1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển thương hiệu thành phố đà nẵng đối với nhà đầu tư tiếp cận dựa trên chie số năng lực cạnh tranh cấp Tỉnh(PCI)

128 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 7,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi việc làm hài lòng các nhà đầu tư vừa có thể giữ chân doanh nghiệp đầu tư lâu dài, mở rộng quy mô đầu tư và cả kêu gọi những đối tác của họ tham gia đầu tư vào địa phương.Trong khuôn

Trang 1

CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư: tiếp cận dựa trên chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn này được thu thập từ thực tế, có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực, khách quan Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây./

Tác giả luận văn

Đỗ Việt Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Bố cục đề tài 5

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ 11

1.1 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG HIỆU 11

1.1.1 Khái niệm và Phân loại thương hiệu 11

1.1.2 Các yếu tố cấu thành thương hiệu 13

1.1.3 Quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu 14

1.2 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ 16

1.2.1 Khái niệm thương hiệu địa phương 16

1.2.2 Đặc điểm của thương hiệu địa phương 17

1.2.3 Vai trò của thương hiệu địa phương 20

1.2.4 Phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư 21

1.3 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰA TRÊN CHỈ SỐ PCI 27

1.3.1 Định vị thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI 27

1.3.2 Xây dựng chiến lược truyền thông thương hiệu địa phương (maketing địa phương) đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI 28

Trang 5

1.3.3 Quản lý, bảo vệ thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa

trên chỉ số PCI 29

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰA TRÊN CHỈ SỐ PCI 29

1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của mỗi địa phương 29

1.4.2 Chính sách thu hút đầu tư của địa phương 30

1.4.3 Chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương (kết quả PCI) 31

1.4.4 Công tác marketing địa phương đối với lĩnh vực thu hút đầu tư 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰA TRÊN CHỈ SỐ PCI 34

2.1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

2.1.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng 38

2.1.3 Chất lượng điều hành của chính quyền địa phương 43

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰA TRÊN CHỈ SỐ PCI 51

2.2.1 Thực trạng định vị thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI 51

2.2.2 Thực trạng công tác truyền thông thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI 64

2.2.3 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ thương hiệu thành phố Đà nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI 68

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰ TRÊN PCI 74

Trang 6

2.3.1 Những mặt đạt được 74 2.3.2 Những hạn chế 74 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰA TRÊN CHỈ SỐ PCI 76

3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 76

3.1.1 Xác định thuộc tính nổi bật nhận dạng thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư 76

3.1.2 Đánh giá SWOT về thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư 78 3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ 80

3.2.1 Định vị thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI 80

3.2.2 Maketing thương hiệu Đà Nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ

số PCI 83

3.2.3 Quản lý và bảo vệ thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư 85

KẾT LUẬN 88 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

Trang 7

2.4 Điểm số Chi phí không chính thức Đà Nẵng các năm

Trang 8

2.4 Biểu đồ PCI Đà Nẵng và các tỉnh các năm 2013-2016 48

2.5 Biểu đồ radar về chỉ số thành phần PCI Đà Nẵng trong 02

Biểu đồ kết quả đánh giá một số chỉ tiêu của Tính năng

động của chính quyền địa phương Đà Nẵng 03 năm gần

nhất (2014-2016)

57

2.10 Biểu đồ radar so sánh chỉ số Đào tạo lao động giữa Đà

Nẵng và các tỉnh trong 03 năm 2014-2016 59 2.11 Biểu đồ kết quả đánh giá một số chỉ tiêu đánh giá Đào tạo

lao động của Đà Nẵng 03 năm gần nhất (2014-2016) 60

Trang 9

Số hiệu

2.12 Biểu đồ radar so sánh chỉ số Dịch vụ hỗ trợ DN của Đà

Nẵng và các tỉnh trong 03 năm 2014-2016 62 3.2 Biểu đồ nhận thức các thuộc tính và thương hiệu của Đà

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DN: Doanh nghiệp

NLCT: Năng lực cạnh tranh

PCI: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

UBND: Ủy ban nhân dân

GN: Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường

TMB: Tính minh bach

CTBD: Cạnh tranh bình đẳng

CPKCT: chi phí không chính thức

TND: Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh

DTLD: Đào tạo lao động

HTDN: Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

TCD: Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất

CPTG: Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước TCPL: Thiết chế pháp lý

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại Thế giới WTO, số lượng doanh nghiệp không ngừng tăng lên và sự phát triển của doanh nghiệp

đã có nhiều đóng góp tích cực tạo nên sự thịnh vượng cho nền kinh tế Tuy nhiên sự phát triển doanh nghiệp là không đồng đều giữa các địa phương, việc doanh nghiệp lựa chọn địa phương nào hay vùng miền nào có thể phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố mang tính lợi thế tự nhiên như vị trí địa

lý, đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, đất đai Vì vậy, một số địa phương dù có sự tương đồng về các yếu tố tự nhiên nói trên song lại có tốc độ doanh nghiệp phát triển rất khác nhau và sự khác biệt này nằm ở năng lực điều hành kinh tế của chính quyền địa phương

Năm 2006, lần đầu tiên Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp cùng với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) công

bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đối với 63 tỉnh/thành phố trên cả nước Một số tỉnh/thành phố có những điều kiện tự nhiên khá giống nhau nhưng với các phương thức quản lý và điều hành kinh tế địa phương khác nhau đã tạo ra những kết quả khác biệt về xếp hạng chỉ số PCI Đà Nẵng là địa phương nhiều năm dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI nhưng liệu từng đó đã đủ để trở thành lợi thế cạnh tranh của thành phố về khía cạnh thu hút nhà đầu tư Có lợi thế cạnh tranh và biết tối ưu hoá lợi thế cạnh tranh đó qua công tác quản lý, giáo dục và xây dựng chính sách để tạo ra các “sản phẩm” tốt cho địa phương, đồng thời cần biết cách quảng bá các nét đặt thù của “sản phẩm” này một cách hiệu quả đến các “khách hàng” của mình Một trong những nhóm “khách hàng” đặc biệt các địa phương rất quan tâm là các nhà đầu tư bởi sự có mặt của họ sẽ mang lại việc làm và nguồn thu

Trang 12

ngân sách quan trọng của địa phương Trong môi trường toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp, các ngành, địa phương và quốc gia phải đối mặt với những áp lực cạnh tranh Trong quá trình cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia cần có những cách xây dựng hình ảnh khác biệt nhau dựa trên lợi thế riêng có

Chúng ta đang nói về thương hiệu địa phương Thời gian qua, thương hiệu địa phương là khái niệm được rất nhiều người quan tâm, là yếu tố quan trọng thu hút đầu tư và nguồn nhân lực, đóng góp vai trò lớn vào sự phát triển của địa phương và nền kinh tế quốc dân Theo ông Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam cho rằng, điều khiến nhà đầu tư quyết định đầu

tư vào địa phương này chứ không phải địa phương khác bởi tính hấp dẫn của địa phương ấy mà thông qua nhiều yếu tố tạo thành thương hiệu địa phương thương hiệu địa phương không nhất thiết đến từ điều kiện tự nhiên hay lịch

sử mà có thể được tạo dựng bởi thể chế và tầm nhìn dài hạn Hay theo Philip Kotler nhận định “Tương lai phát triển các địa phương ngày nay không tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên Tương lai phát triển của địa phương tuỳ thuộc vào chuyên môn, kỹ năng đóng góp, phẩm chất của con người và tổ chức tại địa phương”

Có thể khẳng định, ngày nay theo định hướng thị trường, các địa phương ngày nay phải tự thân vận động giống như một doanh nghiệp và do đó các nhà lãnh đạo cần biết xây dựng địa phương mình thành một “sản phẩm” hấp dẫn đồng thời cần biết cách quảng bá các nét đặc thù của “sản phẩm” này một cách hiệu quả đến khách hàng” của mình Tồn tại 4 loại khách hàng của địa phương: nhà đầu tư, du khách, dân cư và lao động, các nước nhập khẩu hàng hóa Trong giới hạn của đề tài này, chúng ta chỉ đề cập đến loại khách hàng là nhà đầu tư, một trong những nhóm “khách hàng” mà các địa phương rất quan

Trang 13

tâm bởi sự có mặt của họ sẽ mang lại việc làm và nguồn thu ngân sách quan trọng của địa phương

Đối với nhà đầu tư, thương hiệu địa phương có tác động lớn đến quyết định của nhà đầu tư trong việc lựa chọn địa phương đó đầu tư sản xuất kinh doanh Để thu hút vốn đầu tư vào địa phương hiện nay không thể chỉ dựa vào lý thuyết về lợi thế so sánh (như giá nhân công rẻ) do chúng không còn phù hợp với thế giới ngày nay nữa (Fairbanks & Linsay, 1997) Việc thu hút vốn đầu tư của nhà đầu tư hiện nay phải dựa trên các thuộc tính địa phương làm hài lòng các doanh nghiệp (Kotler, 2002) Bởi việc làm hài lòng các nhà đầu tư vừa có thể giữ chân doanh nghiệp đầu tư lâu dài, mở rộng quy mô đầu tư và cả kêu gọi những đối tác của họ tham gia đầu tư vào địa phương.Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả lựa chọn thuộc tính địa phương để xây dựng thươn hiệu là chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Xuất phát từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình là “Phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư: tiếp cận dựa trên chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)” nhằm tìm ra những định hướng và giải pháp cho một thương hiệu của Đà Nẵng đối với nhà đầu tư trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Với cách tiếp cận định lượng dựa trên dữ liệu của điều tra năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ 2013 đến 2016, tác giả sẽ hình thành biểu đồ nhận thức (perceptual map) trong định vị thương hiệu nhằm giúp cho việc xây dựng chiến lược marketing thương hiệu địa phương cho các nhà đầu tư trên cơ sở

sử dụng chỉ số năng lực cấp tỉnh (PCI) để thấy được tính ổn định của các thuộc tính trong nhận thức của đối tượng phỏng vấn (khu vực kinh tế tư nhân) trong

Trang 14

việc đánh giá các nỗ lực cải cách và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương; qua đó, định hướng mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo môi trường kinh doanh ngày càng thuận cho các doanh nghiệp Việt Nam Đồng thời, đưa ra các hàm ý về định vị và phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế bền vững trong thời gian đến

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài này thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu chính sau đây:

Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển thương hiệu địa phương

Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thương hiệu thành phố

Đà Nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên các yếu tố cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

Thứ ba: Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm duy trì và phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu việc phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI trong đó nhà đầu tư là các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)

- Về không gian: nghiên cứu được thực hiện ở phạm vi thành phố Đà Nẵng

Trang 15

- Về thời gian: thời gian thực hiện nghiên cứu từ năm 2013 đến năm

2016

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu sử dụng nghiên cứu đề tài bao là số liệu thứ cấp Số liệu thứ cấp

là những dữ liệu đã qua tổng hợp, xử lý và được thu thập từ các nguồn như: các số liệu báo cáo của các đề tài nghiên cứu, sách, báo, tạp chí, internet… để trang bị các kiến thức cần thiết cho quá trình nghiên cứu đề tài Trong đó, trọng tâm số liệu PCI được lấy từ kết quả xếp hạng PCI hằng năm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp cùng với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) công bố

4.2.Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp

- Phương pháp định vị MDS (Multidimensional Scaling) dựa trên các chỉ số thành phần PCI cho phép hình thành biểu đồ nhận thức, từ đó xác định các thuộc tính cơ bản cho xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu

Phương pháp phân tích đo lường đa hướng MDS (còn được gọi lập biểu

đồ nhận thức) là phương pháp chủ yếu được sử dụng khi định vị sản phẩm hay định vị thương hiệu trong nghiên cứu marketing Cụ thể trong đề tài này, dựa vào dữ liệu đã thu thập về chỉ số PCI, tác giả tiến hành định vị thương hiệu của tỉnh/thành phố trên cơ sở 10 biến số thành phần của PCI để tìm ra những chỉ số thành phần chính (nổi bật), từ đó xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với nhà đầu tư thông qua các thuộc tính nổi bật

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo Nội dung chính của luận văn chia thành 03 Chương:

Trang 16

Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thương hiệu và phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Chương II: Thực trạng phát triển thương hiệu thành phố đà nẵng đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI

Chương III: Giải pháp phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng đối với

với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6.1 Lê Anh Cường, năm 2003, “Tạo dựng và quản trị thương hiệu Danh tiếng - Lợi nhuận”

Cuốn sách “Tạo dựng và quản trị thương hiệu Danh tiếng - Lợi nhuận”

đề cập đến những nội dung mang tính lý thuyết về: Thương hiệu và tầm quan trọng của thương hiệu; sự hình thành giá trị thương hiệu; Các chiến lược quản trị và phát triển thương hiệu; cách thức quảng bá và sử dụng các phương tiện truyền thông nhằm tạo dựng thương hiệu có giá trị; Các đối tượng sở hữu công nghiệp, khái niệm và trình tự thủ tục xác lập quyền sở hữu độc quyền tại Việt Nam

6.2 Nghiên cứu của Phạm Thế Anh và Chu Thị Mai Phương (2015)

Nghiên cứu phân tích tác động của môi trường thể chế đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước giai đoạn 2006 – 2012 ở Việt Nam Với dữ liệu về doanh nghiệp được chiết xuất từ bộ điều tra doanh nghiệp (GES) thực hiện bởi Tổng cục Thống kê trong giai đoạn

2006 – 2012 và dữ liệu về thể chế môi trường kinh doanh được khai thác từ

bộ dữ liệu đánh giá Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI từ năm 2006 Tác giả

sử dụng mô hình RE và phương pháp ước lượng GLS để ước lượng các nhân

tố thể chế môi trường kinh doanh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Kết quả cho thấy các yếu tố: tiếp cận và ổn định sử dụng đất đai, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, pháp lý và bảo vệ hợp đồng tác động

Trang 17

đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nước, trong khi

đó các yếu tố: chi phí gia nhập thị trường, chi phí tiếp cận và ổn định khi sử dụng đất đai có tác động mạnh lên kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI

6.3 Nghiên cứu của PGS.TS Lê Văn Huy, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng

Bài báo “Định vị và maketing thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư: nghiên cứu dựa trên chỉ số PCI các tỉnh duyên hải Miền Trung” của PGS.TS Lê Văn Huy đã tiến hànhđưa ra nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Việt Nam và cho rằng các địa phương có thể sử dụng như hệ thống các thuộc tính để định vị nhằm truyền thông và phát triển hình ảnh của địa phương mình Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu trung bình của các năm từ 2009 đến 2011 của 9 chỉ số thành phần trong việc phân tích định vị thông qua biểu đồ nhận thức Phương pháp định vị MDS (Multidimensional Scaling) theo kỹ thuật ALSCAL dựa trên các chỉ số thành phần PCI cho phép hình thành biểu đồ nhận thức bằng phần mềm SPSS 20.0, từ đó xác định các thuộc tính cơ bản cho xây dựng và phát triển thương hiệu

6.4 Nghiên cứu của Trần Hoài Nam (2012)

Đánh giá tác động của chỉ số năng lực canh tranh cấp tỉnh PCI đến thu hút vốn đầu tư của địa phương tại Việt Nam Trần Hoài Nam (2012) sử dụng

dữ liệu bảng với 255 quan sát cùng thời gian nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2010 của 55 tỉnh thành trong cả nước Trong nghiên cứu này, tác giả không đưa 8 tỉnh thành vào phạm vi nghiên cứu đó là: Hà Nội, Hải Phòng,

Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ là 5 thành phố lớn trực thuộc Trung ương, các thành phố này có ưu thế vượt trội về thu hút đầu tư so với các địa phương khác Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Sơn La là các tỉnh có

dự án trọng điểm quốc gia như: dự án khí điện đạm (Bà Rịa – Vũng Tàu), nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quốc (Quãng Ngãi) và nhà máy thủy điện Sơn

Trang 18

La, các dự án này có vốn đầu tư cao hơn nhiều so với vốn sản xuất kinh doanh hiện tại của địa phương Tác giả cho rằng, nếu đưa các tỉnh này vào sẽ làm sai lệch số liệu trong quá trình hồi qui

Bằng việc xây dựng 2 mô hình hồi kinh tế lượng để nghiên cứu tác động với biến phụ thuộc là vốn sản xuất kinh doanh Mô hình thứ nhất, đánh giá sự tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đến giá trị đầu

tư và mô hình thứ hai nghiên cứu ảnh hưởng của các chỉ số thành phần PCI đến giá trị đầu tư Kết quả hồi qui cho thấy có sự tác động của PCI đến đến thu hút đầu tư của các địa phương, cụ thể: địa phương nào có điểm PCI cao hơn 1 điểm thì sẽ thu hút đầu tư cao hơn 5,7%

6.5 Nghiên cứu của Lê Công Hướng (2013)

Lê Công Hướng (2013) nghiên cứu “Các thành phần của chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại các địa phương của Việt Nam” Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mối quan hệ tác động giữa các chỉ số thành phần của PCI đến việc thu hút vốn FDI vào các địa phương Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu của VCCI về kết quả điều tra các chỉ số thành phần của PCI trong phạm vi 63 tỉnh/thành của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012 Biến phụ thuộc là vốn FDI đăng ký mới, các biến độc lập gồm có 9 chỉ số thành phần của PCI và các biến kiểm soát là GDP, sân bay, cảng biển, diện tích đất của từng địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) biến “thiết chế pháp lý” có ảnh hưởng tích cực đến việc thu hút vốn đăng ký của FDI; (ii) biến “tiếp cận đất đai” có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thu hút vốn FDI vào các địa phương; (iii) Địa phương có cảng biển

dễ thu hút vốn FDI hơn; (iv) các chỉ số thành phần khác của PCI và các biến kiểm soát khác không có ảnh hưởng đến việc thu hút vốn FDI

6.6 Nghiên cứu của Vũ Thị Xuân Lan (2013)

Trang 19

Nghiên cứu về “Mối liên hệ giữa các chỉ số thành phần của PCI với đầu

tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam” Nghiên cứu thực hiện trong

phạm vi 34 tỉnh/thành của Việt Nam, giai đoạn 2007-2012 Đề tài nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết là Lý thuyết Cạnh tranh Quốc gia, Lý thuyết vốn và Lý thuyết tiếp thị địa phương cùng những nghiên cứu thực nghiệm trước đó kết hợp với bộ dữ liệu thứ cấp lấy từ nguồn của cơ quan xây dựng chỉ số PCI, Tổng cục Thống kê và Bộ Công Thương Kết quả của nghiên cứu xác định được mối liên hệ giữa FDI và PCI là cùng chiều, cụ thể hơn là ba (3) chỉ số thành phần sau của PCI có ảnh hưởng đến sự tăng giảm của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là chi phí không chính thức, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và đào tạo lao động Ngoài ra, giá trị FDI năm trước cũng có tác động đến giá trị FDI của năm hiện tại Tất cả các chỉ số thành phần đều thuộc quá khứ nếu có xét độ trễ thời gian, điều này cho thấy các địa phương nếu muốn cải thiện khả năng cạnh tranh, thu hút nhà đầu tư thì cần có chiến lược lâu dài

6.7 Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2005)

Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện tại tỉnh Tiền Giang năm 2005 là nghiên cứu đầu tiên ứng dụng lý thuyết marketing địa phương của Philip Kotler để xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng về sự hài lòng của doanh nghiệp đối với các thuộc tính địa phương

Theo đó, các thuộc tính địa phương được các doanh nghiệp quan tâm gồm 3 nhóm thuộc tính: (1) nhóm các thuộc tính về cơ sở hạ tầng đầu tư, (2) nhóm các thuộc tính về chế độ, chính sách, dịch vụ đầu tư và kinh doanh, (3) nhóm thuộc tính môi trường sống và làm việc

Trang 20

Bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định thang

đo (Cronbach Alpha) và qua kỹ thuật hồi quy tuyến tính bội cho thấy có 4 biến thuộc tính địa phương: (1) hỗ trợ của chính quyền, (2) ưu đãi đầu tư, (3) đào tạo kỹ năng, (4) môi trường sống và một biến đặc điểm doanh nghiệp (loại hình doanh nghiệp) có ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp Nhóm tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích vị trí đa hướng nhằm xác định vị trí địa phương so với các địa phương cạnh tranh (TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long) thông qua 4 biến trên Kết quả cho thấy, Tiền Giang được đánh giá cao nhất ở thuộc tính môi trường sống Thuộc tính kỹ năng lao động và chính sách ưu đãi đầu tư được đánh giá rất thấp, chỉ xếp thứ 5 trong 7 tỉnh thành so sánh

Kết quả nghiên cứu của Thọ và Trang cũng cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp tại Tiền Giang là các yếu tố nguồn lực mềm, các yếu tố cứng (cơ sở hạ tầng) không ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp Điều này chưa được các tác giả nhắc đến trong nghiên cứu của mình

Qua xem xét tổng quan các nghiên cứu trước, nhận thấy đa số các nghiên cứu sử dụng chỉ số PCI và các chỉ số thành phần của PCI để đánh giá tác động đến: dòng vốn FDI của địa phương, việc thu hút FDI vào các địa phương tại Việt Nam, đến đầu tư tư nhân, hình thức kinh doanh Phần lớn các nghiên cứu cho rằng chỉ số PCI và các thành phần của chỉ số PCI có ảnh hưởng nhất định đến đầu tư tư nhân, hình thức kinh doanh, đến việc thu hút vốn đầu tư nói chung và vốn FDI nói riêng vào các địa phương của Việt Nam

Khác với các nghiên cứu trên, đề tài này nghiên cứu tác động của PCI

và 10 chỉ số thành phần của PCI đến phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Trang 21

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG HIỆU

VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI

NHÀ ĐẦU TƯ

1.1 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG HIỆU

1.1.1 Khái niệm và Phân loại thương hiệu

a Khái niệm về Thương hiệu

Dựa trên những quan điểm khác nhau, cách cách tiếp cận khác nhau, hiện nay có rất nhiều khái niệm về thương hiệu

- Thương hiệu trong Marketing

• Theo hiệp hội Marketing Mỹ (American Marketing Association – AMA): “Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hoặc sự phối hợp tất cả các yếu tố này để có thể nhận biết hàng hoá hoặc dịch vụ của một người bán cũng như phân biệt nó với hàng hoá hay dịch vụ của những người bán khác” [4.tr8]

• Philip Kotler: “Thương hiệu (Brand) có thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng được dùng để xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh” [4.tr8]

- Thương hiệu trong thương mại

Trong thương mại, thương hiệu chính là sự biểu hiện cụ thể nhất của nhãn hiệu hàng hóa, là cái phản ánh hay biểu tượng, đánh giá về uy tín của doanh nghiệp trước người tiêu dùng [1.tr6]

- Thương hiệu trong sở hữu trí tuệ

Trang 22

Thương hiệu là thuật ngữ để chỉ chung các đối tượng sở hữu trí tuệ thường được nhắc đến và được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa [1.tr9]

- Một số khái niệm khác

• Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một

tổ chức [1.tr10]

• Wikipedia: Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm [5.tr8]

• Bách khoa toàn thư: Thương hiệu là dấu hiệu được nhà sản xuất, thương nhân hoặc doanh nghiệp sử dụng để đánh dấu nguồn gốc hoặc quyền

sở hữu đối với hàng hoá của mình và phân biệt chúng với hàng hoá cùng loại của các nhà sản xuất, thương nhân hoặc doanh nghiệp khác [5.tr8]

b Phân loại Thương hiệu

Theo tiếp cận của quản trị thương hiệu và marketing, thương hiệu có thể được chia thành:

- Thương hiệu cá biệt

Thương hiệu cá biệt (còn được gọi là thương hiệu cá thể hoặc thương hiệu riêng) là thương hiệu của từng chủng loại hoặc từng tên hàng hóa, dịch

vụ cụ thể [11.tr10] Với thương hiệu cá biệt, mỗi loại hàng hóa lại mang một thương hiệu riêng

- Thương hiệu doanh nghiệp

Thương hiệu doanh nghiệp (còn gọi là thương hiệu gia đình) là thương hiệu chung cho tất cả các hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp [11.tr10] Mọi hàng hóa thuộc các chủng loại khác nhau của doanh nghiệp đều mang

Trang 23

thương hiệu như nhau Đặc điểm của thương hiệu gia đình là tính khái quát rất cao và phải có tính đại diện cho tất cả các chủng loại hàng hóa của doanh nghiệp

- Thương hiệu tập thể

Thương hiệu tập thể (còn gọi là thương hiệu nhóm) là thương hiệu của một nhóm hay một số chủng loại hàng hóa nào đó, có thể do một cơ sở sản xuất hoặc do các cơ sở khác nhau sản xuất và kinh doanh (thường là trong cùng một khu vực địa lý, gắn với các yếu tố xuất xứ, địa lý nhất định) [11.tr10]

- Thương hiệu quốc gia

Thương hiệu quốc gia là thương hiệu dùng chung cho các sản phẩm, hàng hóa của một quốc gia nào đó (thường gắn liền với những tiều chí nhất đinh, tùy thuộc vào từng quốc gia, từng giai đoạn) [11.tr10] Đặc điểm thương hiệu quốc gia thường có tính khái quát và trừu tượng, không bao giờ đứng độc lập, luôn gắn liền với các thương hiệu cá biệt, thương hiệu gia đình hoặc thương hiệu tập thể

Thương hiệu quốc gia được coi như là một chỉ dẫn địa lý đa dạng dựa trên uy tín của nhiều loại hàng hóa với những thương hiệu riêng khác nhau

1.1.2 Các yếu tố cấu thành thương hiệu

Cốt lõi của một hệ thống các yếu tố nhận diện thương hiệu là tính nhất quán, trong đó biểu trưng là xuất phát điểm của hệ thống nhận diện thương hiệu Thông qua nó, người tiêu dùng sẽ dễ dàng nhận biết sản phẩm hay các yếu tố nhận dạng hữu hình của thương hiệu Như vậy, một biểu trưng thương hiệu là khơi nguồn của mọi cảm xúc thương hiệu tác động đến người tiêu dùng

Một hệ thống nhận diện thương hiệu tốt phải thể hiện sự khác biệt một cách rõ ràng với những thương hiệu khác Sự khác biệt càng rõ ràng thì nhận thức càng cao và thông qua nó người tiêu dùng có sự liên tưởng tức thì đến

Trang 24

thương hiệu Hệ thống nhận diện thương hiệu được xây dựng dựa trên những thành tố để nhận diện thương hiệu như logo, bao bì, đoạn nhạc v.v… đề làm nên sự khác biệt rõ ràng nhất

Với nội hàm rộng của thương hiệu, thương hiệu được tạo nên bởi hai nhóm yếu tố cơ sở là: các yếu tố hữu hình và các yếu tố vô hình Yếu tố hữu hình là toàn bộ những gì mà khách hàng có thể nhận biết được bằng giác quan , bao gồm tên gọi, logo,biểu tượng màu sắc, kiểu dáng thiết kế, bao bì và các yếu tố có thể nhận biết được khác Các yếu tố vô hình gồm có những đặc tính của thương hiệu như định vị thương hiệu, cá tính thương hiệu, giá trị cốt lõi của thương hiệu

1.1.3 Quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu

Để có thể xây dựng và phát triển thương hiệu doanh nghiệp hoặc thương hiệu cá thể, có thể thực hiện theo các bước sau [4.tr18]

(1) Xác định các thành tố để nhận diện thương hiệu (cấu trúc nền móng thương hiệu)

Đây là bước quan trọng nhất của việc xây dựng và phát triển thương hiệu Xác định cấu trúc nền móng thương hiệu là tiền đề để thiết lập kế hoạch gieo vào tâm trí khách hàng hàng loạt những ý niệm nào có lợi cho thương hiệu của bạn, đảm bảo chắc rằng thương hiệu của bạn sẽ khác biệt và tốt hơn các đối thủ cạnh tranh Các thành phần tạo nên cấu trúc nền móng thương hiệu đều vô hình và được xây dựng từ dưới lên, nó thể hiện tầm nhìn – sứ mạng thương hiệu, chiến lược thương hiệu, cuối cùng là định vị và cá tính của thương hiệu

Trang 25

truyền thông thành tố cấu thành của thương hiệu trên mọi phương tiện truyền thông từ đó xây dựng tài sản của thương hiệu

(2) Xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu

Chiến lược phát triển thương hiệu là tổng thể chương trình, kế hoạch thương hiệu của mình đối với khách hàng mục tiêu Mục đích xây dựng chiến phát triển thương hiệu chính là định vị cho được những giá trị khác biệt đối với thương hiệu của mình và muốn khách hàng mục tiêu của mình quan tâm

(3) Xây dựng chiến lược truyền thông

Chiến lược truyền thông là các phương pháp, cách thức tiếp cận khách hàng mục tiêu, giúp cho khách hàng nhận biết thương hiệu, nhận biệt về dịch

vụ và sản phẩm, đồng thời cung cấp thông tin để khách hàng tìm hiểu về sản phẩm và dịch vụ, từ đó khách hàng dùng thử sản phẩm, quyết định mua sắm

và trung thành với thương hiệu và sản phẩm của mình Tất cả các hoạt động giới thiệu sản phẩm đến với người tiêu dùng và thuyết phục họ sử dụng tiêu dùng sản phẩm đều được xem là các hoạt động truyền thông

(4) Đo lường và hiệu chỉnh

Sau mỗi giai đoạn truyền thông, cần có sự đo lường hiệu quả của chiến dịch truyền thông để có sự hiệu chỉnh kịp thời Các thông tin thường phải được thu thập bao gồm: Có bao nhiêu % người biết thương hiệu? Họ nhớ được những yếu tố nào của thương hiệu đó? Có bao nhiêu % người dùng thử thương hiệu đó? Có bao nhiêu % người giới thiệu cho người khác về thương hiệu? v.v

Trang 26

1.2 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ

1.2.1 Khái niệm thương hiệu địa phương

a Khái niệm địa phương

Từ thập niên 90 có rất nhiều bài viết nói về địa phương Mỗi bài viết có đều có cách lý giải khác nhau về các khía cạnh chính trị, kinh tế, công nghệ

và thương mại có tác động như thế nào đến địa phương trong bối cảnh một nền kinh tế thế giới đang biến đổi nhanh chóng Mỗi tác giả định nghĩa địa phương theo những cách khác nhau và tự đặt ra tỉ trọng cho các động lực toàn cầu và ảnh hưởng địa phương của riêng mình và họ đều nhận thức được rằng địa phương có kế hoạch marketing toàn diện sẽ phát triển một khuôn mẫu linh hoạt, tránh những điều chỉnh mang tính nóng vội và xuất phát từ nhận thức kém cỏi Theo quan điểm chung thì một địa phương được hiểu là [7.tr10] :

- Một khu vực hay một quốc gia

- Một địa điểm gồm các yếu tố văn hóa, lịch sử và dân tộc

- Một thành phố trung tâm hay khu vực dân cư quanh đó

- Một thị trường với những thuộc tính khác nhau có thể xác định

- Một địa bàn hoạt động của một ngành công nghiệp và một quần thể những ngành nghề tương tự cùng những nhà cung cấp của chúng

- Một thuộc tính tâm lý về mối quan hệ giữa những người bên trong địa phương với quan điểm của họ về những người bên ngoài

b Khái niệm thương hiệu địa phương

Nhìn từ góc độ địa phương, thương hiệu được định nghĩa như sau

- Quan điểm 1: “Thương hiệu thực sự có quyền năng làm thay đổi thế giới, thay đổi cách thức chúng ta nhìn nhận thế giới, cách thức chúng ta chọn

để nhìn nhận một vùng miền, lãnh thổ, quốc gia này trong mối quan hệ so sánh với một vùng miền, lãnh thổ và quốc gia khác” [13.tr10]

Trang 27

- Quan điểm 2: “Thương hiệu địa phương, quốc gia, vùng lãnh thổ là một tập hợp những liên tưởng hình ảnh trong tâm trí khách hàng, làm tăng giá trị nhận thức về con người, sản phẩm, văn hoá, môi trường kinh doanh và điểm thu hút du lịch của địa phương, quốc gia và vùng lãnh thổ đó‟‟ [13.tr11]

- Quan điểm 3: Thương hiệu địa phương hay thương hiệu quốc gia là tên

và các biểu trưng hay dấu hiệu nhận biết giúp người ta liên tưởng ngay đến địa danh đó [13.tr12]

Tóm lại, thương hiệu địa phương bao trùm cả thương hiệu quốc gia, thương hiệu khu vực và thương hiệu thành phố

1.2.2 Đặc điểm của thương hiệu địa phương

a Khách hàng của địa phương

Có bốn loại khách hàng mà một địa phương có thể hướng tới: (i) Du khách - những người đến với địa phương với mục tiêu tham quan, nghỉ ngơi, khảo sát hoặc thăm thân nhân, (ii) Người lao động và thân nhân của họ - những người góp phần tạo ra của cải vật chất và tạo nên phong cách của một địa phương, (iii) Nhà đầu tư - những người chủ trương tạo ra của cải vật chất tại địa phương bằng việc sử dụng và kết hợp có hiệu quả nguồn lực, trí tuệ và công nghệ của họ mang tới với nguồn lực của địa phương, và (iv) Thị trường xuất khẩu - những tổ chức và cá nhân ở địa phương khác có nhu cầu về những sản phẩm mà địa phương có thể tạo ra Trong giới hạn đề tài này, tác giải nghiên cứu đối tượng khách hàng của địa phương là nhà đầu tư

b Sản phẩm của địa phương – chỉ số PCI

Trong tư duy maketing, khách hàng là người phán xét, vì vậy năng lực cạnh tranh của địa phương được đánh giá trong con mắt của khách hàng chứ không phải dưới góc nhìn của chủ thể Để cạnh tranh với các địa phương khác, các nhà marketing địa phương phải làm cho địa phương mình có những thuộc tính làm hài lòng “khách hàng” mà trong khuôn khổ đề tài này tác giải

Trang 28

muốn nhắm đến đối tượng khách hàng là nhà đầu tư Thuộc tính địa phương hay còn được gọi là đặc tính hấp dẫn đặc trưng của địa phương, là tất cả những gì mà địa phương có thể tạo ra để thu hút các nhà đầu tư với những đặc trưng riêng biệt của mình so với các địa phương khác Thuộc tính địa phương đóng vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư kinh doanh và sự thành công trong kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn địa điểm kinh doanh

Với quan điểm đó, có thể xem PCI như một sản phẩm hấp dẫn của địa phương đối với nhà đầu tư, trong đó tương ứng chất lượng sản phẩm thể hiện qua 10 chỉ số cấu thành PCI Khách hàng thụ hưởng sản phẩm này thông qua

10 lợi ích nói trên chính là công chúng và nhà đầu tư

Khi PCI là sản phẩm của địa phương thì “người bán” ở đây là chính quyền địa phương Chính quyền địa phương sẽ là người cung cấp sản phẩm hấp dẫn “khách hàng” của địa phương, định nhận thức của khách hàng về địa phương

c Các yếu tố cấu thành thương hiệu địa phương

Ở đề tài này, khi xét đến thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI, các yếu tố cấu thành chỉ số PCI của địa phương được xem là yếu tố cấu thành thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư PCI được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố chính thức từ năm

2005 Đến nay, việc đánh giá và xếp hạng về PCI cho tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước và được tính toán trên cơ sở tổng hợp của 10 chỉ số thành phần gồm:

(1) Chi phí gia nhập thị trường: Chỉ số này được xây dựng nhằm

đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau

(2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: Đo lường về hai

khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất

Trang 29

đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về

sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không

(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Đo lường khả năng tiếp cận

các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp

(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: Đo

lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra

(5) Chi phí không chính thức: Đo lường các khoản chi phí không

chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không

(6) Cạnh tranh bình đẳng : Đo lường việc tỉnh, thành ưu ái cho các

tổng công ty, tập đoàn của Nhà nước có gây khó khăn cho doanh nghiệp tư nhân hay không

(7) Tính năng động và tiên phong của l ã n h đ ạ o t ỉ n h : Đo lường

tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng

Trang 30

những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp

(8) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Chỉ số này trước kia có tên gọi là

Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, dùng để đo lường các dịch vụ của tỉnh

để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp

(9) Đào tạo lao động: Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc

đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm

(10) Thiết chế pháp lý: Đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân

đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc

là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương

1.2.3 Vai trò của thương hiệu địa phương

Hiện nay, tại nhiều nước trên thế giới, thương hiệu địa phương đang phổ biến và mang lại những lợi thế cạnh tranh vượt trội và bền vững hơn so với các địa phương, quốc gia thụ động khác Cách thức mà các địa phương nỗ lực tạo dựng và quảng bá được những đặc tính khác biệt của mình chính là yếu tố quyết định sự thành công hay bị tụt hậu trong cuộc đua tới sự thịnh vượng Trong một thế giới cạnh tranh quyết liệt nhằm thu hút các nguồn lực kinh tế, vốn đầu tư, con người, tài nguyên,… cho các địa phương, các thành phố, phần thắng nghiêng về những địa phương xây dựng được một hình ảnh hấp dẫn, một định vị rõ ràng và một niềm tin tưởng tuyệt đối Điều này có được không chỉ bằng các chính sách hành chính, các chính sách công, mà còn

Trang 31

cần một chiến lược xây dựng thương hiệu địa phương bền vững Xây dựng thương hiệu địa phương là hoạt động bao gồm cả marketing và quảng bá cho địa phương, đó là quá trình truyền thông hình ảnh địa phương đến các khu vực thị trường mục tiêu nhằm xây dựng một hình ảnh nhất quán về địa phương đồng thời tăng cường,nâng cao nhận thức về định vị của địa phươngtrong khu vực, cấp quốc gia và phạm vi toàn cầu

Tóm lại, Thương hiệu địa phương không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho chính quyền, mà còn tạo ra những hiệu ứng tốt về hiệu quả đầu tư và thị trường từ bên ngoài, kích thích những nội lực bên trong, góp phần làm thăng hoa các giá trị bản sắc và mang lại những lợi ích bền vững trong phát triển của địa phương

1.2.4 Phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

a Định nghĩa nhà đầu tư

Luật đầu tư năm 2014 được thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014

là cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài Theo định nghĩa tại Luật Đầu tư 2014, nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu

tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó:

- Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

- Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

- Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

Trang 32

- Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

Đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (chỉ có hình thức

là tổ chức, không có cá nhân), tổ chức này được thành lập theo pháp luật Việt Nam (pháp luật doanh nghiệp) nhưng có thành viên hoặc cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài

Như vậy có ba loại nhà đầu tư là: Nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, trong thực tế có thể phân loại nhà đầu tư thành 02 loại đó là: nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư là “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” có thể là nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài tùy vào từng trường hợp Điển hình nhà đầu tư là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên thì được phân loại là nhà đầu tư nước ngoài

b Thuộc tính địa phương

Thuộc tính địa phương hay còn được gọi là đặc tính hấp dẫn đặc trưng của địa phương Đặc tính hấp dẫn đặc trưng của địa phương là tất

cả những gì mà địa phương có thể tạo ra để thu hút các nhà đầu tư với những đặc trưng riêng biệt của mình so với các địa phương khác [7.tr12] Thuộc tính địa phương đóng vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư kinh doanh và sự thành công trong kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn địa điểm kinh doanh Để cạnh tranh với các địa phương khác, các nhà marketing địa phương phải làm cho địa phương mình có những thuộc tính làm hài lòng “khách hàng” mà ở đề tài này đó là nhà đầu tư Các thuộc tính địa phương cơ bản có thể được phân loại theo ba nhóm như sau:

Trang 33

- Nhóm thuộc tính cơ sở hạ tầng: duy trì và phát triển hệ thống cơ

sở hạ tầng tương thích với môi trường thiên nhiên (điện, cấp thoát nước, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, đền bù và giải phóng mặt bằng)

- Nhóm thuộc tính chế độ chính sách và dịch vụ kinh doanh: cung cấp các dịch vụ có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng doanh nghiệp (dịch vụ hành chính pháp lý, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế và hải quan, hỗ trợ của chính quyền địa phương

- Nhóm thuộc tính môi trường sống và kinh doanh: tạo ra môi trường làm việc có chất lượng cao (chất lượng lao động, nguồn cung lao động, hệ thống vui chơi giải trí, chi phí sinh hoạt)

Các nhà đầu tư ngày càng chuyên nghiệp hơn trong việc tìm kiếm và lựa chọn địa phương thích hợp cho việc đầu tư, kinh doanh của họ Điều

họ quan tâm ở một địa phương là thị trường lao động, so sánh điều kiện và chi phí hoạt động, so sánh thuế, nghiên cứu bất động sản, đánh giá các hình thức khuyến khích, đàm phán và quản lý dự án tái lập địa điểm kinh doanh Vì vậy, việc hoàn thiện các thuộc tính địa phương như hệ thống cơ

sở hạ tầng, dịch vụ hành chính pháp lý, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng, nguồn lao động, chất lượng các trường đào tạo nghề,…

sẽ tạo năng lực cạnh tranh cho địa phương trong việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư mới và thỏa mãn doanh nghiệp hiện đang kinh doanh tại địa phương sẽ góp phần làm hài lòng các doanh nghiệp

c Khái niệm phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Bản chất của phát triển thương hiệu địa phương là gia tăng các giá thuộc tính đặc trưng của địa phương tạo lập trong tâm trí khách hàng Với tư duy

đó, có thể hiểu “Phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư là quá trình xây dựng và nhận dạng tính khác biệt, độc đáo và đặc trưng trong các

Trang 34

thành tố cấu thành thương hiệu địa phương nhằm đưa ra chiến lược maketing địa phương để tạo yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư”

Một thương hiệu địa phương đối với nhà đâu tư là nền tảng để biến một địa phương trở thành nơi thu hút đầu tư, góp phần quan trọng quan trọng cho phát triển kinh tế địa phương

Phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư mang lại cho địa phương một số lợi ích như sau:

(1) Nhận diện sự khác biệt của địa phương này với địa phương trong thu hút đầu tư

(2) Làm nổi bật các giá trị tiêu biểu của thuộc tính địa phương trong thu hút đầu tư

(3) Quảng bá, tiếp thị hình ảnh địa phương trong thu hút đầu tư

(4) Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cải thiện tốt môi trường đầu tư

(5) Thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội

d Quy trình phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Cho đến chưa có một giáo trình chính thức nào đề cập đến cơ sở lý luận

về quy trình phát triển thương hiệu, qua nghiên cứu thực tiễn phát triển thương hiệu đối với thương hiệu cá biệt và thương hiệu doanh nghiệp, có thể xác định các bước chính của việc phát triển thương hiệu địa phương đối với như sau:

(1) Xác định cấu trúc nền móng thương hiệu địa phương đối với nhà đầu

Xác định cấu trúc nền móng thương hiệu đối với là thiết lập kế hoạch gieo vào tâm trí khách hàng hàng loạt những ý niệm nào có lợi cho thu hút nhà đầu tư đến địa phương, đảm bảo chắc rằng thương hiệu của bạn sẽ khác biệt và tốt hơn các đối thủ cạnh tranh Các thành phần tạo nên cấu trúc nền

Trang 35

móng thương hiệu chính là các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

(2) Định vị thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Để định vị thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư, trước hết cần hiểu rất rõ những yếu tố chính cấu thành thương hiệu đối với nhà đầu tư, đó là những yếu tố xác định nền móng cấu trúc thương hiệu Định vị thương hiệu đối với nhà đầu tư là việc tạo ra vị thế riêng biệt của thương hiệu địa phương trong thu hút đầu tư để bảo đảm rằng có thể phân biệt được thương hiệu trong thu hút đầu tư giữa địa phương này và địa phương khác hay đó là hành động thiết kế hình ảnh của địa phương để nó giữ một vị trí khác biệt và có giá trị trong tâm trí nhà đầu tư

(3) Xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Trong một thế giới cạnh tranh quyết liệt nhằm thu hút các nguồn lực kinh tế, vốn đầu tư cho các địa phương, các thành phố, phần thắng nghiêng

về những địa phương xây dựng được một hình ảnh hấp dẫn, một định vị rõ ràng và một niềm tin tưởng tuyệt đối đối với nhà đầu tư Điều này có được không chỉ bằng các chính sách công, mà còn cần một chiến lược phát triển thương hiệu địa phương bền vững

(4) Xây dựng chiến lược truyền thông thương hiệu địa phương (còn gọi

là chiến lược maketing địa phương) đối với nhà đầu tư

Marketing địa phương đối với nhà đầu tư là các chương trình hoạt động

do chính quyền địa phương thực hiện nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó Dựa trên năng lực cạnh tranh của địa phương mình mà chính quyền địa phương có các chiến lược marketing phù hợp

(5) Quản lý, bảo vệ thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Trang 36

Để quản lý và bảo vệ thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư, chính quyền địa phương cần đưa ra những chương trình, chính sách thu hút đầu tư nhắm vào các nhà đầu tư đang trong giai đoạn cuối của tiến trình ra quyết định đầu tư

e Sự khác biệt giữa maketing thương hiệu công ty (sản phẩm) và maketing thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư

Đứng trên góc độ xã hội, Marketing được định nghĩa là: “một tiến trình

xã hội thông qua đó các cá nhân và nhóm có được cái họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, cung ứng và trao đổi tự do những sản phẩm và dịch vụ

có giá trị với người khác‟‟ [7.tr21]

Theo Philip Kotler, Marketing địa phương là một kế hoạch tổng hợp đồng bộ giới thiệu về một địa phương với những đặc điểm nổi bật, các ưu thế hiện có và viễn cảnh phát triển lâu dài của địa phương đó nhằm thu hút các nhà đầu tư, kinh doanh, những người du lịch, những cư dân đến địa phương

đó tìm cơ hội đầu tư kinh doanh hay thỏa mãn các nhu cần tiêu dùng của mình, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương [7.tr22]

Không như Marketing thương hiệu công ty (sản phẩm) được định hướng bởi các lực lượng thị trường, Marketing địa phương được định hướng bởi nhu cầu đa dạng hoá nền kinh tế để đảm bảo tăng trưởng, thu hút du lịch, đầu tư, các sự kiện kinh tế-thể thao và các giải thưởng kinh tế thế giới Có thể thấy Marketing địa phương là sự vận dụng một cách linh hoạt các nguyên lý marketing kinh doanh vào địa phương

Vận dụng quan điểm đó, trong đề tài này, Marketing thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư nhằm mục đích cải thiện yếu tố nền móng thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư như một yếu tố hấp dẫn cho kêu gọi nhà đầu tư Cũng như Marketing cho công ty (sản phẩm), mục tiêu sau cùng vẫn là kinh tế, tuy nhiên, tiến trình hoạch định chiến lược marketing thương hiệu địa

Trang 37

phương khác biệt bởi tính chất phức tạp và sự ràng buộc về mặt chính trị Chính vì thế, Marketing thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư thể hiện ở các đặc trưng sau :

- Thị trường mục tiêu : các nhà đầu tư trong và ngoài nước

- Sản phẩm : Bất kì một yếu tố nào của địa phương đem lại giá trị cho nhà đầu tư như là các chính sách và môi trường thu hút đầu tư, cơ sở hạ tầng của địa phương, cải cách hành chính v.v…

- Tác nhân marketing : Tác nhân marketing là chính quyền địa phương

1.3 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰA TRÊN CHỈ SỐ PCI

1.3.1 Định vị thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI

Mỗi địa phương đều phải cạnh tranh với các địa phương khác, bởi chúng

ta đều phải cạnh tranh thu hút khách hàng, khách du lịch, các doanh nghiệp, vốn đầu tư, thậm chí cả sự tôn trọng và quan tâm của mọi người Các thành phố ngày nay phải nỗ lực tạo dựng và quảng bá được những đặc tính khác biệt của địa phương mình chính là yếu tố quyết định sự thành công hay bị tụt hậu trong cuộc đua tới sự thịnh vượng Bởi vậy, các địa phương cũng như các doanh nghiệp: địa phương nào có một thương hiệu mạnh mẽ thì địa phương

đó sẽ dễ dàng bán được sản phẩm, dịch vụ của mình và thu hút con người và đầu tư

Định vị thương hiệu đối với nhà đầu tư là nỗ lực đem lại cho địa phương một hình ảnh riêng về môi trường thu hút đầu tư của địa phương, đồng thời định vị các thuộc tính nổi bật dễ đi vào nhận thức của nhà đầu tư về môi trường thu hút đầu tư của địa phương Vì vậy, định vị thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI cần nhận biết những thuộc tính “khác

Trang 38

biệt‟‟ (chỉ số thành phần PCI) của từng địa phương dựa trên việc xây dựng bản đồ nhận thức để từ đó xây dựng hình ảnh của thương hiệu

Giả sử tỉnh A có lợi thế về thuộc tính nào đó song các thuộc tính này chưa đủ để hấp dẫn các nhà đầu tư và tạo sự khác biệt trong thu hút đầu tư với các tỉnh, do đó muốn định vị sang một lợi thế khác thì tỉnh này phải có chính sách Vì vậy, định vị thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ

số PCI nhằm nhận biết các thuộc tính nổi bật của địa phương về các thuộc tính chỉ số thành phần PCI để chính quyền địa phương có chiến lược maketing đặc trưng nổi bật về chỉ số thành phần PCI của địa phương đến với nhà đầu tư

1.3.3 Xây dựng chiến lược truyền thông thương hiệu địa phương (maketing địa phương) đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI

Marketing địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI là hệ thống các chương trình hành động nhằm quảng bá, tiếp thị môi trường thu hút đầu

tư thông qua chỉ số PCI của địa phương, tiếp thị hình ảnh một số thuộc tính nổi bật của PCI địa phương làm yếu tố hấp dẫn thu hút nhà đầu tư

Một chiến lược maketing thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên PCI là tìm cách phát huy những đặc thù riêng của địa phương về các tiêu chí thành phần PCI của địa phương mình mà nhà đầu tư quan tâm nhằm hấp dẫn nhà đầu tư Cạnh tranh giữa các địa phương đối với nhà đầu tư không chỉ

là các yếu tố vị trí địa lý, điều kiện cơ sở hạ tầng mà còn cạnh tranh bằng cơ chế - chính sách, sự tận tụy - chuyên nghiệp của bộ máy nhà nước, thái độ ứng xử văn minh lịch sự của người dân, uy tín của doanh nhân và thương hiệu của doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa địa phương và các nhà đầu tư trong maketing địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI là địa phương cung cấp sản phẩm là các tiêu chí trong chỉ số thành phần PCI để cải thiện môi trường đầu

Trang 39

tư, nhà đầu tư đem đến vốn, tạo ra sản phẩm, công ăn việc làm nói chung giúp phát triển kinh tế của địa phương

1.3.3 Quản lý, bảo vệ thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI

Quản lý thương hiệu luôn đi cùng với bảo vệ thương hiệu , bảo vệ là

để quản lý, quản lý sẽ tăng cường năng lực bảo vệ Quản lý và bảo vệ thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư dựa trên chỉ số PCI là quá trình tạo dựng hình ảnh về năng lực cạnh tranh của địa phương trong thu hút đầu tư và duy trì hình ảnh của địa phương trong tâm trí, trong nhận thức của nhà đầu tư về môi trường thu hút đầu tư Đà Nẵng thông qua chỉ số PCI Đây là quá trình lâu dài với sự quyết tâm và khả năng vận dụng hợp lý tối đa các nguồn lực và biện phát để làm sao sản phẩm PCI của địa phương có một vị trí trong tâm trí nhà đầu tư

Có thể hình dung quá trình quản lý thương hiệu địa phương dựa trên PCI

là một chuỗi các tác nghiệp liên hoàn và tác động qua lại lẫn nhau dựa trên nền tảng chiến lược Marketing địa phương đối với nhà đầu tư và bảo vệ thương hiệu địa phương đối với nhà đầu tư về hình ảnh nổi bật của chỉ số PCI địa phương bằng các chiến lược thu hút nhà đầu tư, cải thiện cải thiện PCI nói chung và các thuộc tính thành phần PCI nói riêng

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ DỰA TRÊN CHỈ SỐ PCI

1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của mỗi địa phương

Các tỉnh khác nhau có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và văn hoá, tập quán khác nhau Có những tỉnh ưu đãi lớn về điều kiện tự nhiên

có thể phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch – dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp… ngược lại, có những tỉnh không được thiên nhiên ưu đãi, hàng năm phải đối mặt với thiên tai hạn hán,… Về văn

Trang 40

hoá, có những tỉnh có trình độ dân trí cao, ngược lại có tỉnh chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, đời sống hết sức khó khăn,… Những vấn đề này có ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế chung của tỉnh Tuy nhiên, nếu biết phát huy lợi thế, tận dụng những thế mạnh sẵn có (điều mà địa phương nào cũng có), tăng cường liên kết, hợp tác với những địa phương khác thì vẫn có thể tạo ra sức hấp dẫn thu hút đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, chẳng hạn ở phạm vi quốc gia, Nhật Bản là một minh chứng điển hình trở thành một cường quốc kinh tế mà không có sự ưu đãi thiên nhiên

1.4.2 Chính sách thu hút đầu tư của địa phương

Yếu tố chính sách thu hút là một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh nhằm tạo sức hấp dẫn trong thu hút đầu tư của địa phương, từ đó ảnh hưởng đến thương hiệu của địa phương đối với nhà đầu tư Thu hút đầu tư là mục tiêu và cũng là giải pháp huy động vốn để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Ở cấp tỉnh trên giác độ quản lý nhà nước điều hành phát triển toàn diện nền kinh tế xã hội cần tạo lập điều kiện, môi trường kinh doanh để hấp dẫn thu hút đầu tư nhằm hướng tới mục tiêu là phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao mức sống người dân của tỉnh đó Các yếu tố chính sách tác động tích cực đến môi trường đầu tư ngày càng được quan tâm và chứng tỏ tầm quan trọng của

nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới cơ hội và động lực của các nhà đầu tư

Môi trường đầu tư bao gồm cơ sở hạ tầng cứng và hạ tầng mềm; trong

đó những yếu tố hạ tầng cứng mang ít nhiều tính khách quan và cần phải có thời gian cũng như nguồn lực tài chính để thực hiện, thậm chí có yếu tố lợi thế so sánh riêng có như cảng biển, tài nguyên,… mà thậm chí những nơi khác không có Do đó, các yếu tố cơ sở hạ tầng mềm đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư, đó là thể chế, chính sách nhằm hạn

Ngày đăng: 28/09/2018, 09:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w