1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 19952008

66 101 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 24,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh với sự gia tăng dân số và tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá rất mạnh mẽ do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và nền kinh tế phát triển theo hướng công

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

LỚP : DH05QL KHÓA : 2005 - 2009NGÀNH : Quản Lý Đất Đai

-TP HCM Tháng 07 năm 2009 -

Trang 2

KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN

NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

PHẠM NGỌC GIÀU

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT

NÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1995-2008

Giáo viên hướng dẫn: KS PHAN VĂN TỰ

(Địa chỉ cơ quan: Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh)

Ký tên: ………

Trang 3

Con xin chân thành biết ơn cha mẹ, người đã sinh thành và dưỡng dục con suốt chặn đường dài

Trong bốn năm qua được sự tận tình dạy dỗ của quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Em xin tỏ lòng biết ơn đến:

- Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

- Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báo giúp em tự tin bước vào đời

Em xin chân thành biết ơn đến thầy Phan Văn Tự , người đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Em cũng xin cảm ơn đến các anh chị trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Địa chính trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực tập tại trung tâm

Cảm ơn bạn bè và những người thân xung quanh đã giúp đỡ, động viên trong quá trình học tập

PHẠM NGỌC GIÀU

LỜI CẢM ƠN

Trang 4

PHẠM NGỌC GIÀU, lớp quản lý đất đai khóa 31 (DH05QL) – khoa Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Đề tài: “Đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1995 đến 2008”

Địa điểm thực tập: Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Địa chính trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chi Minh

Thời gian thực tập từ tháng 03/2009 đến 07/2009

Giáo viên hướng dẫn: KS Phan Văn Tự

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học lớn nhất khu vực phía Nam Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh với sự gia tăng dân

số và tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá rất mạnh mẽ do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp - thương mại - dịch vụ, việc khai thác thế mạnh về đất đai để kêu gọi đầu tư phát triển các ngành công nghiệp các khu dân cư đã gây áp lực đến đất nông nghiệp Do đó, đánh giá thực trạng quỹ đất nông nghiệp trên toàn thành phố là việc làm rất cần thiết cho việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần cho công tác lập quy hoạch sản xuất ngành nông nghiệp của thành phố trong giai đoạn mới

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đề tài được thực hiện nhằm mục đích phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai đặc biệt là đất nông nghiệp của Thành phố bên cạnh đó định hướng sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị cao

Bằng phương pháp so sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xã hội, tình hình quản lý nhà nước về đất đai và các chuỗi số liệu thống kê, kiểm kê đất đai các năm 2000, 2005, 2008 để từ đó đánh giá biến động đất nông nghiệp giúp cho các cơ quan chức năng nắm được quỹ đất nông nghiệp nhất là ngành nông nghiệp của Thành phố

Kết quả đề tài đạt được:

So sánh, đánh giá được chuỗi số liệu biến động đất nông nghiệp qua các năm

2000, 2005, 2008 Nắm được quỹ đất nông nghiệp của Thành phố năm 2008 là 121.313 ha trong đó: đất sản xuất nông nghiệp: 75.251 ha (chiếm 62,03%), đất lâm nghiệp là 34.365 ha (chiếm 28,33%), đất nuôi trồng thủy sản là 4.857 ha (chiếm 8,13%), đất làm muối: 2.373 ha (chiếm 1,13%), đất nông nghiệp khác: 467 ha (chiếm 0.36%)

Phân vùng sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 cho 4 quận và 5 huyện ngoại thành trong vùng nghiên cứu Trong đó quận Bình Tân và Quận 12 đến năm 2020 sẽ không còn đất nông nghiệp

Đề xuất các giải pháp sản xuất nông nghiệp theo hướng nền nông nghiệp của một đô thị lớn

Trang 5

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Mục đích – yêu cầu 1

a Mục đích nghiên cứu 1

b Yêu cầu 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

a Đối tượng nghiên cứu 2

b Phạm vi nghiên cứu 2

PHẦN I: TỔNG QUAN 3

I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 3

I.1.1 Cơ sở khoa học 3

I.1.2 Cơ sở pháp lý 8

I.1.3 Cơ sở thực tiển 9

I.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu 9

I.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 10

I.3.1 Nội dung 10

I.3.2 Phương pháp nghiên cứu 10

I.3 Quy trình thực hiện 11

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12

II.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 12

II.1.1 Vị trí địa lý kinh tế 12

II.1.2 Đánh giá các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 12

II.2 Đánh giá nguồn nhân lực 19

II.2.1 Dân số và tỷ lệ tăng dân số 19

II.2.2 Lao động, việc làm và thu nhập 19

II.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất 20

II.3.1 Tình hình quản lý 20

II.3.2 Tình hình sử dụng đất của người dân 24

II.4 Đánh giá hệ thống phân loại chỉ tiêu thống kê, kiểm kê thời kỳ 1995- 2005 24

II.4.1 Đánh giá, so sánh hai cách phân loại củ và mới 24

II.4.2 Đánh giá phân loại mới 29

II.5 Đánh giá thực trạng phát triển ngành nông nghiệp thành phố thời kỳ 2001-2008 30

Trang 6

II.5.2 Phân tích đánh giá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 31

II.5.3 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp 31

II.6 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2008 36

II.6.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp theo địa giới hành chính 37

II.6.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng 37

II.6.3 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp theo đối tượng sử dụng 39

II.6.4 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp theo đối tượng quản lý 40

II.7 Đánh giá biến động đất đai 41

II.7.1 Biến động đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng 41

II.7.2 Biến động đất nông nghiệp theo đơn vị hành chính 44

II.7.3 Biến động đất nông nghiệp theo đối tượng sử dụng và quản lý 45

II.7.4 Ảnh hưởng từ các dự án sân golf 46

II.7.5 Nguyên nhân và các dạng biến động đất nông nghiệp 47

1 Nguyên nhân gây biến động 47

2 Các dạng biến động 47

II.8 Tiềm năng đất nông nghiệp 48

II.8.1 Tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp 48

II.8.2 Tiềm năng đất lâm nghiệp 49

II.8.3 Tiềm năng đất có mặt nước nuôi trồng thủy hải sản 49

II.8.4 Tiềm năng đất làm muối 49

II.9 Phân vùng sinh thái nông nghiệp đến năm 2020 49

II.10 Đề xuất các giải pháp sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị 50

II.10.1 Giải pháp về giống 50

II.10.2 Các giải pháp về khoa học công nghệ 52

II.10.3 Các giải pháp về chế độ quản lý, chính sách, đào tạo cán bộ 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

1 Kết luận 54

2 Kiến nghị 55

Trang 7

Trang Danh sách bảng biểu

Bảng 1 Kiểm kê đất đai qua các năm 4

Bảng 2 Hiện trạng sử dụng đất tồn quốc phân theo vùng (năm 2000) 6

Bảng 3 Tình hình sử dụng đất tồn quốc qua các đợt kiểm kê đất đai 7

Bảng 4 Mật độ dân số và dân số các quận huyện theo đơn vị hành chính năm 2008 19

Bảng 5 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nơng nghiệp 30

Bảng 6 Diện tích, năng suất sản lượng một số cây trồng chính 32

Bảng 7 Thực trạng phát triển ngành chăn nuơi 33

Bảng 8 Thực trạng phát triển ngành thủy sản 34

Bảng 9 Hiện trạng sử dụng đất Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 36

Bảng 10 Hiện trạng sử dụng đất nơng nghiệp theo địa giới hành chính 37

Bảng 11 Hiện trạng sử dụng đất nơng nghiệp theo mục đích sử dụng 38

Bảng 12 Cơ cấu sử dụng đất theo đối tựơng sử dụng 39

Bảng 13 Cơ cấu sử dụng đất theo đối tựơng được giao để quản lý 40

Bảng 14: Biến động diện tích đất nơng nghiệp theo mục đích sử dụng 41

Bảng 15: Diện tích phân theo đơn vị hành chính 44

Bảng 16 Diện tích đất nơng nghiệp phân theo đối tượng sử dụng và quản lý 45

Bảng 17 Phân vùng sinh thái nơng nghiệp đến năm 2020 theo đơn vị hành chính 49

Danh sách biểu đồ Biểu đồ 1: Hiện trạng sử dụng đất tồn quốc phân theo vùng (năm 2000) 7

Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng đất nơng nghiệp TP Hồ Chí Minh năm 2008 39

Biểu đồ 3: Biến động diện tích đất nơng nghiệp theo mục đích sử dụng 42

Biểu đồ 4: Diện tích phân theo đơn vị hành chính 44

Biểu đồ 5: Diện tích đất nơng nghiệp phân theo đối tượng sử dụng và quản lý 46

Trang 8

BĐHTSDĐ: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất

BVTV: Bảo vệ thực vật

DTTN: Diện tích tự nhiên

ĐBSCL: Đông bằng Sông Cửu Long

GIS: Hệ thống thông tin địa lý

GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

HTX: Hợp tác xã

QSDĐ: Quyền sử dụng đât

TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

TN-MT: Tài nguyên – Môi trường

TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư và nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng Do có nhiều chức năng như vậy mà việc sử dụng đất đai luôn diễn ra thường xuyên và liên tục, đòi hỏi Nhà nước phải có hệ thống các biện pháp về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai có hiệu quả và bền vững về các mặt:

+ Kinh tế: sử dụng đất đầy đủ và hợp lý làm cho giá trị sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao

+ Môi trường: loại sử dụng phải bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ được môi trường tự nhiên

+ Xã hội: thu hút được lao động, bảo đảm được đời sống xã hội

Sử dụng đất là nhu cầu cấp bách của nước ta cũng như nhiều quốc gia trên Thế giới Những hiện tượng như: sa mạc hóa, lũ lụt diện tích đất trống đồi trọc ngày càng gia tăng là nguyên nhân của việc sử dụng đất kém bền vững, làm cho môi trường tự nhiên ngày càng bị suy thoái

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học lớn nhất khu vực phía Nam Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh với sự gia tăng dân

số và tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá rất mạnh mẽ do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp - thương mại - dịch vụ, việc khai thác thế mạnh về đất đai để kêu gọi đầu tư phát triển các ngành công nghiệp các khu dân cư đã dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp giảm mạnh, giai đoạn 2005 – 2008 giảm 2.204 ha (bình quân giảm 735 ha/năm) Do đó, đánh giá thực trạng quỹ đất nông nghiệp trên toàn thành phố là việc làm rất cần thiết cho việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần cho công tác lập quy hoạch sản xuất ngành nông nghiệp của thành phố trong giai đoạn mới

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và được sự đồng ý của khoa Quản lý đất đai

và Bất động sản trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, em tiến hành thực hiện

đề tài: “Đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp TP.Hồ Chí Minh từ năm 1995-2008”

1 Mục đích- yêu cầu:

a Mục đích nghiên cứu:

Xác định lại quỹ đất nông nghiệp của thành phố nhằm giúp cho công tác quản

lý và sử dụng đất của các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành nông nghiệp thành phố đang phát triển theo hướng nền nông nghiệp đô thị

Làm cơ sở phục vụ cho công tác quản lí đất đai, quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố

b Yêu cầu:

Phải nắm chắc được tổng diện tích tự nhiên, quỹ đất nông nghiệp của Thành phố, diện tích từng lọai đất nông nghiệp, đối tượng sử dụng, đối tượng được giao để quản lý

Các số liệu thống kê, kiểm kê, bản đồ hiện trạng phải phản ánh đúng hiện trạng đang sử dụng

Trang 10

Các số liệu, bảng biểu thống kê được tổng hợp chi tiết từ các yếu tố trên bản đồ phải thông qua phân tích, so sánh cơ cấu sử dụng đất hiện tại với thời điểm kiểm kê

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất phải mang tính khách quan, trung thực, các thông tin trên bản đồ phải xác định đầy đủ, chi tiết theo quy chuẩn thống nhất của Bộ TN-

MT

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

a Đối tượng nghiên cứu: Đất nông nghiệp (gồm 5 loại đất: đất sản xuất nông

nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác)

b Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gồm 5 huyện

ngoại thành: Cần Giờ, Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh và 4 quận: Bình Tân, quận 9, quận 12, Thủ Đức

Phạm vi thời gian: Đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp qua các số liệu

thống kê, kiểm kê từ năm 1995-2008

Trang 11

PHẦN I: TỔNG QUAN

I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

I.1.1 Cơ sở khoa học

1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Đất (soil) là phần tơi xớp của lớp vỏ trái đất mà trên đó có các hoạt động của

sinh vật Độ dày thường được quy định từ 120-150cm kể từ lớp đất mặt Ở những nơi

có tầng đất mỏng thì được tính từ lớp đá mẹ hay tầng cứng rắn mà rễ cây không thể

xuyên qua được trở lên, có khi chỉ 10-20cm

Đất đai (land – Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan): “Một vạt đất xác định

về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn

định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên,

bên trong và bên dưới nó như là: không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, thủy văn,

thực vật, và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở

chừng mực mà những thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó

của con người hiện tại và trong tương lai”

Nhóm đất nông nghiệp, gồm: Đất trồng cây hàng năm (gồm đất trồng lúa, đất

đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác); đất trồng cây lâu năm; đất

lâm nghiệp (đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng); đất nuôi trồng

thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác (là đất tại nông thôn sử dụng để xây

dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức

trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và

các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí

nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây

giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc

bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp)

Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều cách phân loại khác nhau như: phân loại theo tự

nhiên, theo phát sinh học, theo địa chất, màu sắc, theo mục đích sử dụng,… Trong đó,

phân loại theo tự nhiên thường người ta chỉ mô tả các tính chất theo tự nhiên của đất

Tóm lại trong phân loại đất có nhiều cách phân loại đất khác nhau nhưng đề tài chỉ

nghiên cứu sâu vào cách phân loại theo mục đích sử dụng đất để phục vụ cho đánh giá

hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp Thành phố

Phân loại theo mục đích sử dụng: căn cứ vào loại đất chính và hiện trạng sử

dụng đất người ta tiến hành phân theo các cấp phân vị khác nhau Hiện nay, ở Việt

Nam phân loại theo mục đích sử dụng đất được chia làm 5 cấp (theo thông tư

28/2004/TT-BTNMT về việc hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ

hiện trạng sử dụng đất)

BĐHTSDĐ: là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác

định, được lập theo từng đơn vị hành chính (khoản 17 điều 4 chương I Luật đất đai

2003)

Nông nghiệp bền vững (theo FAO): bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên

cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của con người đồng thời giữ gìn

và cải thiện tài nguyên thiên nhiên môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (FAO,

1989)

Trang 12

Phân vùng nông nghiệp là nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược của ngành sản xuất nông nghiệp trong một giai đoạn kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân nhất định trên quan điểm phát triển và phân bố hợp lý ngành nông nghiệp trong phạm vi cả

nước

2 Lược sử công tác thống kê, kiểm kê đất đai từ trước đến nay

Bảng 1 Kiểm kê đất đai qua các năm

Quyết định 27/QĐ-ĐC ngày 22/02/1995

Chỉ thị TTg ngày 18/08/1999 Quyết định 507/QĐ-

12/10/1999

Chỉ thị 28/2004/CT-TTg ngày 15/07/2004

ở, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng

5 đối tượng sử dụng:

Hộ gia đình, cá nhân,

Tổ chức kinh tế, Người nước ngoài và liên doanh với nước ngoài, UBND xã quản lý sử dụng, Các đối tượng khác

5 loại đất chính: nông nghiệp, lâm nghiệp, đất

ở, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng

6 đối tượng sử dụng:

Hộ gia đình, cá nhân,

Tổ chức kinh tế, Tổ chức khác, Người nước ngoài và liên doanh với nước ngoài, UBND

xã quản lý sử dụng, Các đối tượng khác

3 loại đất chính: nông nghiệp, phi nông nghiệp, chưa sử dụng

8 Đối tượng sử dụng: Hộ gia đình, cá nhân, UBND

xã, Tổ chức kinh tế, Tổ chức khác, Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Người VN định

cư nước ngoài, Cộng đồng dân cư

4 Đối tượng quản lý: Cộng đồng dân cư, UBND xã, Tổ chức phát triển quỹ đất, Tổ chức khác

Đất đai tuy có vị trí cố định trong không gian nhưng lại thường xuyên biến động về loại đất, chủ sử dụng, biến động về hình thể, kích thước, diện tích, địa giới hành chính… Nếu những biến động này không được quản lý tốt thì dể nẫy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong quan hệ đất đai Đồng thời các tài liệu về đất đai như bản đồ,

sổ bộ địa chính sẽ không còn phù hợp với thực tế Cho nên cần tiến hành điều tra thống kê, kiểm kê đất đai định kỳ hằng năm và 5 năm một lần

Trước đây, công tác thống kê đất đai thường nhằm vào mục đích phục vụ cho xây dựng kế hoạch 5 năm, lúc này công tác thống kê chỉ tập trung vào đất nông nghiệp

Trang 13

nhưng vẫn còn sơ lược, chưa đầy đủ chi tiết và chưa thống kê ruộng đất theo quyền sở hữu của các thành phần kinh tế

Năm 1997, Thường vụ Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 169-CP về việc điều tra tình hình cơ bản ruộng đất trong toàn quốc Nội dung điều tra toàn diện và đầy

đủ hơn so với các cuộc điều tra trước đây

Từ khi có luật đất đai 1993 việc thống kê, kiểm kê đất đai theo định kỳ hằng năm và 5 năm được tiến hành từ trung ương đến địa phương Các kỳ điều tra này thống

kê các loại đất từ loại đất chính đến chi tiết và thống kê cho từng thành phần kinh tế sử dụng đất

Năm 1995, kiểm kê đất đai được thực hiện theo chỉ thị 382/CT-ĐC ngày 31/03/1995 của TCĐC Đây là mốc rất quan trọng trong lịch sử thống kê, kiểm kê đất đai và là năm thực hiện tổng kiểm kê đất đai trên phạm vi cả nước Hệ thống biểu mẫu năm 1995 (gồm 6 biểu mẫu) mã số được quy định từ 01 đến 60 và các loại đất được phân loại đến cấp 4 gồm 5 loại đất chính:

18 biểu mẫu) được phân loại đến cấp 5 gồm 3 loại đất chính:

+ Đất nông nghiệp

+ Đất phi nông nghiệp

+ Đất chưa sử dụng

Trong đó có thêm nhóm đất có mặt nước ven biển (chỉ tiêu quan sát)

3 Công tác điều tra xây dựng BĐHTSDĐ

Để công tác quản lý đất đai được tốt cũng như các ngành nông lâm nghiệp, xây dựng, thủy lợi, giao thông,… thì tài liệu BĐHTSDĐ là một công cụ hỗ trợ không thể

Trang 14

thiếu Vì vậy, trước khi Luật đất đai 1993 ra đời thì từ năm 1980 đến nay được sự hướng dẫn của TCĐC (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) các tỉnh trong cả nước đã điều tra xây dựng BĐHTSDĐ 5 đợt:

BĐHTSDĐ năm 1985: để thực hiện chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ,

ngành quản lý ruộng đất trong thời kỳ 1982-1985 đã tiến hành đo đạc, phân hạng, đăng

ký thống kê đất đai cả nước Năm 1985, hầu hết các tỉnh đã xây dựng BĐHTSDĐ dựa trên BĐHTSDĐ cả nước tỷ lệ 1:1.000.000 kèm theo các số liệu thống kê đất đai

BĐHTSDĐ năm 1990: BĐHTSDĐ cả nước lúc này có tỷ kệ 1:1.000.000 được

xây dựng trên cơ sở ảnh LANDSAT-TM chụp vào năm 1989- 1990, ảnh hàng không chụm hiện trạng rừng và BĐHTSDĐ các tỉnh trong cả nước

BĐHTSDĐ năm 1995: Thực hiện chỉ thị số 382/CT-ĐC ngày 31/03/1995 của

TCĐC về việc thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng BĐHTSDĐ, sử dụng các tài liệu, sổ bộ, BĐĐC hiện có để chỉnh lý theo hiện trạng sử dụng đất, năm chắc quỹ đất theo từng cấp hành chính trong toàn tỉnh Việc kiểm kê đất đai và lập BĐHTSDĐ được thực hiện theo ranh giới hành chính (chỉ thị 364/CP) và lấy đơn vị

xã, phường, thị trấn làm đơn vị cơ bản

BĐHTSDĐ năm 2000: Thực hiện chỉ thị 24/1999/CT-TTg ngày 18/08/1999

của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện tổng kiểm kê đất đai và xây dựng BĐHTSDĐ năm 2000 được lập theo 4 cấp: xã, huyện, tỉnh, toàn quốc xét về chất lượng hơn hẳn những năm trước đây

BĐHTSDĐ năm 2005: Ngày 15/07/2004 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số

28/2004/CT-TTg về việc thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng BĐHTSDĐ năm 2005; đến ngày 01/11/2004 Bộ TN-MT ban hành thông tư 28/2004/TT-BTNMT

về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng BĐHTSDĐ năm

2005 thì BĐHTSDĐ được lập cho tấc cả các cấp hành chính trên toàn quốc

4 Tình hình sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam

Bảng 2 Hiện trạng sử dụng đất toàn quốc phân theo vùng (năm 2000)

28,32 3,8 14,6 18,4 15,5 7,5 8,9/0,6 11,88

Tổng diện tích tự nhiên toàn quốc 329.24,61 100,00

Nguồn: Tổng cục địa chính năm 2000

Trong 7 vùng kinh tế thì vùng miền núi trung du Bắc bộ và vùng duyên hải Nam Trung bộ là hai vùng có diện tích tự nhiên lớn nhất, chiếm 46,7% diện tích toàn quốc Bên cạnh đó nước ta còn có hai vùng đồng bằng lớn là vùng đồng bằng Bắc bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, chiếm 15,7% diện tích toàn quốc và là hai vựa lúa

Trang 15

Tình hình sử dụng đất Thành phố Hồ Chí Minh: theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2000, tổng diện tích tự nhiên thành phố là 209.502 ha, chiếm 8,9% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ và 0,6% diện tích tự nhiên toàn quốc Trong số 24 quận, huyện của Thành phố thì huyện Cần Giờ có diện tích tự nhiên lớn nhất 70.422 ha, chiếm 33,6%; quận 4 có diện tích tự nhiên nhỏ nhất 417 ha, chiếm 0,2% Bình quân diện tích tự nhiên năm 2000 trên đầu người Thành phố Hồ Chí Minh là 0,036 ha/người, trong khi bình quân chung cả nước là 0,4 ha/người

Biểu đồ 1: Hiện trạng sử dụng đất toàn quốc phân theo vùng (năm 2000) Bảng 3 Tình hình sử dụng đất toàn quốc qua các đợt kiểm kê đất đai

Đơn vị: ha

Loại hình sử dụng đất 1985 1990 1995 2000 I.Đất nông nghiệp 7.037.817 7.113.812 7.348.449 9.345.346

Nguồn :Tổng cục địa chính

Đất nông nghiệp tăng rất chậm ở giai đoạn 1985-1990 (từ 7.037.817 ha tăng lên

7.113.812 ha, bình quân tăng 15.199 ha/năm), giai đoạn 1990-1995 tăng nhanh (tăng

thêm 234.637 ha so với năm 1990, bình quân tăng 46.927 ha/năm), giai đoạn

1995-2000 diện tích đất nông nghiệp tăng rất nhanh (từ 7.348.449 ha tăng lên 9.345.346 ha,

bình quân tăng 399.379 ha/năm) Các giai đoạn này diện tích đất nông nghiệp tăng do

áp lực về dân số và vấn đề lương thực đã thúc đẩy việc khai hoang ruộng đất Thời kỳ này Luật đất đai 1993 ra đời góp phần vào việc khuyến khích người dân sản xuất,

Trang 16

trong đó cây hàng năm có dấu hiệu giảm, cây lâu năm tăng lên do hiệu quả kinh tế mang lại cao

Vào những năm 1985-1990, đất lâm nghiệp tăng nhẹ (từ 9.242.019 ha tăng lên 9.395.194 ha, bình quân tăng 30.635 ha/năm) Giai đoạn 1990-1995 có dấu hiệu tăng mạnh trở lại (từ 9.395.194 ha tăng lên 9.641.142 ha, bình quân tăng 49.190 ha/năm) Giai đọan 1995-2000 diện tích đất lâm nghiệp tăng mạnh (từ 9.641.142 ha lên 11.575.429 ha, bình quân tăng 386.857 ha/năm) Cả ba giai đoạn này đất lâm nghiệp tăng do Nhà nước có chính sách phủ xanh đất trống đồi trọc

Đất chuyên dùng: Giai đoạn 1985-1990 tăng 80.592 ha, giai đoạn 1990-1995 tăng 270.256 ha, giai đoạn 1995-2000 tăng 415.146 ha do việc khai thác và mở rộng đường giao thông, xây dưng trụ sở cơ quan

Đất ở: Trong thời kỳ 1985-2000 diện tích đất ở giảm về diện tích nhưng lại tăng

về diện tích sàn sử dụng do nhiều nhà đầu tư đã đầu tư vào xây dựng nhà ở chung cư cao tầng

Đất chưa sử dụng có chiều hướng giảm dần giai đọan 1985-1990 và giai đọan 1990-1995 và đến năm 2000 còn 10.027.265 ha Diện tích đất chưa sử dụng có chiều hướng giảm do áp lực về dân số và vấn đề lương thực đã thúc đẩy việc khai hoang ruộng đất

I.1.2 Cơ sở pháp lý

Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật đất đai năm 2003 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003;

Thông tư 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;

Thông tư 08/ 2007/TT-BTNMT quy định về thống kê kiểm kê đất đai;

Quyết định 375/ QĐ-ĐC ngày 15/05/1995 của TCĐC về chế độ báo cáo thống

kê, kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;

Quyết định 499/QĐ-ĐC ngày 27/07/1995 của TCĐC về mẫu sổ theo dỗi biến động đất đai;

Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về “Một số chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”;

Nghị quyết số 150/2005/NQ-TTg ngày 20/5/2008 về “phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010

và tầm nhìn 2020”;

Nghị quyết số 10/2007/NQ-CP ngày 13/02/2007 của Chính phủ phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) và định hướng đến năm 2020 của thành phố Hồ Chí Minh;

Nghị quyết số 26-NQ/TW của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

Chương trình hành động số 43-CTr/TU ngày 20/10/2008 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Trang 17

I.1.3 Cơ sở thực tiễn

Xuất phát từ thực trạng diện tích đất nông nghiệp Thành phố giảm dần do tốc

độ tăng dân số và đô thị hóa Để đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho Thành phố trong tương lai, Thành phố đã thực hiện Đề án “Quy hoạch sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025”

Trong đề án việc đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Thành phố là

rất cần thiết Đề tài “Đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp TP.Hồ Chí Minh

từ năm 1995-2008” đã thực hiện một phần trong phạm vi của đề án này

I.2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố Khi người Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập

và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam, được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, một trong những đô thị quan trọng của vùng Đông Nam Á Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí Minh", theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.095 km2, gồm 24 quận huyện; trong đó khu vực nội thành là 494 km2, chiếm 24% diện tích tự nhiên và 84% dân số của thành phố; khu vực ngoại thành với diện tích đất 1.601 km2, chiếm 76% diện tích

tự nhiên và 16% dân số

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước; là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội không những giới hạn trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mà còn là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội của cả nước Với thế mạnh về nguồn lực và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đầy đủ

về giao thông thủy bộ, sân bay, bến cảng, đường sắt… đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố

Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố giai đoạn 2001-2008 bình quân đạt 11,4% năm (theo số liệu Niên giám thống kê 2008), GDP bình quân đầu người năm

2008 là 2.135 USD và dự kiến đến năm 2010 là 3.100 USD và năm 2020 là 6.000 USD

Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp liên tục tăng nhịp độ khá cao, bình quân 6,04%/năm giai đoạn 2001-2008 trong điều kiện đất canh tác giảm dần Bước đầu hình thành nền nông nghiệp đô thị cao với những cây con hiệu quả cao (hoa lan, cây kiểng,

cá cảnh, rau an toàn, chăn nuôi heo an toàn, bò sữa, cá sấu,…) Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch cây con kém hiệu quả, sức cạnh tranh thấp sang hiệu quả cao, bền vững; an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp được bảo đảm hơn

Bên cạnh những thành quả đạt được, nông nghiệp thành phố đang đứng trước những khó thách thức mới, nhất là giai đoạn hội nhập kinh tế thị trường như hiện nay Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gia tăng áp lực cạnh tranh nông sản hàng hóa; trong điều kiện sản xuất nông nghiệp của thành phố còn bị hạn chế bởi tiềm năng đất đai (đất đai ngày càng thu hẹp, manh mún) cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, khoa học kỹ thuật, lao

Trang 18

động nông nghiệp, nhu cầu lương thực, thực phẩm do sự gia tăng dân số và nhất là tác động của thiên tai, dịch bệnh cây trồng vật nuôi và biến động của thị trường

Tóm lại, các ban ngành và các cấp lãnh đạo thành phố cần có những biện pháp

và chính sách đúng trong việc phát triển nền nông nghệp theo hướng nông nghiệp bền vững, nông nghiệp đô thị cao Vì vậy, xác định lại quỹ đất nông nghiệp là nhiệm vụ cấp bách của các ngành các cấp, đặc biệt là ngành nông nghiệp thành phố trong tương lai

I.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

I.3.1 Nội dung

Đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là thực trạng phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn thành phố

Đánh giá biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2000-2008

Đề xuất các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sử dụng đất ổn định lâu dài

I.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê: thu thập các số liệu, tài liệu, bản đồ… nhằm đánh giá biến động đất nông nghiệp qua các chuỗi số liệu thống kê, kiểm kê đất đai, đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp

Phương pháp so sánh: So sánh, xét mối quan hệ phân loại đất đai trong thống

kê, kiểm kê đất đai giữa hai giai đoạn 1995-2000 và 2000-2005 để từ đó đánh giá được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong thống kê, kiểm kê

Phương pháp phân tích và tổng hợp: tổng hợp và phân tích các số liệu, tài liệu thu thập được phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Phương pháp GIS: ứng dụng các phần miềm chuyên dùng như: Microstation, Mapinfo xử lý số liệu, biên tập bản đồ hiện trạng

Phương pháp bản đồ: xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất các năm 2008 Phương pháp chuyên gia: hỏi ý kiến chuyên gia về phân vùng sinh thái nông nghiệp và giải pháp sản xuất nông nghiệp trong tương lai,…

I.3.3 Quy trình thực hiện

Bước 1: Thu thập dữ liệu: số liệu bảng biểu liên quan đến vùng nghiên cứu Bước 2: Xữ lý tổng hợp các số liệu thu thập

Bước 3: Đánh giá thực trạng, biến động đất nông nghiệp

Bước 4: Dựa trên đánh giá hiện trạng và tiềm năng đất đai đề xuất các giải pháp sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị

Bước 5: Tổng hợp, viết báo cáo

Trang 19

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

II.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường

II.1.1 Vị trí địa lý kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học; là đầu mối giao thông liên lạc chính của cả nước Nằm ở trung tâm của khu vực phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' - 10°38' Bắc và 106°22' - 106°54' Đông

Tứ cận:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương

+ Phía Đông - Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai

+ Phía Tây - Tây Nam giáp tỉnh Long An, Tiền Giang

+ Phía Tây - Bắc giáp tỉnh Tây Ninh

Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.095 km2, gồm 24 quận huyện; trong đó khu vực nội thành là 494 km2, chiếm 24% diện tích tự nhiên và 84% dân số của thành phố; khu vực ngoại thành với diện tích 1.601 km2, chiếm 76% diện tích tự nhiên và 16% dân số

Nằm ở trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm của vùng và cả nước về các lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ - khoa học - công nghệ - đào tạo - y tế… Thành phố có tổng dân số lớn nhất cả nước, là thị trường tiêu thụ lớn nhất nước về nông lâm thủy hải sản Thành phố có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đầy đủ cả về giao thông thủy bộ, sân bay, bến cảng, đường sắt… đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra động lực có vai trò đầu tàu cho việc phát triển các tỉnh phía Nam và cả nước

II.1.2 Đánh giá các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường

1 Các yếu tố tự nhiên

a Khí hậu

Thành phố nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo Đặc điểm khí hậu của thành phố khá ổn định và thuận lợi so với các khu vực khác trong cả nước với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Một số đặc điểm về khí hậu của trạm Tân Sơn Hoà (1), như sau:

- Nhiệt độ: Nhiệt độ cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình cả năm

khoảng 28,20C (dao động trong khoảng 26,6 - 30,10C)

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình cả năm khoảng 75% Có sự chênh lệch rõ rệt theo

mùa

- Lượng mưa: Lượng mưa thay đổi theo từng khu vực và phân bố không đều, tập

trung chủ yếu từ tháng 5 - 11, lớn nhất vào tháng 7 hoặc tháng 10, lượng mưa bình quân đạt 2.078,9 mm/năm (2000-2007)

(1)

Chỉ tiêu số liệu bình quân quan trắc từ năm 2000-2007 theo số liệu trong Niên giám thống

Trang 20

- Chế độ gió: Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai

hướng gió chủ yếu: Từ ngoài biển Đông thổi về theo hướng Đông Nam - Tây Bắc (thịnh hành trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 4); từ Ấn Độ Dương thổi về theo hướng Tây Nam - Đông Bắc (thịnh hành trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 10)

Ngoài ra còn có hướng gió từ phương Bắc thổi về, đây là hướng gió thịnh hành trong tháng 11, 12 và tháng 1 Huớng gió hoạt động trong năm có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí các khu công nghiệp, khu dân cư, nhất là các ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm không khí

b Chế độ thủy văn

Thành phố nằm giữa hai sông lớn là sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và chịu ảnh hưởng lớn của sông Đồng Nai

Sông Đồng Nai: là sông lớn nhất trong hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai

(Sông Đồng Nai nối qua sông Sài Gòn bằng hệ thống kênh Rạch Chiếc) Tại địa phận

Quận 9 sông rộng đến 400 - 600 m, lòng sông không sâu so với các sông khác, độ sâu trung bình từ 12 - 15 m, dòng chảy trung bình 500 m3/s

Sông Sài Gòn: là sông có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa do vậy thủy triều vào rất sâu và mạnh Chế độ thủy văn, dòng chảy của các kênh rạch trong Thành phố chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Sài Gòn

Sông Vàm Cỏ Đông: có rất nhiều sông nhánh nối với hệ thống kênh rạch khu vực Tây Nam Thành phố

Hệ thống kênh rạch của Thành phố có thể khái quát thành hai hệ thống chính:

hệ thống kênh rạch đổ vào sông Sài Gòn với hai nhánh chính là rạch Bến Cát và kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè Hệ thống kênh rạch đổ vào sông Bến Lức và kênh Đôi, kênh

Tẻ như: rạch Tân Kiên, rạch Bà Hôm, rạch Tân Hóa - Lò Gốm…Đặc điểm của các kênh rạch này là chúng tương đối độc lập và bắt nguồn từ vùng đất cao

Nét nổi bật chi phối tất cả các chế độ dòng chảy trong khu vực Thành phố là

sự xâm nhập của thuỷ triều Phân tích biên độ dao động của thuỷ triều tại các trạm Bến Lức, Gò Dầu Hạ (trên sông Vàm Cỏ Đông), các trạm Nhà Bè, Phú An, Thủ Dầu Một (trên sông Sài Gòn) cho thấy biên độ dao động thủy triều dọc sông Sài Gòn thay đổi và giảm dần từ cửa sông đến Dầu Tiếng và biên độ dao động của thủy triều trên sông Vàm Cỏ Đông nhỏ hơn trên sông Sài Gòn rất nhiều Với chế độ dòng triều như vậy cho nên hầu như các ảnh hưởng và sự trao đổi dòng chảy giữa hai sông Sài Gòn

và Vàm Cỏ Đông là rất yếu và đó cũng là nguyên nhân tạo ra các giáp nước (nơi

dòng chảy đổi chiều, tốc độ dòng chảy bằng 0 hoặc bằng 0) trên sông Bến Lức và

kênh Thầy Cai

c Địa hình, địa mạo

Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn bằng phẳng, thấp, có một phần diện tích dạng đất gò ở phía Bắc và Đông Bắc thuộc huyện Củ Chi và một phần ở Quận 9, Thủ Đức với diện tích chiếm 30% diện tích tự nhiên Thành phố Nhìn chung cao trình giảm dần từ hướng Bắc và Đông Bắc xuống Nam và Đông Nam

Dạng đất gò cao: có độ cao biến thiên từ 4 - 32 m Trong đó phần diện tích có

độ cao từ 4 - 10 m chiếm khoảng 19% tổng diện tích tự nhiên; phần diện tích có độ cao trên 10 m chiếm khoảng 11% tổng diên tích tự nhiên Dạng địa hình này phân bố chủ yếu ở huyện Củ Chi và một phần ở Quận 9, Thủ Đức

Trang 21

Dạng đất bằng thấp: chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên Độ cao từ 2 - 4

m, điều kiện thoát nước tương đối thuận lợi phân bố chủ yếu ở các quận nội thành, một phần ở Thủ Đức, Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và phía Nam huyện Bình Chánh

Dạng đất trũng, lầy ở phía Tây Nam: chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên, độ cao phổ biến từ 1 - 2 m Phân bố dọc theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tam Tân, Thái

Mỹ kéo dài từ các huyện Bình Chánh đến Củ Chi, khu vực trung tâm huyện Nhà Bè, Bưng Sáu Xã của Thủ Đức (củ) và phía Bắc huyện Cần Giờ

Dạng trũng thấp mới hình thành ven biển: chiếm khoảng 21% tổng diện tích tự nhiên Dạng địa hình này có độ cao phổ biến từ 0 - 1 m, nhiều nơi có độ cao thấp hơn mực nước biển, nhìn chung đa số chịu ảnh hưởng của thủy triều hằng ngày

2 Tài nguyên thiên nhiên

a Tài nguyên đất

Theo tài liệu khảo sát thổ nhưỡng, trên địa bàn các huyện và quận ven Thành phố Hồ Chí Minh, có 6 loại đất chính sau đây:

- Đất cát: Đất cát có diện tích 6.704 ha (3,2% diện tích tự nhiên) Phân bố ở

huyện Cần Giờ Đất cát nghèo mùn, đạm, lân và kali Loại đất này thích hợp trồng một

số rau màu như: hành hẹ, ớt, khoai lang… và các cây ăn trái như: nhãn, xoài, chôm chôm…

- Đất mặn: Diện tích 25.559 ha (12,2% DTTN) Phân bố tập trung ở huyện Cần

Giờ Các chỉ tiêu độ phì ở mức trung bình khá, hàm lượng chất hữu cơ giàu (2,5 - 3,5%), hàm lượng đạm tổng số tương đối cao (0,2%) Đất mặn thích hợp cho việc trồng rừng,

đặc biệt đối với cây đước, sú, vẹt,

- Đất phèn: Chủ yếu là đất phèn tiềm tàng, diện tích 57.613 ha (27,5% DTTN)

Phân bố ở các vùng thấp, trũng, tiêu thoát nước kém như: phía Nam huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và phía Bắc huyện Cần Giờ

Hiện nay, đất phèn đã được khai thác trồng lúa 2 - 3 vụ, rau màu và các loại cây

ăn quả Còn lại một diện tích lớn các đất phèn có tầng sinh phèn nông, còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều được sử dụng cho việc trồng và bảo vệ rừng ngập mặn

- Đất phù sa: Diện tích 26.397 ha (12,6% DTTN), trong đó loại đất phù sa ngọt

chỉ chiếm khoảng 2,5% Phân bố chủ yếu ở vùng Nam Bình Chánh và một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, độ cao khoảng 1,5 m Các chất dinh dưỡng về mùn, đạm, lân và kali rất giàu Đây là loại đất tốt, cần thiết phải được cung cấp nước tưới, ưu tiên sản xuất lúa nước 2 - 3 vụ và sử dụng một phần diện tích cho việc trồng cây ăn trái

- Đất xám: Diện tích 40.434 ha (19,3% DTTN) Phân bố chủ yếu trên vùng đất

cao, gò ở huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận Thủ Đức, quận 9 và phía Bắc huyện Bình Chánh Đất này dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hoá và thích hợp với loại cây hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày Trong sử dụng phải chú ý biện pháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung dinh dưỡng nhất là phân hữu cơ

- Đất đỏ vàng: Diện tích 3.143 ha (1,5% DTTN) Phân bố trên vùng gò ở huyện

Củ Chi và quận Thủ Đức, quận 9 Đặc điểm chung của nhóm đất này là chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp phụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hoà tan dễ bị rửa trôi Nên ưu tiên sử dụng cho việc trồng các cây như cao su, điều vì có khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt

Trang 22

b Tài nguyên nước

- Nước mặt: Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng hạ lưa của hệ thống sông

Đồng Nai - Sài Gòn, giáp với biển Đông, nên nước ngọt của sông Đồng Nai là nguồn nước ngọt chính với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km2, hàng năm cung cấp 15 tỷ

m3 nước Trong thời gian qua, một số các công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng chỉ làm thay đổi lượng nước theo mùa nhưng kông làm thay đổi về tổng lượng nước nói chung Nước mặt trên địa bàn Thành phố hiện nay chủ yếu sử dụng cho nông nghiệp và NTTS tại các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ với lưu lượng khoảng 100 triệu m3/năm

- Nước dưới đất: Nguồn nước ngọt dưới đất phân bố chủ yếu ở các tầng chứa

nước Pliocen ở độ sâu 100 - 300 m, cá biệt có nơi 20 - 50 m Tập trung tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, phía Bắc huyện Bình Chánh, các quận Tân Bình, Gò Vấp trữ lượng khai thác ước tính 300 - 400 m3/ngày

Tổng lưu lượng nước đang khai thác khoảng 600.000 m3/ngày, chiếm trên 30% nhu cầu nước sinh hoạt của Thành phố Hiện nay, thành phố đang mở rộng mạng lưới cấp nước, tăng khai thác nước mặt để dần dần giảm khai thác lượng nước dưới đất

c Tài nguyên rừng

Theo Quyết định số 1718/QĐ-UBND ngày 22/4/2008, của UBND thành phố

Hồ Chí Minh, về việc phê duyệt số liệu chi tiết diện tích rừng và đất lâm nghiệp đến ngày 31/12/2007; TP.HCM có 36.184,58 ha đất lâm nghiệp (chiếm 16,2% DTTN thành phố)

Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi, trong đó rừng ngập mặn Cần Giờ chiếm khoảng 94% diện tích rừng, số diện tích còn lại phân bố ở huyện Bình Chánh và Củ Chi dưới dạng rừng thứ sinh tự nhiên, và rừng trồng, với các loại thực vật chủ yếu là bạch đàn và keo lá tràm Rừng Cần Giờ không những là rừng phòng hộ mà còn là khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận Thực vật chủ yếu là các loại chịu mặn (đước, sú, vẹt, ) và động vật chủ yếu là khỉ, chim, cá,

d Tài nguyên biển

Thành phố Hồ Chí Minh duy nhất ở huyện Cần Giờ là có biển với chiều dài bờ biển khoảng 23 km kéo dài từ giáp ranh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến tỉnh Tiền Giang với hai vịnh lớn nhất là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái

Nguồn lợi từ biển chủ yếu là nuôi trồng thủy sản, đánh bắt gần bờ và sản xuất muối Việc đánh bắt xa bờ còn hạn chế do đầu tư chưa đúng mức

Hiện nay, Thành phố đang triển khai thực hiện chiến lược biển theo Nghị quyết

số 09–NQ/TU của Ban Chấp hành Trung ương khóa X và cùng với chủ trương tận dụng các bải biển đồng thời chuyển đổi cơ cấu từ lúa năng suất thấp, đất làm muối năng suất không ổn định sang nuôi trồng thủy hải sản bên cạnh đó đầu tư tàu công suất lớn phục vụ khai thác, đánh bắt xa bờ Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được xem xét nghiêm túc tránh tình trạng xảy ra hiện tượng xâm nhập mặn

e Tài nguyên khoáng sản

Theo các tài liệu hiện có về tiềm năng khoáng sản và hiện trạng khai thác mỏ thì Thành phố Hồ Chí Minh có các loại khoáng sản sau:

Than bùn: Là một dạng nhiên liệu hóa thạch gồm mùn hữu cơ và bùn sét Phân

bố rải rác ở Láng Tre (Bình Chánh), Nhị Bình (Hóc Môn), Tam Tân (Củ Chi), Long

Trang 23

Phước, Tăng Nhơn Phú (Quận 9) và các điểm than bùn ở huyện Cần Giờ Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo khoảng 3.390.000 tấn

Đá xây dựng: Phân bố rải rác ở một số nơi như ấp Hàm Luông, bến đò Long

Bình và ấp Giồng Chùa Tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 25 triệu m3 trong đó mỏ đá Long Bình đã khai thác được khoảng 1 triệu m3

Sét gạch ngói: phân bố nhiều nơi trên địa bàn thành phố với 2 kiểu nguồn gốc

trầm tích và phong hóa Mỏ sét phong hóa Long Bình đã khai thác hết với trữ lượng 11 triệu m3 Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo trên 50 triệu m3 trong đó điển hình ở mỏ Tân Quy (17 triệu m3), Vĩnh Lộc (13,365 triệu m3), Tân Túc (7,764 triệu m3), Nhị Bình (7,2 triệu m3)

Sét Keramzit: Là loại vật liệu làm từ sét có tính trương phồng khi nung nhanh

ở nhiệt độ thích hợp, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất bê tông nhẹ xây dựng nhà cao tầng, vật liệu cách nhiệt, cách âm, chất độn xà phòng, dung dịch khoan, ngoài ra còn có rất nhiều ứng dụng khác Chỉ ghi nhận được một điểm keramzit ở Cần Giờ với trữ lượng cấp 2 là 3,2 triệu m3

Kaolin: Là loại sét mịn, là nguyên liệu chính để sản xuất gốm, sứ, gạch men,

sản xuất sơn, giấy, chất độn cho một số dược phẩm, thuốc trừ sâu,… và có thể chế biến tạo thành zeolit Sét kaolin phân bố ở khu vực huyện Củ Chi, Thủ Đức với chất lượng không đồng điều với các mỏ như: Rạch Sơn, Bàu Chứa, Linh Xuân Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo cấp P 12.743.340 tấn

Đất Laterit: Phân bố rộng rải ở phía Bắc và Tây Bắc Thành phố (Quận 9, Thủ

Đức, Củ Chi, Hóc Môn) Theo thống kê hiện nay, trên địa bàn Thành phố có 17 điểm Laterit, trong đó có 7 mỏ đã được điều tra đánh giá trữ lượng tài nguyên cấp P là 14,2 triệu m3

f Tài nguyên nhân văn

Thành phố Hồ Chí Minh có lịch sử hơn 300 năm với nhiều công trình kiến trúc

cổ như đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát Lớn, bưu điện, hệ thống các ngôi chùa cổ

và hệ thống các nhà thờ cổ (Nhà thờ Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Hội Tây, Thủ Đức,…)

hệ thống các chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình Giác Viên,…) và hệ thống chợ: Sài Gòn, Bà Chiểu, Bình Tây…

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc, nơi đây chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911) gắn liền với sự kiện đó là các di tích quan trọng như cảng Nhà Rồng, bảo tàng Hồ Chí Minh Ngoài ra, một trong những đặc trưng văn hóa của 300 năm lịch sử đất Sài Gòn - Gia Định là sự hội tụ của nhiều dòng văn hóa giữa truyền thống dân tộc của người Việt với những nét đặc sắc của văn hóa Đông Tây

Trên địa bàn Thành phố có nhiều dân Việt (kinh), Hoa, Khơme, Chăm, sinh sống với nền văn hóa phong phú, đa dạng Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hóa của miền Nam; đây là nơi ra đời báo Quốc ngữ đầu tiên, là trung tâm hoạt động và giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật nên có ảnh hưởng lớn về văn hóa đối với cả nước

Trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, vùng nông nghiệp nông thôn - ven đô Thành phố Hồ Chí Ninh là cái nôi cách mạng, các chứng tích lịch sử còn khắc ghi các chiến công oanh liệt đó là: Chiến khu rừng Sác (Cần Giờ), Địa đạo Củ Chi, Láng Le - Bàu Cỏ (Bình Chánh), vùng Bưng Sáu Xã (Quận 9)

Trang 24

3 Môi trường

Môi trường có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là đối với đời sống con người, sinh vật và sản xuất nông nghiệp Các vấn đề chính về môi

trường có tác động lớn với sản xuất nông nghiệp, gồm:

a Môi trường nước

Nước mặt: Phần lớn nước mặt nằm trong ranh giới hành chính của Thành phố

có chất lượng nước không đạt yêu cầu khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt TP.HCM nằm ở hạ lưu của lưu vực sông Ðồng Nai nên chất lượng nguồn nước mặt bị ảnh rất lớn của hoạt động kinh tế ở thượng nguồn Đặc biệt là nước thải từ nhà máy, xí nghiệp (vụ nghiêm trọng trong những năm vừa qua là việc xả nước thải của nhà máy VEDAN làm cho sông Thị Vải và sông Đồng Nai rơi vào tình trạng “ chết lâm sàng”, nước thải sinh hoạt không qua sử lý làm cho nước ở các sông rạch bị ô nhiễm trầm trọng Trong đó, hệ thống sông Sài Gòn và sông Đồng Nai là hệ thống cung cấp lượng lớn nước sinh hoạt cho Thành phố

Nước dưới đất: Chất lượng nước dưới đất tầng nông đang ở mức báo động, bị ô

nhiễm hữu cơ, ô nhiễm vi sinh và nhiễm mặn ở một số khu vực Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2007 cho thấy giá trị pH tại các trạm dao động

từ 4,4 - 6,8; đa số các mẫu đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước dưới đất (TCVN 5994-1995: pH: 6,5 - 8,5); tổng cacbon hữu cơ dao động từ 0,6 - 89,8 mg/l, thấp hơn

so với khuyến cáo (nồng độ cacbon hữu cơ phải nhỏ hơn 2 mg/l)

b Môi trường đất

Tình trạng thoái hoá đất ở Thành phố diễn ra dưới nhiều hình thức: Nhiễm mặn (Cần Giờ); nhiễm phèn (phía Nam huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và Bắc Cần Giờ); xói mòn rửa trôi bề mặt ở các vùng có địa hình cao và dốc (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn); sụt lún đất (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn, Tân Bình, Quận 3, Quận 10); lầy hoá (Nhà Bè, Thủ Đức, Quận 8, Bình Chánh), xói lở bờ sông,

bờ biển (ở một phần kênh rạch Nhà Bè) Ngoài ra, môi trường đất cũng bị ô nhiễm trầm trọng do thuốc bảo vệ thực vật, chất thải đô thị và chất thải rắn công nghiệp

Theo kết quả phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại một số điểm trong đợt quan trắc tháng 07 năm 1996 đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong tầng đất mặt tại 5 trong 8 điểm quan trắc với hàm lượng từ 0,4 - 0,9mg/kg, vựơt quá tiêu chuẩn cho phép (TCVN 1995), kết quả phân tích mẫu đất tại 4 điểm quan trắc cho thấy sự tích lũy một số kim loại nặng như Pb, Cd, Co, Cr gần bằng hoặc vượt hơn ngưỡng cho phép, độ dẫn điện trong đất (EC) trong tầng đất mặt khá cao đến mức có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng

Tình hình khai thác cát: Trong những năm trước đây, việc quản lý các hoạt động khai thác cát còn nhiều hạn chế đã dẫn đến tình trạng các công ty khai thác cát hoạt động không theo đúng thiết kế, khai thác quá độ sâu, quá gần bờ gây những hậu quả nghiêm trọng về môi trường đất làm sạt lở bờ sông gây thiệt hại về nhà và cây trồng của người dân Theo quyết định số 2611/UB-CNN ngày 02 tháng 08 năm 2001 của Uỷ ban nhân dân Thành phố, hoạt động khai thác cát đã bị đình chỉ trên các tuyến sông rạch thuộc địa bàn Thành phố Hiện nay chỉ có hoạt động nạo vét khơi thông luồng hàng hải trên một số đoạn sông có kết hợp tận thu cát Tuy nhiên, trên địa bàn Thành phố hiện nay vẫn còn tồn tại hiện tượng khai thác cát trái phép diễn ra hết sức phức tạp: các xáng cạp nạo vét không đúng vị trí khu vực được nạo vét, nạo vét quá độ sâu; một số đơn vị tổ chức thi công xây dựng duy tu cảng không có thông báo và đăng

Trang 25

ký; hoạt động bơm hút cát trái phép trên các sông rạch vẫn còn diễn ra

c Môi trường không khí

Từ năm 1995, Thành phố đã thiết lập hệ thống quan trắc chất lượng môi trường không khí bán tự động; năm 1996 bổ sung thêm 01 trạm Các thông số đo đạc gồm:

NO2, CO, bụi, chì, tiếng ồn Theo kết quả quan trắc chất lượng không khí cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm không khí đo đạc được trong khu dân cư đạt tiêu chuẩn cho phép (nồng độ NO2 và SO2 dao động khoảng 2,3 - 40,49 µg/m3 và 2,52 - 86,65 µg/m3đạt tiêu chuẩn cho phép TCVN 5937: NO2=100 µg/m3, SO2= 300 µg/m3, nồng độ bụi trung bình tháng dao động khoảng 32,78 - 148,56 µg/m3 đạt tiêu chuẩn bụi cho phép TCVN 5937: bụi =160 µg/m3)

4 Đánh giá chung những yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường tác động đến sản xuất nông nghiệp

a Những thuận lợi, lợi thế

- Là trung tâm khu vực Nam bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực kinh tế phát triển khá năng động với hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển đầy đủ, tiềm năng đất - nước đa dạng phong phú, có điều kiện để phát triển nông nghiệp Thành phố theo hướng hiện đại, bền vững, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao theo đặc thù nông nghiệp đô thị

- Hệ thống sông rạch tự nhiên phong phú góp phần làm giàu cảnh quan và thuận lợi cho phát triển nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch, giải trí, nghỉ ngơi

- Địa hình, địa mạo tương đối bằng phẳng, hiện diện nhiều loại đất (phù sa, cát, mặn, phèn ) tạo điều kiện cho đa dạng hóa cây trồng vật nuôi

- Khí hậu ôn hòa, ít chịu thiên tai bão lụt, là môi trường thuận lợi cho các loài sinh vật sinh trưởng và phát triển

b Những khó khăn, hạn chế

- Lượng mưa phân bố không đều trong các mùa đã ảnh hưởng lớn đến lưu lượng dòng chảy, xâm nhập mặn gây khó khăn trong công tác điều tiết nước tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp

- Diện tích thấp, trũng có cao trình dưới 2m và diện tích mặt nước chiếm đến 61% diện tích tự nhiên của thành phố và theo dự báo về ảnh hướng của biến đổi khí hậu toàn cầu diện tích thấp trũng trên địa bàn so với mực nước biển sẽ ngày càng lớn hơn

- Nhìn chung, đất cho sản xuất nông nghiệp của TP.HCM thuộc loại trung bình

và xấu so với ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ Để tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cần phải có sự đầu tư, cải tạo đất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với quá trình đô thị hóa

- Tuy Thành phố rất quan tâm đến việc bảo vệ môi trường với nhiều chương trình, dự án nghiên cứu, đánh giá tác động và đề xuất giải pháp xử lý giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhưng nhìn chung mức độ ô nhiễm môi trường vẫn còn ở mức khá cao có tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và đời sống nhân dân

II.2 Đánh giá nguồn nhân lực

II.2.1 Dân số và tỷ lệ tăng dân số

Năm 2008, dân số Thành phố Hồ Chí Minh (nguồn Niên giám thống kê năm 2008)

là 6.877.739 người, chiếm 7,5% dân số cả nước Trong đó, dân số 5 huyện ngoại thành

Trang 26

(2008) là 1.089.287 người, chiếm 15,84% dân số Thành phố Năm 2008 tỷ lệ tăng dân số

tự nhiên là 1,12%, tỷ lệ tăng dân số cơ học là 1,9%, tỷ lệ tăng cơ học lớn do dãn dân từ nội thành và lao động từ các tỉnh thành khác đến tìm kiếm việc làm Dân số nông nghiệp (2008) là 238.127 người, chiếm tỷ lệ thấp 3,7% dẫn đến thiếu nguồn lao động nông nghiệp và dân số phi nông nghiệp chiếm đa số với 96,5% (6.639.612 người)

Mật độ dân số bình quân thành phố là 3.283 người/km2 Trong đó, các quận là 11.265 người/km2, các huyện ngoại thành là 678 người/ km2, chênh lệch nhau là 17 lần

Chi tiết cho các quận, huyện trong vùng nghiên cứu là:

Bảng 4: Mật độ dân số và dân số các quận huyện theo đơn vị hành chính năm 2008

Đơn vị hành

chính

Số phường (xã)

Diện tích (km 2 )

Dân số (người)

Mật độ dân số (người/km 2 )

Nguồn: Cục thống kê dân số năm 2008

II.2.2 Lao động, việc làm và thu nhập

1 Lao động và việc làm

Lao động nông nghiệp năm 2008 là 135.732 lao động (chiếm 57% nhân khẩu nông nghiệp và chỉ chiếm 5% tổng số lao động trên địa bàn Thành phố) Trong 10 năm qua có khoảng 32% dân số ở nông thôn (tương ứng khoảng 230 ngàn người) chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp

Độ tuổi lao động: nhóm trẻ (16 - 19 tuổi) ngày càng có khuynh hướng thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp chuyển sang các lĩnh vực phi nông nghiệp (năm 1999 nhóm này có tỷ lệ 74,3%, năm 2004 là 72,4%, 2006 là 70,7%)

Thực hiện Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg (18/04/2005) về hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, Trung tâm dạy nghề các huyện thu hút và đào tạo trên 2.000 lượt học viên tham dự các chuyên ngành: tin học, cơ điện lạnh, may công nghiệp, nông nghiệp… Số lao động được giải quyết việc làm ở 5 huyện ngoại thành tăng dần, từ 20.140 người (2000), chiếm 12,7% số lao động được giải quyết việc làm trên toàn Thành phố; đến năm 2008 có trên 40 ngàn người (chiếm 17%)

2 Thu nhập và đời sống dân cư

Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Theo

Trang 27

GDP bình quân đầu người của thành phố năm 2006 là 1.854 USD và năm 2008 là 2.135

USD; trong đó khu vực nông nghiệp năm 2008 là 914 USD/người/năm (bằng 40% bình

quân chung)

Hiện tập quán canh tác nhỏ lẻ theo hộ gia đình còn khá phổ biến; đa số người dân khu vực nông thôn còn giữ quan điểm sản xuất và bán những sản phẩm mình có, ít tiếp cận những thông tin thị trường và thị hiếu của người tiêu dùng để kịp thời sản xuất các sản phẩm hàng hóa có giá trị cao

Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả hết sức tích cực khả quan, đến cuối năm 2008, thành phố đã cơ bản hoàn thành xoá hộ nghèo (thu nhập bình quân dưới 6,0 triệu đồng/năm) Nếu theo tiêu chí mới thu nhập bình quân dưới 12 triệu đồng/người/năm, 5 huyện ngoại thành có 74.187 hộ, chiếm 29,9% số hộ ngoại thành, trong đó có 65% là hộ nông dân (48.284 hộ)

II.3 Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất

II.3.1 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai

1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

và tổ chức thực hiện các văn bản

Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, UBND Thành phố đã tổ chức triển khai các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền như:

Quyết định số 138/2004/QĐ-UB ngày 18/05/2004 về thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn Thành phố

Quyết định số 139/2004/QĐ-UB ngày 18/05/2004 về quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giải quyết hồ sơ giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo cơ chế một cửa liên thông

Chỉ thị số 26/ 2004/CT-UB ngày 15/09/2004 của UBND Thành phố về tổ chức triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2003 trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

Chỉ thị số 29/ 2004/CT-UB ngày 16/11/2004 về tổ chức kiểm kê đất đai năm

2005 trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

Công văn số 6983/UB-ĐT ngày 16/11/2004 về thực hiện một số việc cấp bách triển khai Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003

Quyết định 317/2004/QĐ-UB của UBND Thành phố về ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 181, Quyết định 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ TNMT

Kế hoạch số 4595/UB-ĐT ngày 06/08/2004 và số 4668/UBNN-ĐT ngày 03/08/2005 về triển khai thực hiện công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

Quyết định số 316/2004/QĐ-UB ngày 24/12/2004 và Quyết định số 227/2004/QĐ-UBND ngày 27/12/2005 về ban hành quy định về giá các loại đất trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

Quyết định số 225/2005/QĐ-UBND ngày 23/12/2005 của UBND Thành phố về quy định hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở theo Luật Đất đai năm 2003

Chỉ thị 02/2006/CT-UBND ngày 16/01/2006 về một số biện pháp tăng cường triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003

Trang 28

Ngoài ra, UBND Thành phố còn ban hành hoặc đề xuất với Thủ tướng Chính phủ một số chính sách nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển

2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa chính, lập bản đồ hành chính

Năm 2000, Thành phố tiến hành tổng kiểm kê đất đai theo chỉ thị 24/TTg ngày 18/08/1999 của Chính phủ diện tích đất đai được chỉnh lý, bổ sung trên cơ sở địa giới hành chính được hoạch định theo chỉ thị 364-CT với diện tích tự nhiên là 209.502 ha Đến năm 2005 diện tích là 209.554 ha gồm 19 quận và 5 huyện Trong đó có 2 quận mới tách là Bình Tân và Tân Phú (quận Bình Tân tách từ huyện Bình Chánh, quận Tân Phú tách từ quận Tân Bình) Tiến hành lập bộ hồ sơ địa giới hành chính các quận Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh, và điều chỉnh địa giới hành chính cho các

quận, huyện có liên quan theo Nghị định số 130/ NĐ-CP

3 Công tâc điều tra đo đạc, khảo sát, đánh giá, phân hạng và lập bản đồ địa chính

Trong những năm gần đây, Thành phố đã thực hiện nhiều hoạt động điều tra khảo sát, đánh giá đất đai làm cơ sở đề ra và thực thi nhiều chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội như:

- Lập quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất từ năm 1995 đến nay

- Điều tra đất đang sử dụng của các tổ chức theo Chỉ thị 245/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Kiểm tra việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

- Đánh giá đất đai theo địa chất công trình

Thành phố đã tiến hành đo đạc, lập bản đồ cho các xã, phường có đất nông nghiệp để phục vụ cho công tác quản lý đất đai và quy hoạch sản xuất nông nghiệp

Công tác phân hạng đất cũng được tiến hành theo thông tư 83/TT của bộ Tài Chính phục vụ cho việc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp

Công tác lập bản đồ địa chính được triển khai thực hiện bằng phương pháp và phương tiện kỹ thuật tiên tiến Hầu hết các xã, phường, thị trấn đã hoàn chỉnh đo đạc

và lập bản đồ địa chính Đến nay đã có 310/317 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn đưa bản đồ địa chính chính quy từ tỷ lệ 1:200 đến 1:2000 vào sử dụng

Công tác lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cùng với công tác tổng kiểm kê đất đai (định kỳ 5 năm) đã được thực hiện xong trên phạm vi toàn Thành phố Thành phố cũng đã lập BĐHTSDĐ cho 24 quận, huyện và 317 xã, phường, thị trấn BĐHTSDĐ năm 2005 của xã, phường, thị trấn được lập trên cơ sở bản đồ địa chính số

Công tác lập bản đồ địa hình Thành phố dưới dạng số do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, Thành phố đã tiếp nhận file bản đồ địa hình số tỷ lệ 1:2000; 1:5000 của toàn Thành phố (tổng số gồm 936 mảnh: tỷ lệ 1:2000 là 821 mảnh; 1:5000 là 115 mảnh); đã chuyển cho các Sở, ngành, quận, huyện để sử dụng cho công tác quản lý Nhà nước về đô thị và quy hoạch xây dựng

4 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng với tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay thì nhu cầu về đất phi nông nghiệp là rất lớn Từ năm 2001 đến 2005 sở Tài

Trang 29

nguyên - Môi trường đã trình Ủy ban nhân dân Thành phố ra quyết định giao đất, cho thuê đất với 1.925 dự án với tổng diện tích là 14.419 ha

Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố có sự chuyển biến mạnh từ những năm gần đây: từ cấp đại trà sang cấp theo nhu cầu với cơ chế “một cửa” đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Trong đó, đất nông nghiệp đã tiến hành cấp GCNQSDĐ được 178.914 giấy đạt 97% với diện tích 92.224 ha đạt 98%; phần chưa cấp giấy là do tranh chấp hoặc nguồn gốc đất công, đất lâm nghiệp thuộc Nhà nước giao quản lý chưa có triển khai cấp giấy

5 Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Số dự án đã được giao đất, cho thuê đất trong 5 năm từ năm 2001 đến năm 2005 đạt 1.925 dự án với tổng diện tích là 14.419 ha Trong dó, riêng năm 2005 UBND thành phố xử lý theo hình thức thu hồi đất, hủy bỏ việc giao đất tổng cộng 5 dự án chậm hoặc không triển khai thực hiện với tổng diện tích khoảng 100 ha, thu hồi 3 khu đất trống không sử dụng để hoang hóa với diện tích khoảng 12,2 ha

Giai đoạn 2001-2005: Tình hình chuyển nhượng QSDĐ diễn ra khá mạnh lý do thị trường nhà đất phát triển mạnh Nhiều trường hợp đầu cơ đất đai đã dẫn đến đất nông nghiệp bị bỏ hoang không sản xuất hoặc là chuyển mục đích từ nông nghiệp sang phi nông ngiệp làm cho diện tích đất nông nghiệp thành phố giảm đi nhanh chống bình quân 598 ha/năm

6 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là điều rất cần thiết, để cho việc sử dụng đất phù hợp với kế hoạch đề ra và có hiệu quả Bên cạnh đó việc quy hoạch một

số vùng sản xuất nông nghiệp của thành phố cũng đã được triển khai như vùng sản xuất rau an toàn, trung tâm cung cấp giống vật nuôi và cây trồng,…đã mang lại nhiều hiệu quả kinh tế cao

7 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Công tác thống kê đất đai vẫn được tiến hành thường xuyên hàng năm đúng theo luật định Công tác kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần

Về công tác kiểm kê đất đai năm 2005 đã thực hiện xong Ủy ban Nhân dân Thành phố đã phuê duỵêt số liệu và báo cáo về Bộ Tài nguyên và Môi trường Số liệu

và bản đồ hoàn toàn được xây dựng trên cơ sở bản đồ địa chính số nên độ chính xác cao và xử lý được các hạn chế của các đợt kiểm kê trước Hiện nay Sở Tài nguyên và Môi trường đang chuẩn bị công tác cho đợt kiểm kê năm 2010

8 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

Thành phố đã thành lập ban chỉ đạo Quản lý Thị trường bất động sản, và thành lập Hiệp hội bất động sản thành phố với trên 500 thành viên và Hiệp hội đã góp phần phản ánh và đề xuất những chính sách đến cơ quan chính quyền và các bộ ngành; tổ chức lớp tập huấn quốc tế về năng cao năng lực quản lý thị trường bất động sản cho các cán bộ công chức của các sở ngành có liên quan

9 Quản lý tài chính về đất đai

Hàng năm Thành phố bố trí một nguồn ngân sách lớn cho công tác quản lý đất đai như: đo đạc bản đồ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…cụ thể nguồn kinh phí dành cho Sở Tài nguyên và Môi trường trong giai đoạn 2000-2005 là 374,4 tỷ

Trang 30

đồng Nguồn kinh phí này chưa tính đến ngân sách của các quận - huyện, phường - xã dành cho công tác này

10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Thi hành các quy định pháp luật về đất đai hiện nay, Thành phố luôn quan tâm bảo đảm thực hiện ngày càng đầy đủ và tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất như: thủ tục hành chính liên quan đến đất đai được hướng dẫn cụ thể và công khai hóa nơi công sở, kết hợp với tinh thần trách nhiệm cao và thái độ phục vụ của cán

bộ chuyên môn, nên đã góp phần đã giải quyết hành chính theo yêu của nhân dân kịp thời, hạn chế phiền hà cho nhân dân

Tấc cả các công sở trên địa bàn Thành phố đã áp dụng mô hình hành chính

“một cửa” góp phân giảm bớt phiền hà cho nhân dân, hạn chế tiêu cực, nhũng nhiễu của đội ngũ cán bộ, công chức Tuy nhiên so với các quy định còn nhiều bất cập cần

phải cải cách triệt để hơn

11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về đất đai

và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Từ sau luật Đất đai 1993 và đặc biệt từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực,

Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra định kỳ, đột xuất cũng như theo sự chỉ đạo cụ thể của UBND Thành phố Thanh tra việc quản lý sử dụng đất tại một số khu công nghiệp, khu chế xuất, các kho bãi, đồng thời thanh tra, kiểm tra các công tác cấp giấy, thu hồi đất tại các quận huyện trong địa bàn Thành phố

Ủy ban nhân dân Thành phố đã ra quyết định thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra

sử dụng đất đai với 4 Đoàn kiểm tra đầu tư xây dựng và quản lý sử dụng đất trên địa bàn Thành phố tại 4 quận: Quận 8, 12, Thủ Đức, Gò Vấp; huyện Bình Chánh, Hóc Môn Ngoài ra, Thành phố còn tiếp tục thực hiện kế hoạch 32-KH/TU và theo chỉ đạo của Thành ủy tiếp tục lập các đoàn thanh tra gồm: 15 Đoàn thanh tra Thành phố, 18 Đoàn thanh tra của sở Tài nguyên - Môi trường, 17 Đoàn Thanh tra do các quận, huyện chủ động thành lập Các đoàn thanh tra này chủ yếu kiểm tra đầu tư xây dựng,

xử lý vi phạm trong công tác đền bù, giải tỏa, chuyển mục đích và xây dựng trái phép

Kết quả thanh tra kiểm tra năm 2005 UBND Thành phố đã xử lý theo hình thức thu hồi đất, hủy bỏ việc giao đất tổng cộng 05 dự án chậm hoặc không triển khai thực hiện với tổng diện tích 100 ha, thu hồi 03 khu đất không sử dụng, để hoang hóa hoặc

bị lấn chiếm với tổng diện tích 12,2 ha Hiện Thành phố đang tiếp tục thanh tra, kiểm tra làm rõ để có cơ sở xữ lý 10 dự án với tổng diện tích khoảng 35 ha

12 Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trong việc quản lý và

sử dụng đất đai

Về việc giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo thì UBND Thành phố với chủ trương giải quyết đơn thư đúng chức năng thẩm quyền, khắc phục việc để đơn thư tồn động kéo dài và vận động, giải thích, hướng dẫn nhân dân hiểu pháp luật, sống và làm theo pháp luật Trong năm 2005, tại Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận 1.130 đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai, hồ sơ tồn năm 2004 là 29 hồ sơ Đến nay đã giải quyết được 1.212 hồ sơ (đạt 85%) và đang tiến hành giải quyết tiếp 209 hồ

Trang 31

13 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên triển khai mô hình dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai Năm 1998, thành lập Trung tâm kiểm định bản đồ và Tư vấn Nhà đất Năm 2002, Thành phố lập Trung tâm đăng ký nhà đất với chức năng thực hiện việc đăng ký các hợp đồng giao dịch nhà đất như Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất hiên nay Đầu năm 2003, thành lập Trung tâm Thu hồi khai thác quỹ đất phục

vụ đầu tư với chức năng như Tổ chức Phát triển Quỹ đất Các trung tâm này đều thuộc

sở Địa chính - Nhà đất (nay là Sở Tài Nguyên Và Môi trường) Từ kết quả thực hiện dịch vụ công tại Thành phố Hồ Chí Minh, Quốc hội đã quyết định đưa mô hình này vào Luật Đất đai năm 2003 để thực hiện nhân rộng trên toàn quốc

II.3.2 Tình hình sử dụng đất của người dân

Nhờ có chính sách miễn thuế nông nghiệp của Nhà nước đã khuyến khích người dân tăng gia sản xuất, khai hoang diện tích đất nông nghiệp Bên cạnh đó còn nhiều mặt hạn chế như: thiếu sự đầu tư và cải tạo đất làm cho đất bị hoang hóa, hiệu quả sản xuất nông nghiệp không cao từ đó nhiều người dân đã tự ý chuyển mục đích sang sử dụng làm đất ở, đất nhà xưỡng, nhiều dự án đã được phê duyệt nhưng chủ đầu tư chưa triển khai hoặc tiến độ triển khai còn chậm, nhiều khu vực đang tiến hành lập dự án để trình cấp trên phê duyệt,…làm cho người dân không yên tâm sản xuất; lực lượng lao động trẻ có khuynh hướng chuyển sang ngành nghề khác, không còn gắn

bó với ruộng vườn làm cho lao động nông thôn thiếu đi một lực lượng đáng kể; hạ tầng cơ sở một số vùng sản xuất chưa hoàn chỉnh như: thủy lợi, giao thông nội đồng, điện, dịch vụ nông nghiệp (giống, vật tư, phân bón, thuốc BVTV)

II.4 Đánh giá hệ thống phân loại chỉ tiêu thống kê, kiểm kê thời kỳ 1995- 2005 II.4.1 Đánh giá, so sánh hai cách phân loại củ và mới

+ Cách phân loại: Phân loại cũ được chia thành 4 cấp với 5 nhóm đất chính: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng; phân loại mới được chia thành 5 cấp với 3 nhóm đất chính: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng Ngoài ra, trong phân loại mới còn có thêm chỉ tiêu quan sát: đất có mặt nước ven biển

+ Phân loại trong đất nông nghiệp: Phân loại cũ là sự chi tiết về loại đất nông nghiệp vì trước đây nước ta sống nhờ vào nền nông nghiệp lúa nước; phân loại mới là

sự tổng hợp của nhiều loại đất như: đất nông nghiệp gồm đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp (trong phân loại cũ), đất trồng cây hàng năm gồm đất ruộng lúa, đất nương rẫy, đất trồng cây hàng năm khác

+ Phân loại trong đất phi nông nghiệp: Phân loại cũ chưa có sự phân biệt rõ giữa chế độ quản lý đất trong khu vực đô thị và ngoài đô thị, phân loại mới đã khắc phục được nhược điểm này như: đất ở được chia thành đất ở đô thị và đất ở nông thôn

+ Mã loại đất: Phân loại cũ thì mã loại đất được đánh theo số thứ tự, phân loại mới đánh theo cách cộng gọp chữ cái in hoa của các ký tự đầu ứng với loại đất tương ứng Ví dụ: ký hiệu mã loại đất phi nông nghiệp là PNN

+ Đối tượng sử dụng và quản lý: Phân loại cũ chi tiết về đối tượng sử dụng nhưng chưa đề cập đến đối tượng quản lý, trong phân loại mới đã phân biệt rõ về đối tượng sử dụng và đối tượng quản lý

Phân loại chỉ tiêu thống kê, kiểm kê đất đai thời kỳ 1995-2005 được phân thành các cấp phân loại sau:

Trang 32

Phân loại cấp 1

STT MLD Phân loại cũ STT MLD Phân loại mới

1 02 Đất nông nghiệp

2 30 Đất lâm nghiệp 1 NNP Đất nông nghiệp

3 40 Đất chuyên dùng 2 PNN Đất phi nông nghiệp

4 51 Đất ở 3 CSD Đất chưa sử dụng

5 54 Đất chưa sử dụng 4 MVB Đất có mặt nước ven biển (quan sát)

Phân loại cũ: chi tiết hơn phân loại mới, gồm 5 nhóm đất chính: Đất nông nghiệp, Đất lâm nghiệp, Đất chuyên dùng, Đất ở, Đất chưa sử dụng

Phân loại mới: tổng quát hơn gồm 4 nhóm đất chính: Đất nông nghiệp, Đất phi nông nghiệp, Đất chưa sử dụng, Đất có mặt nước ven biển (quan sát) Trong đó phân loại mới có sự tổng hợp của hai nhóm đất sau:

Đất nông nghiệp (phân lọai mới) = đất nông nghiệp + đất lâm nghiêp (phân loại cũ)

Đất phi nông nghiệp (phân lọai mới) = đất ở + đất chuyên dùng (phân loại cũ)

Phân loại cấp 2

Đất lâm nghiệp (phân lọai mới) = đất rừng tự nhiên + đất rừng trồng (phân loại cũ)

Đất sản xuất nông nghiệp (phân lọai mới) = đất trồng cây hàng năm + đất cây lâu năm (phân loại cũ)

Đất nông nghiệp khác (phân lọai mới) = đất vườn tạp + đất ươm cây giống (phân loại cũ)

SXN LNP NTS LMU NKH

Đất sản xuất nông nghiệp Đất lâm nghiệp

Đất nuôi trồng thủy sản Đất làm muối

2.6

OTC CDG TTN NTD SMN

PNK

Đất ở Đất chuyên dùng Đất tôn giáo, tín ngưỡng Đất nghĩa trang, nghĩa địa Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng

Đất phi nông nghiệp khác

Trang 33

4.2

52

53

Đất ở đô thị Đất ở nông thôn

3.1 3.2 3.3

BCS DCS NCS

Đất bằng chưa sử dụng Đất đồi núi chưa sử dụng Đất núi đá không có rừng cây

Đất núi đá không có rừng cây Đất chưa sử dụng khác

4 4.1 4.2 4.3

MVB MVT MVR MVK

Đất có mặt nước ven biển (quan sát) Đất có mặt nước ven biển NTTS Đất có mặt nước ven biển có rừng Đất có mặt nước ven biển có mục đích khác

Đất làm muối (thuộc nhóm đất nông nghiệp – phân loại mới) được chuyển qua

từ đất làm muối (thuộc nhóm đất chuyên dùng – phân loại cũ)

Đất ở (phân lọai mới) = đất ở đô thị + đất ở nông thôn (phân loại cũ)

Đất sông suối trong phân loại cũ được đưa vào đất sông ngòi, kênh rạch (nhóm đất phi nông nghiệp - phân loại mới.)

Đất thủy lợi và mặt nước chuyên dùng (phân loại cũ) được tách ra thành đất thủy lợi và đất mặt nước chuyên dùng (thuộc nhóm đất phi nông nghiệp – phân loại mới)

Đất có mặt nước chưa sử dụng (thuộc nhóm đất chưa sử dụng - phân loại cũ) chuyển sang nhóm đất có mặt nước ven biển (chỉ tiêu quan sát) và được chia thành 3 loại đất nhỏ hơn

Phân loại cấp 3

STT MLD Phân loại cũ STT MLD Phân loại mới

1.1.1 1.1.2

CHN CLN

Đất trồng cây hàng năm Đất trồng cây lâu năm

RSX RPH RDD

Đất rừng sản xuất Đất rừng phòng hộ Đất rừng đặc dụng

1.3.1 1.3.2

TSL TSN

Đất NTTS nước lợ, mặn Đất NTTS nước ngọt

2.1.1 2.1.2

ONT ODT

Đất ở nông thôn Đất ở đô thị

Ngày đăng: 28/09/2018, 07:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w