Nước ta nằm trong khu vực được xem là có tiềm năng tự nhiên sinh ra lũ quét rất cao vì trên 70% diện tích đất là đồi núi. Lượng mưa lớn, cường suất tập trung và diễn biến rất phức tạp do hiệu ứng nhà kính kéo theo sự xuất hiện của các hiện tượng El Nino La Nina mà hậu quả là bão, mưa lũ xuất hiện có xu thế ngày một tăng theo cả không gian và thời gian là nguyên nhân cơ bản gây nên lũ quét. Khi các hình thế thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh dù hoạt động đơn độc hay kết hợp đều có thể gây ra mưa lớn với lượng mưa 1 ngày đạt từ 700800 mm và cá biệt lên tới 1500 mm ngày như trận mưa tháng XI,XII năm 1999 xảy ra ở Huế. Các khu vực đều có những tâm mưa lớn, nơi hội tụ của các luồng không khí có lượng hơi ảm cao độ bất ổn định lớn như tâm mưa thượng lưu sông Đà ở Tây Bắc, Tâm mưa Bắc quang với lượng mưa lớn hơn 4000 mmnăm, tâm mưa Bạch Mã ở thừa thiên Huế, thượng nguồn sông Thu Bồn v.v.. là nguyên nhân tự nhiên tiềm ẩn lũ quét. Điều kiện địa chất cũng là nhân tố tiềm ẩn gây ra lũ quét. Ở những khu vực do điều kiện kiến tạo hình thành các thế đất đá không thuận lợi, khi gặp điều kiện tổ hợp thuận lợi như lượng mưa lớn làm cho đất đá bão hòa nước và hiện tượng sạt trượt sẽ xảy ra. Thêm vào đó là vai trò của con người với việc mưu sinh đã phá hệ sinh thái rừng lấy đất làm nương rẫy, chặt phá rừng đầu nguồn, làm mặt đất bị trơ trọi đã đẩy nhanh quá trình dòng chảy mặt, giảm khả năng điều tiết và lũ quét cũng xảy ra thường xuyên hơn Theo số liệu thống kê, từ sau những năm 1950 trở lại đây cho thấy hầu như năm nào cũng xảy ra lũ quét và có xu hướng ngày càng tăng lên. Nếu trước đây, sạt lở đất và lũ quét chỉ xuất hiện ở vùng núi cao, thưa dân thì ngày nay hiện tượng này đã thực sự là hiểm họa ở mọi nơi thuộc các vùng trung du và núi cao khi quá trình phá rừng lấy đất làm nông lâm, nghiệp tăng lên, phát triển các khu dân cư của các khu đô thị đông dân, các khu vực kinh tế phát triển, đe dọa đến sự an toàn của vùng đồng bằng. Lai Châu là một trong những địa phương xảy ra lũ quét nhiều nhất, hầu như năm nào ở Lai Châu cũng xuất hiện. Đặc biệt trong hai ngày 17 và 1881996 lũ quét đã kéo theo hàng trăm ngàn khối bùn và đá, đã hủy diệt gần như toàn bộ thị trấn Mường Lay và nhiều vùng dân cư trong huyện Mường Lay tỉnh Lai Châu.
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
ĐỀ CƯƠNG DỰ TOÁN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2006-2007
Tên đề tài :
Nghiên cứu cơ chế hình thành lũ quét và các giải pháp cảnh báo phòng tránh lũ quét cho vùng núi Đông Bắc (Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên).
HÀ NỘI, tháng 2/2006
Trang 2Thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
I Thông tin chung về đề tài
Nghiên cứu cơ chế hình thành lũ quét và các giải pháp cảnh
báo phòng tránh lũ quét cho vùng núi Đông Bắc (Cao Bằng,
Bắc Cạn, Thái Nguyên).
3 Thời gian thực hiện: 24 tháng 4 Cấp quản lý
(Từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2007) Nhà nước Bộ Cơ sở
Tỉnh
5 Kinh phí 700 triệu đồng, trong đó:
- Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học
700
- Từ nguồn tự có của cơ quan
- Từ nguồn khác
6 Thuộc Chương trình (ghi rõ tên chương trình, nếu có)
Thuộc Dự án KH&CN (ghi rõ tên dự án KH&CN, nếu có)
Đề tài độc lập
7 Lĩnh vực khoa học
Tự nhiên; Nông, lâm, ngư nghiệp;
Kỹ thuật (Công nghiệp, XD, GT, ); Y dược
8 Chủ nhiệm đề tài
Họ và tên: Vũ Minh Cát
Năm sinh: 1952
Nam/Nữ: Nam
Học hàm: Phó giáo sư Năm được phong học hàm: 2002 Học vị: Tiến sỹ kỹ thuật Năm đạt học vị: 1997
Chức danh khoa học: Giảng viên chính Chức vụ: Trưởng Khoa
Điện thoại:
Cơ quan: 5 634 415 Nhà riêng: 8 536 447 Mobile: 0912009331 Fax: 8 534 198 E-mail: vuminhcat@wru.edu.vn
Tên cơ quan đang công tác: Trường Đại học Thủy lợi
Địa chỉ cơ quan: 175 Tây Sơn, Đống Đa, Hà nội
Trang 3Địa chỉ nhà riêng: Tập thể Đại học Thuỷ lợi, 175 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội
9 Cơ quan chủ trì đề tài
Tên cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Thủy lợi
Điện thoại: 8 522 201 Fax: 5 633 351
E-mail: wru@wru.edu.vn
Website: www.wru.edu.vn
Địa chỉ: 175 Tây Sơn, Đống Đa, Hà nội
Họ và tên thủ trưởng cơ quan: Đào Xuân Học
Số tài khoản:
Ngân hàng:
Tên cơ quan chủ quản đề tài: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
II Nội dung khoa học và công nghệ của đề tài
10 Mục tiêu của đề tài (bám sát và cụ thể hoá mục tiêu đặt hàng - nếu có đặt hàng)
- Xác định cơ chế hình thành lũ quét
- Đề xuất các giải pháp cảnh báo phòng tránh lũ quét cho 3 tỉnh vùng núi Đông Bắc (Bắc Cạn, Cao Bằng, Thái Nguyên) bằng các công nghệ tiên tiến
11 Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Lũ quét là một dạng thiên tai xảy ra ở hầu khắp các nước trên thế giới, đặc biệt ở vùng trung
du, miền núi và các lưu vực sông chịu ảnh hưởng của gió mùa, bão, áp thấp và hội tụ nhiệt đới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonexia, Nhật Bản, Philipin, Hàn Quốc, ấn Độ, Pakistan, Nepan
Lũ quét là một dạng lũ đặc biệt, có thể là lũ nước cực lớn chứa nhiều vật chất rắn, hoặc do tác động của các yếu tố tự nhiên nào đó mà tạo ra dòng chảy (lỏng hoặc rắn) Đặc điểm của lũ quét dưới tác động của mưa cực lớn là sự xuất hiện bất ngờ, mức nước dâng cao với tốc độ rất nhanh kèm theo lở đất Mức độ tàn phá của lũ quét cực kỳ ghê gớm, nhiều trường hợp mang tính hủy diệt
Lũ quét là sự kết hợp của điều kiện địa chất không thuận lợi, chủ yếu là các cung đất khá yếu khi gặp mưa rất lớn tạo ra hiện tượng trượt Quá trình trượt được khuếch đại khi hình thành những dấu hiệu đầu tiên và kéo theo là sự sự trượt của những khối đất dá lớn hoàn toàn bão hòa nước với tốc độ rất lớn, trong khoảng thời gian ngắn
Dưới đây xin nêu một vài ví dụ điển hình về thiệt hại do lũ quét kèm theo lở đất và bùn đá đã xảy ra ở một số nước trên thế giới (Theo sách Mudflow do LHQ xuất bản năm 1996 tại Genève - Nguyễn Tiến Đạt, 1997):
+ Trung Quốc: Năm 1920 tại Kansu lũ bùn đá làm chết trên 200.000 người Năm 1967 tại Yalong lũ quét làm sạt lở trên 68 triệu khối đất đá, trên 650.000 ngôi nhà bị vùi lấp và phá hủy, trên 2.300 người bị thiệt mạng, tổn thất trên 2,4 tỷ USD
+ Nhật Bản: là một trong những nước thường xuyên xảy ra lũ quét cực lớn gây thiệt hại nặng
nề về người và tài sản Ngày 1-9-1923 tại Nebukawa lũ quét cuốn theo 3 triệu khối cuội sỏi làm chết 406 người Ngày 17-9-1945 lũ quét xảy ra đồng thời tại các tỉnh Kure,YaYaamaguchi, Ehime làm chết 2.895 người Ngày 15-9-1947 tại Gunma lũ cuội sỏi có khối lượng 3,75 triệu khối làm chết 708 người Ngày 17-9-1948 tại Iwate lũ cuốn theo 4,1 triệu khối cuội sỏi làm chết 688 người Ngày 30-6-1953 tại Moji và ngày 15-8-1953 tại Kyoto
Trang 4lũ quét mang theo 3,2 triệu khối bùn đá làm thiệt mạng 487 người Ngày 27-9-1958 lũ cuội sỏi làm chết 1.040 người Ngày 28-6-1961 tại Ina lũ quét làm sạt lở và cuốn theo 4,11 triệu khối cuội sỏi làm chết 136 người Ngày 25-7-1965 tại Isahaya có 539 người chết do dòng chảy cuội sỏi Ngày 13-7-1972 tại Gifu dòng chảy sỏi kéo theo 8 triệu khối cuội sỏi làm chết
115 người Ngày 24-7-1982 tại Nagasaki có 369 người chết và ngày 31-7-1982 tại Mie lại có thêm 299 người chết do lũ quét Năm 1926 tại Tokachi lũ quét kéo theo bùn đá làm chết 144 người
+ Thái Lan: Ngày 11-1988 tại Suurrat Thani và Nakhon Si Thammarat lũ quét kéo theo hàng triệu khối cuội sỏi làm 317 người chết, trên 17.000 ngôi nhà bị phá hủy
+ Philipin: Ngày 30-10-1981 tại khu vực thung lũng Amacon Geek lũ quét và sạt lở đất đã vùi lấp hàng trăm ngôi nhà, phá hủy một khu trung tâm thương mại, làm 124 người chết, 12 người bị mất tích, 204 người bị thương Ngày 6-9-1991 tại Pinatubo lũ quét kéo theo trên 7 triệu khối bùn đá làm chết 310 người Ngày 5-11-1991 lũ quét mang theo 5 triệu khối bùn đát lấp đầy trên 3m làm hơn 5.000 người chết
+ Indonexia: năm 1963 tại Agung lũ bùn đá làm chết 200 người Ngày 14-4-1966 tại Kelut lũ quét mang cuội sỏi phủ kín diện rộng trên 45km2 làm 282 người chết Ngày 12-5-1981 tại Semeru lũ quét tàn phá trên diện rộng 10km2, cuốn theo khoảng hơn 1 triệu khối bùn làm chết 74 người
+ Pêru: Huascaran là địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ quét và đá lở Tháng 12-1941 tại đây lũ quét kéo theo bùn đá làm trên 8.000 người chết; năm 1962 lũ quét đã làm sạt lở 13 triệu khối đá gây ra cái chết cho hơn 4.000 người; ngày 31-5-1970 lũ quét lại gây ra tác hại trong khu vực rộng chừng 160km2 làm sạt lở gần 100 triệu khối, trên 18.000 người bị chết và mất tích
+ Colombia: Ngày 13-11-1985 tại Nevado del Ruiz lũ bùn đá có khối lượng trên 90 triệu khối làm 24.740 người bị thiệt mạng
+ Tajikistan: Ngày 18-3-1911 lũ quét làm sạt lở 2,5 triệu khối đá, 550 người chết
+ Kazakstan: tại Almaty ngày 8-7-1921 dòng chảy sỏi khối lượng trên 10 triệu khối làm chết hơn 100 người Cũng tại Almaty ngày 3-8-1977 lại xảy ra lũ quét mang theo 5,1 triệu khối cuội sỏi làm chết hơn 50 người
+ Italy: Ngày 9-10-1963 tại Vincent dòng lũ cuội sỏi có khối lượng 250 triệu khối làm chết trên 1.900 người Ngày 19-7-1985 tại Stava dòng chảy bùn đá có khối lượng 500.000 khối làm chết 260 người
Ý thức được tính nguy hiểm của lũ quét, ở hầu hết các nước phát triển đã hình thành các trung tâm nghiên cứu với hệ thống quan trắc mặt đất và các vệ tinh khí tượng quan trắc liên tục các số liệu và sử dụng các phương pháp tiên tiến tính toán và dự báo khả năng xảy ra lũ quét để cảnh báo cho dân nghiệp được phát triển mạnh
Trong nước: (Phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài, đặc biệt phải nêu cụ thể được những kết quả KH&CN liên quan đến đề tài mà các cán bộ tham gia đề tài đã thực hiện; nếu có các đề tài cùng bản chất đang thực hiện hoặc đăng ký nghiên cứu ở cấp khác, nơi khác của nhóm nghiên cứu phải giải trình rõ các nội dung kỹ thuật liên quan đến đề tài này; nếu phát hiện có đề tài đang tiến hành mà đề tài này
có thể phối hợp nghiên cứu được thì cần ghi cụ thể Tên đề tài, tên Chủ nhiệm đề tài và Cơ quan chủ trì đề tài đó)
Nước ta nằm trong khu vực được xem là có tiềm năng tự nhiên sinh ra lũ quét rất cao vì trên 70% diện tích đất là đồi núi
Lượng mưa lớn, cường suất tập trung và diễn biến rất phức tạp do hiệu ứng nhà kính kéo theo sự xuất hiện của các hiện tượng El Nino - La Nina mà hậu quả là bão, mưa lũ xuất hiện
có xu thế ngày một tăng theo cả không gian và thời gian là nguyên nhân cơ bản gây nên lũ
Trang 5quét Khi các hình thế thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh dù hoạt động đơn độc hay kết hợp đều có thể gây ra mưa lớn với lượng mưa 1 ngày đạt từ 700-800 mm và cá biệt lên tới 1500 mm/ ngày như trận mưa tháng XI,XII năm 1999 xảy ra ở Huế
Các khu vực đều có những tâm mưa lớn, nơi hội tụ của các luồng không khí có lượng hơi
ảm cao độ bất ổn định lớn như tâm mưa thượng lưu sông Đà ở Tây Bắc, Tâm mưa Bắc quang với lượng mưa lớn hơn 4000 mm/năm, tâm mưa Bạch Mã ở thừa thiên Huế, thượng nguồn sông Thu Bồn v.v là nguyên nhân tự nhiên tiềm ẩn lũ quét
Điều kiện địa chất cũng là nhân tố tiềm ẩn gây ra lũ quét Ở những khu vực do điều kiện kiến tạo hình thành các thế đất đá không thuận lợi, khi gặp điều kiện tổ hợp thuận lợi như lượng mưa lớn làm cho đất đá bão hòa nước và hiện tượng sạt trượt sẽ xảy ra
Thêm vào đó là vai trò của con người với việc mưu sinh đã phá hệ sinh thái rừng lấy đất làm nương rẫy, chặt phá rừng đầu nguồn, làm mặt đất bị trơ trọi đã đẩy nhanh quá trình dòng chảy mặt, giảm khả năng điều tiết và lũ quét cũng xảy ra thường xuyên hơn
Theo số liệu thống kê, từ sau những năm 1950 trở lại đây cho thấy hầu như năm nào cũng xảy ra lũ quét và có xu hướng ngày càng tăng lên Nếu trước đây, sạt lở đất và lũ quét chỉ xuất hiện ở vùng núi cao, thưa dân thì ngày nay hiện tượng này đã thực sự là hiểm họa ở mọi nơi thuộc các vùng trung du và núi cao khi quá trình phá rừng lấy đất làm nông lâm, nghiệp tăng lên, phát triển các khu dân cư của các khu đô thị đông dân, các khu vực kinh tế phát triển, đe dọa đến sự an toàn của vùng đồng bằng Lai Châu là một trong những địa phương xảy ra lũ quét nhiều nhất, hầu như năm nào ở Lai Châu cũng xuất hiện Đặc biệt trong hai ngày 17 và 18-8-1996 lũ quét đã kéo theo hàng trăm ngàn khối bùn và đá, đã hủy diệt gần như toàn bộ thị trấn Mường Lay và nhiều vùng dân cư trong huyện Mường Lay tỉnh Lai Châu
Năm 2001, lũ quét xảy ra tại Sơn La, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc
và nhiều nhiều khu vực khác Đặc biệt trận lũ quét xảy ra vào ngày 3-7-2001 tại huyện Sơn Dương tỉnh Thái Nguyên đã làm chết 5 người, bị thương hàng chục người Thiệt hại do lũ quét theo điều tra đánh giá của tỉnh Thái Nguyên lên tới 37 tỷ đồng Hàng trăm cầu cống hồ đập bị sạt lở, cuốn trôi Hàng trăm ha ruộng bị vùi lấp xói lở, hàng trăm ngôi nhà bị trôi và bị đổ
Thiệt hại của trận lũ quét vào trung tuần tháng 6 năm 2001 tại xã Đạo Trù huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc, tuy không lớn như trận lũ quét xảy ra ở Thái Nguyên nhưng cũng để lại hậu quả nặng nề Hàng chục km đường giao thông liên tỉnh, liên huyện bị cuốn trôi; hàng chục km kênh mương bị phá, hàng trăm ha ruộng bị xói lở vùi lấp Thiệt hại lên tới hàng tỷ đồng
Lũ quét phần lớn xảy ra trên diện hẹp song trong những năm gần đây, lũ quét xảy ra trên diện rộng như trận lũ trên sông Ngàn Phố thuộc huyện Hương Sơn tháng XI-2002 làm 77 người chết, hàng trăm người bị thương Mới đây, trận lũ quét xảy ra ở Ngòi Thia, Ngòi Lao thuộc Yên Bái, Phú Thọ ngày 28-29 tháng IX-2005 làm 61 người chết, 13 người bị thương
Lũ quét còn gây trượt lở đất, xé toạc cửa biển mới
Tính từ 1969 đến hết năm 2004, lũ quét đã xảy ra ở 3 tỉnh: Cao bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên Đã thống kê được 23 trận trong đó:
- Cao Bằng : 3 trận
- Bắc Cạn : 11 trận
- Thái Nguyên: 9 trận
Trung bình mỗi năm xảy ra một trận lũ quét trong khu vực nghiên cứu, có thể coi là xảy
ra thường xuyên hằng năm
Đến cuối tháng 12-2005, theo thống kê mới nhất, từ 1953 tới nay đã có 345 trận lũ quét
đã xảy ra (thực tế còn lớn hơn nhiều) trênm cả 3 vùng đồi núi, đồng bằng và ven biển với nhiều loại hình khác nhau và gây thiệt hại ngày càng trầm trọng Lũ ống, lũ quét sườn dốc, lũ
Trang 6quét nghẽn dòng, lũ bùn đá, lũ quét bờ biển, hiện nay lại phát hiện thêm lũ bùn cát xảy ra thường xuyên hằng năm ở vùng ven biển
Cho đến hiện nay đã có hơn 25 đề tài các loại nghiên cứu về lũ quét, kinh phí từ 20 triệu đồng tới 5,6 tỉ đồng, song mới chỉ dừng lại ở một số sản phẩm chưa hoàn chỉnh sau:
1 Nguyên nhân gây ra lũ quét (nguyên nhân được mở rộng dần)
2 Bước đầu nghiên cứu xác định ngưỡng mưa gây lũ quét
3 Xây dựng bản đồ tiềm năng gây lũ quét
4 Xây dựng hệ thống cảnh báo lũ quét trên một vài lưu vực sông thường xảy ra lũ quét và
có nhu cầu
5 Đề xuất một số giải pháp phòng tránh
11.3 Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã nêu trong phần tổng quan (tên công trình, tác giả, nơi và năm công bố - chỉ ghi những công trình tác
giả thật tâm đắc và đã trích dẫn để luận giải cho sự cần thiết nghiên cứu đề tài)
1 Nghiên cứu nguyên nhân hình thành lũ quét và các biện pháp phòng chống - Viện KTTV,
Đề tài NCKH độc lập cấp nhà nước KT-DL-92-14,1992-1995, chủ trì PGS.TS Cao Đăng Dư
2 Lũ quét và nguyên nhân cơ chế hình thành, TS Lê Bắc Huỳnh, 1994
3 Xây dựng phương pháp cảnh báo lũ quét, TS Nguyễn Viết Thi+nnk 1994
4 Thiên tai lũ quét ở Việt nam, chuyên đề nghiên cứu Dự án UNDP VIE/97/002 Disaster Management Unit, 2000, Chủ trì : GS TS Ngô Đình Tuấn
5 Nghiên cứu đánh giá tổng hopự các loại hình tai biến địa chất lãnh thổ Việt Nam, Đề tài NCKH độc lập cấp nhà nước 1999-2003 Chủ trì GS.TS Nguyễn Trọng Yêm
6 Nghiên cứu xây dựng bản đồ phần vùng tai biến môi trường tự nhiên lãnh thổ Việt Nam,
Đề tài NCKH cấp nhà nước, mã số KC.08.01 2001-2004, Chủ trì GS.TS Nguyễn Trọng Yêm
7 Nghiên cứu xác điịnh nguyên nhân, sự phân bố lũ quét-lũ bùn đá nguy hiểm tại các tỉnh miền núi và kiến nghị các giải pháp phòng chống Đề tài KC.08.01 bổ sung, 2005-2006 (đang thực hiện), chủ trì GS.TS Nguyễn Trọng Yêm
8 Dự báo phòng chống lũ quét ở lưu vực sông Nậm Pàn, Nậm La (Sơn La), Tổng cục KTTV 1995-1997
9 Dự án nghiên cứu khả thi : điều tra, khảo sát, quy hoạch phân vùng và cảnh báo khả năng xuất hiện lũ quét ở miền núi Việt nam - giai đoạn 1 (2006-2008) khu vực miền núi Bác
Bộ Cơ quan chủ trì : Viện KTTV
10 Trần Viết Ổn và nnk, Điều tra khảo sát hiện trạng lũ quét và các khu vực có thể gây nguy hiểm khi xảy ra lũ quét để phục vụ công tác dự báo phòng tránh thiệt hại, giảm nhẹ thiên tai ở vùng núi phía bắc (sơn la, lai châu), 2002
11 Cao Đăng Dư và nnk, Nghiên cứu lũ quét vùng núi Tây Bắc và các giải pháp phòng chống giảm nhẹ tác hại của lũ quét, 1996
12 Ngô Đình Tuấn, Lê Đình Thành, Tính toán lũ lớn nhất khả năng đầu mối thủy điện Hòa Bình, Đề tài NCKH Bộ Khoa học & Công nghệ, 2000
13 WMO, Manual for estimation of Probable Maximum Precipitation, Second Edition 1986
14 K.C Patra, Hydrology and Water Resources Engineering, 2000
11.4 Phân tích, đánh giá cụ thể những vấn đề KH&CN còn tồn tại, hạn chế của sản phẩm, công nghệ nghiên cứu trong nước và các yếu tố, các nội dung cần đặt ra nghiên cứu, giải quyết ở đề tài này (nêu rõ, nếu thành công thì đạt được những vần đề gì)
1 Nguyên nhân gây ra lũ quét phần lớn mô tả là chính chưa đi sâu vào cơ chế, ngay cả định
Trang 7nghĩa Đã xác định được một số yếu tố gây lũ quét chính song chưa định lượng được tỉ trọng của mỗi yếu tố trong đó
2 Ngưỡng mưa lũ quét mới xác định cho một số lưu vực có trạm thực nghiệm xói mòn và chỉ mới đạt được ngưỡng mưa ngày gây lũ quét
3 Xây dựng bản đồ tiềm năng gây lũ quét trên cơ sở số liệu điều tra và tổ hợp các yếu tố Song do các thông số của các yếu tố chưa được định lượng chi tiết nên chỉ nặng về mô tả chưa có ý nghĩa trong thực tiễn
4 Đã xây dựng được một số hệ thống cảnh báo lũ song chưa dự báo được lũ quét nên hệ thống cảnh báo hoạt động bị động chưa nói tới có lưu vực xây dựng xong hệ thống cảnh báo nhưng suốt mấy năm tồn tại không xảy ra lũ quét để thử nghiệm
5 Trình độ khoa học công nghệ và quản lý trong lĩnh vực phòng tránh và ứng phó lũ quét của nước ta còn khá thấp so với các nước tiên tiến trên thế giới, do đó cần kế thừa và tiếp thu tối đa kiến thức khoa học và công nghệ của các nước phát triển
6 Lũ quét nói riêng và thiên tai nói chung là những vấn đề mang tính toàn cầu nên được đầu
tư nghiên cứu bởi hầu hết các nước và các tổ chức quốc tế liên quan Do những lý do về nhân đạo (giảm đói nghèo trên toàn thế giới) và để bảo vệ môi sinh của Trái đất - Ngôi nhà chung của nhân loại, các thành tựu khoa học và công nghệ cũng như nhiều sản phẩm trong lĩnh vực này được phổ biến rất rộng rãi và hầu hết là miễn phí Đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng, tiếp thu kiến thức, công nghệ để dự báo và tìm các giải pháp giảm thiểu tác hại của lũ quét
7 Lũ quét chịu sự chi phối phức tạp của nhiều yếu tố, trong đó ba nhân tố chính là mưa cường độ lớn, địa chất và tác động của con người vào tự nhiên nên phương pháp nghiên cứu và đề xuất các giải pháp cần phù hợp với tiềm lực kinh tế còn hạn chế, khả năng đầu
tư chưa cao, thiếu cơ sở vật chất, hệ thống cơ sở dữ liệu không đầy đủ và không đồng bộ,
và những đặc thù về văn hóa xã hội, tập quán ở vùng nghiên cứu
8 Lũ quét gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và con người, nhưng hiện chưa có chính sách, cơ cấu tổ chức, kế hoạch toàn diện cho công tác dự báo và phòng chống Một hệ thống chính sách, tổ chức, kế hoạch toàn diện sẽ mang lại hiệu quả cao
Như vậy, điều tra khảo sát, thu thập các tài liệu cơ bản về hiện trạng lũ quét đã xảy ra cũng như các khu vực có thể gây nguy hiểm khi xảy ra lũ quét là một công việc rất quan trọng góp phần xác định cơ chế hình thành lũ quét để định hướng, tìm kiếm các giải pháp cảnh báo phòng tránh thiên tai, ổn định và phát triển kinh tế xã hội vùng trung du miền núi nước ta.
12 Cách tiếp cận
(Luận cứ việc lựa chọn cách tiếp cận phù hợp đối tượng nghiên cứu để đạt mục tiêu đặt ra)
- Tiếp cận hệ thống: coi các hệ thống lưu vực trên vùng nghiên cứu nằm trong một hệ thống chung, chịu ảnh hưởng của các nhân tố gây nên lũ quét
- Tiếp cận đáp ứng nhu cầu Nghiên cứu điều tra nắm vững hiện trạng xảy ra lũ quét, trên cơ
sở đó mới xác định được cơ chế hình thành lũ quét
- Nghiên cứu các mô hình toán phục vụ mô phỏng các trận lũ quét
- Nghiên cứu các phương án quy trình cảnh báo lũ quét, ứng dụng quy trình cảnh báo cho ba địa điểm thuộc ba tỉnh vùng nghiên cứu
- Kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kiến thức khoa học, kinh nghiệm và công nghệ của các nước phát triển và các nước trong khu vực về phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do lũ quét gây ra
13 Nội dung nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm
(Liệt kê và mô tả những nội dung nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm cần tiến
hành để đạt được mục tiêu đặt ra, trong đó, chỉ rõ những nội dung mới, nội dung quan
trọng nhất để tạo ra sản phẩm, công nghệ chủ yếu; những hoạt động để chuyển giao kết quả
Trang 8nghiên cứu đến người sử dụng; dự kiến những nội dung có tính rủi ro và giải pháp khắc phục
- nếu có)
I Nghiên cứu đánh giá về tình hình xảy ra lũ quét tại 3 tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng, Thái nguyên
1.1 Thu thập tài liệu tại các cơ quan như Cục Phòng chống lụt bão và Quản lý đê điều, Các
Viện về Khí tượng - Thủy văn (Bộ Tài Nguyên - Môi Trường), Viện Địa chất (Trung tâm Khoa học và công nghệ Quốc gia)
1.2 Tổ chức điều tra thực địa về các khu vực dễ xảy ra lũ quét tại các khu vực kinh tế trọng
điểm của 3 tỉnh nói trên (Mỗi tỉnh chọn một địa điểm lũ quét xảy ra thường xuyên).
II Nghiên cứu chế độ mưa có khả năng hình thành lũ quét
2.1 Các hình thế thời tiết và các tổ hợp gây mưa và lũ lớn
2.2 Chế độ mưa lũ vùng Đông bắc
2.3 Phương pháp tính toán mưa khả năng tạo lũ quét
2.4 Cơ chế hình thành lũ quét
III Nghiên cứu về địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
3.1 Thiết lập bản đồ địa hình vùng nghiên cứu
3.2 Thiết lập bản đồ số (DEM) vùng nghiên cứu
3.3 Đặc điểm địa chất vùng nghiên cứu
3.4 Thiết lập bản đồ địa chất các vùng có nhiều khả năng xảy ra lũ quét và các khu
vực kinh tế xã hội tiềm ẩn lũ quét của 3 tỉnh nghiên cứu
3.5 Thiết lập bản đồ thổ nhưỡng vùng có nhiều khả năng xảy ra lũ quét và các khu vực
kinh tế xã hội tiềm ẩn lũ quét của 3 tỉnh nghiên cứu
IV Nghiên cứu thảm phủ
4.1 Diễn biến rừng tự nhiên, rừng nhân tạo và các hệ thực vật điển hình khu vực
nghiên cứu
4.2 Thiết lập bản đồ rừng khu vực nghiên cứu
4.3 Hệ thống canh tác tại các khu vực kinh tế và dân cư trọng điểm 3 tỉnh nghiên cứu
4.4 Thiết lập bản đồ hệ thống canh tác tại các khu vực kinh tế và dân cư trọng điểm
V Cảnh báo lũ quét và các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do lũ quét (Thực hiện cho 3 địa điểm điển hình của 3 tỉnh Cao Bằng, Bắc cạn và Thái Nguyên)
5.1 Tính toán mưa và phân cấp lượng mưa với khả năng sinh lũ quét khác nhau
5.2 Ứng dụng công nghệ GIS chập bản đồ địa chất, thổ nhưỡng, thảm phủ với bản đồ
mưa ứng với các tần suất khác nhau, xác định các vùng tiềm năng lũ quét với các
cấp khác nhau
5.3 Quy trình cảnh báo lũ quét
5.4 Ứng dụng quy trình cảnh báo cho ba địa điểm thuộc ba tỉnh vùng nghiên cứu
5.5 Các giải pháp phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do lũ quét gây ra
14 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Phương pháp nghiên cứu
(Luận cứ rõ việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng phù hợp với
Trang 9từng nội dung của đề tài; làm rõ tính mới, sáng tạo, độc đáo của các phương pháp nghiên cứu
và kỹ thuật sử dụng)
- Kế thừa, áp dụng có chọn lọc sản phẩm KHCNhiện có trên thế giới/trong nước
- Phương pháp điều tra, phân tích nguyên nhân hình thành
- Phương pháp thống kê toán học và thống kê thực nghiệm
- Phương pháp phân tích tương tự và phân tích tổng hợp
- Phương pháp chuyên gia
- Kỹ thuật viễn thám và GIS
Kỹ thuật sẽ sử dụng
- Các bảng tài liệu về dân sinh kinh tế
- Các bảng tài liệu về khí tượng thuỷ văn
- Các bản đồ nền
- Sử dụng các mô hình toán cho nên dùng nhiều máy tính
- Vật liệu làm các mốc
15 Hợp tác quốc tế
Đã
hợp tác
Tên đối tác
(Người và tổ chức khoa học và công nghệ)
Nội dung hợp tác
(Ghi rõ nội dung, lý do, hình thức hợp tác, kết quả thực hiện hỗ trợ cho đề tài này)
Dự kiến
hợp tác
Tên đối tác
(Người và tổ chức khoa học và công nghệ)
Nội dung hợp tác
(Ghi rõ nội dung cần hợp tác; lý do hợp tác; hình thức thực hiện; dự kiến kết quả hợp tác đáp ứng yêu
cầu của đề tài)
Đại học Vũ Hán & ĐH
Hà hải Trung quốc
Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu lũ quét và các kinh nghiệm của Trung quốc về tính toán, dự báo lũ quét
16 Tiến độ thực hiện (phù hợp với những nội dung đã nêu tại mục 13)
TT
Các nội dung, công việc
chủ yếu cần được thực hiện
(Các mốc đánh giá chủ yêu)
Sản phẩm phải đạt
Thời gian
(BĐ - KT)
Người, cơ quan thực hiện
Trang 10I Nghiên cứu đánh giá về tình
hình xảy ra lũ quét tại 3
tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng
1 Thu thập tài liệu tại các cơ
quan như Cục Phòng chống
lụt bão và Quản lý đê điều,
Các Viện về Khí tượng
Thủy văn (Bộ Tài Nguyên
-Môi Trường), Viện Địa chất
(Trung tâm Khoa học và công
nghệ Quốc gia)
Tài liệu về mưa, lũ, và các báo cáo về lũ quét và các thiệt hại do lũ quét gây ra tại các khu vực nghiên cứu (Thái nguyên, Cao bằng, Bắc cạn)
01/01/06- 31/03/06
Hoàng Thanh Tùng, Phạm Anh Tuấn
Đại học thủy lợi
2 Tổ chức điều tra thực địa về
các khu vực dễ xảy ra lũ quét
tại các khu vực kinh tế trọng
điểm của 3 tỉnh nói trên
Báo cáo kết quả điều tra lũ quét tại 3 tỉnh nghiên cứu (Thái nguyên, Cao bằng, Bắc cạn)
01/01/06- 30/06/06
Cán bộ ĐH Thủy lợi và
Sở NN & PTNT
II Nghiên cứu về cơ chế hình
thành lũ quét
1 Các hình thế thời tiết gây
mưa lũ và các tổ hợp gây mưa
lớn
Báo cáo chuyên đề
01/06/06-30/06/06
Lê Đình Thành, Hoàng thanh Tùng
2 Chế độ mưa lũ vùng Đông
bắc Việt nam
Báo cáo chuyên đề
01/06/06-30/06/06
Lê Đình Thành, Hoàng Tùng
3 Tính toán mưa có khả năng
tạo lũ quét Báo cáo chuyênđề 01/07/06-31/07/06 Lê Đình Thành,Phạm Hùng
4 Cơ chế hình thành lũ quét Báo cáo chuyên
đề
01/07/06-31/07/06
Lê Đình Thành, Phạm Hùng,
Vũ Minh Cát
III Nghiên cứu về địa hình, địa
chất và thổ nhưỡng
1 Thiết lập bản đồ địa hình vùng
nghiên cứu Bản đồ địa hìnhvùng nghiên
cứu
01/08/06- 30/08/06 Phạm Q Sơn và nnk
2 Thiết lập bản đồ số (DEM)
cho 3 địa điểm điển hình
30/08/06
Phạm Q Sơn và nnk
3 Đặc điểm địa chất 3 tỉnh và
các khu vực tiềm năng lũ quét
Báo cáo chuyên đề
01/08/06- 30/08/06
Phạm Q Sơn và nnk
4 Thiết lập bản đồ địa chất các
vùng có nhiều khả năng xảy
ra lũ quét và các khu vực kinh
tế xã hội tiềm ẩn lũ quét của 3
tỉnh nghiên cứu
Bản đồ địa chất khu vực nghiên cứu
01/08/06- 30/08/06 Phạm Q Sơn và nnk