1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án vội vàng xuân diệu

12 252 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 102 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC TIÊU BÀI HỌC: - Kiến thức: Cảm nhận được niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc được Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ; Thấy được

Trang 1

Nguyễn Thị Lụa

Ngày soạn: 6/1/2012

Tiết: 77

Bài dạy: Đọc văn: Vội vàng

( Xuân Diệu)

MỤC TIÊU BÀI HỌC:

- Kiến thức: Cảm nhận được niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc được Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ; Thấy được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc mãnh liệt dồi dào và mạch luận lí chặt chẽ cùng với những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của nhà thơ

- Kĩ năng: Phân tích, cảm thụ một tác phẩm thơ thơ Mới với nhiều cách tân độc đáo

- Thái độ: Giáo dục học sinh hiểu đúng và trân trọng những giá trị đích thực trong thơ XD; Tìm hiểu thêm về con người và thơ Xuân Diệu - một người con của quê hương Tuy Phước

II CHUẨN BỊ:

1/ Chuẩn bị của GV:

- SGK, SGV, TLTK, Thiết kế bài học, ĐDDH, phiếu học tập

- GV tổ chức lớp theo phương pháp , kết hợp gợi mở, phát vấn, nêu vấn đề, thảo luận theo nhĩm

2/ Chuẩn bị của HS:

- HS: Chuẩn bị bài theo sự hướng dẫn của GV: Đọc Sgk, văn bản, chú thích;

* Giảng văn văn học Việt Nam

III HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:

1 Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số HS

2 Kiểm tra bài cũ: (5’)

* Câu hỏi: Bức tranh chân thực và cảm động về cuộc đời của người nghệ sĩ được Tản Đà tái hiện ntn qua bài thơ “Hầu Trời”?

*Yêu cầu: - Bút pháp: hiện thực + yếu tố tự thuật.

Cuộc sống cơ cực của người trí thức, văn nghệ sĩ:

nghèo khĩ, khơng tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn, bị o ép nhiều chiều,…

3 Giảng bài mới:

* Giới thiệu: Viết về Xuân Diệu, nhà thơ Thế Lữ đã từng nhận xét: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mấy trời thanh sắc” (Thế Lữ).

Giới thiệu bài thơ “Vội vàng” - một minh chứng tiêu biểu cho PCNT thơ Xuân Diệu trước CM

TIẾN TRÌNH TIẾT DẠY

T

1

0 HĐ1: Hướng dẫn h/s tìm hiểu

tiểu dẫn.

GV cho HS đọc tiểu

dẫn

Nêu những nét

chính về cuộc đời

Xuân Diệu?

Giải thích những

yếu tố tạo nên tài

năng Xuân Diệu

Yếu tố quê hương,

gia đình có ảnh

hưởng ntn đối với

HĐ1: Hướng dẫn

h/s tìm hiểu

- HS đọc sách giáo khoa.Trả lời

Xuân Diệu đã thừa hưởng và học hỏi ở cha đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học tập, rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật

- HS trao đổi, trả lời

I Đọc - hiểu khái quát:

1 Tác giả: (1916 - 1985)

a/ Cuộc đời: Tên thật là Ngô Xuân Diệu; Quê

ở Tuy Phước, Bình Định

- Là một nhà thơ lớn, một tài năng thực sự

- Góp phần tạo nên tài năng của Xuân Diệu có nhiều yếu tố:

* Yếu tố gia đình – quê hương:

* Yếu tố con người, thời

Trang 2

hồn thơ XD? Ở Xuân Diệu có

sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và Tây trong tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ

đại:

(Sgk)

 XD là một tài năng nhiều mặt nhưng trước hết vẫn là một nhà thơ lớn của nền văn học VN hiện đại

Đánh giá ntn về sự

nghiệp văn chương

của Xuân Diệu?

Em có nhận xét gì

về thơ Xuân Diệu

trước CM ? “Thơ XD

còn là một nguồn

sống rào rạt chưa

từng thấy ở chốn

nước non lặng lẽ

này”(Hoài Thanh)

* “Tôi là con nai bị

chiều đánh lưới

Không biết đi đâu đứng

sầu bóng tối”

“ Mau với chứ , vội

vàng lên chứ!

Em, em ơi! Tình non sắp

già rồi

- HS trả lời:

-> Sáng tác nhiều thể loại: thơ, văn xuôi (truyện ngắn, bút kí), phê bình văn học, dịch thơ

- Thơ là tiêu biểu nhất: 15 tập thơ (khoảng 450 bài thơ tình)

- Văn : “ Phấn thông vàng “ (1939), ”Trường ca”

và nhiều tuỳ bút

- HS đọc Sgk, trả lời

* “Ta ôm bó cánh tay

ta làm rắn Làm dây đa quấn quýt cả rừng xuân

Ta muốn đi mãi ở vườn trần

Chân hoá rễ để hút màu dưói đất “

“ Hoa nhài xanh dưói ánh nguyệt tuôn trời Aùnh nguyệt trắng trên hoa nhài đúc sữa”

“Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu

Nắng nhỏ bâng khâng chiều lỡ thì”

(Thu ).

b/ Sự nghiệp văn chương:

* Hoạt động văn nghệ của Xuân Diệu rất phong phú và đa dạng:

- Truyện ngắn, bút ký, nghiên cứu phê bình, dịch thuật

- Lĩnh vực nổi bật: Thơ (15 tập) -> Sgk

Thơ thơ Gửi hương trong gió

Riêng chung

* Thơ Xuân Diệu:

a/ Thơ XD trước CMT8:

 Hai tâm trạng mâu thuẫn: tấm lòng yêu đời, thiết tha với cuộc sống nhưng lại cô đơn chán nản, hoài nghi,

Nêu giá trị nội dung

và nghệ thuật của

thơ Xuân Diệu sau

cách mạng?

Gv bổ sung:

- “Tôi cùng xương thịt

với nd tôi

Cùng đổ mồ hôi

cùng sôi giọt máu

Tôi cùng với cuộc

đời chiến đấu

- Gợi ý:

Thơ Xuân Diệu ấm áp, không còn cô đơn:

“Những đảo cô

đơn Đảng nối nhịp cầu”

- Tình yêu vẫn nồng thắm, dạt dào:

“- Ca ngợi phong

b/ Thơ XD sau CMT8/1945 :

 Hoà vào cái ta, đón nhận cuộc sống mớivới sự chân thành vui sướng:

2.T¸c phÈm:

-XuÊt xø: in trong tËp “Th¬

Trang 3

Nguyeón Thũ Luùa

Cuỷa trieọu ngửụứi yeõu

daỏu gian lao”

- Anh khoõng xửựng laứ

bieồn xanh

Nhửng anh muoỏn

laứm bụứ caựt traộng”

(Bieồn)

Nêu một vài hiểu biết

về tác phẩm “Vội

vàng”?

Đây là bài thơ tiêu biểu

nhất của Xuân Diệu

tr-ớc Cách mạng tháng

Tám, là tiếng nói của

một tâm hồn yêu đời,

yêu cuộc sống đến

cuồng nhiệt

traứo caựch maùng:

“Ngoùn quoỏc kyứ”, “Hoọi nghũ non soõng”

 HS suy nghú traỷ lụứi

Bài thơ tiêu biểu cho

sự bùng nổ mãnh liệt của cái tôi trong thơ

mới nói chung, thơ

Xuân Diệu nói riêng

thơ” (1938).

-Là một trong những bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái tôi trong thơ mới nói chung, thơ Xuân Diệu nói riêng; đồng thời in đậm hồn thơ Xuân Diệu và tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo, độc

đáo trong nghệ thuật thơ

ông

Cuoọc ủụứi vaứ sửù

nghieọp thụ ca cuỷa

oõng ủaừ ủeồ laùi cho

em nhửừng aỏn tửụùng

gỡ?

“Xuaõn Dieọu ủửụùc coi

laứ nhaứ thụ mụựi

nhaỏt trong nhửừng

nhaứ thụ Mụựi” (Hoaứi

Thanh)

- HS trỡnh baứy caỷm nhaọn

* XD laứ nhaứ thụ lụựn coự nhieàu ủoựng goựp cho neàn thụ ca daõn toọc, laứ ngửụứi ủaừ coỏng hieỏn heỏt mỡnh cho neàn NT thụ ca Laứ nhaứ thụ coự bửụực chuyeồn bieỏn tửứ LM sang hieọn thửùc XHCN

- OÂng ủaừ ủeồ laùi cho ủụứi taỏm gửụng saựng veà lao ủoọng

NT caàn cuứ, saựng taùo, veà nieàm tin yeõu tha thieỏt ủoỏi vụựi cuoọc soỏng vaứ con ngửụứi

2

5’ Hẹ2: Hửụựng daón ủoùc hieồu baứi thụ.

- GV ủoùc maóu, goùi HS

ủoùc, lửu yự caỷm xuực

vaứ gioùng ủieọu

- GV: “Voọi vaứng” baột

ủaàu tửứ caỷm hửựng

veà muứa xuaõn Caỷm

hửựng khoõng mụựi

nhửng baứi thụ mụựi ụỷ

caựch theồ hieọn vaứ

Hẹ2: Hửụựng daón

ủoùc hieồu

- HS ủoùc, chuự yự gioùng ủieọu, ngaột nhũp

- Moọt ửụực muoỏn kyứ laù vaứ ngoõng cuoàng  Nhaứ thụ muoỏn nớu keựo, laứm ngửng laùi sửù

II ẹoùc – hieồu chi tieỏt:

1 Boỏn caõu ủaàu: ệụực

muoỏn choỏng laùi quy luaọt cuỷa taùo hoaự.

- Toõi muoỏn:

+ Taột naộng – maứu ủửứng nhaùt

+ Buoọc gioự – hửụng ủửứng bay

(ửụực muoỏn kyứ laù vaứ ngoõng cuoàng)

Trang 4

cường độ của cảm

xúc Bài thơ không

bắt đầu từ hình

ảnh mùa xuân, mà

bắt đầu từ niềm

khao khát say mê

đối với mùa xuân

Nhân vật trữ tình

bộc lộ trực tiếp ý

muốn của mình

Những câu thơ mở

đầu nói lên điều

mong muốn gì của

tác giả?

Những mong muốn

đó của tác giả

thể hiện ông có

tình yêu như thế

nào đối với thiên

nhiên ?

Cảnh vật miêu tả

trong đoạn thơ tiếp

hiện ra như thế

nào? Phân tích nghệ

thuật thể hiện?

- GV nêu vấn đề:

Cách dùng hình ảnh

của XD ở bài thơ

này rất độc đáo,

táo bạo

Lấy vẻ đẹp của con

người làm chuẩn

mực để tả thiên

nhiên Trước XD trong

thơ VN chưa có cảm

giác như vậy

Lá liễu dài như

một nét mi

Hơi gió thở như ngực

người yêu đến

Mây đa tình như thi sĩ

ngày xưa

Qua cách miêu tả,

ta bắt gặp tâm

trạng gì của nhà

thơ?

- GV: Vẻ đẹp của

vận động của thời gian, của vũ trụ để giữ mãi hương màu của mùa xuân, của tuổi trẻ

 Cái ham muốn lạ lùng ấy đã hé mở một tình yêu bồng bột, xô bồ đối với thế giới đắm say hương sắc sự sống

Ý muốn của thi sĩ có vẻ vô lí, nhưng niềm khát khao hoàn toàn có lí, khi mùa xuân được thi sĩ phát hiện bằng biết bao hương sắc, âm thanh, hình ảnh, tươi đẹp đến mức tuyệt vời

- HS chỉ ra yếu tố nghệ thuật hiệu quả:

+ Điệp từ “này đây” liên tiếp mở

ra bao vẻ đẹp của mùa xuân đến bất tận

+ Cảnh vật thiên nhiên như đang ở trong tráng thái non tơ mơn mởn

Tuần trăng mật của ong bướm.

Hoa của đồng nội xanh rì.

Ánh sáng chớp hàng mi.

Qua “cặp mắt xanh non biếc rờn” của

thi sĩ, cuộc sống trần thế xung quanh bỗng được phát hiện như một thiên đường,

Nhà thơ muốn níu kéo, làm ngưng lại sự vận động của thời gian, của vũ trụ để giữ mãi hương màu của mùa xuân, của tuổi trẻ

2 Chín câu tiếp: Niềm

vui say ngây ngất của nhà thơ trước cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tràn đầy nhựa sống.

- Điệp từ “này đây” , quan hệ từ “và”

 (Liệt kê): Thế giới thiên nhiên qua trái tim ham hố của Xuân Diệu như một thiên đường lạc thú, có thần vui đến gõ cửa hàng ngày

 Xuân Diệu đã phát hiện ra một điều rất đơn giản, gần gũi: thế giới thiên đường không phải tìm kiếm ở đâu xa, nó ở ngay trên mặt đất, trước mắt ta, xung quanh ta

 Một tâm hồn tha thiết gắn bó với cuộc sống

- So sánh độc đáo: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần  cái đẹp của

Trang 5

Nguyễn Thị Lụa

mùa xuân và cảm

xúc mãnh liệt của

con người đạt đến

cực điểm trong một

liên tưởng độc

đáo: “Tháng giêng

ngon như một cặp

môi gần” Phân tích.

Tại sao đang hưởng

thụ vẻ đẹp của

mùa xuân, XD lại

cảm thấy buồn

chán và thất vọng?

- GV bình:

“Tôi sung sướng.

Nhưng vội vàng một

nửa”  giọng điệu

đứt đoạn, ngắt

quãng Dấu chấm

ở giữa câu diễn tả

bước chân hoan lạc

của tác giả chợt

khựng lại, chợt nhận

ra sự trớ trêu của

tạo hoá Niềm vui

vội tan biến như

giấc mộng, thay vào

đó là hiện thực

thô bạo, tàn nhẫn

 lời thơ khô khốc,

chán nản vì tuyệt

vọng

Em có nhận xét gì

về Cảnh vật được

miêu tả trong đoạn

thơ này? Cảnh vật

trong đoạn này đem

lại những cảm

tưởng gì? Tại sao nhà

thơ lại làm như vậy?

GV: Mùa xuân đẹp,

đầy sức sống trở

thành đối kháng

với con người:

lòng tôi rộng >< lượng

trời chật

xuân tuần hoàn ><

tuổi trẻ … thắm lại

còn trời đất >< chẳng

còn tôi

phong phú và giàu có

HS trả lời

Đằng sau bức tranh xuân là hình ảnh nhân vật trữ tình đang ngỡ ngàng khi phát hiện ra mọi vẻ đẹp, đang reo vui trong niềm tận hưởng, trong niềm tha thiết với tình yêu và cuộc sống

- HS trả lời

Hình ảnh “cặp môi gần” là biểu

tượng của cái đẹp, vẻ đẹp thiên nhiên được quy chiến về vẻ đẹp con người  quan niệm mỹ học mới mẻ

HS đọc tiếp đoạn thơ trả lời

- “Tôi sung sướng.

Nhưng vội vàng một nửa”

Vì:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.

Xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

- HS trả lời:

+ Thiên nhiên đã trở thành một lực lượng đối kháng với con người:

“lòng tôi” ><

“lượng trời” Mùa

xuân của đất trời sẽ tuần hoàn, nhưng mùa xuân của con người thì

“tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.

Trời đất mãi mãi

tháng giêng được vật chất hoá, đầy sức hấp dẫn

3 Từ câu 12 đến 30:

Tâm trạng của nhà thơ khi cảm nhận cái giới hạn của đời người trước cái vô biên của đất trời.

- “ Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa”

 Câu thơ bẻ đôi, tạo ấn tượng mạnh về sự chuyển biến giữa hai trạng thái

“sung sướng” >< “vội vàng”

 Niềm vui tan biến thay vào đó là sự chán nản bi quan, cay đắng:

“Và xuân hết ….mất”

- Thiên nhiên đã trở thành một lực lượng đối kháng với con người:

Lòng tôi rộng >< lòng đời chật

Xuân vẫn tuần hoàn >< tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

(thực tế phũ phàng)

 Nhà thơ vội vàng gấp gáp muốn sống trọn vẹn, yêu trọn vẹn, hưởng thụ trọn vẹn hương vị của tình yêu

- Thiên nhiên cũng đượm buồn, bi quan

+ Tháng năm – Rớm vị chia phôi

+ Sông núi – Than thầm tiễn biệt

+ Cơn gió xinh – bay đi + Chim – dứt tiếng

- “Chẳng bao giờ …”

Trang 6

- GV: Nhận thức sâu

sắc được điều ấy,

cảm xúc của thi sĩ

về mùa xuân bỗng

tan biến mất vẻ

đẹp và niềm vui như

ban đầu Đoạn thơ

khép lại trong một

lời than não nuột,

tuyệt vọng : “Chẳng

bao giờ, ôi, chẳng

bao giờ nữa”.

Tại sao lại có sự

chuyển biến tâm

trạng đột ngột như

vậy?

Trước hoàn cảnh

đó, Xuân Diệu đề

nghị một cách sống

ntn?

Mở đầu bài thơ

,tác giả dùng đại

từ “Tôi”, đến phần

cuối tác giả dùng

đại từ “ta”, vì sao có

sự thay đổi vậy?

GV: Ta tưởng như

Xuân Diệu hoàn

toàn bất lực trước

sự tước đoạt của

thời gian nhưng nhà

thơ đã vùng lên

quyết đấu cùng tạo

hoá để giành lại

mùa xuân tình yêu

và tuổi trẻ

Phân tích cách thể

hiện của nhà thơ?

còn nhưng con người không còn

+ Thiên nhiên cũng đượm buồn,

bi quan

-> Cảm nhận vô cùng tinh tế

- HS thảo luận, trả lời

-> Sống vội vàng.

Điệp từ, động từ mạnh, liên tiếp

Nhà thơ hình dung cuộc sống như một trái đời chín mọng  “muốn

cắn” – muốn tận

hưởng trong khao khát đến cao độ

 XD buồn chán vì quá yêu cuộc sống, sợ mất mùa xuân, tuổi trẻ tươi đẹp, vì yêu say đắm nên rất vội vàng, vồ vập

4 Phần còn lại: Lòng

yêu cuộc sống đến độ cuồng si.

- Mau đi thôi  hối hả, giục giã và vội vàng

- “Tôi” chuyển thành “ta”

 sự phong phú bất tận của cuộc sống khiến

“cái tôi” trở nên chật

hẹp dường như không ôm chứa nổi

- Một loạt động từ mạnh :

ôm, riết, say, thân, cắn

diễn tả sâu sắc ham muốn được tận hưởng cứ tăng dần lên đến tột đỉnh

0

5 HĐ3: Hướng dẫn tổng kết.

Đánh giá thành

công về nội dung

và nghệ thuật bài

thơ

- Giáo viên nâng

cao, giáo dục tư

tưởng, cách sống,

quan niệm về tình

yêu cuộc sống

* Trắc nghiệm:

HĐ3: HS tổng kết

- HS đọc Ghi nhớ/

Sgk

- HS trả lời

C1:A

III Kết luận:

“Vội vàng” là lời giục giã hãy sống cao độ từng giây, từng phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ tru ; qua đó, thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ của một hồn thơ

“yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt” Tư tưởng đó được thể hiện qua giọng

Trang 7

Nguyễn Thị Lụa

Câu1/ Trong câu thơ

Mùi tháng năm đều

rớm vị chia phôi

không có cảm giác

của giác quan nào?

A Xúc giác B Thị

giác

C Khứu giác D Vị

giác

điệu thơ sôi nổi, nhịp thơ hăm hở và những hình ảnh táo bạo, đầy cảm giác

Dặn dò:

- Nét mới mẻ trong quan niệm về thời gian, quan niệm sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”?

- Qua bài thơ, thêm yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống quanh ta và góp phần làm cho cuộc sống đó thêm tốt đẹp

- Học thuộc lòng bài thơ

- Soạn: Tràng giang (Huy Cận)

+ Đọc Tiểu dẫn, trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài

- Tâm trạng yêu đời, thiết tha với cuộc sống của nhà thơ Xuân Diệu: Qua bức tranh mùa xuân, có thể thấy được cái tình Xuân Diệu – khát khao hạnh phúc, khát khao yêu đương, tha thiết với cuộc đời khi

“sự sống mới bắt đầu mơn mởn” Lòng ham sống yêu đời của Xuân Diệu không nằm ngoài hai chữ “xuân” và “tình”: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mấy trời thanh sắc” (Thế

Lữ)

RÚT KINH NGHIỆM:

………

………

………

………

………

Trang 8

VỘI VÀNG

Xuân Diệu

Yêu cầu cần đạt

- Cảm nhận được lòng yêu đời, ham sống, quan niệm sống mới mẻ của Xuân Diệu và những cách tân táo bạo, độc đáo trong nghệ thuật của bài thơ.

- Bước đầu biết cách tiếp cận và phân tích một bài thơ mới qua cảm hứng thơ, hình ảnh, âm điệu, ngôn ngữ.

- Qua bài thơ, thêm yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống quanh ta và góp phần làm cho cuộc sống đó thêm tốt đẹp.

Nội dung kiến thức

1 Xuân Diệu (1916 – 1985) họ Ngô (Ngô Xuân Diệu) Cha là một

nhà nho, quê ở làng Trảo Nha, nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh ; quê mẹ ở Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

- Đỗ tú tài, làm viên chức ở Mĩ Tho (Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn Xuân Diệu có thơ đăng báo từ năm 1935,

1936 và nổi tiếng từ 1937 như một nhà thơ “mới nhất trong phong trào thơ mới” (Hoài Thanh, “Thi nhân Việt Nam”).

- Xuân Diệu tham gia Mặt trận Việt Minh từ trước Cách mạng tháng

Tám Sau 1945, cuộc đời ông gắn bó với cách mạng và nền văn học cách mạng Với gần 50 tác phẩm gồm thơ, văn, nghiên cứu phê bình, dịch thuật, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông từng là đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam các khóa I, II, III (1957 – 1985) Năm

1983 Xuân Diệu được bầu là Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa dân chủ Đức Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)

2 “Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của

Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Tác phẩm được rút ra từ tập

“Thơ thơ” (1938) Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu

sống đến cuồng nhiệt Nhưng đằng sau những tình cảm ấy là cả một quan niệm nhân sinh mới ít thấy trong thơ ca truyền thống

2.1 Tình yêu cuộc sống của thi sĩ được biểu hiện qua niềm say mê, ngây ngất với mùa xuân

Mùa xuân trong thơ ca là một đề tài khá hấp dẫn và quen thuộc Mùa xuân với đất trời hoa cỏ xinh tươi, tràn trề nhựa sống đã tạo cảm hứng cho bao bài thơ ngâm vịnh, gợi bao suy nghĩ về con người, về cuộc sống Đến văn học lãng mạn, mùa xuân - vẻ đẹp của thiên nhiên – đã tạo xúc cảm cho bao hồn thơ, cho bao vần thơ đẹp :

Trong làn nắng ửng khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.

Trang 9

Nguyễn Thị Lụa

Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lí bóng xuân sang.

(“Mùa xuân chín” - Hàn Mặc Tử) Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,

Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ, Mẹ bảo : “Thôn Đoài hát tối nay”.

(“Mưa xuân” - Nguyễn Bính)

“Vội vàng” bắt đầu từ cảm hứng về mùa xuân Cảm hứng

không mới nhưng bài thơ mới ở cách thể hiện và cường độ của cảm xúc Bài thơ không bắt đầu từ hình ảnh mùa xuân, mà bắt đầu từ niềm khao khát say mê đối với mùa xuân Nhân vật trữ tình bộc lộ trực tiếp ý muốn của mình :

Tôi muốn tắt nắng đi, Cho màu đừng nhạt mất.

Tôi muốn buộc gió lại, Cho hương đừng bay đi.

Quả thật là một ý muốn táo bạo Bốn câu thơ ngắn với lời lẽ oai nghiêm như mệnh lệnh Con người như muốn đoạt quyền của tạo hoá, bắt thiên nhiên phải ngừng lại để mình được tận hưởng mãi hương sắc của mùa xuân Hồn thơ thiết tha với đời đang lo lắng trước sự đổi thay của đất trời nên muốn vũ trụ ngừng quay để giữ lại tất cả mọi vẻ đẹp Thiết tha với cái đẹp, muốn cái đẹp không bao giờ phai tàn, ý muốn ấy của Xuân Diệu đã gặp gỡ niềm khao khát của bất cứ người nghệ sĩ nào xưa nay

Ý muốn của thi sĩ có vẻ vô lí, nhưng niềm khát khao hoàn toàn có lí, khi mùa xuân được thi sĩ phát hiện bằng biết bao hương sắc, âm thanh, hình ảnh, tươi đẹp đến mức tuyệt vời Có thể nói đó là bức tranh xuân đẹp nhất, rực rỡ nhất, xôn xao nhất trong dòng thơ xuân xưa nay :

Của ong bướm này đây tuần tháng mật ; Này đây hoa của đồng nội xanh rì ;

Này đây lá của cành tơ phơ phất ; Của yến anh này đây khúc tình si ; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Điệp từ “này đây” liên tiếp mở ra bao vẻ đẹp của mùa xuân đến

bất tận Mùa xuân hiện ra thật cụ thể, vô cùng quyến rũ : có hạnh

phúc ngọt ngào trong “tuần tháng mật” của ong bướm, có cái lộng lẫy “hoa của đồng nội xanh rì”, có cái mơn mởn trẻ trung “lá của cành tơ phơ phất”, có âm thanh rạo rực nồng nàn trong “khúc tình si” của yến anh, có cái rực rỡ chan hoà “ánh sáng chớp hàng mi” Qua

“cặp mắt xanh non biếc rờn” của thi sĩ, cuộc sống trần thế xung quanh

bỗng được phát hiện như một thiên đường, phong phú và giàu có Mỗi vẻ đẹp của mùa xuân đều tràn đầy nhựa sống, đều gợi đến tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc

Đằng sau bức tranh xuân là hình ảnh nhân vật trữ tình đang ngỡ ngàng khi phát hiện ra mọi vẻ đẹp, đang reo vui trong niềm tận hưởng, trong niềm tha thiết với tình yêu và cuộc sống

Trang 10

Vẻ đẹp của mùa xuân và cảm xúc mãnh liệt của con người đạt

đến cực điểm trong một liên tưởng độc đáo : “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Xuân Diệu không nói cả mùa xuân mà chỉ nói mỗi tháng giêng – tháng đẹp nhất, tháng mở đầu của mùa xuân Tháng giêng trở

thành hội tụ tất cả những gì đẹp nhất của mùa xuân, của thiên nhiên, vì vậy nó không còn cái ý nghĩa trừu tượng của thời gian nữa

Cái hay của câu thơ là đã cụ thể hoá cái trừu tượng (tháng giêng)

bằng một cảm giác có tính vật chất của hành động ăn uống :

“ngon” Và hơn nữa, là một hình ảnh cụ thể của tình yêu : “ngon như một cặp môi gần” Mùa xuân đẹp được so sánh với con người Nếu thơ

ca truyền thống lấy chuẩn mực của cái đẹp là thiên nhiên, thì với Xuân Diệu, chuẩn mực của cái đẹp là con người – mà phải là con người trong niềm hạnh phúc của tình yêu, con người trong độ đẹp nhất, căng đầy sức sống nhất của độ xuân thì

Ở Xuân Diệu, cảm hứng mùa xuân gắn với tuổi trẻ và tình yêu Qua bức tranh mùa xuân, có thể thấy được cái tình Xuân Diệu – khát

khao hạnh phúc, khát khao yêu đương, tha thiết với cuộc đời khi “sự sống mới bắt đầu mơn mởn” Lòng ham sống yêu đời của Xuân Diệu không nằm ngoài hai chữ “xuân” và “tình” : “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mấy trời thanh sắc” (Thế Lữ).

2.2 Nỗi băn khoăn về sự phai tàn của mùa xuân và tuổi trẻ

Trong sâu thẳm của nỗi khát khao được sống, được giao cảm ở XD vẫn ẩn chứa một nỗi lo âu về sự trôi chảy của thời gian Khi ông muốn tắt nắng, muốn buộc gió, thì không chỉ là bắt vũ trụ phải đứng lại mà còn là bắt thời gian phải ngừng trôi Ngay khi ông đang tận hưởng mùa xuân thì ông cũng đã khắc khoải lo sợ bước đi của thời gian sẽ làm phai tàn hương sắc Niềm khắc khoải đó khiến cho

nỗi sung sướng không còn được trọn vẹn : “Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa” Dấu chấm bẻ đôi câu thơ ném về hai đầu tâm trạng

: một của khao khát say mê, một của ai hoài u uất Niềm vui tan biến như một huyền mộng trước một sự thật phũ phàng, trước cái lạnh lùng nghiệt ngã của thời gian Thi sĩ đã cảm nhận được cái quy luật đó :

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

Lời thơ nặng nề như một sự thật trần trụi Cái kết thúc đã hiện ra thấp thoáng ngay từ lúc mở đầu

Thi sĩ nhận ra giới hạn của thời gian, cái giới hạn mà con người không thể vượt qua được :

Lòi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ! Đó là sự đối kháng giữa con người và thiên nhiên, giữa “lòng tôi” với “lượng trời” Mùa xuân của đất trời sẽ tuần hoàn, nhưng

Ngày đăng: 26/09/2018, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w