LỜI CAM ĐOANĐể đảm báo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỨC, TP.HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỨC, TP.HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học
TS HÀ MINH TÂM
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc nhất đến TS Nguyễn Quốc Bình và TS Hà Minh Tâm là những người đã trực
tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN – Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên
cứu, thu thập số liệu Tôi cũng xin cảm ơn bà Vũ Thị Hợp thôn Đồng Chiêm, xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Tp Hà Nội đã hưỡng dẫn tôi đến các điểm thu mẫu để tôi có
thể hoàn thành khóa luận của mình
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân và bạn bè đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Vũ Thị Ngân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm báo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu xây dựng danh lục các loài thực vật
được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội” là công
trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn
Quốc Bình và TS Hà Minh Tâm Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung
thực và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Vũ Thị Ngân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý ghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Điểm mới của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Trên Thế Giới 3
1.2 Ở Việt Nam 4
1.3 các công trình nghiên cứu khoa học về xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội 6
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.2 Phạm vi nghiên cứu 7
2.3 Thực trạng kinh tế - xã hội nơi nghiên cứu Khu vực nghiên cứu 7
2.4 Thời gian nghiên cứu 8
2.5 Nội dung nghiên cứu 8
2.6 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
3.1 Thành phần loài thực vật làm thuốc tại xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội 10
3.2 Đặc điểm nhận biết 20
3.2.1 Hành ta (Allium ascalonicum L 1759): 20
3.2.2 Cỏ xước (Achyranthes aspera L 1753) 21
3.2.3 Rau dệu (Alternanthera sessilis (L.) Blume, 1826) 22
3.2.4 Dền Cơm (Amaranthus lividus L 1753) 23
3.2.5 Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium L 1753) 24
3.2.6 Rau má (Centella asiatica (L.) 25
3.2.7 Cứt lợn (Ageratum conyzoides L 1753) 26
3.2.8 Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.1753) 27
Trang 63.2.9 Nhọ nồi (Elipta prostrata (L.) 28
3.2.10 Cỏ lào, Yên lạc (Eupatorium odoratum L 1759) 29
3.2.11 Cúc tần (Pluchea indica (L.) Less 1831) 30
3.2.12 Mồng tơi (Basella rubra L 1753) 31
3.2.13 Xạ Đen (Celastrus hindsii Benth 32
3.2.14 Giảo cổ lam, Dần toòng, Nhân sâm phương nam, Ngũ diệp sâm,
(Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino, 1902) 33
3.2.15 Gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) spreng 1826): 34
3.2.16 Huyết dụ (Cordyline fruticosa (L.) Goepp 1855: 35
3.2.17 Diệp hạ châu đắng, Diệp hạ châu, Chó đẻ quả tròn, Chó đẻ thân xanh, Chó đẻ răng cưa, Cây cau trời (Phyllanthus amarus schum 1828 = P niruri auct.: Phamh 1:411…, non L 1753) 36
3.2.18 Rau ngót (Sauropus androgynus (L.) Merr 1903) 37
3.2.19 Sắn dây (Pueraria montana (Lour) Merr 1935 Var chinensis (Ohwi) Maesen, 1988; 38
3.2.20 Hoắc hương núi (Agastache rugosa (Fisch et May.) O Kuntze, 1891) 39
3.2.21 Kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyland 1941) 40
3.2.22 Húng chó hay Húng quế (Ocimum basilicum L 1735) 41
3.223 Tía tô (Penrilla frutes (L.) Britt 1894) 42
3.2.24 Cối xay, Nhĩ hường (Abutilon indicum (L.) Sweet, 1826) 43
3.2.25 Dâu tằm, Dâu tàu (Morus alba L 1753) 44
3.2.26 Chuối rừng (Musa uranoscopos Lour 1790) 45
3.2.27 Ổi (Psidiumguajava L 1753) 46
3.2.28 Vối rừng (Syzygium cuminii (L.) Skells, 1912) 47
3.2.29 Sen (Nelumbo nucifera Gaertn 1788)- Họ Sen 48
3.2.30 Dứa dại (Pandanus Kaida Kurz, 1869) 49
3.2.31 Trầu không (Piper pettle L 1753) 50
3.2.32 Lá lốt (Piperlolot DC 1898) 51
3.2.33 Cỏ mần trầu (Eleusine indica (L.) Gaertn 1788) 52
Trang 73.2.34 Rau răm (Polygonum odoratum Lour 1790) 53
3.2.35 Rau sam (Potulaca oleracea L 1753) 54
3.2.36 Mâm xôi (Rubus alcaefolius poir.1806) 55
3.2.37 Chanh (Citrus aurantifolia (Christm, Panzer) Swingle, 1913) 56
3.2.38 Giấp cá (Houttuynia cordata (thumb.) DC.) 57
3.2.39 Cam thảo đất (Scoparia dulcis L 1753) 58
3.2.40 Cà gai leo (Solanum Procumbens Lour 1790) 59
3.2.41 Bách bộ (Stemona tuberosa Lour.) 60
3.2.42 Nghệ (Curcuma Zedoaria (Berg) Rosc 1807) 61
3.2.43 Gừng (Zingiber Officinale Rosc 1807) 62
2.3 Một số bài thuốc 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Ảnh 3.2.1 Allium ascalonicum L 1759 20
Ảnh 3.2.2 Achyranthes aspera L 1753 21
Ảnh 3.2.3 Alternanthera sessilis (L.) Blume, 1826 22
Ảnh 3.2.4 Amaranthus lividus L 1753 23
Ảnh 3.2.5 C.latifolium L 1753 24
Ảnh 3.2.6 Centella asiatica (L.) Urb In Mart.1879 25
Ảnh 3.2.7 Ageratum conyzoides L 1753 26
Ảnh3.2.8 Artemisia vulgaris L.1753 27
Ảnh 3.2.9 (Elipta prostrata (L.) 28
Ảnh 3.2.10 Eupatorium odoratum L 1759 29
Ảnh 3.2.11 Pluchea indica (L.) Less 1831 30
Ảnh 3.2.12 Basella rubra L 1753 31
Ảnh 3.2.13 Celastrus hindsii Benth 32
Ảnh 3.2.14 Gynostemma pentaphyllum (thunb) Makino, 1902 33
Ảnh 3.2.15 Momordica cochinchinensis (Lour.) spreng 1826 34
Ảnh 3.2.16 Cordyline fruticosa ( L.) Goepp 1855 35
Ảnh3.2.17 Phyllanthus amarus schum 1828 = P niruri auct.: Phamh 1:411…, non L 1753) 36
Ảnh 3.2.18 Sauropus androgynus (L.) Merr 1903 37
Ảnh 3.2.19 Pueraria montana (Lour) Merr 1935 Var chinensis (Ohwi) Maesen, 1988 38
Ảnh 3.2.20 Agastache rugosa (Fisch et May.) O Kuntze, 1891 39
Ảnh 3.2.21 Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyland 1941 40
Ảnh 3.2.22 Ocimum basilicum L 1735 41
Ảnh 3.2.23 Penrilla frutes (L.) Britt 1894 42
Ảnh 3.2.24: Abutilon indicum (L.) Sweet, 1826 43
Ảnh 3.2.25 Morus alba L 1753 44
Trang 9Ảnh 3.2.26 M uranoscopos Lour 1790; SYN M cocinea Andr 1798 45
Ảnh 3.2.27 Psidium guajava L 1753 46
Ảnh 3.2.28 Syzygium cuminii (L) Skells, 1912 47
Ảnh 3.2.29 Nelumbo nucifera Gaertn 1788 48
Ảnh 3.2.30 Pandanus kaida Kurz, 1869 49
Ảnh 3.2.31 Piper pettle L 1753 50
Ảnh 3.2.32 Piper lolot DC 1898 51
Ảnh 3.2.33 Eleusine indica (L.) Gaertn 1788 52
Ảnh 3.2.34 Polygonum odoratum Lour 1790 53
Ảnh 2.2.35 Potulaca oleracea L 1753 54
Ảnh 3.2.36 Rubus alcaefolius poir.1806 55
Ảnh 3.2.37 C aurantifolia (Christm, Panzer) Swingle, 1913 56
Ảnh 3.2.38 Houttuynia cordata (Thumb.) DC 57
Ảnh 3.2.39 Scoparia dulcis L 1753 58
Ảnh 3.2.40 Solanum procumbens Lour 1790 59
Ảnh 3.2.41 Củ Stemona tuberosa Lour 60
Ảnh 3.2.42 Cây Stemona tuberosa Lour 60
Ảnh 3.2.43 Curcuma Zedoaria ( Berg) Rosc 1807 61
Ảnh 3.2.44 Zingiber Officinale Rosc 1807 62
Trang 10là dùng 1 số cây thuốc để chữa bệnh
Trong 1 số trường hợp việc sử dụng 1 số cây thuốc chữa bệnh còn đem lại tác dụng chữa bệnh hiệu quả hơn cả dùng thuốc tây vì không để lại tác dụng phụ 1 số bài thuốc đông y của vùng miền núi hay được biết đến và ưa chộng đối với người dân thành thị bởi công dụng tuyệt vời của nó, việc sử dụng cây thuốc, các loại thảo dược để chữa bệnh ngày càng trở nên phổ biến trong nhân dân ta cũng như nhân dân trên toàn thế giới
Xã An phú thuộc huyện Mỹ Đức, Tp.Hà Nội là 1 xã miền núi với tài nguyên cây cỏ phong phú, và hầu như chưa được sử dụng 1 cách hiệu quả để mang lại lợi ích thiết thực, vì vậy việc xây dựng nên danh lục các loài cây thuốc ở địa phương là rất cần thiết giúp cho người dân nhận biết cây thuốc, từ đó biết cách bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc quý, biết khai thác sử dụng cây thuốc 1 cách hợp lý để nâng cao chất lượng cuộc sống Việc xây dựng nên danh lục và giá trị sử dụng các loài cây thuốc phổ biến ở địa phương là rất có ý nghĩa cho việc tìm kiếm các vị thuốc chữa bệnh đối với lang y cả thời xưa và nay ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên cây thuốc cũng nhằm phục vụ cho nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác để mang lại lợi ích cho cộng đồng nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân
dân vì thế chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xây dựng danh
lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội.”
Trang 112
2 Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng được danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở
xã An phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội
- Cung cấp các thông tin để nhận biết cây thuốc
- Giới thiệu 1 số bài thuốc dân gian
3 Ý ghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung các kiến thức về thực vật học và cung
cấp cơ sở dữ liệu cho các ngành ứng dụng sinh thái, tài nguyên sinh vật, bảo tồn các loài cây thuốc cũng như đánh giá về giá trị làm thuốc của hệ thực vật ở xã An Phú,
Mỹ Đức, Hà Nội
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ cho việc khai thác và sử dụng
hợp lí nguồn tài nguyên cây thuốc quanh khu vực nghiên cứu
4 Điểm mới của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội
Bố cục của khóa luận gồm: Gồm 66 trang, 44 ảnh, 1 bảng Được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 4 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 2 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 55 trang), kết luận và kiến nghị (1 trang), tài liệu tham khảo (2 trang)
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Trên Thế Giới
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc, trước tiên phải
kể đến những mô tả về (3.000 năm TCN) và ở Trung Quốc (2.200 năm TCN)
Hy Lạp có nền y học phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu mà không thể không nhắc tới Hyppocrate (460- 370 TCN), ông được xem như ông tổ của ngành y học hiện đại, thầy thuốc vĩ đại nhất thời cổ đại, ông đã có những công trình nghiên cứu về giải phẫu, sinh lí, nhi khoa, sản khoa, Ông còn đưa hơn 200 loài thực vật vào làm thuốc [12]
Năm 79- 24 (TCN), nhà tự nhiên học người La Mã Plinus soạn thảo bộ sách
“Vạn vật học” gồm 37 tập giới thiệu 1.000 loài cây cỏ có ích
Trung Quốc là một trong những nước phát hiện và sử dụng nhiều dược thảo sớm nhất thế giới Từ thời Tam quốc (222- 265 CN), danh y Hoa Đà đã sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang (túi thơm), sử dụng tính phương hương (hương thơm) của chúng để chống lại bệnh lao phổi và lỵ
Năm 1549, Lý Thời Trân (1519- 1593) người sống ở đời nhà Minh, đã tổng
kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc để soạn thành quyển “Bản thảo cương mục”, đây là bộ sách quan trọng và đầy đủ nhất về các dược liệu và công dụng của
chúng Để viết cuốn sách này, ông đã tìm đọc hơn 800 cuốn sách tổ, kết hợp sự thu thập của mình và viết cuốn dược điển qua 3 lần sửa đổi Trải qua gần 30 năm đến
năm 1578 ông đã hoàn thành “Bản Thảo cương mục” gồm hơn 90 vạn từ, chia làm
16 bộ, 60 loại gồm 50 cuốn, thống kê được 12.000 vị thuốc với hơn 11 nghìn bài
thuốc Ông còn có tranh minh họa, để mọi người dễ nhận biết “Bản Thảo cương mục” đã chỉ ra những sai lầm trước đây của tiền nhân [17]
Năm 1952, tác giả người Pháp A Pételot có công trình “Les phantes de médicinalea du Cambodye, du Laos et du Viet Nam” gồm 4 tập nghiên cứu về cây
thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương [12]
Năm 1992, theo thống kê của UNESCO thì tại các vùng nông thôn của các nước đang phát triển, các sản phẩm làm lương thực - thực phẩm có nguồn gốc thực
Trang 134
vật chiếm tỷ lệ 90- 93%; các sản phẩm làm thuốc có tỷ lệ là 70- 80% Theo thống
kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc [12] Trong đó ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc 5.000 loài, vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1.900 loài
1.2 Ở Việt Nam
Từ xa xưa, các bậc tiền nhân đã tập chung nghiên cứu về các cây có tác dụng làm thuốc, việc sử dụng dược liệu ở Việt Nam ban đầu chủ yếu dựa trên kinh nghiệm truyền thống trải qua thời gian kết hợp với sự truyền bá của dược học Trung Quốc vào nước ta trong suốt gần 1 nghìn năm xâm chiếm việc sử dụng dượng liệu ở nước ta thêm mở rộng hơn, nhưng sau đó để không phải phụ thuộc nhiều vào dược học trung quốc, ông cha ta đã nghiên cứu để cải biến và sử dụng nguồn thuốc của nước nhà
Cuốn “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hồng nghĩ giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh
vào khoảng thế kỷ 17 hoặc thế kỷ 14 Trong tài liệu này Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630
vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa tạp bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1720- 1791) là nhà y học uyên bác, nổi tiếng của Việt Nam Trên tinh thần kế thừa và phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, tổng kết kinh nghiệm của Trung y và Y học cổ truyền dân tộc, ông đã
biên soạn bộ “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” gôm 28 tập, 66 quyển bao gồm lý,
pháp, phương, dược và biện chứng luận trị về nội khoa và ngoại khoa, sản phụ khoa, khoa nhi, cấp cứu đạo đức y học, vệ sinh phòng bệnh Trong đó, quyển 12
và 13 - “ Lĩnh Nam bản thảo” Lê Hữu Trác đã sưu tầm, mô tả thêm 300 vị thuốc
nam, tổng hợp được 2.854 phương thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian, bộ sách của ông được đánh giá cao cả ở trong và ngoài nước, góp phần phát triển nền y học nước nhà[18]
Năm 1884 - 1945, thời kì Pháp thuộc, nền y học của nước ta cũng có sự thay đổi mạnh mẽ nhờ có sự du nhập của y học phương tây, mang đến các phương thuốc chữa bệnh mới đồng thời do sự khai thác thuộc địa đã góp phần thúc đẩy sự phát triển trong nghiên cứu thực vật nói chung và các loài thực vật dùng làm thuốc nói
Trang 141999 đến năm 2003 , Phạm Hoàng Hộ cho xuất bản 3 bộ “Cây cỏ Việt Nam”, trong
đó có nêu lên cách nhận biết các loài thực vật [9, 10, 11,]
Năm 1965, Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” Bộ sách này ngày càng được hoàn thiện và thể hiện được giá trị của nó Đến nay đã tái bản có bổ sung tới lần thứ 9 (năm 2000) với khoảng 800 cây và vị thuốc[9, 10, 11, 12]
Năm 1976 nhà khoa học Võ Văn Chi đã thống kê 1.360 loài cây thuốc thuộc
192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, năm
1997, ông đã cho ra mắt cuốn sách “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó có đề cập tới 3.165 loài Tác giả đã mô tả chi tiết từng cây có kèm theo hình vẽ minh họa, nơi phân bố, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng, biệt ông đã tham khảo kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn
Độ, Philippin, Pháp… nên đã bổ sung được công dụng của rất nhiều loài mà các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chưa đề cập tới
Đến năm 2012, trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (bộ mới), tác giả đã giới thiệu 4.472 loài cây làm thuốc thuộc 1.862 chi, trong 338 họ, của 9 nhóm ngành từ sinh vật tiền nhân đến ngành Ngọc lan và 1.500 ảnh màu, rất thuận tiện cho việc tra cứu [19] Có thể nói, tài liệu này đã giới thiệu một số lượng cây thuốc lớn nhất và đầy đủ nhất của nước ta cho tới nay Ngày nay việc nghiên cứu về cây thuốc ngày càng được chú trọng, ưu tiên để thúc đẩy sự phát triển của đất nước, trong sự nghiệp phát triển toàn diện, sánh vai với cường quốc năm châu
Trang 156
1.3 các công trình nghiên cứu khoa học về xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, Mỹ Đức, Hà Nội
Sau khi tìm hiểu thì tôi nhận thấy cho tới nay vẫn chưa thấy công trình khoa
học nào về xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở xã
An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội, hoặc đã có mà tôi chưa thể tìm ra, tôi nhận thấy Việc xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở địa phương là rất quan trọng nhằm tìm ra các vị thuốc chữa bệnh nhanh chóng và hiệu quả hơn, công trình của tôi là công trình đầu tiên nghiên cứu về việc xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội
Trang 167
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật hoang dại, bán hoang dại và cây trồng có tác dụng làm thuốc ở
xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội, trên cơ sở điều tra thực tế và các tài liệu có giá trị về tài nguyên loài được sử dụng làm thuốc ở việt nam cũng như trên thế giới có liên quan
2.2 Phạm vi nghiên cứu
xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội
2.3 Thực trạng kinh tế - xã hội nơi nghiên cứu Khu vực nghiên cứu
An Phú là một xã miền núi, có diện tích tự nhiên là 2.227 ha, dân số 6.877
người thuộc huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội
Địa hình: Thuộc vùng miền núi, bán sơn địa, gồm những dãy núi đá vôi bao bọc do vậy hệ sinh vật đa dạng về cả thực vật và động vật, là vùng chứa lũ rừng ngang từ tỉnh Hòa Bình đổ về Đồng ruộng xưa chỉ cấy được một vụ lúa, Vào mùa mưa cả xã ngập trắng xóa nước Có hai dân tộc chính là kinh và mường, những năm trước đây kinh tế chủ yếu dựa vào những công việc khai thác rừng và sản xuất nông nghiệp là chính, thu nhập bình quân đầu người còn thấp đời sống nhân dân còn gặp khó khăn Nhiều năm qua các công trình phúc lợi đã được xã hội hóa, Nhà nước và nhân dân cùng làm Từ năm 2005, được sự quan tâm của đảng, nhà nước, các cấp chính quyền đã lập nhiều dự án, vốn đầu tư trên 200 tỷ đồng chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội như hệ thống đê bao ngăn lũ, đường giao thông nông thôn, đường điện, trường học, nhà văn hóa thôn, công trình nước sạch Huyện đã tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân phát triển sản xuất Nhờ sự quan tâm của Nhà nước, đến nay cơ sở hạ tầng ở An Phú đã cơ bản hoàn thiện, sản suất nông nghiệp đã được diễn ra ở cả 2 vụ, nông dân tích cực nuôi trồng thủy sản, trồng sen, trồng các rừng keo và cây lấy gỗ, mở rộng các trang trại chăn nuôi gia súc gia cầm, đời sống nhân dân dần ổn định
Trang 17 Tìm hiểu các thông tin về đặc điểm nhận biết, giá trị tài nguyên
Tìm hiểu các sử dụng 1 số loài thực vật được sử dụng làm thuốc phổ biến ở
xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội
2.6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện “nghiên cứu xây dựng danh lục các loài thực vật được dùng
làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, Mỹ Đức, Hà Nội” chúng tôi sử dụng phương
pháp nghiên cứu thực vật học dân tộc học phối hợp các phương pháp nghiên cứu về
đa dạng và tài nguyên thực vật phổ biến hiện nay (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) [14] và và Gary J Martin (2002) [15]
Các bước tiến hành cụ thể gồm:
Nghiên cứu tài liệu: Nhằm kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến
đề tài
Điều tra thực địa: Nhằm thu thập các dữ liệu về đối tượng nghiên cứu (thu
thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái sống,… và các đặc điểm khác); thu thập số liệu về giá trị sử dụng
Dữ liệu cần thu thập gồm các loài thực vật được sử dụng làm thuốc và thông tin sử dụng cây thuốc từ dân địa phương và từ tài liệu Để thu mẫu vật, chúng tôi theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [14]; để thu thập dữ liệu từ dân địa phương, chúng tôi theo phương pháp điều tra cộng đồng của Gary J Martin (2002)[15]
Biểu 1 Mẫu thu thập dữ liệu trên tuyến
Tuyến số: Ngày điều tra: Người/nhóm điều tra: Trạng thái rừng/kiểu sinh cảnh: Vị trí: Chân/sườn/đỉnh:
Tên La Tinh Tên Việt Nam Nguồn
gốc
Bộ phận dùng và cách
dùng
Trang 189
Phân tích và xử lý số liệu:
Để tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) [1] và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [13]
Để xác định tên khoa học các loài, chúng tôi căn cứ vào Cây cỏ Việt Nam của
Phạm Hoàng Hộ (1999- 2003) [13, 14, 15] Nếu vẫn còn nghi ngờ kết quả, chúng tôi tiến hành thu mẫu để tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại
Để chỉnh lý tên khoa học, chúng tôi căn cứ vào Danh lục các loài thực vật Việt Nam do Nguyễn Tiến Bân làm chủ biên (2003, 2005) [2] và Trung tâm nghiên cứu Tài
nguyên và Môi trường Đại học quốc gia Hà Nội công bố năm 2001[8]
Thông tin về cách sử dụng, chúng tôi tham khảo từ tài liệu và từ bà Vũ Thị Hợp thôn Đồng Chiêm, Xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nộikết hợp với các tài liệu: Từ điển cây thuốc Việt Nam [5], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, [12]
Trang 191 ALLIACEAE AGARDH, 1858 - HỌ HÀNH
1 Allium ascalonicum L
1759
Hành ta Trồng Toàn cây được dùng làm thuốc
gây toát mồ hôi, thông huyết, kích thích tiêu hóa, kháng khuẩn, điều kinh
2 AMARANTHACEAE JUSS 1789- HỌ RAU DỀN
Trang 2011
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
Cành và lá làm thuốc đắp chữa đinh nhọt; sỏi thận; hạt và rễ trị bệnh tim
3 AMARYLLIDACEAE JAUME, 1805- HỌ NÁNG (THỦY TIÊN)
5 Crinumlatifolium L
1753
Trinh nữ hoàng cung
Trồng Lá được dùng làm thuốc chữa
u xơ, ung thư tử cung ( đối với phụ nữ), u xơ và ung thư tiền liệt tuyến (đối với nam giới)
4 APIACEAE LINDL 1836- HỌ THÌA LÀ
6 Centella asiatica (L.)
Urb In Mart 1879
Rau má Hoang
dại
Toàn cây được dùng làm thuốc
có tác dụng thanh nhiệt, lợi sữa, mau lành vết thương, tả
lỵ, khí hư, bạch đới, lợi sữa, chữa mẩn ngứa
8 Artemisia Vulgaris
L.1753
Ngải cứu Trồng Toàn cây dùng làm thuốc điều
kinh và thông huyết cho phụ
nữ, kích thích thần kinh, làm thuốc chữa thần kinh tọa, lá
Trang 2112
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
khô dùng làm mồi cứu đông y
10 Eupatorium Odoratum
L 1759
Cỏ lào, Yên lạc
Hoang dại
Lá giã nhỏ đắp lên vết thương
sẽ cầm máu rất nhanh Lá cỏ Lào cùng với lá xoan thả xuống
mồ hôi
6 BASELLACEAE MOQ 1840- HỌ MỒNG TƠI
nhuận tràng, giải độc, lá giã đắp chữa mụn nhọt, bỏng lửa, lang ben
7 CELASTRACEAE - HỌ DÂY GỐI
Trang 2213
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
8 CUCURBITACEAE JUSS 1789- HỌ BẦU BÍ
15 Momordica
Cochinchinensis (Lour.)
spreng 1826
Gấc Trồng Tinh dầu Gấc chiết xuất từ
ruột Gấc chữa khô mắt, dầu nhân hạt trị mụn nhọt, sưng tấy, tắc tia sữa
9 DRACAENACEAE SALISB 1866- HỌ HUYẾT GIÁC
đẻ rồi nhưng xót rau thai
10 EUPHORBIACEAE JUSS 1789- HỌ THẦU DẦU
Hoang dại
Dùng toàn cây làm thuốc chữa sỏi thận, giải độc, mát gan, lợi tiểu
18 Sauropus androgynus
(L.) Merr 1903
Rau ngót Trồng Dùng lá chữa sót rau thai,
giảm đau bụng khi sinh nở, chữa tưa lưỡi trẻ em
11 FABACEAE LINDL 1836- HỌ ĐẬU
Trang 2314
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
(Lour) Merr 1935 Var
chinensis (Ohwi) Maesen,
1988; Syn P lobata
(Wild) Ohwi var
thomsonii (Roxb.) Benth
trồng có tác dụng thanh nhiệt giải
Hoang dại
Toàn cây dùng để chữa cảm nắng, đau bụng, tức ngực, nôn mửa do tiêu chảy, ăn uống kém
21 Elsholtzia Ciliata
(Thunb.) Hyland 1941
Kinh giới Trồng Toàn cây dùng làm thuốc phá
sốt, nhức đầu, chảy máu cam, chữa sởi, các chúng mẩn ngứa
lở loét ngoài da
22 Ocimum basilicum L
1735
Húng chó Trồng Toàn cây dùng để chữa cảm
sốt, thân và lá nấu nước súc miệng và ngậm chữa đau răng
23 Penrilla frutes (L.)
Britt 1894
Tía tô Trồng Toàn cây dùng làm thuốc
chữa cúm, xổ mũi, nhức đầu, hạt có dầu béo, dùng trị ho
13 MAVACEAE JUSS 1789- HỌ BÔNG (BỤP)
24 Abutilon indicum (L.)
Sweet, 1826
Cối xay, Nhĩ hường
Hoang dại
Dùng toàn cây sắc uống giúp thông tiểu tiện, mát gan, kinh nguyệt không đều, táo bón
14 MORACEAE LINK, 1831- HỌ DÂU TẰM
Trang 2415
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
Dâu tàu sâu dâu chữa còi xương ở trẻ
em; Tổ bọ ngựa (tang phiêu tiêu) chữa đái dầm ở trẻ nhỏ; ngọn non giã nát chữa viêm
tuyến vú; vỏ và rễ cây chữa ho
15 MUSACEAE JUSS 1789- HỌ CHUỐI
Ổi Trồng Búp non, lá ổi và vỏ quả xanh
có tác làm thuốc chữa tiêu chảy, làm giảm đái tháo đường
17 NELUMBONACEAE DUMORT 1829- HỌ SEN
29 Nelumbo nucifera
Gaertn 1788
Sen Trồng Tâm sen, ngó sen, lá sen làm
thuốc bồi bổ cơ thể, an thần, chữa chảy máu cam
18 PANDANACEAE R.BR 1810- HỌ DỨA DẠI
Trang 2516
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
19 PIPEACEAE AGRAHD, 1824- HỌ HỒ TIÊU
kháng khuẩn, diệt 1 số chủng nấm, viêm loét, lá nấu nước rửa vết thương, vết loét, đắp ngoài da để chữa viêm mạch bạch huyết, trị chốc lở
dụng tiêu thực, chữa đau nhức xương khớp, cây hơ nóng làm thuốc đắp giảm đau xương, dùng toàn cây
20 POACEAE BARNH 1895- HỌ HÒA THẢO
21 POLYGONACEAE JUSS 1789- HỌ RAU RĂM
34 Polygonum Odoratum
Lour 1790
Rau răm Trồng Toàn cây làm thuốc kích thích
tiêu hóa, dịu dục, chữa rắn độc cắn, hắc lào, liều cao làm tê liệt ruột và gây trụy thai
22 POTULACACEAE JUSS 1789- HỌ RAU SAM
35 Potulaca Oleracea L
1753
Rau sam Trồng Toàn cây làm thuốc chữa kiết
lị, trĩ, sỏi niệu, dùng được toàn cây, chữa mụn nhọt lở ngứa, eczema, trẻ em bị chốc lở đầu
Trang 2617
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
23 ROSACEAE JUSS 1789- HỌ HOA HỒNG
24 RUTACEAE JUSS 1789- HỌ CAM
37 Citrus aurantifolia
(Christm, Panzer)
Swingle, 1913
Chanh Trồng Qủa và lá dùng làm thuốc giải
nhiệt, thông can khí, tiêu thũng, tán độc và hoạt huyết, khỏi ho, tiêu thực, quả giúp thanh nhiệt, khỏi nôn, tiêu thực, sát trùng, sáng mắt
25 SAURURACEAE E MEY 1827- HỌ GIẤP CÁ
38 Houttuynia cordata
(thunb.) DC.)
Giấp cá Trồng Dùng thân và lá giã nát lấy
nước uống làm thuốc hạ sốt, nhiệt miệng
26 SCROPHULARIACEAE JUSS 1789- HỌ HOA MÕM CHÓ
39 Scoparia dulcis L
1753
Cam thảo đất
Hoang dại
Toàn cây dùng làm thuốc có tác dụng bổ tỳ, cường dục, nhuận phế, thanh nhiệt giải độc
27 SOLANACEAE JUSS 1789- HỌ CÀ
Trang 2718
Nam
Nguồn gốc Bộ phận dùng và cách dùng
29 ZINGIBERACEAE LINDL 1835- HỌ GỪNG
42 Curcuma Zedoaria
(Berg) Rosc 1807
Nghệ Trồng Củ nghệ làm thuốc chữa đau
dạ dày (thường dùng với bạch chuật), viêm gan, dùng trong các sẳn phẩm dưỡng da
43 Zingiber Officinale
Rosc 1807
Gừng Trồng Củ làm thuốc ho, làm long
đờm, nước gừng làm tăng huyết áp, được dùng cho những bệnh nhân huyết áp thấp
- Qua nghiên cứu xây dựng danh lục các loài cây được dùng làm thuốc phổ biến ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội có 43 loài, thuộc 29 họ
- Về nguồn gốc: Hoang dại gồm 22 loài (chiếm 51,2%); cây trồng gồm 21 loài (48,8%)
- Về hình thái: 29 loài là cây thảo (chiếm 67,4%); 4 loài là cây bụi (9,3%); 4 loài là cây gỗ (9,3%); 6 loài là cây leo (14%)
Trang 2819
- Về công dụng: Các loài cây có tác dụng chữa bệnh ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, TP.Hà Nội được chia thành 4 nhóm chính: 8 loài được dùng làm thuốc chữa mụn nhọt, nóng trong người gồm : Rau má, Cỏ mần trầu, Rau sam, Giấp cá, Cam thảo đất, Sắn dây, Mùng tơi, Rền cơm (chiếm 18,6%); 5 loài làm thuốc mát gan gồm : Xạ đen, Cối xay, Cà gai leo, Vối rừng (11,6%); 5 loài làm thuốc thông huyết, toát mồ hôi gồm: Hành ta, Kinh giới, Húng chó, Tía tô, Lá lốt ( 11,6%), 5 loài làm thuốc chữa nhức đầu gồm: Cúc tần, Hoắc hương núi, Bách bộ, Ngải cứu, Sen (11,6%) Ngoài ra còn … loài được dùng làm rau và một số loài được dùng chữa 1
số bệnh khác
Trang 2920
3.2 Đặc điểm nhận biết
3.2.1 Hành ta (Allium ascalonicum L 1759):
Cỏ nhiều năm, cao 50 cm, thân hành (do
bẹ lá phồng lên tạo thành) có đường kính
tới 2 cm, có tinh dầu thơm Lá đơn, gồm
5- 6 lá, hình trụ rỗng, dài 30- 50 cm
Cụm hoa xim hình tán giả, mọc trên 1
cán mang hoa hình trụ rỗng Bao hoa
gồm 2 vòng, mỗi vòng gồm 3 mảnh màu
trắng Nhị 6, chỉ nhị phình ở gốc; bao
phấn 2 ô Bầu thượng, 3 ô, mỗi ô có
nhiều noãn Quả nang hình cầu, đường
kính cỡ 6 mm, hạt hình 3 cạnh, màu đen
Ảnh 3.2.1 Allium ascalonicum L 1759
(ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ
Đức- Hà Nội)
Phân bố và sinh thái: Được trồng ở khắp nơi trong nước ta, còn được trồng ở
nhiều nước Châu Á và Châu Âu khác Thích hợp với khí hậu mát mẻ; đất ẩm và có
nhiều mùn Mùa hoa chủ yếu vào tháng 10- 1 (năm sau)
Thành phần hóa học: Trong hành có axit malic, phytin và chất alysunfit Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm, chủ yếu để làm gia vị,
đồng thời dùng làm thuốc Toàn cây có vị cay, không độc, thông dương, hoạt huyết, dùng làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, sắc uống lấy nước chữa các chứng sốt, sốt rét, cảm, nhức đầu, mặt mày phù nhũng Còn làm thuốc an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng Hiện nay người ta phát hiện hành có công dụng sát khuẩn, chữa mụn nhọt mưng mủ, dùng nước hành nhỏ mũi chữa ngạt mũi, nhức đầu… Có thể dùng 30- 60g dưới hình thức sắc uống hay cho vào cháo ăn cùng hay giã nát lấy nước ép uống
Trang 3021
3.2.2 Cỏ xước (Achyranthes aspera L 1753):
Cây thân thảo sống một vài năm, cao
khoảng 20–120 cm, Thân hình vuông,
có lông tơ Các mấu phình to giống
như khớp đầu gối bò, nên có tên ngưu
(bò) + tất (đầu gối) Lá đơn, nguyên,
mọc đối, phiến lá hình trứng hay bầu
dục, mép nguyên hay có khía răng
cưa Cụm hoa bông, mọc ở đầu cành
hay nách lá Quả nang hình bầu dục có
lá bắc tồn tại tạo thành gai nhọn, dễ
bám vào quần áo khi đụng phải
Ảnh 3.2.2 Achyranthes aspera L 1753 (ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ
Đức- Hà Nội)
Phân bố và sinh thái: Phổ biến khắp châu Á như: Nhật Bản, Triều Tiên,
Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Nepal, Ấn Độ, Sri Lanka, Bhutan, Nepal, Philippines, Indonesia, Malaysia Cũng có ở châu Phi, châu
Âu và Tây Nam Á Ở Việt Nam, loài này mọc hoang khắp cả nước ở những chỗ ven đường, nương rẫy ruộng vườn bỏ hoang nơi có ánh sáng đầy đủ và đất còn nhiều dinh dưỡng Mùa hoa tháng 6- 8; quả chín tháng 10
Thành phần hóa học: Rễ chứa saponin, trong đó phần aglycon là acid
oleanolic, phần đường là glucose, galactose, rhamnose Rễ chứa ecdisteron, achiranthin; thân chứa K; hột chứa saponin
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm, sau khi thu hái phơi khô
sắc nước uống Thân và rễ dùng làm thuốc sắc uống chữa cảm, xỏ mũi, đái buốt, kinh nguyệt không đều
Trang 3122
3.2.3 Rau dệu (Alternanthera sessilis (L.) Blume, 1826):
Thân thảo, bò, dài tới 1 m;
thân có 4 cạnh, màu tím Phân
thành nhiều nhánh và ở mỗi khớp
phân nhánh thường có rễ phụ Lá
đơn, nguyên, mọc đối, không có
cuống, hình bầu dục đến thuôn, dài
1 - 3 cm Cụm hoa bông, hình cầu
hoặc hình trứng, màu trắng mọc ở
nách lá Bao hoa đơn, 5 mảnh, tồn
tại ở quả Nhị 3 Bầu 2 ô Quả hạch
khô, có bao hoa bao bên ngoài Hạt
1, hình thận hay hình tim
Ảnh 3.2.3 Alternanthera sessilis (L.)
Blume, 1826 (ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ Đức-
Hà Nội)
Phân bố và sinh thái: Mọc hoang ven ao sông đầm hồ những ruộng, bãi đất
ẩm nhiều dinh dưỡng khắp cả nước và ở nhiều nước khác trên thế giới Mùa hoa quả rải rác từ tháng 4- 9
Thành phần hóa học:nước 89,3%; protid 4,5%; glucid 1,9%; cellulose 2,1%; khoáng toàn phần 2,2%; calcium 98mg%, phosphor 22mg%, sắt 12mg%, caroten 5,1mg% và vitamin C 77,7mg%
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm, chế biến như các món rau thông thường Có tác dụng chống viêm, lợi tiểu, lọc máu, tiêu sưng, chống ngứa, giải nhiệt độc Thường dùng để chữa bệnh đường hô hấp, viêm hầu họng, ho ra máu, đi cầu ra máu, kiết lỵ, đi tiểu khó, tiểu ít, viêm đường tiểu, viêm da
Trang 3223
3.2.4 Dền Cơm (Amaranthus lividus L 1753):
Cây thân thảo, cao tới 1 m, thẳng
hoặc hướng lên, phân nhánh nhiều,
không lông, có gai ở nách lá Lá đơn,
mọc cách, hình trứng, dài 4 - 10 cm
Cụm hoa bông, đơn hoặc kép, mọc ở
đỉnh cành hay nách lá Hoa đều, nhỏ,
lưỡng tính, mẫu 5; đài khô xác, không
có tràng; nhị 5; bầu 2(- 3) ô; quả hộp;
hạt hình thấu kính
Phân bố và sinh thái: Mọc
hoang khắp cả nước và ở nhiều vùng
nhiệt đới trên thế giới
Ảnh 3.2.4 Amaranthus lividus L 1753
(ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ
Đức- Hà Nội)
Thành phần hóa học ( theo Hooper): Nước 52,10% (tươi), chất béo 2,21%
(khô), alblumenoids 19,43% (khô), glucid 38.35% (khô), chất xơ thực phẩm 19,82% (khô), tro 20,20% (khô), Azote 3,11% (khô), phosphoric axít 1,13% (khô), silicates 1,90% (khô)
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hoạch quanh năm Rễ rửa sạch, cắt thành
lát mỏng và phơi khô Có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, trừ thấp, ngừng tả Cành và
lá làm thuốc đắp chữa đinh nhọt; sỏi thận; hạt và rễ trị bệnh tim… Lá và thân non được dùng làm rau
Trang 3324
3.2.5 Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium L 1753):
Cỏ, thân hành như củ hành
tây to, đường kính 10- 15cm, bẹ lá
úp vào nhau thành 1 thân giả dài
khoảng 10- 15cm, có nhiều lá
mỏng kéo dài từ 80- 100cm, rộng
3- 8cm, hai bên mép lá lượn sóng
Gân lá song song, mặt trên lá lõm
Phân bố và sinh thái: Được trồng phổ biến khắp cả nước và nhiều nước khác
trên thế giới Cây có khả năng thích ứng rộng, trong mọi điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu Hoa quả quanh năm
Thành phần hóa học: Trong cây chứa nhiều Latisolin, Pratorimin, ambelin,
lycorin, crinafolidin, ancaloit
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm; thường dùng lá; dùng tươi
hay phơi khô, hoặc thái nhỏ sao vàng Ở 1 số nước người ta còn dùng cánh hoa, thân, thái nhỏ phơi khô Dùng chữa U xơ, ung thư tử cung (đối với phụ nữ), u xơ và ung thư tiền liệt tuyến (đối với nam giới) Cách dùng: ngày uống nước sắc của 3 lá trinh nữ hoàng cung hái tươi, thái nhỏ ngắn 1- 2cm, sao khô màu hơi vàng, uống luôn trong 7 ngày, rồi nghỉ 7 ngày, sáu đó lại uống tiếp 7 ngày nữa, lại nghỉ 7 ngày
và uống tiếp 7 ngày Tổng cộng 3 đợt uống là 63 lá, xen kẽ hai đợt nghỉ uống mỗi đợt 7 ngày
Trang 3425
3.2.6 Rau má (Centella asiatica (L.):
Cỏ mọc bò, có rễ ở các mấu, thân
mảnh, nhẵn, toàn cây có tinh dầu thơm
Lá có bẹ ôm mấu hình tim, rộng 2- 4cm
trong những nhánh mang hoa và dài 10-
12 cm trong những nhánh thường Cụm
hoa tán, mọc ở kẽ lá, gồm 1 đến 5 hoa
nhỏ Hoa lưỡng tính, mẫu 5; nhị 5, bao
phấn đính lưng; bầu hạ 2 ô, mỗi ô có 1
noãn Quả bế đôi dính nhau ở đỉnh
Phân bố và sinh thái: Mọc hoang
tại khắp nơi ở Việt Nam , các nước
vùng nhiệt đới như Lào, Campuchia,
Indonesia, Ấn Độ…Toàn cây khi tươi
có vị đắng, hăng hơi khó chịu , khi khô
thì chỉ còn mùi cỏ khô
Ảnh 3.2.6 Centella asiatica (L.) Urb In
Mart.1879 (ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ Đức-
Hà Nội)
Thành phần hóa học: Theo Baus và Lamsal (1947) trong rau má có 1
ancoloit gọi là hydrocotylin có độ chảy 210- 212 0 C
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm, giã nát vắt lấy nước cho
thêm chút đường rồi dùng trực tiếp hoặc chế biến như các món rau thông thường, dùng trong các bài thuốc giải nhiệt, giải độc, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, lợi sữa, chữa mẩn ngứa
Trang 3526
3.2.7 Cứt lợn (Ageratum conyzoides L 1753):
Cỏ mọc hằng năm, thân có nhiều
lông nhỏ mềm, cao khoảng 25- 50cm, Lá
mọc đối, hình trứng hay tam giác, cỡ 2- 6
x 1- 3 cm, hai mặt đều có lông Cụm hoa
đầu Hoa nhỏ màu tím hoặc trắng Quả
hạch khô, màu đen có 5 sống dọc Hạt 1
Phân bố và sinh thái: Mọc hoang
ở khắp nơi trong nước ta, người ta hái
toàn cây cắt bỏ rễ
Thành phần hóa học:
Trong cây có khoảng 0,16% tinh
dầu đặc ( cây khô kiệt) tỷ trọng
1.109.αD=1020, chỉ soosaxit 0,9 , chỉ số
este 11,2 Trong hoa có 0,2% tinh dầu,
có mùi gây nôn Trong tinh dầu hoa lá
đều có cadinen, caryophyllen,
geratocromen, demetoxygeratocromen
Ảnh 3.2.7 Ageratum conyzoides L 1753
(ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ Đức-
Hà Nội)
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm, hái 30- 50g cây tươi, đem
về rử sạch giã nát, vắt lấy nước và uống trong ngày, uống trong 3- 4 ngày chữa rong huyết sau khi sinh nở, ngoài ra còn dùng chữa viêm xoang mũi dị ứng mới phát hiện: Hái cây tươi về rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước tẩm vào bông Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau
Trang 3627
3.2.8 Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.1753):
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thường hái cành và lá vào tháng 6, phơi khô
để nơi dâm mát Dùng làm rau ăn; chữa đau bụng do hàn, kinh nguyệt không đều, thổ huyết, máu cam, kích thích thần kinh, chữa thần kinh toạ; lá khô dùng làm mồi cứu trong đông y
Cỏ nhiều năm, cao 50- 60 cm,
mọc đứng, có dãnh dọc Thân và lá có
tinh dầu xineol Lá đơn, mọc cách,
không có cuống, xẻ thùy lông chim,
mầu lá ở 2 mặt rất khác nhau, mặt dưới
màu trắng tro do có rất nhiều lông nhỏ
màu trắng Hoa mọc thành chùy kép
gồm rất nhiều cụm hoa hình đầu
Phân bố và sinh thái:
Trồng và mọc hoang ở nhiều nơi
trong nước ta, còn thấy mọc ở nhiều
nước khác ở Châu Á, Châu Âu
Thành phần hóa học: Hiện nay
chỉ mới biết trong Ngải cứu có tinh dầu,
ít tanin, thành phần chủ yếu trong tinh
dầu Ngải cứu là xineol và α- thuyon,
ngoài ra còn 1 ít adenin, cholin
Ảnh3.2.8 Artemisia vulgaris L.1753
(ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ
Đức- Hà Nội)
Trang 3728
3.2.9 Nhọ nồi (Elipta prostrata (L.) L 1771:
Cỏ mọc đứng, cao tới 80 cm; thân màu
tím, có lông cứng Lá mọc đối, hình
thuôn, cỡ 2- 8 x 1- 1,5 cm Cụm hoa
đầu, màu trắng ở kẽ lá hoặc đầu cành,
lá bắc thon dài 5- 6mm, cũng có lông
Quả hạch khô, có 3 cạnh hoặc có cánh
Hạt 1
Phân bố và sinh thái : Mọc hoang khắp
cả nước ở những chỗ ven đường, nương
rẫy ruộng vườn bỏ hoang nơi có ánh
sáng đầy đủ và đất còn nhiều dinh
dưỡng
Ảnh 3.2.9 Elipta Prostrata (L.) L 1771
(ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ Đức-
Hà Nội)
Thành phần hóa học: chứa 1 ít tinh dầu tanin, chất đắng, caroten và chất
ancaroit gọi là ecliptin và 1 số chất khác
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm, dùng tươi giã nát đắp trực
tiếp vào vết thương đang chảy máu có tác dụng cầm máu, lá dùng nhuộm đen tóc; thân và lá dùng trị nôn ra máu, xuất huyết dạ dày, tử cung, viêm gan
Trang 3829
3.2.10 Cỏ lào, Yên lạc (Eupatorium odoratum L 1759):
Cây thảo hay nửa bụi, cao 1- 2
m; cành nằm ngang Lá mọc đối,
hình trứng, mép có răng, cuống dài
1- 2 cm, có 3 gân chính Cụm hoa
đầu, họp thành ngù kép, mỗi cụm
hoa có bao chung gồm nhiều lá bắc
xếp 3- 4 hàng Hoa nhiều, màu trắng
hoặc phớt tím Quả bế hình thoi, 5
cạnh, có lông
Ảnh 3.2.10 Eupatorium odoratum L 1759
(ảnh V.T.Ngân, 2017, An Phú- Mỹ Đức-
Hà Nội)
Phân bố và sinh thái: Cây có nguồn gốc ở đảo Angti, được truyền bá vào
nước ta, gặp nhiều ở các vùng đồi núi khắp nơi Cỏ lào mọc rất khỏe, phát triển nhanh trong mùa mưa, có khả năng tái sinh rất mạnh Cây ra hoa vào cuối mùa
đông, đầu mùa xuân ngọn cành mang hoa, dùng toàn cây chủ yếu là lá
Thành phần hoá học: Cỏ lào chứa 2,65% đạm; 0,5% phosphor và 2,48%
kalium Các bộ phận của cây đều chứa tinh dầu, alcaloid, tanin
Thu hái, chế biến và sử dụng: Thu hái quanh năm, thường ta hay dùng lá
tươi cầm máu, giã nát đắp trực tiếp vào vết thương đang chảy máu, ngoài ra lá tươi còn giúp liền độc, chống viêm Lá, thân, rễ Cỏ Lào đều có tác dụng, nhưng lá tốt hơn