MỤC TIÊU BÀI HỌC: - Kiến thức: Cảm nhận được niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc được Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ; Thấy được
Trang 1Nguyễn Thị Lụa
Ngày soạn: 6/1/2012
Tiết: 77
Bài dạy: Đọc văn: Vội vàng
( Xuân Diệu)
MỤC TIÊU BÀI HỌC:
- Kiến thức: Cảm nhận được niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc được Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ; Thấy được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc mãnh liệt dồi dào và mạch luận lí chặt chẽ cùng với những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của nhà thơ
- Kĩ năng: Phân tích, cảm thụ một tác phẩm thơ thơ Mới với nhiều cách tân độc đáo
- Thái độ: Giáo dục học sinh hiểu đúng và trân trọng những giá trị đích thực trong thơ XD; Tìm hiểu thêm về con người và thơ Xuân Diệu - một người con của quê hương Tuy Phước
II CHUẨN BỊ:
1/ Chuẩn bị của GV:
- SGK, SGV, TLTK, Thiết kế bài học, ĐDDH, phiếu học tập
- GV tổ chức lớp theo phương pháp , kết hợp gợi mở, phát vấn, nêu vấn đề, thảo luận theo nhĩm
2/ Chuẩn bị của HS:
- HS: Chuẩn bị bài theo sự hướng dẫn của GV: Đọc Sgk, văn bản, chú thích;
* Giảng văn văn học Việt Nam
III HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1 Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số HS
2 Kiểm tra bài cũ: (5’)
* Câu hỏi: Bức tranh chân thực và cảm động về cuộc đời của người nghệ sĩ được Tản Đà tái hiện ntn qua bài thơ “Hầu Trời”?
*Yêu cầu: - Bút pháp: hiện thực + yếu tố tự thuật.
Cuộc sống cơ cực của người trí thức, văn nghệ sĩ:
nghèo khĩ, khơng tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn, bị o ép nhiều chiều,…
3 Giảng bài mới:
* Giới thiệu: Viết về Xuân Diệu, nhà thơ Thế Lữ đã từng nhận xét: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mấy trời thanh sắc” (Thế Lữ).
Giới thiệu bài thơ “Vội vàng” - một minh chứng tiêu biểu cho PCNT thơ Xuân Diệu trước CM
TIẾN TRÌNH TIẾT DẠY
T
1
0 HĐ1: Hướng dẫn h/s tìm hiểu
tiểu dẫn.
GV cho HS đọc tiểu
dẫn
Nêu những nét
chính về cuộc đời
Xuân Diệu?
Giải thích những
yếu tố tạo nên tài
năng Xuân Diệu
Yếu tố quê hương,
gia đình có ảnh
hưởng ntn đối với
HĐ1: Hướng dẫn
h/s tìm hiểu
- HS đọc sách giáo khoa.Trả lời
Xuân Diệu đã thừa hưởng và học hỏi ở cha đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học tập, rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật
- HS trao đổi, trả lời
I Đọc - hiểu khái quát:
1 Tác giả: (1916 - 1985)
a/ Cuộc đời: Tên thật là Ngô Xuân Diệu; Quê
ở Tuy Phước, Bình Định
- Là một nhà thơ lớn, một tài năng thực sự
- Góp phần tạo nên tài năng của Xuân Diệu có nhiều yếu tố:
* Yếu tố gia đình – quê hương:
* Yếu tố con người, thời
Trang 2hồn thơ XD? Ở Xuân Diệu có
sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và Tây trong tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ
đại:
(Sgk)
XD là một tài năng nhiều mặt nhưng trước hết vẫn là một nhà thơ lớn của nền văn học VN hiện đại
Đánh giá ntn về sự
nghiệp văn chương
của Xuân Diệu?
Em có nhận xét gì
về thơ Xuân Diệu
trước CM ? “Thơ XD
còn là một nguồn
sống rào rạt chưa
từng thấy ở chốn
nước non lặng lẽ
này”(Hoài Thanh)
* “Tôi là con nai bị
chiều đánh lưới
Không biết đi đâu đứng
sầu bóng tối”
“ Mau với chứ , vội
vàng lên chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp
già rồi
- HS trả lời:
-> Sáng tác nhiều thể loại: thơ, văn xuôi (truyện ngắn, bút kí), phê bình văn học, dịch thơ
…
- Thơ là tiêu biểu nhất: 15 tập thơ (khoảng 450 bài thơ tình)
- Văn : “ Phấn thông vàng “ (1939), ”Trường ca”
và nhiều tuỳ bút
- HS đọc Sgk, trả lời
* “Ta ôm bó cánh tay
ta làm rắn Làm dây đa quấn quýt cả rừng xuân
Ta muốn đi mãi ở vườn trần
Chân hoá rễ để hút màu dưói đất “
“ Hoa nhài xanh dưói ánh nguyệt tuôn trời Aùnh nguyệt trắng trên hoa nhài đúc sữa”
“Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Nắng nhỏ bâng khâng chiều lỡ thì”
(Thu ).
b/ Sự nghiệp văn chương:
* Hoạt động văn nghệ của Xuân Diệu rất phong phú và đa dạng:
- Truyện ngắn, bút ký, nghiên cứu phê bình, dịch thuật
- Lĩnh vực nổi bật: Thơ (15 tập) -> Sgk
Thơ thơ Gửi hương trong gió
Riêng chung
* Thơ Xuân Diệu:
a/ Thơ XD trước CMT8:
Hai tâm trạng mâu thuẫn: tấm lòng yêu đời, thiết tha với cuộc sống nhưng lại cô đơn chán nản, hoài nghi,
Nêu giá trị nội dung
và nghệ thuật của
thơ Xuân Diệu sau
cách mạng?
Gv bổ sung:
- “Tôi cùng xương thịt
với nd tôi
Cùng đổ mồ hôi
cùng sôi giọt máu
Tôi cùng với cuộc
đời chiến đấu
- Gợi ý:
Thơ Xuân Diệu ấm áp, không còn cô đơn:
“Những đảo cô
đơn Đảng nối nhịp cầu”
- Tình yêu vẫn nồng thắm, dạt dào:
“- Ca ngợi phong
b/ Thơ XD sau CMT8/1945 :
Hoà vào cái ta, đón nhận cuộc sống mớivới sự chân thành vui sướng:
2.T¸c phÈm:
-XuÊt xø: in trong tËp “Th¬
Trang 3Nguyeón Thũ Luùa
Cuỷa trieọu ngửụứi yeõu
daỏu gian lao”
- Anh khoõng xửựng laứ
bieồn xanh
Nhửng anh muoỏn
laứm bụứ caựt traộng”
(Bieồn)
Nêu một vài hiểu biết
về tác phẩm “Vội
vàng”?
Đây là bài thơ tiêu biểu
nhất của Xuân Diệu
tr-ớc Cách mạng tháng
Tám, là tiếng nói của
một tâm hồn yêu đời,
yêu cuộc sống đến
cuồng nhiệt
traứo caựch maùng:
“Ngoùn quoỏc kyứ”, “Hoọi nghũ non soõng”
HS suy nghú traỷ lụứi
Bài thơ tiêu biểu cho
sự bùng nổ mãnh liệt của cái tôi trong thơ
mới nói chung, thơ
Xuân Diệu nói riêng
thơ” (1938).
-Là một trong những bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái tôi trong thơ mới nói chung, thơ Xuân Diệu nói riêng; đồng thời in đậm hồn thơ Xuân Diệu và tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo, độc
đáo trong nghệ thuật thơ
ông
Cuoọc ủụứi vaứ sửù
nghieọp thụ ca cuỷa
oõng ủaừ ủeồ laùi cho
em nhửừng aỏn tửụùng
gỡ?
“Xuaõn Dieọu ủửụùc coi
laứ nhaứ thụ mụựi
nhaỏt trong nhửừng
nhaứ thụ Mụựi” (Hoaứi
Thanh)
- HS trỡnh baứy caỷm nhaọn
* XD laứ nhaứ thụ lụựn coự nhieàu ủoựng goựp cho neàn thụ ca daõn toọc, laứ ngửụứi ủaừ coỏng hieỏn heỏt mỡnh cho neàn NT thụ ca Laứ nhaứ thụ coự bửụực chuyeồn bieỏn tửứ LM sang hieọn thửùc XHCN
- OÂng ủaừ ủeồ laùi cho ủụứi taỏm gửụng saựng veà lao ủoọng
NT caàn cuứ, saựng taùo, veà nieàm tin yeõu tha thieỏt ủoỏi vụựi cuoọc soỏng vaứ con ngửụứi
2
5’ Hẹ2: Hửụựng daón ủoùc hieồu baứi thụ.
- GV ủoùc maóu, goùi HS
ủoùc, lửu yự caỷm xuực
vaứ gioùng ủieọu
- GV: “Voọi vaứng” baột
ủaàu tửứ caỷm hửựng
veà muứa xuaõn Caỷm
hửựng khoõng mụựi
nhửng baứi thụ mụựi ụỷ
caựch theồ hieọn vaứ
Hẹ2: Hửụựng daón
ủoùc hieồu
- HS ủoùc, chuự yự gioùng ủieọu, ngaột nhũp
- Moọt ửụực muoỏn kyứ laù vaứ ngoõng cuoàng Nhaứ thụ muoỏn nớu keựo, laứm ngửng laùi sửù
II ẹoùc – hieồu chi tieỏt:
1 Boỏn caõu ủaàu: ệụực
muoỏn choỏng laùi quy luaọt cuỷa taùo hoaự.
- Toõi muoỏn:
+ Taột naộng – maứu ủửứng nhaùt
+ Buoọc gioự – hửụng ủửứng bay
(ửụực muoỏn kyứ laù vaứ ngoõng cuoàng)
Trang 4cường độ của cảm
xúc Bài thơ không
bắt đầu từ hình
ảnh mùa xuân, mà
bắt đầu từ niềm
khao khát say mê
đối với mùa xuân
Nhân vật trữ tình
bộc lộ trực tiếp ý
muốn của mình
Những câu thơ mở
đầu nói lên điều
mong muốn gì của
tác giả?
Những mong muốn
đó của tác giả
thể hiện ông có
tình yêu như thế
nào đối với thiên
nhiên ?
Cảnh vật miêu tả
trong đoạn thơ tiếp
hiện ra như thế
nào? Phân tích nghệ
thuật thể hiện?
- GV nêu vấn đề:
Cách dùng hình ảnh
của XD ở bài thơ
này rất độc đáo,
táo bạo
Lấy vẻ đẹp của con
người làm chuẩn
mực để tả thiên
nhiên Trước XD trong
thơ VN chưa có cảm
giác như vậy
Lá liễu dài như
một nét mi
Hơi gió thở như ngực
người yêu đến
Mây đa tình như thi sĩ
ngày xưa
Qua cách miêu tả,
ta bắt gặp tâm
trạng gì của nhà
thơ?
- GV: Vẻ đẹp của
vận động của thời gian, của vũ trụ để giữ mãi hương màu của mùa xuân, của tuổi trẻ
Cái ham muốn lạ lùng ấy đã hé mở một tình yêu bồng bột, xô bồ đối với thế giới đắm say hương sắc sự sống
Ý muốn của thi sĩ có vẻ vô lí, nhưng niềm khát khao hoàn toàn có lí, khi mùa xuân được thi sĩ phát hiện bằng biết bao hương sắc, âm thanh, hình ảnh, tươi đẹp đến mức tuyệt vời
- HS chỉ ra yếu tố nghệ thuật hiệu quả:
+ Điệp từ “này đây” liên tiếp mở
ra bao vẻ đẹp của mùa xuân đến bất tận
+ Cảnh vật thiên nhiên như đang ở trong tráng thái non tơ mơn mởn
Tuần trăng mật của ong bướm.
Hoa của đồng nội xanh rì.
Ánh sáng chớp hàng mi.
Qua “cặp mắt xanh non biếc rờn” của
thi sĩ, cuộc sống trần thế xung quanh bỗng được phát hiện như một thiên đường,
Nhà thơ muốn níu kéo, làm ngưng lại sự vận động của thời gian, của vũ trụ để giữ mãi hương màu của mùa xuân, của tuổi trẻ
2 Chín câu tiếp: Niềm
vui say ngây ngất của nhà thơ trước cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tràn đầy nhựa sống.
- Điệp từ “này đây” , quan hệ từ “và”
(Liệt kê): Thế giới thiên nhiên qua trái tim ham hố của Xuân Diệu như một thiên đường lạc thú, có thần vui đến gõ cửa hàng ngày
Xuân Diệu đã phát hiện ra một điều rất đơn giản, gần gũi: thế giới thiên đường không phải tìm kiếm ở đâu xa, nó ở ngay trên mặt đất, trước mắt ta, xung quanh ta
Một tâm hồn tha thiết gắn bó với cuộc sống
- So sánh độc đáo: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần cái đẹp của
Trang 5Nguyễn Thị Lụa
mùa xuân và cảm
xúc mãnh liệt của
con người đạt đến
cực điểm trong một
liên tưởng độc
đáo: “Tháng giêng
ngon như một cặp
môi gần” Phân tích.
Tại sao đang hưởng
thụ vẻ đẹp của
mùa xuân, XD lại
cảm thấy buồn
chán và thất vọng?
- GV bình:
“Tôi sung sướng.
Nhưng vội vàng một
nửa” giọng điệu
đứt đoạn, ngắt
quãng Dấu chấm
ở giữa câu diễn tả
bước chân hoan lạc
của tác giả chợt
khựng lại, chợt nhận
ra sự trớ trêu của
tạo hoá Niềm vui
vội tan biến như
giấc mộng, thay vào
đó là hiện thực
thô bạo, tàn nhẫn
lời thơ khô khốc,
chán nản vì tuyệt
vọng
Em có nhận xét gì
về Cảnh vật được
miêu tả trong đoạn
thơ này? Cảnh vật
trong đoạn này đem
lại những cảm
tưởng gì? Tại sao nhà
thơ lại làm như vậy?
GV: Mùa xuân đẹp,
đầy sức sống trở
thành đối kháng
với con người:
lòng tôi rộng >< lượng
trời chật
xuân tuần hoàn ><
tuổi trẻ … thắm lại
còn trời đất >< chẳng
còn tôi
phong phú và giàu có
HS trả lời
Đằng sau bức tranh xuân là hình ảnh nhân vật trữ tình đang ngỡ ngàng khi phát hiện ra mọi vẻ đẹp, đang reo vui trong niềm tận hưởng, trong niềm tha thiết với tình yêu và cuộc sống
- HS trả lời
Hình ảnh “cặp môi gần” là biểu
tượng của cái đẹp, vẻ đẹp thiên nhiên được quy chiến về vẻ đẹp con người quan niệm mỹ học mới mẻ
HS đọc tiếp đoạn thơ trả lời
- “Tôi sung sướng.
Nhưng vội vàng một nửa”
Vì:
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.
Xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
- HS trả lời:
+ Thiên nhiên đã trở thành một lực lượng đối kháng với con người:
“lòng tôi” ><
“lượng trời” Mùa
xuân của đất trời sẽ tuần hoàn, nhưng mùa xuân của con người thì
“tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.
Trời đất mãi mãi
tháng giêng được vật chất hoá, đầy sức hấp dẫn
3 Từ câu 12 đến 30:
Tâm trạng của nhà thơ khi cảm nhận cái giới hạn của đời người trước cái vô biên của đất trời.
- “ Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa”
Câu thơ bẻ đôi, tạo ấn tượng mạnh về sự chuyển biến giữa hai trạng thái
“sung sướng” >< “vội vàng”
Niềm vui tan biến thay vào đó là sự chán nản bi quan, cay đắng:
“Và xuân hết ….mất”
- Thiên nhiên đã trở thành một lực lượng đối kháng với con người:
Lòng tôi rộng >< lòng đời chật
Xuân vẫn tuần hoàn >< tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
(thực tế phũ phàng)
Nhà thơ vội vàng gấp gáp muốn sống trọn vẹn, yêu trọn vẹn, hưởng thụ trọn vẹn hương vị của tình yêu
- Thiên nhiên cũng đượm buồn, bi quan
+ Tháng năm – Rớm vị chia phôi
+ Sông núi – Than thầm tiễn biệt
+ Cơn gió xinh – bay đi + Chim – dứt tiếng
- “Chẳng bao giờ …”
Trang 6- GV: Nhận thức sâu
sắc được điều ấy,
cảm xúc của thi sĩ
về mùa xuân bỗng
tan biến mất vẻ
đẹp và niềm vui như
ban đầu Đoạn thơ
khép lại trong một
lời than não nuột,
tuyệt vọng : “Chẳng
bao giờ, ôi, chẳng
bao giờ nữa”.
Tại sao lại có sự
chuyển biến tâm
trạng đột ngột như
vậy?
Trước hoàn cảnh
đó, Xuân Diệu đề
nghị một cách sống
ntn?
Mở đầu bài thơ
,tác giả dùng đại
từ “Tôi”, đến phần
cuối tác giả dùng
đại từ “ta”, vì sao có
sự thay đổi vậy?
GV: Ta tưởng như
Xuân Diệu hoàn
toàn bất lực trước
sự tước đoạt của
thời gian nhưng nhà
thơ đã vùng lên
quyết đấu cùng tạo
hoá để giành lại
mùa xuân tình yêu
và tuổi trẻ
Phân tích cách thể
hiện của nhà thơ?
còn nhưng con người không còn
+ Thiên nhiên cũng đượm buồn,
bi quan
-> Cảm nhận vô cùng tinh tế
- HS thảo luận, trả lời
-> Sống vội vàng.
Điệp từ, động từ mạnh, liên tiếp
Nhà thơ hình dung cuộc sống như một trái đời chín mọng “muốn
cắn” – muốn tận
hưởng trong khao khát đến cao độ
XD buồn chán vì quá yêu cuộc sống, sợ mất mùa xuân, tuổi trẻ tươi đẹp, vì yêu say đắm nên rất vội vàng, vồ vập
4 Phần còn lại: Lòng
yêu cuộc sống đến độ cuồng si.
- Mau đi thôi hối hả, giục giã và vội vàng
- “Tôi” chuyển thành “ta”
sự phong phú bất tận của cuộc sống khiến
“cái tôi” trở nên chật
hẹp dường như không ôm chứa nổi
- Một loạt động từ mạnh :
ôm, riết, say, thân, cắn
diễn tả sâu sắc ham muốn được tận hưởng cứ tăng dần lên đến tột đỉnh
0
5 HĐ3: Hướng dẫn tổng kết.
Đánh giá thành
công về nội dung
và nghệ thuật bài
thơ
- Giáo viên nâng
cao, giáo dục tư
tưởng, cách sống,
quan niệm về tình
yêu cuộc sống
* Trắc nghiệm:
HĐ3: HS tổng kết
- HS đọc Ghi nhớ/
Sgk
- HS trả lời
C1:A
III Kết luận:
“Vội vàng” là lời giục giã hãy sống cao độ từng giây, từng phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ tru ; qua đó, thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ của một hồn thơ
“yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt” Tư tưởng đó được thể hiện qua giọng
Trang 7Nguyễn Thị Lụa
Câu1/ Trong câu thơ
Mùi tháng năm đều
rớm vị chia phôi
không có cảm giác
của giác quan nào?
A Xúc giác B Thị
giác
C Khứu giác D Vị
giác
điệu thơ sôi nổi, nhịp thơ hăm hở và những hình ảnh táo bạo, đầy cảm giác
Dặn dò:
- Nét mới mẻ trong quan niệm về thời gian, quan niệm sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”?
- Qua bài thơ, thêm yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống quanh ta và góp phần làm cho cuộc sống đó thêm tốt đẹp
- Học thuộc lòng bài thơ
- Soạn: Tràng giang (Huy Cận)
+ Đọc Tiểu dẫn, trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài
- Tâm trạng yêu đời, thiết tha với cuộc sống của nhà thơ Xuân Diệu: Qua bức tranh mùa xuân, có thể thấy được cái tình Xuân Diệu – khát khao hạnh phúc, khát khao yêu đương, tha thiết với cuộc đời khi
“sự sống mới bắt đầu mơn mởn” Lòng ham sống yêu đời của Xuân Diệu không nằm ngoài hai chữ “xuân” và “tình”: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mấy trời thanh sắc” (Thế
Lữ)
RÚT KINH NGHIỆM:
………
………
………
………
………
Trang 8
VỘI VÀNG
Xuân Diệu
Yêu cầu cần đạt
- Cảm nhận được lòng yêu đời, ham sống, quan niệm sống mới mẻ của Xuân Diệu và những cách tân táo bạo, độc đáo trong nghệ thuật của bài thơ.
- Bước đầu biết cách tiếp cận và phân tích một bài thơ mới qua cảm hứng thơ, hình ảnh, âm điệu, ngôn ngữ.
- Qua bài thơ, thêm yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống quanh ta và góp phần làm cho cuộc sống đó thêm tốt đẹp.
Nội dung kiến thức
1 Xuân Diệu (1916 – 1985) họ Ngô (Ngô Xuân Diệu) Cha là một
nhà nho, quê ở làng Trảo Nha, nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh ; quê mẹ ở Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
- Đỗ tú tài, làm viên chức ở Mĩ Tho (Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn Xuân Diệu có thơ đăng báo từ năm 1935,
1936 và nổi tiếng từ 1937 như một nhà thơ “mới nhất trong phong trào thơ mới” (Hoài Thanh, “Thi nhân Việt Nam”).
- Xuân Diệu tham gia Mặt trận Việt Minh từ trước Cách mạng tháng
Tám Sau 1945, cuộc đời ông gắn bó với cách mạng và nền văn học cách mạng Với gần 50 tác phẩm gồm thơ, văn, nghiên cứu phê bình, dịch thuật, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông từng là đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam các khóa I, II, III (1957 – 1985) Năm
1983 Xuân Diệu được bầu là Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa dân chủ Đức Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)
2 “Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của
Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Tác phẩm được rút ra từ tập
“Thơ thơ” (1938) Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu
sống đến cuồng nhiệt Nhưng đằng sau những tình cảm ấy là cả một quan niệm nhân sinh mới ít thấy trong thơ ca truyền thống
2.1 Tình yêu cuộc sống của thi sĩ được biểu hiện qua niềm say mê, ngây ngất với mùa xuân
Mùa xuân trong thơ ca là một đề tài khá hấp dẫn và quen thuộc Mùa xuân với đất trời hoa cỏ xinh tươi, tràn trề nhựa sống đã tạo cảm hứng cho bao bài thơ ngâm vịnh, gợi bao suy nghĩ về con người, về cuộc sống Đến văn học lãng mạn, mùa xuân - vẻ đẹp của thiên nhiên – đã tạo xúc cảm cho bao hồn thơ, cho bao vần thơ đẹp :
Trong làn nắng ửng khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Trang 9Nguyễn Thị Lụa
Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lí bóng xuân sang.
(“Mùa xuân chín” - Hàn Mặc Tử) Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ, Mẹ bảo : “Thôn Đoài hát tối nay”.
(“Mưa xuân” - Nguyễn Bính)
“Vội vàng” bắt đầu từ cảm hứng về mùa xuân Cảm hứng
không mới nhưng bài thơ mới ở cách thể hiện và cường độ của cảm xúc Bài thơ không bắt đầu từ hình ảnh mùa xuân, mà bắt đầu từ niềm khao khát say mê đối với mùa xuân Nhân vật trữ tình bộc lộ trực tiếp ý muốn của mình :
Tôi muốn tắt nắng đi, Cho màu đừng nhạt mất.
Tôi muốn buộc gió lại, Cho hương đừng bay đi.
Quả thật là một ý muốn táo bạo Bốn câu thơ ngắn với lời lẽ oai nghiêm như mệnh lệnh Con người như muốn đoạt quyền của tạo hoá, bắt thiên nhiên phải ngừng lại để mình được tận hưởng mãi hương sắc của mùa xuân Hồn thơ thiết tha với đời đang lo lắng trước sự đổi thay của đất trời nên muốn vũ trụ ngừng quay để giữ lại tất cả mọi vẻ đẹp Thiết tha với cái đẹp, muốn cái đẹp không bao giờ phai tàn, ý muốn ấy của Xuân Diệu đã gặp gỡ niềm khao khát của bất cứ người nghệ sĩ nào xưa nay
Ý muốn của thi sĩ có vẻ vô lí, nhưng niềm khát khao hoàn toàn có lí, khi mùa xuân được thi sĩ phát hiện bằng biết bao hương sắc, âm thanh, hình ảnh, tươi đẹp đến mức tuyệt vời Có thể nói đó là bức tranh xuân đẹp nhất, rực rỡ nhất, xôn xao nhất trong dòng thơ xuân xưa nay :
Của ong bướm này đây tuần tháng mật ; Này đây hoa của đồng nội xanh rì ;
Này đây lá của cành tơ phơ phất ; Của yến anh này đây khúc tình si ; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Điệp từ “này đây” liên tiếp mở ra bao vẻ đẹp của mùa xuân đến
bất tận Mùa xuân hiện ra thật cụ thể, vô cùng quyến rũ : có hạnh
phúc ngọt ngào trong “tuần tháng mật” của ong bướm, có cái lộng lẫy “hoa của đồng nội xanh rì”, có cái mơn mởn trẻ trung “lá của cành tơ phơ phất”, có âm thanh rạo rực nồng nàn trong “khúc tình si” của yến anh, có cái rực rỡ chan hoà “ánh sáng chớp hàng mi” Qua
“cặp mắt xanh non biếc rờn” của thi sĩ, cuộc sống trần thế xung quanh
bỗng được phát hiện như một thiên đường, phong phú và giàu có Mỗi vẻ đẹp của mùa xuân đều tràn đầy nhựa sống, đều gợi đến tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc
Đằng sau bức tranh xuân là hình ảnh nhân vật trữ tình đang ngỡ ngàng khi phát hiện ra mọi vẻ đẹp, đang reo vui trong niềm tận hưởng, trong niềm tha thiết với tình yêu và cuộc sống
Trang 10Vẻ đẹp của mùa xuân và cảm xúc mãnh liệt của con người đạt
đến cực điểm trong một liên tưởng độc đáo : “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Xuân Diệu không nói cả mùa xuân mà chỉ nói mỗi tháng giêng – tháng đẹp nhất, tháng mở đầu của mùa xuân Tháng giêng trở
thành hội tụ tất cả những gì đẹp nhất của mùa xuân, của thiên nhiên, vì vậy nó không còn cái ý nghĩa trừu tượng của thời gian nữa
Cái hay của câu thơ là đã cụ thể hoá cái trừu tượng (tháng giêng)
bằng một cảm giác có tính vật chất của hành động ăn uống :
“ngon” Và hơn nữa, là một hình ảnh cụ thể của tình yêu : “ngon như một cặp môi gần” Mùa xuân đẹp được so sánh với con người Nếu thơ
ca truyền thống lấy chuẩn mực của cái đẹp là thiên nhiên, thì với Xuân Diệu, chuẩn mực của cái đẹp là con người – mà phải là con người trong niềm hạnh phúc của tình yêu, con người trong độ đẹp nhất, căng đầy sức sống nhất của độ xuân thì
Ở Xuân Diệu, cảm hứng mùa xuân gắn với tuổi trẻ và tình yêu Qua bức tranh mùa xuân, có thể thấy được cái tình Xuân Diệu – khát
khao hạnh phúc, khát khao yêu đương, tha thiết với cuộc đời khi “sự sống mới bắt đầu mơn mởn” Lòng ham sống yêu đời của Xuân Diệu không nằm ngoài hai chữ “xuân” và “tình” : “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mấy trời thanh sắc” (Thế Lữ).
2.2 Nỗi băn khoăn về sự phai tàn của mùa xuân và tuổi trẻ
Trong sâu thẳm của nỗi khát khao được sống, được giao cảm ở XD vẫn ẩn chứa một nỗi lo âu về sự trôi chảy của thời gian Khi ông muốn tắt nắng, muốn buộc gió, thì không chỉ là bắt vũ trụ phải đứng lại mà còn là bắt thời gian phải ngừng trôi Ngay khi ông đang tận hưởng mùa xuân thì ông cũng đã khắc khoải lo sợ bước đi của thời gian sẽ làm phai tàn hương sắc Niềm khắc khoải đó khiến cho
nỗi sung sướng không còn được trọn vẹn : “Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa” Dấu chấm bẻ đôi câu thơ ném về hai đầu tâm trạng
: một của khao khát say mê, một của ai hoài u uất Niềm vui tan biến như một huyền mộng trước một sự thật phũ phàng, trước cái lạnh lùng nghiệt ngã của thời gian Thi sĩ đã cảm nhận được cái quy luật đó :
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lời thơ nặng nề như một sự thật trần trụi Cái kết thúc đã hiện ra thấp thoáng ngay từ lúc mở đầu
Thi sĩ nhận ra giới hạn của thời gian, cái giới hạn mà con người không thể vượt qua được :
Lòi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ! Đó là sự đối kháng giữa con người và thiên nhiên, giữa “lòng tôi” với “lượng trời” Mùa xuân của đất trời sẽ tuần hoàn, nhưng