Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Các hoạt động này làm cho nhiệt độ của trái đất nóng lên, sự nóng lên này chủ yếu là do sự gia tăng khí nhà kính khí quyển, đặc biệt là khí carbon dioxide (CO2), mêtan (CH4), và nitơ oxit (N2O).Chất thải khí nhà kính đã tăng lên kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, đến năm 2014 cao hơn 60% so với năm 1990. Các nguồn phát thải khí nhà kính hàng năm chính là đốt các nhiên liệu hóa thạch (than, dầu và khí đốt), khai hoang rừng, chuyển đổi nông nghiệp và các hoạt động khác như “Sản xuất điện và nhiệt tạo ra khoảng 25% tổng phát thải khí nhà kính; công nghiệp chiếm 21%; giao thông 14%; năng lượng khác 10%; và các tòa nhà 6%. Ở các quốc gia khác nhau sẽ có lượng phát thải khác nhau, đối với các nước đang phát triển được dự đoán sẽ làm tăng lượng phát thải trong tương lai. (ReBecca M.Henderson, Sophus A.Reinert, Polina Dekhtyar, Aram Migdal, 2017)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BÀI TIỂU LUẬN BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT TRONG TÌNH
HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Giáo viên: TS Trịnh trường Giang Học viên: Phạm Thị Hồng Thắm Lớp: Quản lý TN&MT
Phú Yên, 06 tháng 08 năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
Chương 1 1
TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1
1 Khái niệm về biến đổi khí hậu 1
2 Nguyên nhân chủ yếu hình thành biến đổi khí hậu 1
3 Thực trạng của biến đổi khí hậu: 3
3.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới 3
3.1.1 Biến đổi của nhiệt độ 3
3.1.2 Biến đổi của lượng mưa 3
3.1.3 Hạn hán và dòng chảy 3
3.1.4 Biến đổi nhiệt độ ở các vùng cực và băng quyển 4
(TS Nguyễn Văn Thắng, GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu, PGS.TS Trần Thục, ThS Phạm Thị Thanh Hương, CN Nguyễn Thị Lan, CN Vũ Văn Thăng, 2010) 4
4 Thực trạng BĐKH ở Việt Nam 4
Biến đổi khí hậu biểu hiện thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường như nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán và nước biển dâng cao, và đang có dấu hiệu trở nên phổ’ biến hơn trong thời gian gần đây BĐKH và nước biển dâng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, cây trồng, vật nuôi, làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, gia tăng sức ép lên con người, tăng mức độ thiệt hại khi thiên tai xảy ra 4
4.1 Nhiệt độ và lượng mưa: 4
4.2 Thiên tai 5
5 Kịch bản biến đổi khí hậu ở nước ta 6
Chương 2 7
ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 7
ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT 7
1 Giới thiệu tài nguyên nước mặt tại Việt Nam 7
2 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tài nguyên nước mặt ở các nước Đông Nam Á 7
3 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tài nguyên nước mặt ở Việt Nam 8
3.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy mùa lũ 8
3.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy mùa cạn 9
4.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp 10
4.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến lâm nghiệp 10
4.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản 10
i
Trang 34.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến công nghiệp 10
4.5 Tác động của biến đổi khí hậu đến năng lượng 10
4.6 Tác động của biến đổi khí hậu đến giao thông vận tải 11
5 Các biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên nước mặt 11
5.1 Một số biện pháp được sử dụng nước hiệu quả trên thế giới 11
5.1.1 Sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước tại Singapore.11 5.1.2 Sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước tại Israel 12
5.2 Một số biện pháp quản lý, sử dụng nước tại Việt Nam 12
5.3 So sánh về hiệu quả quản lý sử dụng nước tại Việt Nam và trên Thế Giới 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
-https://www.ctc-n.org/sites/www.ctc- n.org/files/resources/water_adaptation_technologies_0.pdf 15
ii
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1 Khái niệm về biến đổi khí hậu
Theo công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu có hiệu lực vào ngày 21 tháng 3 năm 1994 “Biến đổi khí hậu” nghĩa là biến đổi của khí hậu được qui cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường: Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình
tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất
2 Nguyên nhân chủ yếu hình thành biến đổi khí hậu
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Các hoạt động này làm cho nhiệt độ của trái đất nóng lên, sự nóng lên này chủ yếu là do sự gia tăng khí nhà kính khí quyển, đặc biệt là khí carbon dioxide (CO2), mêtan (CH4), và nitơ oxit (N2O).Chất thải khí nhà kính đã tăng lên kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, đến năm 2014 cao hơn 60% so với năm 1990 Các nguồn phát thải khí nhà kính hàng năm chính là "đốt các nhiên liệu hóa thạch (than, dầu và khí đốt), khai hoang rừng, chuyển đổi nông nghiệp và các hoạt động khác như “Sản xuất điện và nhiệt tạo ra khoảng 25% tổng phát thải khí nhà kính; công nghiệp chiếm 21%; giao thông 14%; năng lượng khác 10%; và các tòa nhà 6% Ở các quốc gia khác nhau sẽ có lượng phát thải khác nhau, đối với các nước đang phát triển được dự đoán sẽ làm tăng lượng phát thải trong tương lai (ReBecca M.Henderson, Sophus A.Reinert, Polina Dekhtyar, Aram Migdal, 2017)
Trang 5Biến đổi khí hậu: quy trình, đặc điểm và mối đe dọa
Trang 63 Thực trạng của biến đổi khí hậu:
3.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới.
3.1.1 Biến đổi của nhiệt độ
Trong thế kỷ 20, trên khắp các châu lục và đại dương nhiệt độ có xu thế tăng lên
rõ rệt, độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ trung bình toàn cầu là 0,24 oC, sai khác lớn nhất giữa hai năm liên tiếp là 0,29 oC (giữa năm 1976 và năm 1977), tốc độ của xu thế biến đổi nhiệt độ cả thế kỷ là 0,75 oC, nhanh hơn bất kỳ thế kỷ nào trong lịch sử, kể từ thế kỷ
11 đến nay Vào 5 thập kỷ gần đây 1956 - 2005, nhiệt độ tăng 0,64 oC ± 0,13 oC, gấp đôi thế kỷ 20 Rõ ràng là xu thế biến đổi nhiệt độ ngày càng nhanh hơn Giai đoạn 1995
-2006 có 11 năm (trừ 1996) được xếp vào danh sách 12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch
sử quan trắc nhiệt độ kể từ 1850, trong đó nóng nhất là năm 1998 và năm 2005 Riêng 5 năm 2001 - 2005 có nhiệt độ trung bình cao hơn 0,44 oC so với chuẩn trung bình của thời kỳ 1961 - 1990 Đáng lưu ý là, mức tăng nhiệt độ của Bắc cực gấp đôi mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu Nhiệt độ cực trị cũng có xu thế phù hợp với nhiệt độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh và tăng số ngày nóng và biên độ nhiệt độ ngày giảm
đi chừng 0,07 oC mỗi thập kỷ
3.1.2 Biến đổi của lượng mưa.
Trong thời kỳ 1901 - 2005 xu thế biến đổi của lượng mưa rất khác nhau giữa các khu vực và giữa các tiểu khu vực trên từng khu vực và giữa các thời đoạn khác nhau trên từng tiểu khu vực Ở Bắc Mỹ, lượng mưa tăng lên ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Canađa nhưng lại giảm đi ở Tây Nam nước Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2% mỗi thập kỷ, gây ra hạn hán trong nhiều năm gần đây Ở Nam
Mỹ, lượng mưa lại tăng lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm đi ở Chile và vùng bờ biển phía Tây Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt là ở Sahen trong thời đoạn 1960-1980 Ở khu vực nhiệt đới, lượng mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901 - 2005 Khu vực có tính địa phương rõ rệt nhất trong xu thế biến đổi lượng mưa là Australia do tác động to lớn của ENSO Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30 0N thời kỳ 1901-2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ thập kỷ 1990 Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu thế giảm
3.1.3 Hạn hán và dòng chảy.
Ở bán cầu Bắc, xu thế hạn hán phổ biến từ giữa thập kỷ 1950 trên phần lớn vùng Bắc Phi, đặc biệt là Sahel, Canada và Alaska Ở bán cầu Nam, hạn rõ rệt trong những năm từ 1974 đến 1998 Ở miền Tây nước Mỹ, mặc dù lượng mưa có xu thế tăng lên trong nhiều thập kỷ gần đây nhưng hạn nặng xảy ra từ năm 1999 đến cuối năm 2004 Dòng chảy của hầu hết sông trên thế giới đều có những biến đổi sâu sắc từ thập kỷ này sang thập kỷ khác và giữa các năm trong từng thập kỷ Dòng chảy tăng lên trên nhiều lưu vực sông thuộc Mỹ song lại giảm đi ở nhiều lưu vực sông thuộc Canađa trong 30
Trang 7-50 năm gần đây.Trên lưu vực sông Lena ở Xibiri cũng có sự gia tăng dòng chảy đồng thời với nhiệt độ tăng lên và lớp băng phủ giảm đi Ở lưu vực Hoàng Hà, dòng chảy giảm đi rõ rệt trong những năm cuối thế kỷ 20 do lượng nước tiêu thụ tăng lên, nhiệt độ
và lượng bốc hơi tăng lên trong khi lượng mưa không có xu thế tăng hay giảm Ở Châu Phi dòng chảy các sông ở Niger, Senegal và Dambia đều sa sút đi
3.1.4 Biến đổi nhiệt độ ở các vùng cực và băng quyển.
Trong thế kỷ 20 cùng với sự tăng lên của nhiệt độ mặt đất có sự suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu Các quan trắc từ năm 1978 đến nay cho kết quả là lượng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dương giảm 2,7 (2,1 -3,3)% mỗi thập kỷ Băng trên các vùng núi cả hai bán cầu cũng tan đi với khối lượng đáng kể Ở bán cầu Bắc, phạm vi băng phủ giảm đi khoảng 7% so với năm 1900 và nhiệt độ trên đỉnh lớp băng vĩnh cửu tăng lên 30C so với năm 1982
(TS Nguyễn Văn Thắng, GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu, PGS.TS Trần Thục, ThS Phạm Thị
Thanh Hương, CN Nguyễn Thị Lan, CN Vũ Văn Thăng, 2010)
4 Thực trạng BĐKH ở Việt Nam
Biến đổi khí hậu biểu hiện thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường như nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán và nước biển dâng cao, và đang
có dấu hiệu trở nên phổ’ biến hơn trong thời gian gần đây BĐKH và nước biển dâng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, cây trồng, vật nuôi, làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, gia tăng sức ép lên con người, tăng mức độ thiệt hại khi thiên tai xảy ra
4.1 Nhiệt độ và lượng mưa:
Trong vòng 50 năm qua ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,50C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam
Bảng: Mức tăng nhiệt độ và thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở Việt Nam
Vùng khí hậu
Tháng 1
Tháng
Thời kỳ các tháng 11-4
Thời kỳ các tháng 5-10
Năm
Đồng bằng
Trang 84.2 Thiên tai
Dưới tác động của BĐKH và hoạt động phát triển kinh tế xã hội, tình hình thiên tai
ở nước ta ngày càng diễn biến phức tạp Một trong những hiện tượng thiên tai phổ biến
ở nước ta là bão và áp thấp nhiệt đới Bão hoạt động nhiều nhất về số lượng và mạnh nhất về cường độ tập trung ở vùng biển Bắc Bộ, đặc biệt, khu vực từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa
Theo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, giai đoạn 2011 - 2015 thiên tai tuy xảy ra ít về số lượng nhưng cường độ tác động một số đợt lại ở mức cao kỉ lục Những tháng đầu năm 2015, rất nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, bất thường đã xảy ra ở nước ta Điển hình như trong tháng 1/2015, đợt rét và băng tuyết đã phủ rất nhiều tỉnh, thành vùng núi phía Bắc; đợt mưa lớn trái mùa xảy ra vào tháng 3/2015 tại Quảng Ngãi; nhiều trận dông lốc, mưa đá xảy ra, đặc biệt là Đà Lạt (Lâm Đồng) có 2 trận mưa đá và 1 trận mưa lớn gây ngập lụt ở Tp Đà Lạt; lốc xoáy cũng gây nhiều thiệt hại tại Thủ đô Hà Nội và hiện tượng mưa lớn kéo dài tại Quảng Ninh
Bảng: Tổng hợp các loại hình thiên tai
Loại thiên tai Năm
2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Mưa giông, sét,
(Báo cáo hiện trạng môi trường giai đoạn 2011-2015)
Trang 95 Kịch bản biến đổi khí hậu ở nước ta.
- Nhiệt độ: Theo kịch bản RCP4.5, nhiệt độ trung bình năm tăng 1,9 ÷ 2,4°C ở phía Bắc và 1,7 ÷ 1,9°C ở phía Nam Theo kịch bản RCP8.5, mức tăng 3,3 ÷ 4,0o C ở phía Bắc và 3,0 ÷ 3,5oC ở phía Nam Nhiệt độ cực trị có xu thế tăng rõ rệt
- Lượng mưa: Theo kịch bản RCP4.5, lượng mưa năm tăng phổ biến từ 5 ÷ 15% Theo kịch bản RCP8.5, mức tăng nhiều nhất có thể trên 20% ở hầu hết Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, một phần Nam Bộ và Tây Nguyên Giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất có xu thế tăng trên toàn lãnh thổ Việt Nam (10÷70%) so với trung bình thời kỳ
cơ sở
- Gió mùa và một số hiện tượng cực đoan: Số lượng bão mạnh đến rất mạnh có
xu thế tăng; gió mùa mùa hè có xu thế bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn Mưa trong thời kỳ hoạt động của gió mùa có xu hướng tăng Số ngày rét đậm, rét hại ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đều giảm Số ngày nắng nóng (Tx > 35oC) có xu thế tăng trên phần lớn cả nước, lớn nhất là ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ Hạn hán có thể’ trở nên khắc nghiệt hơn ở một số vùng do nhiệt
độ tăng và khả năng giảm lượng mưa trong mùa khô
Trang 10Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT
1 Giới thiệu tài nguyên nước mặt tại Việt Nam.
Do sự tác động tổng hợp giữa điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mưa nhiều
và cấu trúc địa chất, địa hình với % lãnh thổ là đồi núi, dốc và chia cắt mạnh, nên mạng lưới sông suối trên lãnh thổ Việt Nam khá phát triển với mật độ lưới sông từ dưới 0.5 km/km2 đến trên 4 km/km2, trung bình khoảng 0,6 km/km2 Nếu chỉ tính các sông có chiều dài từ 10 km trở lên và có nước chảy quanh năm thì trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 2.360 con sông, bao gồm 106 sông chính và 2.254 sông nhánh các cấp Chín hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực từ 10.000km2 trở lên (Kỳ Cùng - Bằng, Thái Bình, Hồng, Mã, Cả, Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và Mê Công) và 97 sông độc lập chảy trực tiếp
ra biển có diện tích lưu vực dưới 5.000km2, thuộc loại sông vừa và nhỏ Trừ hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc vào lãnh thổ Trung Quốc, còn các hệ thống sông và sông độc lập khác đều chảy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam hoặc Tây - -Đông rồi đổ ra biển -Đông Phần lớn các hệ thống sông đều được phân cách bằng các dãy núi cao (trừ các sông vùng châu thổ) và thường có phần trung,
hạ lưu của lưu vực rất ngắn hoặc hoàn toàn không có
Tổng diện tích lưu vực của toàn bộ sông suối nước Việt Nam khoảng 1.168.638
km2, gấp 3,5 lần diện tích đất liền nước ta, trong đó 837.430km2 (chiếm 71,7%) nằm trên lãnh thổ các nước lân cận, riêng sông Mê Công có 91,3% diện tích nằm ngoài lãnh thổ (726 nghìn km2), sông Hồng 53% (82,3 nghìn km2) Các sông lớn ở Việt Nam như sông Hồng, sông Cả, Cửu Long (sông Tiền, sông Hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long) đều bắt nguồn từ nước ngoài hay có một phần lưu vực nằm trên lãnh thổ nước ngoài (hệ thống sông Mã và hệ thống sông Đồng Nai) Một số nhánh của sông Mê Công bắt nguồn từ lãnh thổ nước ta chảy qua Lào hay Campuchia (các sông: Nậm Rốm, Xê pôn,
Sê San, Srêpôk) nhập vào sông Mê Công, chảy vào lãnh thổ Việt nam (ĐBSCL) rồi cuối cùng đổ ra biển Chỉ một số sông thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang bắt nguồn
từ lãnh thổ Việt Nam rồi và chảy sang Trung Quốc Từ đó có thể nhận thấy, phần lớn các sông lớn của Việt Nam là sông xuyên quốc gia và việc khai thác, sử dụng nguồn nước ở các quốc gia có liên quan của các sông này đã, đang và sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn nước sông vào lãnh thổ Việt Nam
2 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tài nguyên nước mặt ở các nước Đông Nam Á
Biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước trong vùng Đông Nam Á,
là vùng có các hệ thống sông lớn Những hệ thống sông này có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp và công nghiệp Trong lưu vực ba hệ thống sông lớn Mê Công, Hồng, Chaophraya có nhiều khu vực sản xuất lúa Khoảng 60 triệu dân ở hạ lưu vực Mê Công sinh sống nhờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Biến đổi khí hậu làm cho lượng Bốc hơi và thoát hơi tiềm năng tăng lên cùng với
sự gia tăng của nhiệt độ không khí làm ảnh hưởng đến lượng và chất lượng nước cung