Đề tài Quản lý thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp của nhóm sinh viên đến từ khoa Ngân Hàng trường Đại học kinh tế Đại học Đà Nẵng nghiên cứu tvaf báo cáo trong năm học 2017 2018...............................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1ĐỀ TÀI
QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHI NÔNG
Trang 2CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất đai là một nguồn tài nguyên quan trọng của mỗi quốc gia, việc sử dụng nguồntài nguyên đó như thế nào cho hiệu quả trong hoạt động kinh tế phụ thuộc rất lớn vào thutiền sử dụng đất và chính sách thuế, hai nội dung này có mối quan hệ và phụ thuộc lẫnnhau Nguồn thu tài chính từ đất phụ thuộc vào mục đích thu thuế, cụ thể mục đích chínhcủa việc thu thuế là tăng thu ngân sách; Ổn định thị trường đất đai; Hạn chế tích tụ đầu cơlũng đoạn đất đai; Bảo tồn, duy trì và phát triển quỹ đất; Huy động quỹ đất vào phát triểnkinh tế hiệu quả… và cũng có thể là đa mục tiêu
Ở Việt Nam, nhìn lại các hình thức thu thuế những năm vừa qua, nhất là từ khi luậtđất đai 2003 có hiệu lực, đến nay chúng ta có thể nhận dạng và phát hiện được những bấtcập để từ đó có những hướng giải quyết phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế theo cơ
chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó, tôi quyết định chọn đề tài “Quản lý thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp”.
2. Mục tiêu của đề tài:
Trang 4Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm vào việc phân tích vai trò, tác dụng của thuế sửdụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp Tìm hiểu nội dung, yêu cầu, sự cần thiết và cácyếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế Từ đó tìm ra những biện pháp để giải quyếtnhững hạn chế của chính sách đang áp dụng và góp phần xây dựng những giải pháp phùhợp để đáp ứng những yêu cầu của quá trình phát triển
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý thuế sử dụng đất nông nghiệp vàphi nông nghiệp
B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG
I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP:
1. Khái niệm quản lý thuế sử dụng đất nông nghiệp:
Thuế sử dụng đất nông nghiệp là loại thuế gián thu được đánh vào việc sử dụng đốivới mục đích sản xuất nông nghiệp
Quản lý thuế SDĐNN là sự tác động một cách có tổ chức đối với quá trình tính vàthu thuế SDĐNN góp phần đảm bảo nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước
2. Nội dung công tác quản lý thuế sử dụng đất nông nghiệp:
Theo luật đất đai năm 2003 nội dung công tác quản lý đất đai nói chung gồm có 12nội dung.Tuy nhiên, đối với đất nông ngiệp là phần của tổng quỹ đất đai, nó mang nhữngđặc thù riêng biệt, chính vì vậy mà nội dung của công tác quản lý của Nhà nước về đất
Trang 5nông nghiệp cũng có nhiều khác biệt Công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp cóthể khái quát ở các nội dung dưới đây:
a. Ban hành văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và tổ chức thực hiện văn bản đó
Để đảm bảo được vai trò quản lý của mình, bất kỳ một nhà nước nào cũng tạo ra vàthực thi tạo ra một chế tài phù hợp Những chế tài này là tiền đề, hành lang cho lĩnh vực
áp dụng Không có một quốc gia nào có thể có được hiệu quả quản lý mà không cần đếnchế tài Ngay cả ở nước ta, hệ thống văn bản điều chỉnh các mối quan hệ đất đai nóichung và đất nông nghiệp nói riêng đa dạng Đó là những công cụ để Nhà nước thực hiệnquyền quản lý của mình
Trên cở sở hiến pháp năm 1992, Luật đất đai 1933 được ban hành nhằm mục đíchthể chế hóa các chính sách đất đai góp phần hoàn thiện chính sách đất đai, từng bướcđápứng yêu cầu quản lý của Nhà nước Luật đất đai cũng đã được ban hành và sửa đổi, bổsung vào các năm 2003, 2005 sao cho hoàn thiện hơn với tình hình sử dụng đất chế độ sởhữu của đất nước
Luật đất đai năm 2003 ra đời với nhiều nội dung mang tính chất đổi mới là một bướctiến quan trọng trong sự phát triển của hệ thống văn bản pháp luật về đất đai, tiếp theo đónhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Luật đất đai năm 2003 đã được ban hành : Luật, pháplệnh, quyết định, nghị định, thông tư để hướng dẫn, quy định cho công quản lý các cấp,các ngành, các vùng, các địa phương, các hoạt động, mối liên hệ liên quan đến đất đai cònđược điều tiết thông qua một loạt bộ luật khác như: Luật dân sự, Luật thuế sử dụng đấtnông nghiệp, Luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, áp dụng luật có liênquan
b. Khảo sát, đo đạt, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai trên bề mặt trái đất có nhiều loại, nhiều tính chất, nhiều vùng, nhiều tínhchất khác nhau chúng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Đế có một cơ chếquản lý phù hợp, có được định hướng, quy hoạch và kế hoạch phù hợp với địa phương,tỉnh, thành phố, cả nước Việc đầu tiên bắt buộc nhà nước phải nắm được các thông tin vềđất đai như: diện tích, loại đất, tình hình sử dụng Những thông tin này sẽ đóng góp rấtlớn cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
Trang 6Đối với đất nông nghiệp để quản lý được đất nông nghiệp một cách có hệ thống nhànước cũng cần những thông tin về đất nông nghiệp: diện tích, tình trạng sử dụng, mụcđích sử dụng ( cây trồng ngắn ngày, dài ngày ) từ những thông tin về đất nông nghiệpngười quản lý có được kế hoạch sử dụng hợp lý và cho ra những quyết định đúng đắn,giúp cho nền nông nghiệp của đất nước phát triển đóng góp cho sự phát triển của xã hội.Trong quá trình quản lý, sau khi tìm hiểu đưa ra quyết định, song song thực hiện quyếtđịnh người quản lý phải thu thập tiếp những thông tin về đất nông nghiệp đang diễn biếnnhư thế nào từ đó có những điều chỉnh, sửa đổi kế hoạch, quy hoạch, pháp luật đất đai.Như vậy những đặc điểm của đất nông nghiệp là rất quan trọng trong công tác quản lýNhà nước về đất nông nghiệp Chính vì vậy, Nhà nước phải tiến hành khảo sát, đo đạc,đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụngđất nông nghiệp
Công tác đánh giá, điều tra, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng, phân hạng đát nôngnghiệp là một công tác rất quan trọng Đó là cơ sở tiên quyết đầu tiên đáp ứng cho côngtác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp, cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất căn cứ để xác định tiền thuê đất, tiền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính đốivới Nhà nước, tạo nguồn thu cho ngân sách
c. Lập, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Bất kể quốc quốc gia nào cũng cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung vàđất nông nghiệp nói riêng
Đứng trên cương vị là cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và đất nôngnghiệp nói riêng Nhà nước là người tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chocác vùng, lãnh thổ ngành xét trên phạm vi quy hoạch thì quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất nông nghiệp có thể được lập cho một huyện, thành phố, vùng, cả nước Công tác quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định cụ thể trong luật đất đai năm 2003 từ điều 21đến điều 30 Điều 21 quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Điều 23 quy định
về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 22 căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất
Điều 24 quy định về kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Điều 25 quy định thẩm quyềnlập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất :
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vàhiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai
Trang 7- Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch
- Xác định diện tích các loại đất phân bố cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,quốc phòng an ninh
- Xác định các biện pháp sử dụng và bảo vệ, cải tạo đất, môi trường
- Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án
- Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
- Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
d. Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Công tác giao đất, cho thuê đất:
“ Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đốitượng có nhu cầu sử dụng”
“ Cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp động cho đối tượng cónhu cầu sử dụng”
Việc giao đất, cho thuê đất là một công việc cụ thể hóa của nhà nước về trao quyền
sử dụng đất cho người dân, người dân là người sử dụng trực tiếp, họ là người khai thácđất đai Nhiệm vụ của người dân được giao đất, cho thuê đất trước hết là sử dụng đất đúngmục đích, đúng thời hạn sử dụng và thực đầy đủ các nhiệm vụ tài chính với các cơ quanchức năng
Việc giao đất, cho thuê đất phải căn cứ vào:
Quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quyhoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, cho thuê đất,chuyển mục đích sử dụng đất ( theo điều 31 luật đất đai năm 2003 )
e. Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Khi sử dụng đất nông nghiệp người sử dụng đất nông nghiệp được quyền chuyển đổimục đích sử dụng sử dụng đất khi thấy cần thiết, nhà nước quy định ở trong luật đất đainăm 2003 Đây là một biện pháp quản lý Nhà nước về đất đai, tạo điều kiện cho người sửdụng đất nông nghiệp có điều kiện linh hoạt trong cách sử dụng, nâng cao hiệu quả củađất đai Có hai trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp:
- Thứ nhất chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép của nhà nước
- Tuy nhiên cũng có trường hợp chuyển mục đích sử dụng không phải xin phép khichuyển mục đích sử dụng đất ( trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất trong
Trang 8cùng một loại đất), riêng đối với đất nông nghiệp những trường hợp phải xin phépkhi chuyển mục đích sử dụng đất là:
Chuyển đất chuyên dùng trồng lúa nước sang trồng cay lâu năm, đất rừng, đất nuôitrồng thủy sản
Chuyển đất rừng đặt dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng cho mục đích khác
Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
Ngoài trường hợp trên thì không phải xin phép khi chuyển mục đích sử dụng đất, tuynhiên phải có sự đăng ký với văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Với quy định trêncủa luật đất đai năm 2003 người sử dụng đất có thể chủ động hơn trong việc chuyển đổimục đích sử dụng đất sao cho phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế thực sự cho đời sống.Đồng thời, Nhà nước cũng nắm được những biến động của đất nông nghiệp, nắm bắtđược tình hình đất nông nghiệp trong cả nước, chính vì vậy công tác quản lý Nhà nước vềđất nông nghiệp sẽ thuận lợi, hiệu quả hơn rất nhiều
Ngoài ra luật đất đai năm 2003 còn quy định cụ thể về thẩm quyền cho chuyển mụcđích sử dụng đất( điều 37)
f. Thu hồi đất nông nghiệp
Theo luật đất đai năm 2003 “ thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính
để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, ủy ban nhân dân xã,phường, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật”
Luật đất đai năm 2003 quy định rất rõ về các trường hợp phải thu hồi đất, vấn đề bồithường, tái định cư cho người thu hồi đất Việc thu hồi đất là một vấn đề rất phức tạpảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân cư, hộ gia đình, cá nhân tổ chức Vì vậy côngtác này cần được làm triệt để, khoa học và chính xác để đảm bảo tính công bằng tránh thấtthoát nguồn vốn của Nhà nước, các đơn vị tài trợ
Để phục vụ cho đời sống của nền kinh tế, nhiều trường hợp Nhà nước phải tiến hànhthu lại đất đai như:
- Tổ chức, cá nhân sử dụng đất bị giải thể, phá sản chuyển đi nơi khác, giảm nhucầu sử dụng đất mà không phải trường hợp đất có tranh chấp, đất không có giấy
tờ hợp pháp, đất giao cho các tổ chức mà pháp luật quy định không được quyềnchuyển mục đích sử dụng đất
- Người sử dụng đất tình nguyện trả lại đất
- Đất được sử dụng trong vòng 12 tháng liền mà không được cơ quan Nhà nước cóthầm quyền quyết định giao đất cho phép
Trang 9- Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước
- Đất sử dụng không đúng mục đích được giao
Điều 53 khoản 2 luật đất đai năm 2003 quy định trách nhiệm về thực hiện thống kê,kiểm kê đất đai:
- Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai của địaphương và báo cáo kết quả thống kê, kiểm kê đất đai lên cấp trên trực tiếp
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo kết quả thống kê,kiểm kê đất đai lên bộ tài nguyên và môi trường
- Bộ tài nguyên và môi trường báo cáo lên chính phủ kết quả thống kê hàng năm,kết quả thống kê năm năm của cả nước
- Chính phủ báo cáo quốc hội kết quả kiểm kê đất hàng năm đồng thời kế hoạch sửdụng đất năm năm của cả nước
- Bộ tài nguyên và môi trường quy định biểu mẫu và hướng dẫn phương phápthông kê, kiểm kê đất đai
h. Thực hiện công cụ tài chính trong công tác quản lý Nhà nước về đất
Công cụ tài chính là một trong những biện pháp của Nhà nước ban hành ra nhằmphân phối lại lợi ích của các bên tham gia trong các mối quan hệ liên quan đến đất đai.Việc thực thi công cụ tài chính trong quản lý sử dụng đất nông nghiệp phải đảm bảo đượccác yêu cầu mà nhà nước đặt ra: Bổ sung được khối lượng vào ngân sách nhà nước đểphục vụ cho công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất của người sử dụng đất làmcho họ có ý thức hơn trong công tác sử dụng đất, đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nướctrong ngành kinh tế thị trường
Theo điều 54 luật đất đai năm 2003 thì thu tài chính từ đất nông nghiệp gồm có :
- Tiền sử dụng đất khi nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyển mục đích
sử dụng đất từ được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất có thutiền sử dụng đất Chuyển từ thuê sang giao đất có thu tiền sử dụng đất
- Tiền thuê đất đối với đất do nhà nước cho thuê
- Tiền thu từ việc xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Thuế sử dụng đất
- Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất
- Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai
Việc thu tài chính đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng phải tuân theo quy địnhcủa pháp luật cả về phía người sử dụng đất và về phía cơ quan, ban ngành quản lý Vềphía người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình về thuế sử dụng đất, tiền
Trang 10thuê đất, tiền sử dụng đất, các khoản phí và lệ phí Phía cơ quan quản lý thực hiện quản
lý nguồn thu chặc chẽ tránh gây thất thoát, sử dụng bừa bãi Việc tính toán tiền sử dụngđất phải căn cứ vào diện tích, thời hạn sử dụng, khung giá đất tương ứng, tuân theo cácvăn bản hướng dẫn
i. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của người dân sử dụng đất nông nghiệp và của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai
Điều 132 luật đất đai năm 2003 ( thanh tra đất đai là thanh tra chuyên ngành đất đai)
- Thanh tra việc quản lý Nhà nước về đất đai của Ủy ban nhân dân các cấp
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của người dân, tổ chức, cá nhân Việc thanh tra đất đai đòi hỏi phải có một đội ngủ cán bộ giàu kinh nghiệm, nghiệp vụ vàlực lượng thanh tra đủ lớn, Mục đích của công tác thanh tra là mang lại những thông tinnhanh và chính xác về tính hình sử dụng đất đai phát hiện sớm những trường hợp vi phạm
để xử lý kịp thời Mặt khác thanh tra đội ngủ thực hiện công tác quản lý Nhà nước để pháthiện hành vi gian lận, tham ô, thanh lọc bộ máy, hạn chế, triệt tiêu hành động có hại cholợi ích xã hội, tư lợi cá nhân
j. Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
Gần đây, dư luận đã dấy lên nhiệm vụ kiện tụng về đất đai, có vụ mang tính tập thểkhiếu kiện hàng loạt, gây bức xúc xã hội, mất niềm tin của dân Hơn nữa số đơn thư khiếunại là về lĩnh vực đất đai đủ thấy tình hình sử dụng, quản lý đất đai ở nước ta đang rối Đất đai được hình thành trong một khoảng thời gian lâu dài, mang tính lịch sử xãhội, vấn đề đất đai rất phức tạp để giải quyết được tranh chấp, khiếu nại là rất khó khăn,mất nhiều thời gian, hệ thống pháp luật phải đầy đủ và hoàn thiện
Điều 85,86,87 luật đất đai năm 2003 đã quy định về công tác giải quyết tranh chấp,khiếu kiện, tố cáo, nghị định 181/ND/CP quy định bổ sung thêm những vấn đề về thẩmquyền giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hànhchính, giải quyết khiếu nại tố cáo Tuy nhiên hệ thống văn bản hướng dẫn như thế là vẫnchưa đủ, còn nhiều quy định mang tính chất chung chung không cụ thể khó khăn chongười thi luật
Ngoài ra công tác thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo còn liên quan đến nhiều bộluật khác nữa như : Luật dân sự, luật kinh tế, luật thừa kế, Trong nhiều trường hợp việc
Trang 11áp dụng luật phải linh hoạt, kết hợp với nhau để được phương án giải quyết chính xácnhất
3. Sự cần thiết trong quản lý thuế sử dụng đất nông nghiệp:
Đất nông nghiệp đóng vai trò to lớn đối với đời sống của con người Xã hội ngàycàng phát triển nhu cầu đất đai thay đổi theo hướng chuyển dịch của cơ cấu nền kinh tế
Vì vậy trong tổng quỹ đất không đổi thì đất nông nghiệp có chiều hướng giảm dần diệntích do phải chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác ( đất dùng cho công nghiệp,đất dùng cho mục đích thương mại, đất ở ) nói như vậy nhưng không thể phủ nhậnhoàn toàn đất nông nghiệp trong đời sống của con người ngày nay Để tồn tại con ngườiluôn cần đến thức ăn, rau củ quả, sản phảm của nền nông nghiệp, những nguồn cung cấpnày chỉ có thể thõa mãn được dựa vào sức manh canh tác đất nông nghiệp Dù gì đi nữatrong tổng quỹ của mỗi ất nước phải luôn có một quỹ đát nông nghiệp cần thiết với mụcđích của sự đảm bảo một quỹ đất nông nghiệp hợp lý là đảm bảo quỹ lương thực, an ninhlương thưc của quốc gia
Đứng trước sức ép của sự phát triển kinh tế, đất nông nghiệp phải có được sự quản
lý và sử dụng hợp lý để không còn việc sử dụng tràn lan nếu không có thể dẫn đến nhữnghậu quả khôn lường, không những ảnh hưởng đến thế hệ này mà còn ảnh hưởng đến thế
hệ sau, dẫn đến nguy cơ phá hủy sự phát triển bền vững của thế giới Theo thống kê củaLiên Hợp Quốc hàng năm có hàng vạn ha đất nông nghiệp bị hoang hóa, bị sa mạc hóa,mất tính canh tác, bị bỏ không ai canh tác Mỗi ngày đồng hồ trôi qua có gần 20 ha bịhoang hóa, sa mạc hóa Đây là một mối đe dọa lớn đối với quỹ dất nông nghiệp trên thếgiới
Ngay ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986 ) Đảng và Nhà nước ta đã đề ranhiều tư duy phương hướng phát triển và đổi mới cho đất nước Nước ta xác định pháttriển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý củanhà nước sau 20 năm đổi mới đất nước bước đầu đã thu được nhiều thắng lợi : GDP đầungười không ngừng tăng lên, tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7% trở lên, thoát khỏi đóinghèo Từ một nước đói nghèo sống nhờ vào viện trợ từ nước ngoài trở thành một nướcxuất khảo đứng nhất nhì thế giới, lương thức không chỉ đủ để cung cấp trong nước mà cònthỏa mãn nhu cầu xuất khẩu nông phẩm Đất nông nghiệp là một tiềm lực to lớn mang lạicho dân tộc ta lợi thế phù hợp với truyền thống lao động, phong tục tạp quán trình độ phát
Trang 12triển Nếu biết cách khai thác và sử dụng sẽ là một tài nguyên vô giá cho sự phát triển củađất nước.
Đất nước mở cửa phát triển, trong xu thuế giao lưu hợp tác với các nước khác trênthế giới, nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO cơ hội và thách thứcđang chờ đón Vấn đề lớn của nước ta trên con đường phát triển là nguồn vốn, làm sao đểthu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Nguồn vốn chúng ta đưa ra thu hút đầu tưchính là đất đai, bản thân đất đai đã mang lại một nguồn vốn lớn các doanh nghiệp, công
ty, tổ chức ngay trên sân nhà, tạo nhiều thuận lợi cho công cuộc hội nhập, hợp tác quốc tếcủa đất nước
Các mối quan hệ liên quan đến đất đai vì vậy mà cũng trở nên đa dạng và phức tạphơn, không chỉ là mối quan hệ trong nước như trước kia nữa mà phát triển hơn liên quanđến cả yếu tố nước ngoài Nhà nước chủ thể quản lý của xã hội, phải quản lý đất đai nóichung và đất nông nghiệp nói riêng một cách hợp lý
Thực tế cho thấy, công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và đất nôngnghiệp nói riêng đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể trong suốt thời gian qua Đó lànhững tiền đề thuận lợi cho công cuộc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng công tácquản lý về đất nông nghiệp phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
Đất nông nghiệp là một bộ phận tổng quỹ đất của cả nước Nó được hình thành nhờvào quá trình phong hóa đá mẹ ,đất là sản phẩm của tự nhiên, do tự nhiên tạo ra Chính vìvậy việc sử dụng và quản lý sử dụng đất nông nghiệp bị chi phối bởi quy luật kinh tế - xãhội, yếu tố khoa học công nghệ và tổ chức của bộ máy quản lý Nhà nước về đất nôngnghiệp
a. Điều kiện xã hội
• Đây là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý Nhà nước về đất nôngnghiệp,điều kiện kinh tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Nhìn vào điều kiện kinh tế xã hội của một nước, địa phương …có thể thấy đượctình hình, hiện trạng sử dụng đất của đất nước, địa phương đó Liệu đất nước, địaphương đó có đủ trình độ để áp dụng khoa học vào thực tiễn hay không? trình độ, nhậnthức, giá trị thu lại đất sử dụng có cao hay không? Ngược lại khi nhìn vào hiện trạng sử
Trang 13dụng đất có thể thấy được trình độ phát triển kinh tế của vùng, địa phương,thành phố
đó Cụ thể của một đất nước, địa phương khai thác đất với quy mô tập trung theo môhình tổ chức có quy hoạch, khoa học công nghệ cao,thu nhập mang lại lớn thì dĩ nhiênnước đó là một nước có nền kinh tế phát triển Mối quan hệ qua lại giữa sử dụng, quản
lý đất đai và đời sống kinh tế -xã hội thể hiện rất rõ theo những khía cạnh sau :
Khi nền kinh tế -xã hội phát triển nhu cầu của con người cũng thay đổi khôngnhững về mặt số lượng mà còn về m ặt chất lượng, nhu cầu xã hội đòi hỏi ngàycàng nhiều khi xã hội phát triển trình độ nhận thức và khoa học kỹ thuật càngnhanh, khả năng khai thác nguồn lực đất đai của con người cũng tăng lên
• Trên đây là mối quan lại giữa điều kiện kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước
về đất nông nghiệp và phi nông nghiệp.Trong xu hướng phát triển của xã hội cơ cấukinh tế phải chuyển dịch phù hợp xu thế phát triển và tình hình thực tế của đất nước
• Trên thế giới, tình hình kinh tế -xã hội phong tục tập quán của con người cũng khácnhau nên phân bố cách quản lú đất đai cũng khác nhau Nước ta không thể áp dụngcông tác quản lý của nước khác, chế dộ chính sách quản lý của nước khác, chế đọchính sách quản lý cũng có sự sai khác, có thể học hỏi kinh nghiệm của nước khácnhưng không thể áp dụng một cách rập khuôn, giáo điều vì như thế chỉ là sự áp dụngmột cách máy móc không khoa học
• Như vậy mối quan hệ ảnh hưởng của kinh tế xã hội và công tác quản lý Nhà nước vềđất nông nghiệp và phi nông nghiệp là rất rõ ràng, người quản lý phải có phương pháp,cách thức, quy định, linh hoạt để công tác quản lý đi cùng với lợi ích của cá nhân, hộgia đình, tổ chức sử dụng đất cũng như lợi ích xã hội
b. Yếu tố khoa học kĩ thuật
Đất nông nghiệp là tài nguyên vô giá và đặc biệt của nước ta.Trong quá trình khai thác,
sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp phải áp dụng các biện pháp khoa học, kỹthuật, các tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến Biết cách áp dụng ,khai thác nguồn lựckhoa học thì khả năng làm việc đối với đất đai
Thực tế đã chứng minh lợi ích của việc áp dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn thìchính phủ cần có chính sách kịp thời nhạy bén khuyến khích áp dụng cải tiến, nghiêncứu khoa học
c. Tổ chức của bộ máy quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Trang 14• Mỗi chế độ chính trị được thiết lập thì có bộ máy quản lý khác nhau, cơ cấu tổ chức,phân công chức năng, quyền hạn của bộ máy quản lý đó cũng khác nhau phù hợp vớitừng điều kiện cụ thể của nước sở tại Đối với nước ta chế độ sở hữu đất đai được côngnhận là chế độ sở hữu của toàn dân (luật đất đai năm 2003), nhà nước thống nhất quản
lý đất đai trên phạm vi cả nước Nhà nước là người có quyền tối cao đối với đất đaitrên phạm vi cả nước Chính vì vậy cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về đất đai ở nước
ta cũng khác với các nước công nhận chế đọ sở hữu tư nhân, sự sai khác về cơ cấu,tổchức ,phân quyền không những phụ thuộc vào chế của nước sở tại mà còn phụ thuộcvào các yếu tố khác như: yếu tố dân tộc, yếu tố tự nhiên, yếu tố lịch sử, yếu tố truyềnthống Nhà nước ta là cơ quan quyền lực lớn nhất nước, nhà nước ta có quyền địnhđạt tối cao đói với đất đai trên toàn vung, lãnh thổ quốc gia
• Hệ thống cơ quan quản lý được tổ chức, thiết lập, phân cấp, phân quyền từ trung ươngđến địa phương.Cơ quan cao nhất,có quyền hạn lớn nhất trong bộ máy quản lý Nhànước về đất đai và môi trường là Bộ tài nguyên và môi trường (được thành lập theonghị định 91/CP, ngày 11/11/2002 )là cơ quan trực thuộc của chính phủ thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên,môi trường,đo đạc bản đồ,quản lý hànhchính, dịch vụ công Ngoài ra các tỉnh thành phố, thành phố trực thuộc trung ương cócác cơ sở tài nguyên và môi trường.Ở các huyện, thành phố quận, thị xã, xã, phường cócác phòng tài nguyên môi trường Các sở, phòng này chịu trác nghiệm quản lý về cáclĩnh vực có liên quan trên địa bàn được giao thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp vàbáo cáo lên cấp trên trực tiếp tình hình sử dụng đất đai đẻ nắm bắt được tình hình sửdụng đất một cách nhanh nhất,đầy đủ nhất
• Nước ta với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đất đai có nhiều thuận lợi,nhưng đồng thời còn tồn tại nhiều bất cấp, cụ thể :
Bộ tài nguyên và môi trường đóng vai trò cao nhất báo cáo lên chính phủ và quốchội về tình hình của lĩnh vực mình quản lý, các cấp, các ngành quản lý có liên quanbáo cáo lên cấp trên trực tiếp của mình Do đó công tác quản lý rất thống nhất theomột hướng chung.Tuy nhiên sẽ có khó khăn lớn nếu một khâu ,một bộ phận trong
hệ thống làm việc không tập trung, không hiệu quả dễ làm cho cả bộ máy hoạtđộng không hiệu quả theo
Muốn công việc quản lý hiệu quả bộ máy phải được tổ chức thật phù hợp về cơcấu, trách nhiệm, quyền hạn, phân chia phối với các ngành, lĩnh vực có liên quan,
có sự hướng dẫn bám sát của cơ quan ban ngành, chức năng
Trang 15II. CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG
NGHIỆP:
1 Khái niệm quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế trực thu đánh trên diện tích đất ở, đấtsản xuất kinh doanh của cá nhân, tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định ( thường
là một năm) ( Bộ tài chính, 2013)
Quản lý thuế SDĐPNN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong bộmáy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế SDĐPNN để thay đổi quá trình này nhằmtạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra ( Bộ Tài chính,2013)
2 Nội dung công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
Với chức năng quản lý Nhà nước nói chung trong lĩnh vực thuế, quản lý thu thuếSDĐPNN gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a/ Quản lý đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế SDĐPNN
Đối tượng đăng kí thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộcđối tượng chịu thuế quy định:
* Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị
* Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp; đấtlàm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản;đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm
* Đất phi nông nghiệp nhưng sử dụng vào mục đích kinh doanh gồm:
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng bao gồm: đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựngcông trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng;đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng công trình công cộngkhác theo quy định của Chính phủ;
+ Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng;
Trang 16+ Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;
+ Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
+ Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đíchquốc phòng, an ninh;
+ Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của pháp luật Người nộp thuế là tổ chức, hộgia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế (đối tượng đăng kíthuế) Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là Giấy chứngnhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế
Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:
- Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất làngười nộp thuế
- Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuếđược xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp trong hợp đồng không có thoảthuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế
- Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khitranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế Việc nộp thuếkhông phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế làngười đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó
- Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất
mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế thì phápnhân mới là người nộp thuế
Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại cơ quan thuế huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh nơi có quyền sử dụng đất Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, điều
Trang 17kiện đi lại khó khăn, người nộp thuế có thể thực hiện việc đăng ký, khai, tính và nộp thuếtại Uỷ ban nhân dân xã Cơ quan thuế tạo điều kiện để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụcủa mình Trường hợp người nộp thuế có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở thì diện tích tínhthuế là tổng diện tích các thửa đất ở tính thuế trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương Việc đăng ký, khai, tính và nộp thuế được quy định như sau:
- Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại cơ quan thuế huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh nơi có quyền sử dụng đất
- Người nộp thuế được lựa chọn hạn mức đất ở tại một huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh nơi có quyền sử dụng đất Trường hợp có một hoặc nhiều thửa đất ở vượt hạnmức thì người nộp thuế được lựa chọn một nơi có thửa đất ở vượt hạn mức để xác địnhdiện tích vượt hạn mức của các thửa đất
Giá tính thuế được áp dụng theo giá đất của từng huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh tại nơi có thửa đất
Người nộp thuế lập tờ khai tổng hợp theo mẫu quy định để xác định tổng diện tíchcác thửa đất ở có quyền sử dụng và số thuế đã nộp, gửi cơ quan thuế nơi người nộp thuế
đã lựa chọn để xác định hạn mức đất ở để nộp phần chênh lệch giữa số thuế phải nộp theoquy định và số thuế đã nộp
Căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuế đối với đất được xácđịnh bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m2 đất
Diện tích đất tính thuế được quy định như sau:
Diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng Trường hợp có quyền sửdụng nhiều thửa đất ở thì diện tích đất tính thuế là tổng diện tích các thửa đất tính thuế.Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để xây dựng khu công nghiệp thì diệntích đất tính thuế không bao gồm diện tích đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung Đối với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư bao gồm cả trường hợp vừa
để ở, vừa để kinh doanh thì diện tích đất tính thuế được xác định bằng hệ số phân bổ nhânvới diện tích nhà của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng Hệ số phân bổ được xácđịnh bằng diện tích đất xây dựng nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư chia cho tổngdiện tích nhà của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng Trường hợp nhà nhiều tầng