1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong công bố thông tin trên báo cáo tài chính và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng

150 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 5,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm rõ điều này, tác giả đã chọn đề tài “Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ DIỆU LINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ DIỆU LINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ DIỆU LINH

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

7 Bố cục đề tài 4

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 9

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Tầm quan trọng của minh bạch trong CBTT trên BCTC 11

1.1.3 Các phương pháp đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC 13

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 17

1.2.1 Khái niệm 17

1.2.2 Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận 18

1.2.3 Động cơ quản trị lợi nhuận 18

1.2.4 Các hành vi quản trị lợi nhuận 20

1.2.5 Các mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận của nhà quản trị 27

1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NỀN TẢNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

32

Trang 5

1.3.1 Các lý thuyết nền tảng 32

1.3.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39

2.1 TỔNG QUAN VỀ TTCK VIỆT NAM VÀ NGÀNH SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG 39

2.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 39

2.1.2 Tổng quan về ngành sản xuất hàng tiêu dùng 40

2.2 PHÁT TRIỂN CÁC GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ 42

2.3 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU 43

2.3.1 Mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC 43

2.3.2 Mức độ quản trị lợi nhuận (DA) 52

2.3.3 Quy mô công ty (SIZE) 53

2.4 MẪU NGHIÊN CỨU 53

2.4.1 Tổng thể nghiên cứu 53

2.4.2 Chọn mẫu nghiên cứu 54

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57

3.1 KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 57

3.1.1 Mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC 57

3.1.2 Mức độ quản trị lợi nhuận 73

3.2 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT H1 78

3.3 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT H2 82

Trang 6

3.4 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT H3 88KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

4.1.3 Công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK nên công

bố đầy đủ hơn một số chỉ tiêu “nhạy cảm” trên thuyết minh BCTC 96

4.1.4 Hoàn thiện cơ chế CBTT nội bộ và kênh thông tin qua website của DN 974.2 ĐỐI VỚI ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC (UBCKNN) 98

4.2.1 Hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá mức độ minh bạch trong CBTT 984.2.2 Xây dựng một hội đồng đánh giá xếp hạng chất lượng thông tin của các CTNY 98

4.2.3 Thực hiện nghiêm khắc các biện pháp chế tài trong quy định về minh bạch CBTT 994.3 ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ, CÁC CỔ ĐÔNG 1004.4 ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

101

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 103 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 7

DANH MỤC CÁC TƯ VIẾT TẮT

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BIG 4

Bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế giới gồm: KPMG, PWC (Pricewaterhouse Coopers), E&Y (Ernst & Young), Deloitte

KQKD Kết quả kinh doanh

Non Big 4 Các công ty kiểm toán không thuộc nhóm 4 công ty kiểm

toán hàng đầu thế giới

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

QTCT Quản trị công ty

ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản

ROE Tỷ suất lợi nhuận ròng tên vốn chủ sở hữu

TTTC Thông tin tài chính

TCSĐ Tài sản cố định

UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

Trang 8

Tương quan và mức độ quản trị lợi nhuận bình quân theo

từng nhóm mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC

năm 2014

75

3.10

Kiểm định sự khác nhau mức độ quản trị lợi nhuận giữa

các nhóm theo mức độ minh bạch năm 2014

(Kruskall-Wallis Test – Kiểm định phi tham số)

80

3.11

Tương quan giữa mức độ quản trị lợi nhuận và mức độ

minh bạch trong CBTT trên BCTC theo từng nhóm quy

mô công ty năm 2014

83

Trang 9

Số hiệu

3.12

Kiểm định sự khác nhau đối với mức độ minh bạch

trong CBTT trên BCTC giữa các nhóm theo quy mô

công ty năm 2014 (One-way ANOVA Test – Kiểm định

tham số)

84

3.13

Kiểm định sự khác nhau đối với mức độ minh bạch

trong CBTT trên BCTC giữa các nhóm theo quy mô

công ty năm 2014 (Kruskal-Wallis Test – Kiểm định phi

tham số)

85

3.14

Kiểm định sự khác nhau đối với mức độ quản trị lợi

nhuận giữa các nhóm theo quy mô công ty năm 2014

(Kruskal-Wallis Test – Kiểm định phi tham số)

85

3.15

Tương quan giữa mức độ quản trị lợi nhuận bình quân

và mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC theo từng

nơi niêm yết cổ phiếu năm 2014

89

3.16

Kiểm định sự khác nhau về mức độ minh bạch trong

CBTT trên BCTC giữa nhóm HOSE và nhóm HNX năm

2014 (Indepentdent-Samples T-test – Kiểm định tham

số)

90

3.17

Kiểm định sự khác nhau về mức độ minh bạch trong

CBTT trên BCTC giữa nhóm HOSE và nhóm HNX năm

2014 (Mann-Whitney Test – Kiểm định phi tham số)

90

3.18

Kiểm định sự khác nhau về mức độ quản trị lợi nhuận

giữa nhóm HOSE và nhóm HNX năm 2014

(Mann-Whitney Test – Kiểm định phi tham số)

91

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

1.1 Biểu đồ Histogram thể hiện phân phối mức độ minh

bạch trong CBTT năm 2014

58

1.2 Biểu đồ Normal Q-Q Pot thể hiện phân phối mức độ

1.3 Biểu đồ Histogram thể hiện phân phối mức độ minh

1.4 Biểu đồ Normal Q-Q Pot thể hiện phân phối mức độ

1.5 Biểu đồ Histogram thể hiện phân phối mức độ quản trị

1.6 Biểu đồ Normal Q-Q Pot thể hiện phân phối mức độ

1.7 Biểu đồ Histogram thể hiện phân phối mức độ quản trị

1.8 Biểu đồ Normal Q-Q Pot thể hiện phân phối mức độ

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, TTCK đang dần trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế Bên cạnh hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại truyền thống, TTCK cũng góp phần cung cấp nguồn tài chính cho sự tăng trưởng kinh tế Trên các TTCK nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng, thông tin là một trong những yếu tố mang tính nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định đầu tư và kinh doanh Các công ty, đặc biệt là CTNY, minh bạch thông tin là nền tảng quan trọng làm tăng giá trị của của mình, đồng thời góp phần phát triển bền vững TTCK

Trong thực tế, tồn tại một khoảng cách không nhỏ giữa nội dung thông tin phải công bố theo quy định và nội dung thông tin mà các CTNY thực tế công bố Điều này dẫn đến những hậu quả không mong muốn cho mục tiêu minh bạch hóa thông tin BCTC trên TTCK Việt Nam Như vậy, ngày càng nhiều công ty có sự chênh lệch đáng kể số liệu trước và sau kiểm toán, cũng như nhiều CTNY chưa tuân thủ quy định về phương tiện, hình thức và thời gian CBTT BCTC

Bên cạnh đó, khi đưa ra quyết định đầu tư vào một công ty nào đó, nhà đầu tư thường xem xét đến hiệu quả kinh doanh và khả năng tăng trưởng của công ty đó trong tương lai BCTC của các CTNY thường được kiểm toán, những giới hạn nhất định trong khả năng của công tác kiểm toán hạn chế khả năng phát hiện được hết các sai sót và gian lận Chất lượng thông tin trên BCTC của công ty, đặc biệt là thông tin về lợi nhuận có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định nhiều bên liên quan

Để thu hút các nhà đầu tư, các công ty có thể vận dụng khéo léo tính linh hoạt của chuẩn mực và chế độ kế toán để quản trị lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình Do đó, trong trường hợp không có sự minh bạch thông tin

Trang 12

tài chính, các nhà quản lý có cơ hội cất giấu thông tin tiêu cực trong công ty, ảnh hưởng đến các quyết định của nhà đầu tư

Như vậy, nghiên cứu về tính minh bạch trong CBTT trên BCTC ảnh hưởng như thế nào đến quản trị lợi nhuận của các CTNY nói riêng và TTCK

nói chung Để làm rõ điều này, tác giả đã chọn đề tài “Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam” làm đề tài nghiên

- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và hạn chế mức độ quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đáp ứng mục tiêu cụ thể đã đưa ra, câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết như sau:

- Chỉ tiêu nào để đo lường mức độ minh bạch và quản trị lợi nhuận?

- Đối với các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam, tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của có

Trang 13

mối quan hệ như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng Tổng quan về tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận thông qua phân tích định tính để đưa ra cái nhìn khái quát

về mối quan hệ giữa hai đối tượng này Đồng thời, sử dụng kiểm định tham số

và phi tham số để kiểm định mối quan hệ giữa mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận theo số liệu trên BCTC của các công

ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả dùng các phương pháp trên để kiểm định việc có hay không

sự khác biệt về mối quan hệ giữa mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC

và quản trị lợi nhuận theo quy mô của công ty hoặc theo SGDCK

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học cũng như thực tiễn:

- Về mặt khoa học: Thông qua đề tài, tác giả đã hệ thống hóa được hệ

Trang 14

thống lý thuyết về tính minh bạch và quản trị lợi nhuận, tìm hiểu được mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận, tính cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng của tính minh bạch trong CBTT trên BCTC nhằm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng về việc sử dụng quản trị lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu của DN và mối quan hệ với

sự minh bạch trong CBTT trên BCTC của các DN Từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên sàn chứng khoán Việt Nam nhằm giảm thiểu mức độ quản trị lợi nhuận, giúp các đối tượng kiểm tra chất lượng nguồn thông tin từ đó đưa ra quyết định đúng đắn Đồng thời giúp cho TTCK Việt Nam ngày càng minh bạch thông tin và phát triển

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và hành vi quản trị lợi nhuận

đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam là không nhiều, chủ yếu do các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện và chỉ ở một mảng nhất định Theo tìm hiểu của tác giả, đến thời điểm hiện tại,

Trang 15

chưa có một nghiên cứu trong nước chính thức nào về chủ đề này, mà chỉ được đề cập trong các nghiên cứu về tính minh bạch trong CBTT trên BCTC, quản trị lợi nhuận và các vấn đề có liên quan

Nghiên cứu của Peasnell & các cộng sự (2000) sử dụng mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) [33] - Modified Jones Nghiên cứu với một mẫu gồm 1271 quan sát các công ty Anh giai đoạn

1993 - 1995 Nghiên cứu cho thấy sự gia tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài làm giảm quản trị lợi nhuận và sự hiện diện của một Ủy ban kiểm toán

sẽ hỗ trợ vai trò giám sát của HĐQT Nghiên cứu cũng tìm thấy các công ty

có lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh càng tăng thì càng làm giảm quản trị lợi nhuận [53]

R Bushman và A Smith (2003), với bài báo “Transparency, Financial Accounting Information, and Corporate Governance” (Economic Policy

Review), nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin từ BCTC đã được kiểm toán, và vấn đề quản trị công ty Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của DN [56]

Bên cạnh đó, nhóm tác giả Yu-Chih Lin và các cộng sự (2007) trong

nghiên cứu “The relationship between information transparency and the informativeness of accounting earnings” đã dựa trên chỉ số “hệ thống xếp

hạng về sự minh bạch và CBTT ITDRS” (đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về

sự minh bạch và CBTT của các CTNY được xây dựng ở Đài Loan) để xem xét mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và thu nhập kế toán Nghiên cứu của nhóm tác giả sử dụng cơ sở dữ liệu của các CTNY trên TTCK (TTCK) Đài Loan trong năm tài chính 2003 và 2004 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy rằng, mức độ minh bạch thông tin được đo bằng chỉ số ITDRS làm giảm sút thông tin về thu nhập kế toán Tuy nhiên, nếu mức

Trang 16

độ minh bạch thông tin được đo bằng tỷ số các khoản đầu tư cổ phiếu dài hạn thì thông tin thu nhập kế toán sẽ gia tăng ở các công ty có mức độ minh bạch cao Kết quả cũng cho thấy, theo nhìn nhận của nhà đầu tư, số liệu của kế toán hữu ích và có giá trị hơn so với kết quả xếp hạng của chỉ số ITDRS Nhóm tác giả cũng cho rằng sử dụng chỉ số ITDRS không phải là cách tốt nhất để đánh giá minh bạch TTTC [65]

Nghiên cứu của các tác giả A Razin, E Sadka (2004) đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghiên cứu này chỉ ra rằng các quốc gia có mức độ minh bạch thông tin kém thì dòng chảy FDI cũng suy giảm [24]

Nghiên cứu của Niu (2006) về quản trị DN và chất lượng của lợi nhuận

kế toán Mẫu dữ liệu nghiên cứu là công ty ở Canada trong giai đoạn từ năm

2001 đến năm 2004 Thông qua phương pháp hồi quy tuyến tính, tác giả đã chứng minh được: chất lượng quản trị toàn diện (bao gồm thành phần HĐQT,

tỷ lệ sở hữu ban quản lý, quyền cổ đông) thì có mối tương quan ngược chiều đến mức độ của dồn tích bất thường và ảnh hưởng thuận chiều với lợi nhuận giữ lại Ngoài ra độ lớn của khoản dồn tích bất thường có mối quan hệ ngược chiều với mức độc lập của thành viên HĐQT [51]

Nghiên cứu của A Rahman và M Ali (2008) về HĐQT, BKS, văn hóa

và quản trị lợi nhuận, bằng chứng ở Malaysia Thời gian nghiên cứu từ năm

2002 đến năm 2003 của 97 công ty niêm yết trên TTCK của Bursa ở Malaysia Thông qua phương pháp hồi quy thống kê, Abdul Rahman và Mohamed Ali đã nghiên cứu được: quản trị lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với quy mô HĐQT Có mối quan hệ đáng kể giữ cơ cấu quản trị DN (tính độc lập của hội động quản trị và ban kiểm soát) và quản trị lợi nhuận [21]

Tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa 2007 trong bài viết “Minh bạch thông tin

Trang 17

trên TTCK Việt Nam”, đăng trên tạp chí phát triển kinh tế (Số 1, trang 14-19),

đã sử dụng lý thuyết thị trường hiệu quả để phân tích và khảo sát để đánh giá tính hiệu quả thông tin của TTCK Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra giải pháp áp dụng việc xây dựng và phát triển một hệ thống CBTT số hóa để giảm bớt hiện tượng bất cân xứng thông tin trên TTCK Việt Nam [7]

Nghiên cứu “Minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trong TTCK Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Dần (2012) đã kiểm tra nhận thức của nhà đầu

tư trên sàn HOSE về các thành phần biến số minh bạch TTTC, nhân khẩu nhà đầu tư và kinh nghiệm nhà đầu tư nhằm khám phá mối quan hệ giữa sự minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc đưa

ra cách thức nghiên cứu mà chưa giải quyết được mục tiêu đề ra ban đầu [4]

Qua việc tổng quát hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về minh bạch và quản trị lợi nhuận cho thấy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC và mức độ quản trị lợi nhuận Các nhân tố đó được xem xét ở nhiều góc độ từ vĩ mô như hệ thống kinh tế, chính trị, văn hóa đến vi mô như các đặc điểm tài chính hay đặc điểm quản trị công ty Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến tính minh bạch thông tin và quản trị lợi nhuận của các nghiên cứu trong nước còn đơn lẻ, tính

hệ thống chưa cao, đa phần tập trung vào nghiên cứu riêng tính minh bạch hoặc quản trị lợi nhuận Trong nghiên cứu này, luận văn tập trung xem xét mối quan hệ giữa mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu kiểm định để tổng quan các kết quả nghiên cứu trước trong và ngoài nước Luận văn tiến hành lựa chọn Nguyên tắc quản trị của OECD làm nền tảng của thước đo về minh bạch trong CBTT trên BCTC để đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY dưới góc độ cảm nhận của nhà đầu tư và mô hình Modified Jones để đo lường mức độ quản trị lợi nhuận Luận văn cũng sử dụng phương pháp kiểm định

Trang 18

tham số và phi tham số để kiểm định mối quan hệ giữa 2 nhân tố trên Đề tài nghiên cứu về nhóm ngành cụ thể để các cơ quan nhà nước quản lý nhà nước

có các quy định chặt chẽ, chính sách, những yêu cầu phù hợp, phát huy vai trò của nhà nước và thúc đẩy thị trường chứng khoán ngày càng phát triển hơn Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, luận văn sẽ điều chỉnh và vận dụng cho phù hợp với những đặc điểm của TTCK Việt Nam Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC

và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam Từ đó, luận văn đề ra các giải pháp tăng cường tính minh bạch TTTC và hạn chế quản trị lợi nhuận của các CTNY, góp phần tạo nên một TTCK hoạt động hiệu quả và bền vững

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN TTCK

VIỆT NAM 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC

1.1.1 Khái niệm

a Khái niệm về CBTT

Theo Owusu-Ansah (1998), CBTT là quá trình cung cấp các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, vị thế và triển vọng phát triển của đơn vị, đặc biệt là các khoản mục được xác định bằng tiền cho các bên có quan tâm

và có lợi ích liên quan đến đơn vị [52]

Theo quan điểm của Bộ Tài chính, CBTT được hiểu là quy trình các tổ chức tham gia TTCK công bố một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời những thông tin về hoạt động của thị trường, các thông tin có thể ảnh hưởng tới giá chứng khoán của nhà đầu tư nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư

có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời

b Khái niệm về thông tin trên BCTC và CBTT trên BCTC

Thông tin trên BCTC là thông tin có được thông qua BCTC (như thông tin về doanh thu, lợi nhuận, các khoản phải thu, phải trả…) do DN cung cấp

và chủ yếu thu thập từ bộ phận kế toán thông qua các BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, BCKQHĐKD, BCLCTT và thuyết minh trên BCTC

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì thông tin trên BCTC là kết quả của quá trình tạo lập và công bố trên BCTC, sản phẩm của công tác kế toán, do vậy hai cụm từ “thông tin trên BCTC” và “thông tin kế toán” là tương đồng

Trang 20

CBTT kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)

c Khái niệm về minh bạch trong CBTT trên BCTC

Sự minh bạch được đề cập đến rất nhiều trong các lĩnh vực như thị trường tài chính, quản trị công ty, Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ

đề cập đến tính minh bạch trong CBTT trên BCTC của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam

Các tổ chức nghề nghiệp cũng như các nghiên cứu trước đây đưa ra rất nhiều quan điểm về minh bạch, có thể nêu một vài khái niệm như sau:

Theo B Winkler (2000), minh bạch là số lượng thông tin mà trên đó, các nhà kinh tế dựa vào đó để đưa ra các quyết định hoặc kỳ vọng của họ

[27]

S DiPiazza và R Eccles (2002) định nghĩa minh bạch là sự bắt buộc sẵn sàng cung cấp thông tin cần thiết cho cổ đông nhằm đưa ra những quyết định [59]

Barth và Schipper (2008) cho rằng minh bạch là một đặc tính được mong đợi của BCTC, được định nghĩa là phạm vi mà các BCTC cho thấy các giá trị kinh tế ngầm định của tổ chức theo cách sẵn sàng cho sự hiểu biết của những người sử dụng các báo cáo này [25]

Khái niệm minh bạch thông tin một cách chủ động, thể hiện trách nhiệm của tổ chức CBTT thông qua một số tác giả và tổ chức như: Tổ chức

S&P (Standard & Poors) (2002) cho rằng sự minh bạch là công bố kịp thời và đầy đủ của việc điều hành, hoạt động và tài chính của công ty cũng như các thông lệ quản trị công ty liên quan đến quyền sở hữu, hội đồng quản trị, cơ cấu quản lý và quy trình quản lý [61] Tương tự như vậy, OECD (2004) định nghĩa sự minh bạch thông tin là việc cung cấp thông tin kịp thời và đầy đủ từ

Trang 21

phía cơ quan công quyền về thể chế kinh tế, các quy định của pháp luật, các

số liệu, các thông tin liên quan đến chính sách tài chính, chính sách tiền tệ theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận được [12]

Trên quan điểm của người sử dụng thông tin, theo Kulzick (2004) [46], minh bạch của thông tin bao gồm:

- Sự chính xác (Accuracy): thông tin phản ánh chính xác dữ liệu tổng hợp từ sự kiện phát sinh;

- Sự nhất quán(Consistency): thông tin được trình bày có thể so sánh được và là kết quả của những phương pháp được áp dụng đồng nhất;

- Sự thích hợp (Appropriateness): khả năng thông tin tạo ra các quyết định khác biệt, giúp người sử dụng dự đoán kết quả trong quá khứ, hiện tại và tương lai;

- Sự đầy đủ (Completeness): thông tin phản ánh đầy đủ các sự kiện phát sinh và các đối tượng có liên quan;

- Sự rõ ràng (Clarity): thông tin truyền đạt được thông điệp và dễ hiểu;

- Sự kịp thời (Timeliness): thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin làm giảm khả năng ảnh hưởng đến các quyết định;

- Sự thuận tiện (Convenience): thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng;

Từ các khái niệm được đưa ra bởi các nghiên cứu trong và ngoài nước,

theo quan điểm của tác giả: “Minh bạch trong CBTT trên BCTC là việc cung cấp các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, vị thế, triển vọng phát triển của đơn vị một cách tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ và nhất quán theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận một cách thuận tiện”

1.1.2 Tầm quan trọng của minh bạch trong CBTT trên BCTC

Việc minh bạch trong CBTT trên BCTC có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể sau:

Trang 22

a Đối với nhà đầu tư

- Minh bạch trong CBTT trên BCTC giúp các nhà đầu tư, cũng chính là những người mua trên TTCK, giảm thiểu chi phí trung gian, giảm thiểu rủi ro, gia tăng sự bảo vệ nhà đầu tư Trên TTCK, nhà đầu tư là đối tượng có khả năng bị thiệt hại về lợi ích lớn nhất Thiệt hại có thể do các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp bị các NQL doanh nghiệp che giấu thông tin dẫn đến đưa

ra các quyết định mua bán chứng khoán không hợp lý hoặc phải tốn nhiều chi phí để sàng lọc thông tin và kiểm soát việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp

để hạn chế rủi ro đạo đức trên thị trường Đối tượng thường chịu thiệt hại lớn nhất là các nhà đầu tư thiểu số, mua chứng khoán với số lượng ít Sự phá sản của các công ty lớn trên thế giới như Enron, Worldcom hay Olympus đã gây

ra những thiệt hại lớn cho nhà đầu tư và chủ nợ của họ, đồng thời cũng làm mất niềm tin của công chúng về những công bố của các công ty cũng như các quy định kiểm soát các công ty đại chúng mà nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu minh bạch trong CBTT trên BCTC

- Minh bạch trong CBTT trên BCTC giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn và có quyền kiểm soát chất lượng của những chứng khoán trên thị trường Từ đó, họ sẽ xác định mức giá giao dịch tối ưu nhất Đối với các thông tin khác trên TTCK, đặc biệt là thông tin tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà các nhà đầu tư quan tâm, minh bạch thông tin sẽ cho họ biết doanh nghiệp đó đang trong tình trạng nào, đang có những thuận lợi hay khó khăn gì và tương lai ra sao Qua đó, các nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định đùng đắn và thích hợp hơn

Như vậy, dưới góc độ nhà đầu tư, minh bạch trong CBTT trên BCTC mang đến niềm tin và sự bảo vệ, đồng thời giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả

Trang 23

b Đối với quản lý nhà nước

Các cơ quan quản lý nhà nước sẽ có được cái nhìn tổng quát và sát thực hơn về TTCK nếu các thông tin được cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời hơn Từ đó, các cơ quan này sẽ có những biện pháp thích hợp để hạn chế và ngăn chặn các hành vi vi phạm trên TTCK, thực hiện các chức năng quản lý

vĩ mô hiệu quả hơn, đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường

- Minh bạch trong CBTT trên BCTC góp phần phát triển tính hiệu quả của TTCK Một lợi ích khác của sự minh bạch là khả năng xóa bỏ một vài nhược điểm của cấu trúc thị trường không tập trung hoặc cấu trúc thị trường phân khúc Cụ thể là, bằng cách tạo điều kiện dễ dàng trong việc tìm giá cả,

sự minh bạch có thể giải quyết nhiều vấn đề không hiệu quả trong việc định giá vốn bị gây ra bởi phân khúc của thị trường

1.1.3 Các phương pháp đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC

Để đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC của một công

ty cần thiết phải có một thước đo thống kê thể hiện được sự chính xác và đầy

đủ của các thông tin được công bố Việc đo lường có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của TTCK nói chung và các CTNY nói riêng Tuy nhiên, vấn đề thông tin bất đối xứng luôn thường trực trong mọi lĩnh vực, đặc biệt

Trang 24

đối với một thị trường rất nhạy cảm về thông tin như TTCK thì việc đo lường càng trở nên phức tạp Cho đến nay, vẫn chưa có một công thức hay thước đo chung nào để đánh giá mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC của một công ty, bởi lẽ đây là một nhiệm vụ rất khó khăn, hiểu đầy đủ về minh bạch trong CBTT là điều rất phức tạp Dựa trên quan điểm và các cơ sở khoa học khác nhau, minh bạch trong CBTT trên BCTC được đo lường theo nhiều cách thức khác nhau:

a Đo lường mức độ CBTT theo Standard & Poor (2002)

Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Standard and Poor’s

(S&P) (2002) xây dựng chỉ số “Minh bạch và CBTT (Transparency and Disclosure index - T&D Index)” [61]

S&P đánh giá tính minh bạch của công ty dựa trên các BCTC thường niên bằng 98 câu hỏi được chia thành 3 nhóm:

- 28 câu hỏi liên quan đến minh bạch thông tin về cấu trúc sở hữu và quyền của nhà đầu tư;

- 35 câu hỏi liên quan đến minh bạch TTTC và tình hình kinh doanh công ty;

- 35 câu hỏi liên quan đến minh bạch thông tin về cơ cấu và hoạt động quản trị của hội đồng quản trị và ban giám đốc

b Đo lường minh bạch trong CBTT trên BCTC theo nguyên tắc Quản trị công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (2004)

Theo nguyên tắc của OECD, “CBTT và Tính minh bạch trong Quản trị công ty” gồm 5 thành phần:

- CBTT phải bao gồm, nhưng không hạn chế, các thông tin quan trọng liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động, sở hữu;

- Thông tin phải được chuẩn bị và công bố phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao về CBTT kế toán, tài chính;

Trang 25

- Kiểm toán hàng năm phải được tiến hành bởi một đơn vị kiểm toán độc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao;

- Đơn vị kiểm toán độc lập phải chịu trách nhiệm đối với cổ đông và có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên nghiệp đối với công ty;

- Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều kiện tiếp cận thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả chi phí cho người sử dụng

c Đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC theo Desoky

và Mousa (2012)

Trong nghiên cứu của Desoky và Mousa (2012) đo lường mức độ công

bố thông tin trên BCTC của các công ty dựa vào 65 chỉ số công bố thông tin [20] Trong đó:

- Thông tin chung và hội đồng quản trị: 14 mục;

- Thông tin tài chính: 44 mục;

- Thông tin phi tài chính: 7 mục

Tất cả các chỉ số thông tin được gán là 0 nếu như công ty không trình bày mục nào trong bất cứ hạng mục tương ứng, gán là 1 trong những trường hợp còn lại

d Chỉ số ITDRS (Information Disclosure and Transparency Ranking System)

Đối với nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng sự (2007), đã dựa trên chỉ

số “Hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và CBTT – ITDRS (Information Disclosure and Transparency Ranking System)” để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các CTNY [65] Bộ tiêu chí gồm 5 nội dung chính:

- Sự tuân thủ việc CBTT bắt buộc;

- Thời hạn báo cáo;

- CBTT về dự báo tài chính;

Trang 26

- CBTT trong các báo cáo thường niên;

- CBTT trên website của công ty

e Chỉ số GTI (Governance and Transparency Index) của Singapore

Từ năm 2009, chỉ số quản trị và minh bạch thông tin (GTI) được trung tâm quản trị công ty CGIO, các học viện và các tổ chức thuộc Trường Kinh doanh - Đại học Quốc gia Singapore phối hợp cùng xây dựng để thay thế cho Chỉ số minh bạch thông tin công ty (CTI)

Chỉ số này được tính toán trên cơ sở 2 nhóm nhân tố chính, đó là: quản trị công ty và minh bạch thông tin với số điểm đánh giá cao nhất cho mỗi nhóm lần lượt là 75 và 25

f Chỉ số CIFAR (Center for International Financial Analysis and Research)

Chỉ số này được Trung tâm phân tích và nghiên cứu tài chính quốc tế (IAAT) xây dựng năm 1995 gồm 90 khoản mục thông tin tài chính và phi tài chính được công bố trên các báo cáo thường niên của các các công ty niêm yết như phương pháp kế toán, dữ liệu giá cổ phiếu, quản trị công ty (giám đốc, HĐQT, lương thưởng, cổ đông lớn…) và các thông tin khác [29]

Như đã trình bày ở trên, có nhiều cách thức khác nhau để đo lường

mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn phương pháp đo lường dựa trên các Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD Sở dĩ như vậy là vì các Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD là thước đo được công nhận toàn cầu về Quản trị công ty (theo báo cáo của IFC, 2012) [13] OECD cũng đưa ra các Phương pháp đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và được IFC sử dụng để xây dựng phiếu câu hỏi chấm điểm về vấn đề CBTT và minh bạch trong thẻ điểm Quản trị công ty của các CTNY tại Việt Nam Do đó, phương pháp đo lường này sẽ phù hợp với TTCK Việt Nam nói chung và các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết

Trang 27

trên TTCK Việt Nam nói riêng

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

1.2.1 Khái niệm

 Khái niệm về lợi nhuận

Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, từ đó việc ghi nhận doanh thu và chi phí có tính chất quyết định đến lợi nhuận báo cáo trong một

kỳ kế toán

 Khái niệm về quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận là sự điều chỉnh lợi nhuận để đạt được mục tiêu đã đặt ra trước đó của nhà quản trị Nó là “một sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích

cá nhân” (Schipper, 1989) [60]

Theo Levit (1998), quản trị lợi nhuận là một mảng tối mà ở đó, kế toán đang bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó Vì vậy, báo cáo lãi lỗ phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của DN [23]

Ronen và Yaari (2008) cung cấp định nghĩa đầy đủ hơn: Hành vi quản trị lợi nhuận là một tập hợp các quyết định quản lý mà kết quả không phản ánh đúng thu nhập thực trong ngắn hạn, có tính chất tối đa hóa giá trị DN mà nhà quản lý đã biết về chúng [58]

Hay theo Đường Nguyễn Hưng (2013) hành vi quản trị lợi nhuận là hành động quản trị lợi nhuận kế toán của nhà quản lý DN nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua việc sử dụng các công cụ của kế toán [5]

Từ những phân tích trên, theo nhận định của tác giả, quản trị lợi nhuận

là hành vi tiêu cực theo hướng chủ quan của nhà quản lý, được xem là hành

vi cơ hội, xuất phát từ sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý

Trang 28

1.2.2 Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận

Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận chính là kế toán theo cơ sở dồn tích

Kế toán theo cơ sở dồn tích có nghĩa là mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai (Chuẩn mực kế toán số 01, 2002) [2] Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói chung

và BCKQHĐKD nói riêng phải được lập trên cơ sở dồn tích Điều này mang lại cơ hội cho NQL thực hiện hành động quản trị lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào đó Trong khi đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập BCLCTT (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu thực chi nên nhà quản lý không thể điều chỉnh các giao dịch Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trên BCKQHĐKD và dòng tiền trên BCLCTT (theo phương pháp trực tiếp) tạo ra biến kế toán dồn tích là Total Acruals (TA)

1.2.3 Động cơ quản trị lợi nhuận

Theo Phạm Thị Bích Vân (2013) [15], có 6 động cơ để thực hiện quản trị lợi nhuận:

a Hợp đồng thù lao

Nhà quản trị nói riêng và ban điều hành công ty nói chung sẽ có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán trong kỳ để tăng mức lương (thưởng)

Trang 29

khi các CTNY có chế độ trả lương (thưởng) cho ban điều hành bằng tỷ lệ (%) trên lợi nhuận kế toán

Hợp đồng thù lao giữa ban điều hành và DN có điều khoản nếu lợi nhuận đạt tối thiểu đến mức A đồng thì ban điều hành được B đồng tiền lương hoặc tiền thưởng Nếu lợi nhuận chưa đạt đến A đồng thì nhà quản trị có khuynh hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận sao cho đạt đến mức A đồng nhằm đạt được mức B đồng Ngược lại, nếu lợi nhuận vượt quá ngưỡng A đồng thì nhà quản trị có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận về vị trí A đồng Còn phần lợi nhuận vượt trên A đồng đó chuyển sang năm sau, bởi vì dù có vượt ngưỡng A đồng thì mức lương (thưởng) nhà quản trị nhận được vẫn không đổi (B đồng)

b San bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn

Các DN nỗ lực giảm thiểu sự biến động trong chỉ tiêu lợi nhuận giữa các kỳ kế toán nhằm giữ giá cổ phiếu được ổn định hoặc làm tăng giá trị thị trường của cổ phiếu Bởi vì lợi nhuận giữa các kỳ kế toán biến động lớn đồng nghĩa với rủi ro cao khi đầu tư vào công ty đó, vì thế, giá cổ phiếu sẽ rớt giá

so với giá cổ phiếu của các công ty có lợi nhuận ổn định qua các kỳ kế toán

Hệ quả là, nhà quản trị của các công ty niêm yết có khuynh hướng điều chỉnh lợi nhuận (theo hướng san bằng) nhằm đạt được sự ổn định về lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo lợi nhuận bền vững trong dài hạn

c Tránh vi phạm hợp đồng đi vay

Nếu DN làm ăn không có lãi thì các chủ nợ cho rằng khả năng thanh toán nợ cho họ khó khăn hơn Nếu vi phạm hợp đồng, DN có thể bị tăng lãi suất đối với các khoản nợ hoặc phải thanh toán các khoản nợ ngay lập tức Từ

đó, rủi ro rất lớn đối với các chủ nợ trong việc thu hồi vốn cho vay

Trang 30

d Để phát hành cổ phiếu ra công chúng

Để giảm thiểu rủi ro phát hành cổ phiếu ra công chúng không thành công, bên cạnh việc áp dụng các chiến lược marketing tới các nhà đầu tư tiềm năng thì rất có thể các DN sẽ điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa có thể (trong khuôn khổ cho phép) làm cho kết quả của DN “đẹp” hơn nhằm đạt được mục tiêu huy động vốn của mình theo đúng tiến độ đã vạch ra và thu hút nhiều nhà đầu tư, tăng giá trị thị trường của cổ phiếu

e Đáp ứng sự kỳ vọng của giới phân tích thị trường

Nhìn chung, các nhà phân tích trên TTCK thường quan tâm đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN thông qua 2 chỉ tiêu: doanh thu

và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Do đó, các NQL chịu áp lực về việc đáp ứng sự mong đợi của các nhà phân tích thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận (ghi nhận doanh thu sớm hoặc ghi nhận chi phí trễ) nhằm đạt được lợi nhuận trong kỳ báo cáo tăng lên

f Thay đổi nhà quản trị

Quản trị lợi nhuận thường xảy ra quanh thời điểm thay đổi nhà quản trị Nếu công ty làm ăn thua lỗ thì nhà quản trị sẽ cố gắng điều chỉnh tăng lợi nhuận để tránh việc bị sa thải Hoặc nhà quản trị mới sẽ cố gắng dịch chuyển lợi nhuận của các kỳ kế toán trong tương lai vào khoảng thời gian mà nhà quản trị đang điều hành Vì lúc đó, nhà quản trị mới đang bị xem xét, đánh giá năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn để đi đến thoả thuận ký kết hợp đồng lao động (hợp đồng thù lao) hoặc một lợi ích khác Chính vì vậy, nhà quản trị mới cũng điều chỉnh tăng lợi nhuận trong kỳ hiện tại để thể hiện cho HĐQT thấy được khả năng làm việc của mình Từ đó, sẽ ảnh hưởng đến cam kết về hợp đồng lao động (đặc biệt là các cam kết về lương, thưởng)

1.2.4 Các kỹ thuật quản trị lợi nhuận

Tùy theo mục đích khác nhau của các NQL, có thể là quản trị lợi nhuận

Trang 31

nhằm tiết kiệm thuế phải nộp hoặc để hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường Nhiều thủ thuật được NQL sử dụng để chi phối thu nhập

Có thể phân loại theo hành vi quản trị lợi nhuận theo các loại sau:

a Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn ước tính kế toán

Đây là thủ thuật phổ biến nhất mà các NQL thường sử dụng để quản trị lợi nhuận do hệ thống chuẩn mực kế toán cho phép sử dụng nhiều chính sách

kế toán khác nhau để ghi nhận và trình bày một loại sự kiện, nghiệp vụ Nguyên tắc hoạt động chung của thủ thuật này là lập các dự phòng và trích trước nhiều hơn mức cần thiết nhằm mục đích sử dụng cho tương lai khi cần thiết Theo nguyên tắc thận trọng trong chuẩn mực kế toán, tại thời điểm kết thúc niên độ, DN sẽ ước tính và ghi nhận chi phí đối với các tài sản có giá trị thuần thấp hơn giá trị sổ sách (dự phòng) hoặc chi phí phát sinh từ nghĩa vụ

đã phát sinh sẽ thanh toán trong tương lai (trích trước) Các khoản ước tính này chủ yếu dựa trên xét đoán của NQL, do đó chuẩn mực kế toán cho phép các ước tính kế toán dao động trong một khoản nhất định NQL thường có xu hướng ghi nhận chi phí cao trong kỳ kế toán hiện tại và sau đó sẽ giảm chi phí ghi nhận trong các kỳ trong tương lai Trong việc thực hiện các ước tính kế toán, có thể chia thành ước tính kế toán một lần và ước tính kế toán mỗi kỳ

- Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chẳng hạn:

+ Ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước: DN

tự xác định thời gian hay số lần phân bổ công cụ, dụng cụ dựa vào đặc điểm, tính chất công việc hay công suất sử dụng công cụ, dụng cụ Do đó, với cùng một công cụ, dụng cụ nhưng các DN có thể phân bổ khác nhau về thời gian và

số lần phân bổ Vì vậy, NQL cũng có thể điều chỉnh được khoản chi phí này

+ Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ: NQL có thể sử dụng thời gian

khấu hao TSCĐ để quản trị được mức lợi nhuận theo mong muốn, do DN

Trang 32

được tự quyết định thời gian sử dụng TSCĐ trong khoảng thời gian theo quy định về mức khấu hao DN được quyền khấu hao nhanh TSCĐ khi có thể chứng minh rằng DN có hiệu quả hoạt động cao và cần thiết để đổi mới công nghệ Và khi DN đã vượt quá mức lợi nhuận mong muốn thì NQL có thể sử dụng ước tính này để quản trị lợi nhuận giảm xuống

- Uớc tính kế toán vào mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán, chẳng hạn:

+ Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm: Các DN thường bán sản phẩm

kèm theo điều khoản bảo hành trong một khoảng thời gian nhất định Khi sản phẩm bị hư hỏng và được bảo hành, DN sẽ phát sinh chi phí để sửa chữa hoặc đổi mới sản phẩm cho khách hàng Theo chuẩn mực kế toán, chi phí bảo hành sản phẩm trong tương lai là để tạo ra doanh thu bán hàng trong hiện tại, do đó theo nguyên tắc phù hợp, chi phí bảo hành sản phẩm trong tương lai phải được ghi nhận cùng thời kỳ với doanh thu bán hàng khi ghi nhận sản phẩm được bán ra Việc cho phép sử dụng xét đoán liên quan đến tỷ lệ sản phẩm bảo hành bình quân của quá khứ và chi phí bảo hành trên mỗi đơn vị sản phẩm sẽ tăng cơ hội cho NQL quản trị lợi nhuận thông qua ước tính chi phí bảo hành đối với doanh số bán hàng trong kỳ kế toán hiện tại cao hơn hoặc thấp hơn mức cần trích lập Quỹ dự phòng từ trích trước chi phí bảo hành sẽ được sử dụng để quản trị lợi nhuận trong tương lai bằng cách hoàn nhập dự phòng khi sản phẩm hết thời hạn bảo hành

- Ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ:

Trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, hợp đồng dịch vụ phát triển phần mềm…khi hợp đồng dài hạn được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận với phần tương ứng công việc đã hoàn thành dựa trên biên bản nghiệm thu được hai bên xác nhận Trường hợp hợp đồng dài hạn được thanh toán theo giá trị khối lượng thực

Trang 33

hiện thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành, thường là tỷ lệ phần trăm giữa chi phí

đã phát sinh của phần công việc đã hoàn thành với tổng chi phí dự toán hoặc

tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng công việc đã hoàn thành so với tổng khối lượng công việc của hợp đồng Phương pháp tỷ lệ hoàn thành được áp dụng bởi vì phương pháp này giải quyết được vấn đề sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí tạo ra doanh thu Nhưng đối với việc xây dựng một ước tính kế toán hợp lý, mức chính xác của doanh thu đã hoàn thành và mức chi phí tương ứng với doanh thu sẽ gặp nhiều khó khăn và cũng dựa rất nhiều trên xét đoán của hai bên Do vậy sẽ tạo cơ hội cho hành vi thực hiện quản trị lợi nhuận của nhà quản lý

- Ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng: Các khách hàng

thường được cung cấp một hạn mức tín dụng, do đó hầu hết các DN đều có khoản nợ phải thu Theo chuẩn mực kế toán, khoản mục nợ phải thu cần được trình bày trên BCTC theo giá trị thuần có thể thực hiện được NQL cần ước tính các khoản nợ không thể thu hồi được để lập dự phòng Khi đó, phương pháp lập dự phòng nợ phải thu khó đòi đòi hỏi nhiều xét đoán của NQl, từ đó tạo cơ hội cho hành vi quản trị lợi nhuận

- Ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng: Khi

giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho thấp hơn so với giá gốc thì DN cần lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Chuẩn mực kế toán số 02 về Hàng tồn kho) Ngược lại khi giá trị thuần của hàng tồn kho được phục hồi lại thì DN phải hoàn nhập dự phòng đã trích trước đó Việc lập chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho là hợp pháp theo pháp luật Việt Nam Nhưng Bộ Tài chính chỉ mới yêu cầu việc ước tính phải dựa trên bằng chứng đáng tin cậy chứ chưa nêu rõ quy định về mặt giá trị của giá trị thuần có thể thực hiện được Khoản mục dự phòng giảm giá hàng tồn kho thường được sử dụng bởi

Trang 34

việc ước tính khoản giảm giá của hàng tồn kho đòi hỏi sử dụng nhiều xét đoán liên quan đến giá trị thuần có thể thực hiện được của nhà quản lý dựa trên kinh nghiệm và đặc điểm của từng mặt hàng để ước tính Trong kỳ kế toán hiện tại NQL lập dự phòng hàng tồn kho nhiều hơn hoặc thấp hơn mức thực tế cần lập để quản trị lợi nhuận Trong những kỳ sau khoản dự phòng đó được hoàn nhập khi hàng tồn kho được bán hoặc có bằng chứng về sự phục hồi của giá trị thuần có thể thực hiện được

b Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán

Việc lựa chọn chính sách kế toán áp dụng để thực hiện hành động để thực hiện hành động quản trị lợi nhuận luôn nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán Do đó, hành động quản trị lợi nhuận là tuân thủ khuôn khổ pháp

lý và là sự vận động khéo léo, linh hoạt của các “khoảng không tự do” mà chuẩn mực để lại để sắp xếp BCTC theo cách thuận lợi nhất cho công ty hay cho chính họ chứ không phải hành hành động phi pháp Theo đó để tăng cường có thể so sánh thông tin trình bày trên BCTC, chuẩn mực kế toán yêu cầu DN cần phải áp dụng chính sách kế toán một cách nhất quán đối với các

sự kiện và các giao dịch tương tự nhau Khi có sự thay đổi chính sách kế toán thì cần phải thuyết minh lại sự thay đổi và ảnh hưởng của nó đối với BCTC, hoặc phải điều chỉnh hồi tố số liệu đầu kỳ Sự lựa chọn chính sách kế toán phụ thuộc vào xét đoán của nhà quản lý để đảm bảo BCTC phản ánh trung thực nhất thực trạng kinh tế của DN Chính vì lý do đó NQL có thể lựa chọn chính sách kế toán có lợi nhất để đạt được mục đích gì đó Chính sách kế toán thường được lựa chọn để tác động đến kết quả kinh doanh của DN gồm:

- Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn: Việc lựa chọn chính sách kế toán về doanh thu và giá vốn sẽ tác động rất lớn đến lợi nhuận trong kỳ vì doanh thu và giá vốn là hai chỉ tiêu quan trọng trên BCHĐKD Lựa chọn chính sách kế toán làm cho việc ghi nhận doanh thu lớn

Trang 35

hơn và ghi nhận giá vốn chậm hơn sẽ làm tăng lợi nhuận và ngược lại sẽ làm giảm lợi nhuận

- Lựa chọn chính sách kế toán đánh giá hàng tồn kho:

+ Chính sách đối với tính giá thành sản phẩm: Lựa chọn phương pháp

tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá thành sản phẩm dở dang cuối kỳ khác nhau như phương pháp trực tiếp, phương pháp tỷ lệ, phương pháp hệ số, phương pháp loại trừ sản phẩm phụ, phương pháp theo đơn đặt hàng, phương pháp phân bước có thể làm cho giá thành sản phẩm thay đổi, từ

đó có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán

+ Chính sách đối với xác định giá trị hàng xuất kho: Chuẩn mực kế

toán cho phép DN lựa chọn chính sách khác nhau để đánh giá hàng tồn kho như nhập trước xuất trước (FIFO), thực tế đích danh, bình quân gia quyền Việc lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho ở một kỳ có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán và qua đó tác động đến lợi nhuận

- Lựa chọn phương pháp tính khấu hao: Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ, mỗi phương pháp khấu hao (đường thẳng, số dư giảm dần có điều chỉnh, tỷ lệ sử dụng) cho chi phí khấu hao khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kì

- Lựa chọn chính sách kế toán về đánh giá tổn thất tài sản: Chuẩn mực

kế toán yêu cầu DN cần đánh giá tổn thất cho các tài sản phải khấu hao và các tài sản không khấu hao như lợi thế thương mại Việc đánh giá tổn thất tài sản dựa trên nhiều xét đoán của NQL liên quan đến giá cả hợp lý, giá trị sử dụng, giá trị thu hồi….Do đó cũng tạo cơ hội cho NQL thực hiện hành động quản trị lợi nhuận của DN

Sở dĩ cần phân biệt quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán và thông qua thực hiện các ước tính kế toán là vì điều này sẽ giúp phân biệt được khả năng vận dụng hai hình thức trên để thực hiên hành vi quản trị

Trang 36

lợi nhuận Khi NQL lựa chọn để áp dụng một chính sách kế toán hay một phương pháp kế toán cụ thể, nguyên tắc nhất quán yêu cầu DN phải nhất quán chính sách đó trong nhiều kỳ kế toán khác nhau, nếu có thay đổi giữa hai kỳ thì cần phải có thuyết minh sự thay đổi chính sách kế toán và mức độ ảnh hưởng đến sự thay đổi này đến lợi nhuận trên BCTC Do đó, việc áp dụng lựa chọn một chính sách kế toán để quản trị lợi nhuận thường chỉ có thể áp dụng

ở một kỳ kế toán nhất định Trong khi việc thực hiện ước tính kế toán ta thấy

có thể chia thành hai loại: ước tính một lần và ước tính mỗi kỳ Các ước tính thực hiện một lần thì cũng có thể được sử dụng để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận như đối với việc lựa chọn chính sách kế toán nhưng những ước tính thực hiện mỗi kỳ thì có thể được vận dụng vào mỗi kỳ và đây là công cụ để NQL sử dụng thường xuyên hành vi quản trị lợi nhuận

c Quản trị lợi nhuận thông qua quyết định quản lý về thực hiện nghiệp vụ kinh tế

- Chính sách quyết định về việc thực hiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm: NQL có thể quyết định sản xuất hoặc thay đổi chính sách bán hàng nhằm đạt được mức lợi nhuận mục tiêu Ví dụ khi DN muốn tăng lợi nhuận, NQL sẽ quyết định tăng sản xuất, khi đó định phí cố định sẽ được phân bổ cho nhiều sản phẩm hơn nên định phí trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm Khi mức độ tăng lên của định phí không bị bù trừ bởi chi phí biên thì tổng chi phí của một đơn

vị sản phẩm giảm xuống Từ đó, giá thành sản phẩm giảm dẫn đến giá vốn hàng bán giảm và lãi gộp cao hơn Nhưng khi DN tăng sản xuất sẽ làm giảm dòng tiền hoạt động với mức doanh thu không đổi Hoặc đối với chính sách bán hàng, khi NQL muốn đạt mức lợi nhuận mục tiêu để nhận các khoản lợi ích cá nhân thì họ có thể đưa ra chính sách giảm giá, khuyến mãi hoặc nới lỏng thời gian thanh toán của khách hàng Khi đó doanh thu tạm thời sẽ tăng nhưng điều này sẽ không còn khi DN trở lại mức giá hoặc chính sách như cũ

Trang 37

Việc giảm giá và nới lỏng chính sách bán hàng sẽ làm giảm dòng tiền hoạt động của kỳ kế toán hiện tại

- Chính sách về thực hiện nghiệp vụ thanh lý tài sản dài hạn: Nếu lợi nhuận trong kỳ đạt thấp DN cũng có thể quyết định nhượng bán tài sản trong

kỳ để quản trị lợi nhuận NQL có thể chọn thời điểm thanh lý tài sản, nếu việc thanh lý tài sản cố định dẫn đến lợi nhuận bị giảm, DN có thể quyết định thực hiện kỳ này để giảm lợi nhuận hoặc đẩy kỳ sau để làm giữ mức lợi nhuận đạt được trong kỳ Thông thường các DN có lợi nhuận giảm sẽ có thu nhập từ thanh lý tài sản cố định nhiều hơn so với các DN có lợi nhuận tăng, đây là dấu hiệu của hành vi quản trị lợi nhuận

- Quyết định về việc thực hiện các khoản chi phí: NQL có thể điều chỉnh chi phí thông qua việc quyết định thực hiện quyết định thực hiện các khoản chi phí như chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí sửa chữa TSCĐ

- Quyết định về đầu tư dài hạn: Chuẩn mực kế toán phân loại khoản đầu tư vào một công ty khác dựa trên mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư đối với đơn vị nhận đầu tư Ví dụ như đầu tư vào công ty con (nếu như nhà đầu tư nắm giữ quyền kiểm soát, thông thường nắm giữ trên 50% tỷ lệ lợi ích trong đơn vị nhận đầu tư), đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư liên doanh đồng kiểm soát, đầu tư khác…Khi đó NQL có cơ hội để thực hiện chiến lược bán các khoản đầu tư có lãi hoặc giữ lại các khoản đầu tư lỗ để đẩy kết quả kinh doanh của kỳ hiện tại Hoặc nhà quản lý sẽ làm ngược lại nếu muốn điều chỉnh giảm lợi nhuận

1.2.5 Các mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận của nhà quản trị

a Nhận diện quản trị lợi nhuận

Để nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị có thể có nhiều phương pháp khác nhau Cụ thể:

Trang 38

- Trực tiếp kiểm tra đối chiếu giữa BCTC với các chứng từ sổ sách liên quan của những DN nghi ngờ có khả năng điều chỉnh lợi nhuận;

- Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các mô hình để nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận Chênh lệch giữa lợi nhuận trong BCKQHĐKD và dòng tiền trong BCLCTT tạo ra những biến kế toán thường được gọi là Accruals

Theo cơ sở dồn tích, việc ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà chỉ căn cứ vào thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh Do đó số liệu trên BCTC, đặc biệt là BCKQHĐKD thể hiện

ý chí chủ quan của NQL và kế toán Trong khi đó, BCLCTT được lập trên cơ

sở tiền, nghĩa là báo cáo này căn cứ vào dòng tiền thực thu vào hay thực chi

ra để trình bày Chính vì vậy giữa dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và lợi nhuận trên BCKQHĐKD sẽ có một sự chênh lệch Các nhà nghiên cứu gọi

đó là biến kế toán dồn tích (Total Accruals-TA) và được tính bằng công thức:

Biến kế toán dồn tích (TA) = Lợi nhuận sau thuế - Lưu chuyển tiền

Nhưng trong biến kế toán dồn tích gồm hai phần: Biến kế toán dồn tích

có thể điều chỉnh được (Discretionary Accurals - DA) và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (Non Discretionary Accurals - NDA)

Biến kế toán dồn tích (TA) = Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được (DA) + Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được

Biến NDA phản ánh điều kiện kinh doanh cụ thể của từng đơn vị do đó NQL không điều chỉnh được Ngược lại, biến DA là biến NQL có thể điều chỉnh thông qua các thủ thuật đã nêu ở phần 1.2.6 Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đo lường biến DA vì biến này đại diện cho mức độ quản trị lợi nhuận của DN Để xem xét mức độ quản trị lợi nhuận của các DN, các nhà nghiên cứu không thể quan sát một cách trực tiếp Vì vậy các nhà nghiên cứu phải

Trang 39

thông qua 2 cách: một là xem xét sự lựa chọn chính sách kế toán, hai là tính biến NDA Sau đây là một số những nghiên cứu tính NDA

b Các mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận

 Mô hình tổng accruals trung bình Healy (1985) [40]

Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDAt) = trung bình của

 Mô hình DeAngelo (1986) [32]

Mô hình của DeAngelo, giả định rằng các thành phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t -1, do đó sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và thời kỳ t-1 được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán:

Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DAt)= Biến kế toán dồn tích (TAt)- Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDAt) (1.4)

Trong đó: Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDAt) = Biến

Biến kế toán dồn tích (TA)= Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền từ hoạt

 Mô hình Jones (1991) [44]

Mô hình này rất hiệu quả trong việc nhận diện quản trị lợi nhuận ở các nước phát triển Để phát hiện biến kế toán dồn tích có điều chỉnh, thực hiện

Trang 40

qua 2 bước

- Xác định biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) như sau:

Trong đó:

NDAt là biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được năm t;

At-1: Tài sản cuối năm t-1;

∆REVt: Doanh thu thuần năm t;

PPEt là nguyên giá của tài sản cố định hữu hình

Chia tất cả các biến của phương trình (1.8) cho At-1 để tránh rủi ro

phương sai không đồng nhất

α1, α2, α3 là những tham số được tính bằng ước lượng OLS của a1, a2, a3

trong mô hình sau:

(1.9) Phần nhiễu ε trong mô hình đại diện cho biến chưa thể nhận diện được

 Mô hình Friedlan (1994) [43]

Mô hình Friedlan giả định rằng sự thay đổi trong tổng số trích trước

Ngày đăng: 28/09/2018, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w