quá trình chờ phá sản, chi phí do mất khách hàng và nhà cung cấp hay chi
Trang 25phí đại diện… Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, nhà quản trị có thể tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách xác định điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi Lý thuyết đánh đổi đã giải thích được mặt hạn chế của
lý thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp vay nợ Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì Giá trị hiện tại (tấm chắn thuế) = Giá trị hiện tại (chi phí kiệt quệ tài chính)
f Lý thuyết đánh đổi tĩnh
Lý thuyết này được đề xuất bởi Myers vào năm 1977 [19] Myers cho rằng cấu trúc vốn tối ưu có tồn tại Lý thuyết giải thích vì sao doanh nghiệp không cố gắng đi vay càng nhiều càng tốt để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế Theo đó, các công ty phải tự quyết định về đòn bẩy tài chính trên cơ sở cân bằng lợi ích thu được từ vốn vay và những rủi ro tài chính Giá trị của doanh nghiệp dùng vốn vay sẽ được tăng thêm nhờ nguồn giảm trừ thuế, nhưng sẽ phải gánh chịu rủi ro tài chính, mà rủi ro này sẽ tăng theo tỉ lệ nợ Giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng đến một ngưỡng nhất định, rồi giảm dần do rủi ro tài chính tăng dần Cơ cấu vốn tối ưu sẽ đạt được khi tại đó, giá trị công ty là lớn nhất, tức chi phí vốn ở mức thấp nhất và do đó, tối đa hóa được lợi
Trang 26nhuận của công ty Mặt khác, lý thuyết này cũng đề cập đến việc một số doanh nghiệp vay nợ nhiều hơn doanh nghiệp khác, vì sao có doanh nghiệp lựa chọn khoản vay ngắn hạn, khoản vay dài hạn Như vậy, lý thuyết này trái ngược với lý thuyết cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp Đối với một cấu trúc vốn tối ưu thì giá trị tối đa của doanh nghiệp sẽ được xác định bằng cách đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của việc tài trợ bằng nguồn vốn vay
Chi phí này bao gồm chi phí kiệt quệ tài chính (do sử dụng nợ cao sẽ mang lại rủi ro tài chính cao) Các công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ sẽ phải gánh chịu nhiều chi phí hơn khi họ vay nợ quá nhiều, năng suất giảm đi
và chi phí cơ hội cao hơn so với thu nhập bị mất đi Chi phí kiệt quệ tài chính cũng bao gồm chi phí tái cấu trúc và chi phí thanh lý
Do đó, doanh nghiệp sẽ vay mượn đến điểm cân bằng của chi phí biên
và lợi ích biên trên mỗi đơn vị tiền được tài trợ Trong đó, lợi ích từ việc vay
nợ liên quan đến lá chắn thuế và giảm thiểu chi phí đại diện của dòng tiền tự
do, mặt khác chi phí từ việc vay nợ bao gồm chi phí phá sản và chi phí đại diện tăng lên (bù đắp rủi ro tín dụng) khi doanh nghiệp đi vay càng nhiều Vì vậy, giá trị của một doanh nghiệp có sử dụng vốn vay phải cộng thêm hiện giá của phần lợi ích từ thuế và trừ đi hiện giá của chi phí đại diện và chi phí phá sản Đó chính là mô hình lý thuyết đánh đổi tĩnh được chứng minh bởi Modigliani và Miller (1977), Myers (1977), Bredley (et al (1984), Alman (1984) và Stulz (1990)
1.1.4 Cá n ân tố ản ưởn đến ấu trú vốn
a Quy mô hoạt động
Theo lý thuyết thông tin bất cân xứng (Myer & Majluf (1984)) [18] thì quy
mô của doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nợ vay Các doanh nghiệp
có quy mô lớn thường được biết nhiều và tạo được uy tín trên thị trường tài
Trang 27chính Vì vậy, các doanh nghiệp này thường có khả năng vay nợ nhiều hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Điều này đúng với thực tế của thị trường Việt Nam - thị trường thông tin bất cân xứng (thông tin của doanh nghiệp tới nhà đầu
tư thường không được đầy đủ và chính xác) Cho nên, các doanh nghiệp lớn thường được các nhà đầu tư tin cậy hơn, nhất là các ngân hàng
b Thời gian hoạt động
Thông thường, nếu doanh nghiệp có thâm niên hoạt động trên thị trường càng nhiều năm thì chỗ đứng của doanh nghiệp đó cũng được kh ng định và được nhiều khách hàng cũng như các đối tượng cung cấp vốn biết đến, cho nên thời gian hoạt động của doanh nghiệp có quan hệ cùng chiều với nợ vay
c Cấu trúc tài sản
Là thước đo cơ bản nhất thể hiện giá trị tài sản có mối quan hệ mật thiết với đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Qua những nghiên cứu thực nghiệm, hầu hết các doanh nghiệp kh ng định rằng, hơn 90% tài sản có ý nghĩa rất lớn liên quan cấu trúc vốn của doanh nghiệp Tài sản thế chấp là một điều kiện tốt, quan trọng để các chủ nợ xem xét quyết định cấp tín dụng Theo mô hình cân bằng tĩnh một doanh nghiệp có tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình cao sẽ sử dụng nợ nhiều hơn so với một doanh nghiệp có tỷ lệ Tài sản cố định vô hình cao
d Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (ROA) hay tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) Theo lý thuyết trật tự phân hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thông tin về giá trị doanh nghiệp tốt hơn nhà đầu tư bên ngoài Sự bất cân xứng về thông tin này dẫn đến chi phí huy động vốn từ bên ngoài sẽ cao hơn Vì thế, nhà quản trị có xu hướng ưu tiên sử dụng các nguồn vốn nội tại trước, rồi mới đến các nguồn
Trang 28vốn vay mượn bên ngoài Do đó, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công
ty càng cao, lợi nhuận đem lại cho doanh nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp sẽ càng có xu hướng sử dụng nguồn vốn nội tại hơn là đi vay Ở Việt Nam, vấn
đề thông tin bất cân xứng càng làm cho vấn đề này trở nên chắc chắn hơn
có quan hệ nghịch (-) với nợ vay
Các chuyên gia tài chính của một doanh nghiệp luôn phải đối mặt với
ba câu hỏi quan trọng, đó là:
+ Trong rất nhiều các cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ phải đưa ra quyết định lựa chọn cơ hội đầu tư nào? Trả lời câu hỏi này nghĩa là giám đốc tài chính đã thực hiện quyết định đầu tư
+ Doanh nghiệp nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư đã được hoạch định đó? Trả lời câu hỏi này nghĩa là giám
Trang 29đốc tài chính đã thực hiện quyết định tài trợ
+ Doanh nghiệp nên thực hiện chính sách cổ tức như thế nào? Đâu
là sự kết hợp giữa hai quyết định trên
Theo Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên (2001), [6]: “tài chính doanh nghiệp là toàn bộ các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá trình huy động và sử dụng vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có hai chức năng cơ bản là huy động và sử dụng vốn”
Chức năng huy động vốn liên quan đến quá trình tạo ra các quỹ tiền
tệ từ các nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài để doanh nghiệp hoạt động lâu dài với chi phí thấp nhất
Chức năng sử dụng vốn liên quan đến quá trình phân bổ vốn ở đâu, thực hiện lúc nào để đạt được hiệu quả cao nhất
Như vậy, bản chất tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế, tiền tệ thông qua hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn Do đó hiệu quả tài chính doanh nghiệp chính là hiệu quả của việc huy động, sử dụng và quản lý nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.2.2 Cá ỉ t êu đán á ệu quả tà ín ủ o n n ệp
Có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp, nhưng các chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trong các nghiên cứu có thể chia thành hai loại chính: i) Các hệ số giá trị kế toán, còn gọi là khả năng sinh lời; ii) Các hệ số giá trị thị trường, còn gọi là các hệ số về tăng trưởng tài sản
a Các hệ số giá trị kế toán (các hệ số về khả năng sinh lời)
Các chỉ tiêu lợi nhuận được dùng nhiều nhất bao gồm lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROA =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản
Trang 30Tuy nhiên, giá trị của hai hệ số này có thể phụ thuộc vào cách lấy chỉ tiêu “lợi nhuận” Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) được nhiều nhà nghiên cứu chọn để tính hai hệ số trên (Hu & Izumida (2008); Le & Buck (2011); Wang & Xiao (2011)) một số nghiên cứu khác sử dụng lợi nhuận thuần cộng với lãi vay (trước hoặc sau thuế) (Shah, Butt & Saeed (2011); Thomsen & Pedersen (2000)), hoặc đơn giản chỉ là lợi nhuận thuần (LI, Sun
& Zou (2009); Tian & Estrin (2008)); trong khi đó, có nghiên cứu lại cho rằng, nên dùng lợi nhuận trước thuế, lãi vay, hao mòn và khấu hao (EBITDA)
Tóm lại, nhóm hệ số dựa trên giá trị sổ sách là cách nhìn về quá khứ hoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp (Hu & Izumida, 2008) Vì các hệ số như ROA và ROE là những chỉ số thể hiện cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh giá trị lợi nhuận mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua
Ngoài ý nghĩa tài chính khác nhau, lý do của những cách tính khác nhau như vậy có thể là do hạn chế về cơ sở dữ liệu; trong nhiều trường hợp, sự không đầy đủ của cơ sở dữ liệu sẽ khiến cho một số nghiên cứu buộc phải có cách tính khác nhau
b Các hệ số giá trị thị trường (các hệ số về tăng trưởng tài sản)
Đối với nhóm hệ số giá trị thị trường, hai hệ số MBVR và Tobin’s Q rất thông dụng để đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp Trong đó hệ số đầu được tính là tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu so với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, và hệ số sau được tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị sổ sách các khoản nợ phải trả so với giá trị sổ sách của
ROE =
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu
Trang 31tổng tài sản
Tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu
Tổng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu
Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu + giá trị sổ sách các
khoản nợ
Giá trị sổ sách của tổng tài sản
So sánh hai nhóm hệ số trên, các hệ số ROA và ROE là những chỉ số thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh khả năng lợi nhuận mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua Vì thế, nhóm này là cách nhìn về quá khứ hoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp (Hu& Izumida (2008)) Trong khi đó, các hệ số MBVR và Tobin’s Q
có thể cho biết hiệu quả tương lai của công ty bởi chúng phản ánh được giá trị thị trường về tiềm năng lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai (phản ánh vào giá thị trường của cổ phiếu) Điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa của các phương pháp định giá cổ phiếu sử dụng dòng tiền tương lai chiết khấu về hiện tại theo một mức rủi ro xác định Đó cũng là lý do tại sao Tian & Estrin (2008) cho rằng định giá trên thị trường luôn dựa trên những dòng tiền tương lai và rủi ro kỳ vọng đi kèm
Tóm lại, hiệu quả tài chính của các công ty cổ phần có thể được đánh giá thông qua hai nhóm hệ số kết hợp lại, trong đó 4 chỉ tiêu thiết yếu nhất bao gồm ROA, ROE, MBVR và Tobin’s Q Mặc dù có thể có các cách tính khác nhau, chủ yếu do cách xác định lợi nhuận trong tính toán hệ số, sự kết hợp của hai nhóm hệ số này có thể đưa ra cho nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp,
Trang 32cổ đông và thị trường những đánh giá bao quát về hiệu quả tài chính trong quá khứ cũng như tiềm năng lợi nhuận và tăng trưởng tương lai của doanh nghiệp
1.2.3 Các n ân tố ản ưởn đến ệu quả tà ín
a Cấu trúc tài chính
Lý thuyết Modigliani & Miller (1963) trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp, cấu trúc tài chính có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp Ưu điểm của việc sử dụng nợ là có thể tiết kiệm được thuế bởi vì chi phí nợ là chi phí hợp lý được khấu trừ khỏi phần lợi nhuận trước thuế Chính vì vậy mà giá trị doanh nghiệp được tăng lên là nhờ lợi ích từ lá chắn thuế
Theo lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, cấu trúc tài chính có tác động đến Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) và giá trị công ty hay nói khác có một tỷ lệ nợ tối ưu, ở đó WACC của doanh nghiệp là nhỏ nhất và giá trị của doanh nghiệp lớn nhất
Như vậy, theo lý thuyết Modigliani & Miller và lý thuyết cơ cấu vốn tối
ưu chúng ta có thể thấy được việc lựa chọn và sử dụng vốn như thế nào sẽ có tác động đến hiệu quả tài chính
Tiếp cận theo quan điểm của Josette Peyrard
Với tiếp cận này, ROE phụ thuộc tỷ lệ thuận với Tln/dt và Hvc Tuy nhiên các doanh nghiệp còn khác nhau về nguồn lực tài chính huy động ở nguồn vốn đi vay Do đó tiếp cận theo quan điểm Josette Peyrard chưa đưa ra
Hiệu suất sử dụng VCSH (Hvc)
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (Tln/dt)
Trang 33tác động của nguồn lực này tới ROE
Tiếp cận theo quan điểm Bied – Charreton (1920):
Như vậy tiếp cận theo quan điểm của Bied – Charreton dưới dạng khai triển Dupont đã làm rõ vai trò tích cực của việc vay nợ đối với ROE thông qua hệ số đòn bầy tài chính Rõ ràng Tln/dt và Hdt/ts đã xác định, ROE được
“khuếch đại” bởi một hệ số đòn bẩy tài chính khác 0
b Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của doanh nghiệp có thể được hiểu là quy mô nguồn vốn, quy
mô tài sản, quy mô mạng lưới tiêu thụ… Khi chi phí bình quân trên một sản phẩm sản xuất ra sẽ giảm dần theo mức tăng của sản lượng sản phẩm Bên cạnh đó các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín, thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tốt hơn (ví dụ như dễ dàng huy động hơn, mức vay cao hơn, lãi suất vay thấp hơn)
c Cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản được đo lường bằng tài sản cố định trên tổng tài sản Một
số quan điểm và kết quả nghiên cứu trong nước chỉ ra rằng các doanh nghiệp
có tỷ trọng tài sản cố định cao thì cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn dễ dàng
Doanh thu thuần Tài sản
Tài sản VCSH bq
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Hiệu suất sử dụng tài sản 1+Nợ phải trả/VCSH
Trang 34hơn, hiệu quả kinh doanh mang lại cũng cao hơn so với các doanh nghiệp có
tỷ trọng tài sản cố định thấp.Thêm vào đó, lợi ích từ lá chắn thuế từ khấu hao tài sản cố định là điều kiện làm tăng hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp
d Khả năng thanh toán
Theo quan điểm của Opler và cộng sự (1999) hay Myers (1977) Almajali (2012) đều cho rằng: tính thanh khoản cao sẽ cho phép doanh nghiệp có thể đối phó với những tình huống bất ngờ cũng như nghĩa vụ trả
nợ của mình và là dấu hiệu chứng tỏ doanh nghiệp đang kinh doanh tốt hay nói cách khác tính thanh khoản cao có mối quan hệ thuận chiều (+) tới hiệu quả tài chính
e Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp
Myers (1977) cũng cho rằng các doanh nghiệp tăng trưởng cao có nhiều lựa chọn hơn để đầu tư trong tương lai hơn là các doanh nghiệp tăng trưởng thấp Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ doanh nhiệp sẽ có nhiều cơ hội mang lại tỷ suất sinh lời cao hơn cho doanh nghiệp
1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Các lý thuyết về cấu trúc vốn cung cấp cái nhìn tổng quan về cấu trúc vốn và ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị của doanh nghiệp, trong đó tiêu biểu là lý thuyết về cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (M&M)
Lý thuyết tài chính hiện đại bắt đầu với cuộc tranh luận về sự liên quan của
cơ cấu vốn với giá trị công ty của Modilligani và Miller (1958) Trong một thị trường hoàn hảo không cạnh tranh, Modilligani và Miller cho rằng giá trị công ty độc lập với cơ cấu vốn của công ty và không có một cơ cấu vốn tối ưu cho một công ty cụ thể Tuy nhiên, các giả định về thị trường hoàn hảo như không có chi phí giao dịch, không có thuế, thông tin đối xứng và giống hệt
Trang 35nhau về lãi suất cho vay và nợ phí rủi ro là mâu thuẫn với thực tế
Tuy nhiên đến năm 1963, Modilligani và Miller đơn giản giả định bằng cách kết hợp lợi ích thuế doanh nghiệp như yếu tố quyết định cơ cấu vốn của doanh nghiệp Các đặc trưng chính của thuế là sự ghi nhận lợi ích từ chi phí được khấu trừ thuế Một công ty đóng thuế nhận được lợi ích một phần bù đắp “lá chắn thuế” trong bản chất của trả thuế thấp hơn Nói cách khác, giá trị công ty được tăng lên thông qua việc sử dụng nợ trong cơ cấu vốn do thuế khấu trừ các khoản thanh toán lãi suất tiền vay Đây là một sự thừa nhận ngầm trong đó cơ cấu vốn ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Do đó, Modilligani và Miller (1963) đề xuất các công ty nên sử dụng vốn vay càng nhiều càng tốt để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Hay nói cách khác, sử dụng
nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng tối đa đến khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ
Từ trước đến nay trên phạm vi trong nước và trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Các nghiên cứu đó đều chỉ ra được rằng, cấu trúc vốn có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Các nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu của Abor, J (2005), [8]: bài nghiên cứu xem xét mối liên
hệ giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp trên phương diện ROE Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy theo mô hình bình phương bé nhất (OLS) cho dữ liệu bảng được thu thập từ 22 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Ghana (Ghana Stock Exchange) trong khoảng thời gian từ năm 1998-2002 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn tại một mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản (STD), tổng nợ/tổng tài sản (DA) với ROE; tỷ lệ nợ dài hạn/tổng tài sản
Trang 36(LTD) có mối quan hệ nghịch biến với ROE Quy mô (SIZE) và Tăng trưởng doanh thu (SG) có quan hệ đồng biến với ROE
N ên ứu ủ El-Sayed Ebaid, I (2009), [13]: bài nghiên cứu xem
xét tác động của cấu trúc vốn đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên các phương diện tài chính thông qua chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và Tỷ suất lợi nhuận trước thuế (GM) Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất cho dữ liệu bảng được thu thập từ 64 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Ai Cập từ năm 1997-2005 Các biến độc lập là tỷ lệ
Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản (STD), Nợ dài hạn/Tổng tài sản (LTD), Tổng nợ/Tổng tài sản (TTD), biến kiểm soát là Quy mô công ty (S)
Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn (đặc biệt là tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản - STD, và tỷ lệ tổng nợ/tổng tài sản - TTD) có mối quan
hệ nghịch biến với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khi đo lường bằng ROA, nợ dài hạn (LTD) không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài chính Mặt khác, cấu trúc vốn không có ảnh hưởng rõ rệt đối với hiệu quả hoạt động khi đo lường bằng ROE hay GM Biến Quy mô công ty (S) có quan hệ nghịch biến với ROA Nhìn chung cấu trúc vốn có ít hoặc không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đối với các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Ai Cập
Nghiên cứu của Ahmad, Z., Abdullah, N M H., & Roslan, S (2012),
[9]: bài nghiên cứu đánh giá tác động của các khoản nợ đối với hiệu quả hoạt động của công ty Tác giả sử dụng hai mô hình hồi quy gộp chung (Two General Pooled Regression Models), với biến phụ thuộc là ROA và ROE, Dữ liệu được thu thập trong hai ngành chính ở Malaysia là ngành tiêu các biến độc lập là Tỷ lệ nợ ngắn hạn/Tổng tài sản (STD), Nợ dài hạn/Tổng tài sản (LTD), Tổng nợ/Tổng tài sản (TTD), Quy mô (SIZE), Tăng trưởng tài sản
Trang 37(AGROW), Tăng trưởng doanh thu (GROW), Hiệu quả (EFF) dùng và ngành công nghiệp cho 58 doanh nghiệp trên sàn Main Market của Bursa Malaysia
từ năm 2005 đến năm 2010 với tổng số 358 quan sát
Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ nợ ngắn hạn (STD) và tổng nợ (TTD) có mối quan hệ nghịch biến với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua chỉ tiêu ROE và ROA, Nợ dài hạn (LTD) có mối quan hệ cùng chiều với ROE Quy mô (SIZE) không có ý nghĩa với ROE nhưng quan hệ đồng biến với ROA; tăng trưởng tài sản (AGROW) và Hiệu quả (EFF) quan hệ đồng biến với ROA và ROE Tăng trưởng doanh thu (SGROW) không có ý nghĩa với ROA và ROE
Nghiên cứu của Mahfuzah Salim, Dr.Raj Yadav (2012), [15]: bài
nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động (trên chỉ tiêu ROA, ROE, Tobin’Q và EPS) của 237 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Bursa Malaysia trong lĩnh vực xây dựng, trồng trọt, sản xuất hàng tiêu dùng, bất động sản, bất động sản và vận chuyển trong thời gian từ năm 1995-2011, tổng số quan sát cho dữ liệu bảng là 3730 quan sát Biến độc lập đại diện cho cấu trúc vốn là Tỷ lệ nợ ngắn hạn/Tổng tài sản (STD), Nợ dài hạn/Tổng tài sản (LTD), Tổng nợ/Tổng tài sản (TTD) Biến kiểm soát là Quy mô công ty (SIZE), Tăng trưởng tổng tài sản (GROWTH) Kết quả nghiên cứu cho thấy STD, LTD, TTD có quan hệ nghịch biến với ROA, ROE, EPS Hơn nữa có mối quan hệ đồng biến giữa tốc độ tăng trưởng tổng tài sản (GROWTH) với tất cả các ngành Tobin Q có quan hệ đồng biến với STD và LTD
Nghiên cứu của Zeitun, R., & Tian, G G (2014), [20]: bài nghiên cứu
đề cập đến tác động của cấu trúc vốn đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Jordan Với phương pháp hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model) với dữ liệu bảng không cân bằng (unbalanced panel)
Trang 38thu thập từ 167 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Amman (không bao gồm các doanh nghiệp tài chính như ngân hàng, bảo hiểm) trong khoảng thời gian từ 1989 - 2003
Để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tác giả sử dụng các biến ROA, ROE, PROF, Tobin’s Q, MBVR, MBVE, P/E Các biến độc lập là Đòn bẩy (Leverage), Tăng trưởng (GROWTH), Kích cỡ (SIZE), Rủi ro (STDVCF - được đo lường bằng độ lệch chuẩn của dòng tiền – thu nhập ròng cộng khấu hao), thuế (TAX - bằng tổng số thuế cho các khoản thu nhập trước lãi vay và thuế), và Tài sản hữu hình (TANGIBILITY – được đo lường bằng
tỷ số Tài sản cố định trên Tổng tài sản) Năm chỉ số đo lường đòn bẩy là Tổng
nợ trên Tổng tài sản (TDTA), Tổng nợ trên Tổng vốn chủ sở hữu (TDTE), Nợ dài hạn trên Tổng tài sản (LTDTA), Nợ ngắn hạn trên Tổng tài sản (STDTA),
và Tổng nợ trên Tổng vốn (TDTC)
Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn (TDTA, LTDTA, STDTA) tác động nghịch biến lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khi đo lường bằng giá trị thị trường (Tobin’s Q, MBVR, MBVE, P/E) và khi đo lường bằng giá trị sổ sách (ROA, ROE, PROF)
Nghiên cứu của Dawar, V (2014), [10]: bài nghiên cứu sử dụng danh
sách các công ty lấy từ chỉ số S&P BSE 100 của Sở Giao dịch chứng khoán Bombay của Ấn Độ (Bombay Stock Exchange) làm mẫu Danh sách này gồm
78 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Bombay của Ấn Độ hoạt động trong các ngành nghề đa dạng của nền kinh tế (không bao gồm các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng) Dữ liệu lịch sử được lấy từ cơ
sở dữ liệu tài chính của Trung tâm Giám sát Kinh tế Ấn Độ (CMIE) cho mười năm tài chính từ 2003-2012
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp hồi quy theo mô hình bình phương bé nhất (OLS) với hai mô hình tác động cố định (Fixed Effect
Trang 39Model – FEM) và tác động ngẫu nhiên (Random Effect Medel – REM) và lựa chọn trên cơ sở kiểm định Hausman Tác giả sử dụng các biến độc lập là tỷ lệ
Nợ dài hạn/Tổng tài sản (LTD), Nợ ngắn hạn/tổng tài sản (STD) Biến kiểm soát là Quy mô (SIZE), Thâm niên hoạt động (AGE), Tài sản cố định hữu hình (TANG), Tăng trưởng doanh thu (GROW), Tính thanh khoản (LIQ), Quảng cáo (ADV) để đo lường tác động lên hiệu quả hoạt động tài chính thông qua chỉ tiêu ROA và ROE
Các nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu của Trần H n Sơn và Trần Viết Hoàng (2008), [4]: hai
tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của mẫu gồm 50 công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị trường Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả sử dụng
mô hình OLS để nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn (được đo lường bằng tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản - STD, tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản – LTD và tỷ số tổng nợ trên vốn chủ sở hữu – D/E) và hiệu quả hoạt động của công ty thông qua hai chỉ tiêu là ROA và ROE Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ số nợ với ROA và ROE Ngoài ra, hai biến kiểm soát là tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROWTH) và quy mô công
ty (SIZE) không có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu củ Đoàn N ọc Phi Anh (2010), [1]: Tác giả nghiên cứu
các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp thông qua việc sử dụng số liệu thu thập từ các báo cáo tài chính của
428 công ty niêm yết trên 2 sàn chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Các doanh nghiệp này được lựa chọn dựa trên 2 tiêu chí: (1) là các doanh nghiệp niêm yết không thuộc nhóm có cấu trúc tài chính đặc thù như ngân hàng, bảo hiểm, các công ty chứng khoán (2) Các doanh nghiệp niêm yết cung cấp thông tin đầy đủ trên báo cáo tài chính trong 3 năm, từ 2007 đến
Trang 402009 với cách tiếp cận theo phương pháp phân tích đường dẫn (path analysis) Nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính, bao gồm: hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh, cấu trúc tài sản và qui mô của doanh nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động giữa hiệu quả kinh doanh
và cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ suất nợ bình quân của 428 doanh nghiệp là 51,74%, trong đó có sự khác biệt khá lớn giữa các doanh nghiệp Bên cạnh đó, các nhân tố Hiệu quả kinh doanh , Rủi ro kinh doanh và Cấu trúc tài sản tác động
tỉ lệ nghịch đến cấu trúc tài chính, trong khi Qui mô của doanh nghiệp lại có tác động tỉ lệ thuận đến Cấu trúc tài chính Đối với hiệu quả tài chính, tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) trung bình của các doanh nghiệp là 17,63% và chỉ tiêu này cũng có sự biến động khá lớn giữa các doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cả Hiệu quả hoạt động kinh doanh và Cấu trúc tài chính có tác động cùng chiều đến ROE và hai nhân tố này giải thích được 90% sự biến động của ROE
Nghiên cứu của Dzung Nguyen, et al (2012), [12]: bài nghiên cứu tìm
hiểu các nhân tốc tác động đến cơ cấu vốn của 116 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội giai đoạn từ năm 2007-2010 trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển (thị
trường cổ phiếu và vốn nợ trong nước) Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu dạng
bảng với phương pháp GMM (Generalized method moments) để phân tích các yếu tố quyết định cơ cấu vốn của các doanh nghiệp này Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù có sự xuất hiện của thị trường vốn (nợ và chủ sở hữu) trong thời gian gần nghiên cứu, cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn bị chi phối bởi việc sử dụng các nguồn tài chính ngắn hạn Hơn nữa, các doanh nghiệp sở hữu Nhà nước được hưởng ưu đãi tài chính và các doanh