LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Đánh giá hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo củangân hàng chính sách xã hội tại huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận” là công trình n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Quyết định giao đề tài: 414/QĐ-ĐHNT ngày 26/5/2016
Quyết định thành lập hội đồng: 145/QĐ-ĐHNT ngày 05/3/2018
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN NGỌC Chủ tịch Hội Đồng:
TS NGUYỄN THÀNH CƯỜNG
Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Đánh giá hoạt động tín dụng đối với
hộ nghèo củangân hàng chính sách xã hội tại huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận”
là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Đào Thị Như Ý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, UBND huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, Chi cục thống kê Thuận Bắc và Ngân hàng Chính sách xã hội huyện đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài
Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ban giám hiệu trường Đại Học Nha Trang, khoa Sau Đại học cùng các quý thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn Ngọc đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này Qua đây, tôi xin gủi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và tất cả bạn bè
đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Đào Thị Như Ý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 7
1.1 Khái niệm về nghèo 7
1.2 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo 8
1.2.1 Xác định ngưỡng nghèo 8
1.2.2 Các tiêu chí xác định nghèo 9
1.2.3 Đánh giá, phân loại hộ nghèo 10
1.2.4 Các chỉ số đo lường và đánh giá nghèo 11
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình 13
1.3.1 Nhóm 1: Các yếu tố yếu tố sản xuất 14
1.3.2 Nhóm 2: Các yếu tố môi trường 15
1.3.3 Nhóm 3: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của hộ gia đình 15
1.3.4 Nhóm yếu tố dân tộc 15
1.4 Vấn đề tín dụng đối với hộ nghèo 16
1.4.1 Tín dụng đối với hộ nghèo 16
1.5 Hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo 18
1.5.1 Tại Ngân hàng chính sách xã hội 18
1.5.2 Về phía hộ nghèo 21
1.6 Kinh nghiệm về hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo 23
1.6.1 Kinh nghiệm một số nước 23
1.6.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 26
Tóm tắt Chương 1 27
Trang 6CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA
NHCSXH HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN 28
2.1 Giới thiệu chung về tình hình kinh tế - xã hội và tình hình đói nghèo của huyện Thuận Bắc 28
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận 28
2.1.2 Tình hình đói nghèo của huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận 32
2.2 Tổng quan về Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thuận Bắc 38
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 38
2.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động 39
2.3 Kết quả khảo sát hoạt động tín dụng hộ nghèo củahuyện Thuận Bắc 49
2.4 Đánh giá chung 53
2.4.1 Kết quả đạt được 53
2.4.2 Khó khăn 55
Tóm tắt chương 2 56
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NHCSXH HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH, NINH THUẬN 57
3.1 Định hướng hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Thuận bắc 57
3.2 Giải pháp về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý 57
3.2.1 Đối với Phòng giao dịch Thuận Bắc 57
3.2.2 Về hoạt động tín dụng 58
3.3 Giải pháp về con người 58
3.4 Giải pháp về cơ sở vật chất 59
3.5 Giải pháp về mối liên quan giữa các cấp 59
3.6 Giải pháp về quan hệ giữa các bộ phận đơn vị 60
3.7 Giải pháp về xây dựng được sự hài hòa giữa khách hàng và ngân hàng 60
Tóm tắt chương 3 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Những yếu tố chính ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình 14
Bảng 2.1: Diện tích, dân số của huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận 29
Bảng 2.2: Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cuối năm 2015 theo huyện, tỉnh Ninh Thuận 33
Bảng 2.3: Tốc độ tăng giảm hộ nghèo theo huyện, tỉnh Ninh Thuận 33
Bảng 2.4: Nghèo theo mức độ thiếu hụt theo huyện, tỉnh Ninh Thuận 37
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn của NHCSXH huyện Thuận Bắc 41
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động tín dụng của NHCSXH huyện Thuận Bắc, giai đoạn 2013-2016 43
Bảng 2.7: Tình hình ủy thác qua các hội đoàn thể tại NHCSXH huyện Thuận Bắc 48
Bảng 2.8: Mô tả đặc điểm hộ gia đình mẫu điều tra 49
Bảng 2.9: Mô tả đặc điểm nghề nghiệp của chủ hộ gia đình 50
Bảng 2.10: Nguồn thu nhập của hộ gia đình 51
Bảng 2.11: Tham gia vay vốn và thỏa mãn với nghề nghiệp hiện tại 52
Bảng 2.12: Tình hình sử dụng tiền vay của các hộ điều tra 52
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Cơ cấu hộ trong tổng hộ dân từng huyện, thành phố 34
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức- quản lý PGD NGHCSXH Huyện Thuận Bắc 39
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
- Tính cấp thiết của đề tài: Huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận có dân số gần
41.000 người, trong đó có trên 70% là đồng bào dân tộc thiểu số (người Raglai chiếm 63%), đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Trong 6 xã (32 thôn) toàn huyện,
có 3 xã Phước Kháng, Phước Chiến, Bắc Sơn và 2 thôn Ấn Đạt, Suối Đá (Lợi Hải) thuộc
diện đặc biệt khó khăn (UBND huyện Thuân Bắc, 2017)
Từ khi thành lập đến nay, NHCSXH huyện Thuận Bắc đã từng bước trưởng thành và khẳng định vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế - Xóa đói giảm nghèo tại địa phương Trong thời gian qua, hoạt động của đơn vị luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của chính quyền địa phương, từ đó góp phần đáng kể
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Thuận Bắc đã bộc lộ những tồn tại nhất định Việc phân tích đánh giá những kết quả đạt được và nguyên nhân của tồn tại, từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo củađơn vị, góp phần hoàn thiện hoạt động của Hệ thống NHCSXH Việt Nam; đồng thời thể hiện được vai trò công cụ tài chính tích cực của NHCSXH huyện Thuận Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xóa đói giảm nghèo của huyện là rất cần thiết
- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hoạt động của hoạt động tín dụng đối với hộ
nghèo của NHCSXH huyện Thuận Bắc tỉnh Ninh Thuận, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo trong thời gian tới
- Kết quả nghiên cứu: Kết quả thực hiện cho vay đối với hộ nghèo có hoàn
cảnh khó khăn tại Ngân hàng CSXH huyện Thuận Bắc trong giai đoạn qua là khá tốt, thể hiện qua doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ đều tăng qua các năm Bên cạnh đó, qua kết quả khảo sát 100 hộ có vay vốn thì phần lớn đều hài lòng với quy trình, thủ tục cho vay cũng như đồng tình với phương thức cho vay hiện nay đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Thuận Bắc
Tuy nhiên, chất lượng tín dụng của chương trình này chưa cao, thể hiện qua nợ quá hạn tăng nhanh và khả năng thu hồi đạt tỷ lệ thấp Bên cạnh đó, theo phân tích số liệu khảo sát thì nguồn vốn vay từ NHCSXH chỉ đáp ứng hết nhu cầu vay của người
Trang 11dân, hầu hết người vay vẫn muốn NHCSXH cho vay nhiều hơn Do đó, ngoài khoản vay được từ NHCSXH cộng với khoản thu nhập từ sản xuất, kinh doanh thì các hộ gia đình phải vay thêm từ các Ngân hàng khác hoặc mượn của người thân, bạn bè, vay của
cá nhân khác, thậm chí phải cầm cố tài sản, ruộng đất
Từ các vấn đề nêu trên, đề tài đã đề xuất một số nhóm giải pháp góp phần nâng cao chương trình cho vay hộ nghèo tại NHCSXH huyện Thuận Bắc như: Nhóm giải pháp về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; Nhóm giải pháp về con người hay Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất…
Từ khóa: Hộ nghèo, Ninh Thuận, Tín dụng, Thuận Bắc
Trang 12MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu Hầu hết các quốc gia đều quan tâm đến chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo Việt Nam luôn coi vấn đề xóa đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 14,2% Các năm sau đó, tỷ lệ này
đều giảm dần: năm 2011 giảm còn 11,76%; năm 2012 giảm còn 9,6%; năm 2013 giảm
còn 7,8%; năm 2014 giảm còn 5,97% Năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn dưới 5% theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015 Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo đã giảm từ 50,97% cuối năm 2011 xuống còn 38,2% cuối năm 2013; 32,59% cuối năm 2014; bình quân giảm trên 5%/năm Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân trên 5%/năm, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra theo Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ
từ năm 2011 - 2020 và Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình MTQG Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 –
2015 (Tổng cục thống kê, 2016)
Ninh Thuận là một trong những tỉnh nghèo của khu vực Duyên hải miền Trung, có địa hình 3/4 diện tích là miền núi; 78% dân số là dân tộc Kinh, 12% dân tộc Chăm và Răklay, 9% còn lại là đồng bào các dân tộc khác Toàn tỉnh có 06 huyện, 01 thành phố (1 huyện miền núi đặc biệt khó khăn, được đầu tư theo Nghị quyết 30a của Chính phủ); 47 xã,
15 phường và 3 thị trấn (25 xã đặc biệt khó khăn); 402 thôn, khu phố Dân số gần 590.000 người; trong đó, dân tộc thiểu số chiếm hơn 22%, tín đồ các tôn giáo trên 42% Nhiều năm qua, ý thức vươn lên thoát nghèo của người dân còn nhiều hạn chế, các tập quán sinh sống, làm ăn ấu trĩ lạc hậu còn tồn tại, nhất là ở vùng có nhiều đồng bào thiểu số (UBND tỉnh Ninh Thuận, 2017)
Huyện Thuận Bắc có dân số gần 41.000 người, trong đó có trên 70% là đồng bào dân tộc thiểu số (người Raglai chiếm 63%), đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Trong 6 xã (32 thôn) toàn huyện, có 3 xã Phước Kháng, Phước Chiến, Bắc Sơn và 2 thôn Ấn Đạt, Suối Đá (Lợi Hải) thuộc diện đặc biệt khó khăn (UBND huyện Thuân Bắc, 2017)
Với một nhà kinh doanh nào cũng đều hiểu đầu tư là cách tốt nhất để bảo toàn
và phát triển đồng vốn của mình hoặc ít nhất cũng bù đắp được những chi phí do lạm
Trang 13phát gây ra Trong khi đó, người nghèo lại có nhu cầu vốn rất lớn nhưng không phải là đối tượng đáng để các nhà kinh tế bỏ vốn vào đầu tư do tâm lý e ngại về thời gian và khả năng thu hồi vốn, vì thế cơ hội phát triển kinh tế của người nghèo trở nên rất khó khăn Nghèo đói đã trở thành gánh nặng, là nỗi lo của mọi xã hội, mọi Nhà Nước, mọi quốc gia Xóa đói giảm nghèo sẽ góp phần ổn định xã hội, từ đó phát triển kinh tế Với
ý nghĩa đó, ngày 4/12/2002 Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam (NHCSXH VN) được thành lập theo quyết định 131/QĐ-TTg và Nghị định số 78/2002/NĐ-CP của Chính Phủ nhằm tạo ra một kênh riêng biệt thực hiện công tác hỗ trợ vốn cho người nghèo và các đối tượng chính sách
NHCSXH Việt Nam ra đời, một hệ thống dọc Ngân hàng Chính sách từ Trung Ương đến địa phương nhanh chóng được thành lập Cùng với các Phòng giao dịch khác, Phòng giao dịch NHCSXH huyện Thuận Bắc chính thức đi vào hoạt động từ khi tách huyện Từ khi thành lập đến nay, NHCSXH huyện Thuận Bắc đã từng bước trưởng thành và khẳng định vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế - Xóa đói giảm nghèo tại địa phương Trong thời gian qua, hoạt động của đơn vị luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của chính quyền địa phương, từ đó góp phần đáng kể vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội của huyện
Chính sách tín dụng đối với hộ nghèo đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, góp phần quan trọng trong công tác phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo đạt theo mức phấn đấu từng giai đoạn Thông qua chính sách tín dụng đối với hộ nghèo đã
hỗ trợ nguồn vốn để hộ nghèo có điều kiện phát triển kinh tế, con em được cắp sách đến trường, cung cấp nước sạch, điện thắp sáng…nhiều hộ thoát nghèo vươn lên khá giàu
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Thuận Bắc đã bộc lộ những tồn tại nhất định Việc phân tích đánh giá những kết quả đạt được và nguyên nhân của tồn tại, từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo củađơn vị, góp phần hoàn thiện hoạt động của Hệ thống NHCSXH Việt Nam; đồng thời thể hiện được vai trò công cụ tài chính tích cực của NHCSXH huyện Thuận Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xóa đói giảm nghèo của huyện là rất cần thiết
Xuất phát từ những lý do nêu trên là cơ sở để tác giả chọn đề tài: “Đánh giá hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội tại huyện Thuận Bắc tỉnh Ninh Thuận” làm luận văn thạc sĩ của mình
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hoạt động của hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Thuận Bắc tỉnh Ninh Thuận, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích, đánh giá hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Thuận Bắc tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn 2012-2016
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với
hộ nghèo của NHCSXH huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của huyện Thuận Bắc trong giai đoạn 2012-2016 như thế nào? Hiệu quả ra sao?
- Những giải pháp nào cần ưu tiên thực hiện để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của huyện?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ hoạt động tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và hiệu quả từ các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo trong huyện thông qua NHCSXH huyện Thuận Bắc
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đánh giá hoạt độngcủa hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo củahuyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận và hiệu quả các chương trình tín dụng đối với
hộ nghèo trong huyện, giai đoạn 2012-2016
Đề tài được thực hiện tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện; các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Thuận Bắc tỉnh Ninh Thuận Số liệu sơ cấp khảo sát từ tháng 3-5/2017
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp tiếp cận, điều tra, tổng hợp số liệu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua sự tham gia của người dân và các đối tác
có liên quan trong quá trình thu thập thông tin, phân tích đánh giá hiện trạng, phát hiện các tiềm năng, cơ hội cũng như khó khăn, thách thức và đề xuất giải pháp xoá đói giảm nghèo
Trang 15Sử dụng hệ thống các phương pháp thống kê kinh tế để tiến hành các hoạt động điều tra thu thập số liệu, tổng hợp và phân tích số liệu có trình tự đảm bảo tính khoa học để nhận biết, nắm bắt tình hình, đánh giá phân tích các mỗi quan hệ tương quan, rút ra các kết luận ban đầu giúp cho việc nghiên cứu vấn đề được sâu sắc hơn
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: Thu thập các thông tin về địa bàn:
Các thông tin được thu thập từ các nguồn tài liệu khác nhau: Văn phòng Huyện ủy, Văn phòng HĐND-UBND, Phòng Thống kê huyện, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, Phòng NN&PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện, các hội đoàn thể, Website Ngân hàng Chính sách xã hội, Website Chính phủ
- Số liệu sơ cấp: Thu thập thông tin sơ cấp theo các phương pháp: Phỏng
vấn người dân theo bộ câu hỏi điều tra; quan sát thực tế; đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
Để có được số liệu sơ cấp, tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ được tham gia vay tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội và hộ được hưởng lợi tín dụng ưu đãi từ các chương trình, dự án mang tính chất giảm nghèo trên địa bàn huyện Thuận Bắc Các hộ được chọn điều tra là hộ thuộc diện được vay tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội và hộ diện được hưởng nguồn tín dụng ưu đãi thông qua các dự án, để tìm hiểu về tình hình vay và sử dụng tín dụng theo các nội dung tại các phiếu điều tra đã được chuẩn bị sẵn Có tổ chức hội thảo, trao đổi giữa các hộ vay tín dụng, giữa các tổ chức, các chương trình tín dụng về những vấn đề liên quan đến nội dung và mục đích nghiên cứu, đi khảo sát thực tế và nắm bắt tình hình và kết quả sử dụng nguồn tín dụng của các hộ vay vốn và hộ được hưởng tín dụng ưu đãi tại địa bàn 3 xã Lợi Hải, xã Bắc Sơn và xã Bắc Phong
- Số liệu thứ cấp: khi nghiên cứu các chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội, tình hình cho vay nói chung dựa vào các số liệu đã được công bố như: Niên giám thống kê của huyện Thuận Bắc, các tài liệu, báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo xóa đói giảm nghèo và việc làm của UBND huyện, báo cáo kết quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện các năm từ 2012-2016 và số liệu 3 xã điều tra từ năm 2012-2016 Ngoài ra các báo cáo khoa học và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả công bố trên các sách báo, iternet, tạp chí chuyên ngành Ngân hàng Chính sách xã hội được sử dụng làm tài liệu tham khảo
Trang 16Tổng hợp tài liệu: Tổng hợp tài liệu được tiến hành dựa trên phương pháp thống kê các tiêu thức khác nhau như: phân loại hộ, vùng, dân tộc, trình độ học văn hoá, trình độ học vấn Số liệu được xử lý trên máy tính nhờ các chương trình phần mềm thích hợp Trong đó, việc xem xét đánh giá cho được hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội và ảnh hưởng của nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến giảm tỷ lệ nghèo của các hộ được
ưu tiên tổng hợp
1.5.2 Phương pháp phân tích số liệu
+ Phương pháp thống kê mô tả:
Dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế - xã hội Mô tả quá trình cho vay của hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội và quá trình giải ngân vốn ưu đãi thông qua các dự án Mô tả quá trình sử dụng vốn ưu đãi của các hộ nông dân
ưu đãi thông qua các dự án
+ Phương pháp điều tra:
Điều tra bằng phương pháp trực tiếp phỏng vấn hộ dân bẳng phiếu điều tra đã
chuẩn bị sẵn Phiếu điều tra được xây dựng cho các hộ điều tra, nội dung chủ yếu của phiếu
bao gồm các thông tin như: 1) Thông tin về chủ hộ điều tra, 2) trình độ, lao động, tài sản, tình hình vay vốn và sử dụng dụng vốn của các hộ, kết quả sử dụng vốn, những thông tin
và nhận thức của hộ đối với nhu cầu về vốn ưu đãi
+ Phương pháp tham vấn chuyên gia:
Được sử dụng nhằm thu thập số có chọn lọc ý kiến của các chuyên gia kinh tế của những cán bộ nghiên cứu hoặc công tác trong lĩnh vực tài chính, tín dụng nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.6.1 Về mặt khoa học
Luận văn góp phần hệ thống cơ sở lý thuyết liên quan đến hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo và hoạt động của NHCSXH Việt Nam nói chung và NHCSXH huyện Thuận Bắc nói riêng trong việc thực hiện các chính sách tín dụng đối với hộ nghèo
Trang 171.6.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn cung cấp một bức tranh tổng quát về hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo vay vốn tại NHCSXH huyện Thuận Bắc, chỉ ra những thành tựu cũng như vướng mắc về cơ chế, chính sách trong hoạt động của NHCSXH huyện; đồng thời đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng hộ nghèo trong thời gian tới Ngoài ra, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo NHCSXH huyện, chính quyền địa phương,
1.7 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần như mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tín dụng ngân hàng chính sách xã hội đối với
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
1.1 Khái niệm về nghèo
Nghèo là một khái niệm có nhiều mặt và không có một khái niệm duy nhất về nghèo Có thể hiểu nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, chẳng hạn như thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu hay những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng và nhiều ý nghĩa khác Do có quá nhiều khía cạnh như vậy mà khái niệm nghèo chưa bao giờ thống nhất Các tổ chức, cá nhân nghiên cứu nghèo đói thường sử dụng khái niệm riêng của mình về nghèo tùy theo góc quan sát cũng như quan điểm của họ
Là người đầu tiên đi tìm thước đo nghèo đói và trong những hoàn cảnh cụ thể ở thành phố York nước Anh vào đầu thế kỷ 20, Benjamin Seebohn Rowntree cho rằng nghèo đói là tình trạng thiếu một số lượng tiền cần để “có được những thứ tối thiểu cần thiết cho việc duy trì thể chất thuần túy” (Rowntree, 1910) Blackwood và Lynch (1994) thì cho rằng người nghèo là những người không được đáp ứng đầy đủ nhu cầu
cơ bản, gồm nhu cầu vật chất như thực phẩm, y tế, giáo dục, nơi ở, và nhu cầu phi vật chất như sự tham gia hoạt động xã hội, danh dự cá nhân
Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra những khái niệm khác nhau về nghèo Cùng với thời gian, Ngân hàng Thế giới đã không ngừng chỉnh sửa, bổ sung những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong những báo cáo của mình Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 1990, Ngân hàng Thế giới cho rằng nghèo là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng Đến giai đoạn 2000 - 2001, Ngân hàng Thế giới bổ sung vào khái niệm về nghèo những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương Tổ chức này cho rằng người nghèo
dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường mà họ không có khả năng kiểm soát
và thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tệ, và họ bị gạt ra bên lề xã hội (Nguyễn Đỗ Trường Sơn, 2012)
Ở Việt Nam, một khái niệm về đói nghèo thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á
Trang 19- Thái Bình Dương tổ chức ở Thái Lan năm 1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất Khái niệm này cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu
ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng
và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Võ Tất Thắng, 2013)
Mặc dù có sự khác biệt trong cách nhìn nhận về vấn đề nghèo, tuy nhiên tập trung lại các khái niệm này đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: Thứ nhất, thiếu những nhu cầu thiết yếu: ăn, ở, mặc, đi lại, y tế, giáo dục và giao tiếp xã hội
Thứ hai, nghèo thay đổi theo thời gian, khi kinh tế càng phát triển, nhu cầu cơ bản của con người cũng thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn
Thứ ba, nghèo thay đổi theo không gian, thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự thay đổi kinh tế xã hội của các quốc gia, từng vùng Xu hướng chung là các nước phát triển, ngưỡng nghèo đói càng cao (Võ Tất Thắng, 2013)
1.2 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo
1.2.1 Xác định ngưỡng nghèo
Theo World Bank (2005), ngưỡng nghèo (hay còn gọi chuẩn nghèo) là ranh giới
để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo:
Ngưỡng nghèo tuyệt đối: chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu để cá
nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo này sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết, để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tốt cho con người Rổ lương thực đó sẽ tính đến cả cơ cấu tiêu dùng lương thực của các hộ gia đình đặc thù của một nước Trên cơ sở đó hai ngưỡng nghèo tuyệt đối sẽ được tính toán: Ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm: đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một gia đình có thể đủ mua một lượng lương thực, thực phẩm để cung cấp cho mỗi thành viên trong hộ một lượng calo là 2100 calo một ngày Ngưỡng nghèo này thường thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác Ngưỡng nghèo chung: đo lường chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa lương thực, thực phẩm cung cấp lượng calo là 2100 calo và một số mặt hàng phi lương thực
Trang 20Ngưỡng nghèo tương đối: được xác định theo phân phối thu nhập hoặc tiêu
dùng chung trong cả nước, để phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng
1.2.2 Các tiêu chí xác định nghèo
1.2.2.1 Phương pháp dựa vào thu nhập
Thu nhập là chỉ báo kinh tế đánh giá phúc lợi của con người đạt được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã áp dụng phương pháp này để xác định ngưỡng nghèo Việc áp dụng nghiêm ngặt phương pháp tính theo thu nhập do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra để đo lường mức nghèo có thể xếp vào loại này Phương pháp của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dựa trên điều tra gồm những câu hỏi về tài sản và về thu nhập từ các nguồn khác nhau Thu nhập từ tất cả các nguồn này được cộng lại, chia cho số người trong hộ, và so sánh với chuẩn nghèo được quy định.Thông qua sử dụng các chuẩn nghèo chính thức, Bộ LĐ-TB-XH chịu trách nhiệm đánh giá những thay đổi về nghèo đói và cập nhật hàng năm danh sách chính thức về các hộ nghèo, và sử dụng kết hợp phương thức “đi từ dưới lên trên” gồm các cuộc khảo sát tại địa phương và các cuộc tham vấn tại làng xã để xác định số người nghèo tại cấp địa phương (cấp xã) Các số liệu xác định về số người nghèo tại cấp địa phương này sau
đó được tổng hợp lại để ước tính tỷ lệ nghèo cho cấp tỉnh và cấp quốc gia
Để phục vụ cho các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã xây dựng chuẩn nghèo tuyệt đối cho từng giai đoạn Trong giai đoạn 2016 – 2020, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh chuẩn nghèo mới để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay bằng Quyết định số 59/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 như sau: ở khu vực nông thôn những
hộ có mức bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (từ 8.400.000 đồng/người/năm); ở khu vực thành thị thu nhập bình quân 900.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (từ 10.800.000 đồng/người/năm)
Ưu điểm của phương pháp này là: đảm bảo từng bước thoả mãn nhu cầu của con người (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá….) Chuẩn nghèo được điều chỉnh gắn với tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện điều kiện sống của người dân, tình hình thay đổi
cơ cấu chi tiêu, thu nhập của người dân Mặt khác theo phương pháp này, tạo điều kiện cho cơ sở có thể triển khai được việc lập danh sách hộ nghèo và xác định các hỗ trợ cần thiết
Trang 211.2.2.2 Chi tiêu hộ gia đình
Theo Phạm Hồng Mạnh (2010), thì đo lường bằng giá trị tiền tệ dưới dạng thu nhập hay chi tiêu của hộ gia đình được sử dụng phổ biến để đo lường phúc lợi khi tính toán chỉ số về nghèo đói Những thông tin về chi tiêu có thể thu thập một cách dễ dàng
từ quá trình điều tra các hộ gia đình và phản ánh tốt hơn tiêu chí về thu nhập trong việc
đo lường nghèo đói, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, chi tiêu là tiêu chí phản ánh tốt hơn thu nhập trong việc đo lường phúc lợi kinh tế hộ gia đình Chi tiêu phản ánh thực tế phúc lợi tốt hơn vì nó liên quan chặt chẽ tới mọi thành viên trong gia đình Điều này có nghĩa là nó sẽ phản ánh được các điều kiện sống cơ bản tốt hơn
Thứ hai, trong một nền kinh tế nông nghiệp nghèo, thì thu nhập của các hộ gia đình nông thôn có thể dao động trong năm do phụ thuộc vào mùa thu hoạch Điều này ngụ ý một khó khăn tiềm năng cho các hộ gia đình khi nhớ lại thu nhập của họ, trong
đó có thể những thông tin về thu nhập của hộ gia đình từ quá trình khảo sát này có thể dẫn tới chất lượng thấp (WB, 2005 và Coudouel & Cộng tác viên, 2002)
Thứ ba, chi tiêu có thể phản ánh tốt hơn tiêu chuẩn thực tế của một hộ gia đình sinh sống và khả năng để đáp ứng nhu cầu cơ bản Đối với các hộ gia đình ở Việt Nam nói chung, hộ gia đình ngư dân nói riêng thường có những đặc điểm rất đặc thù, như:
vì tâm lý, người dân thường có xu hướng khai thấp thu nhập của mình, thu nhập càng cao khai càng thấp; các hộ gia đình thường không nhớ tất cả các khoản thu của mình; thu nhập từ các loại cây lâu năm là không thể tính được dù có chi phí chăm sóc Thu nhập từ các loại gia súc không thể tính được hàng năm vì có thể nhiều năm hộ gia đình mới bán và những loại chi tiêu tăng cao bất thường cũng có khi xảy ra, chẳng hạn như chi tiêu cho việc chữa bệnh, mua các vật dụng đắt tiền, sửa chữa hay xây nhà nhưng những loại chi tiêu này thường chỉ có ở những hộ không nghèo
Bên cạnh đó, thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp có thể thay đổi bất thường theo thời vụ trong khi mức tiêu dùng vẫn tương đối ổn định Nói cách khác, đặc điểm về chi tiêu ổn định hơn nhiều so với thu nhập, và được sử dụng tốt hơn trong phân tích nghèo đói
1.2.3 Đánh giá, phân loại hộ nghèo
1.2.3.1 Phương pháp phân loại của địa phương
Trong phương pháp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trên thực tế tại các địa phương đã không tuân thủ một cách cứng nhắc phương pháp dựa vào thu nhập
Trang 22nêu trong tài liệu hướng dẫn Điểm căn bản trong việc xác định đối tượng nghèo để phân bổ các khoản trợ giúp ở địa phương là có sự chi phối của cộng đồng dân cư mà đại diện là thôn Mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo thông qua sự bàn bạc của người dân (Phạm Hồng Mạnh, 2010)
Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một tiêu chuẩn và quy tắc chặt chẽ
để xác định hộ nghèo Những hộ bị coi là không chịu chăm chỉ lao động hoặc không
có trách nhiệm xã hội hiếm khi nhận được sự trợ giúp, và thậm chí còn không được liệt vào danh sách các hộ nghèo Mặc dù, việc không trợ giúp cho những hộ này có thể gây thiệt thòi cho con cái của họ, những người hoàn toàn không có lỗi trong việc cha
mẹ có chịu làm việc hay không…
1.2.3.2 Phương pháp xếp hạng nghèo
Phương pháp xếp hạng nghèo được sử dụng trong các nghiên cứu về nghèo đó
là đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân (PPA), bao gồm một tập hợp những nhận xét về hiện trạng của tất cả các hộ trong một cộng đồng Ở Việt Nam, cộng đồng tiêu biểu nhất là thôn Một tỷ lệ đáng kể trong cộng đồng sẽ tập hợp nhau lại để xếp thứ tự, hoặc thường là phân loại các hộ trong số đó (Phạm Hồng Mạnh, 2010)
Trong những PPA được thực hiện, những người tham dự được chọn sao cho có
đủ nam, nữ, người già, trẻ em, người nghèo và không nghèo Đại diện của chính quyền địa phương là trưởng thôn cũng tham gia
1.2.4 Các chỉ số đo lường và đánh giá nghèo
Sau khi xác định được ngưỡng nghèo, chúng ta có thể tính toán một chỉ tiêu thống kê phản ánh quy mô, mức độ và tính nghiêm trọng của nghèo đói Những chỉ tiêu thống kê này bao gồm: chỉ số đếm đầu người (headcount index - xác định tỷ lệ nghèo đói theo số lượng trong dân số; khoảng cách nghèo đói (poverty gap) – xác định độ sâu của nghèo đói và bình phương khoảng cách nghèo đói, phản ánh phân phối trong thu nhập giữa các nhóm nghèo – xác định tính nghiêm trọng của nghèo đói Theo Foster, Greer và Thorbecke (1984) có 3 thước đo mức độ nghèo đói này có thể tính theo công thức sau:
Trang 23Hay
Trong đó:
n: là tổng số hộ trong cộng đồng dân cư q: là số hộ nghèo dưới mức chuẩn nghèo
gi : là khoảng cách nghèo đói của hộ gia đình thứ i
yi : là thu nhập của hộ nghèo thứ i z: là chuẩn nghèo
α (α>0): là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những người nghèo
- Khi α = 0, chính là chỉ số đếm đầu người
Đẳng thức trên tương đương H= q/n, tức bằng tổng số người nghèo chia cho tổng
số người ở trong mẫu Thước đo xác định quy mô đói được gọi là tỷ số đếm đầu người hay chỉ số điếm đầu người khi chuyển sang tính dưới dạng % Chỉ số này phổ biến nhất và dễ tính nhưng không phản ánh mức độ nghiêm trọng từ thu nhập (chi tiêu) của người nghèo so với ngưỡng nghèo
- Khi α = 1, P1là chỉ số đo lường khoảng cách nghèo đói
Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trung bình trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo và nó biểu hiện như mức trung bình của tất cả mọi người trong tổng thể
Có thể xem đây là chi phí tối thiểu để xóa bỏ nghèo đói trong giả định mọi khoản chi
Trang 24chuyển nhượng đều đến đúng đối tượng Tuy nhiên trong thực tế việc chuyển giao thường có hao hụt và chi phí hành chính cho nên chi phí thực tế để xóa bỏ nghèo đói thường là bội số của khoảng cách nghèo đói trung bình
- Khi α = 2, P2 là chỉ số đo lường mức độ nghiêm trọng của nghèo đói
Đây là chỉ số khoảng cách đói nghèo bình phương hay chỉ số nhạy cảm nghèo Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của nghèo đói và làm tăng thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình
Ngân hàng Thế giới (2007) đã đưa ra 4 nhóm đặc điểm chính ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình:
Thứ nhất, các đặc điểm của cấp độ vùng: những đặc điểm này bao gồm các vấn
đề như: sự cách biệt, sự cách biệt về địa lý/xã hội do thiếu hạ tầng cơ sở; hạn chế trong việc tiếp cận các loại thị trường và các dịch vụ xã hội, nguồn lực cơ bản như đất đai và chất lượng đất đai, điều kiện tự nhiên (thời tiết ), quản lý Nhà nước và bất bình đẳng
Thứ hai, các đặc điểm về cấp độ cộng đồng bao gồm: hạ tầng cơ sở (điện, nước,
đường giao thông ) phân bổ đất đai, khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụcông (y tế, giáo dục )
Thứ ba, những đặc điểm của hộ gia đình bao gồm: quy mô hộ gia đình, tỷ lệ phụ
thuộc (phần trăm số người trưởng thành không có hoạt động tạo thu nhập), giới tính của chủ hộ, tài sản của hộ gia đình (đất đai, phương tiện sản xuất, nhà cửa ), tỷ lệ có việc làm của những thành viên trưởng thành trong hộ (loại việc làm chính, tự làm hay làm thuê) và theo nguồn thu nhập chính của hộ, trình độ học vấn trung bình củahộ
Thứ tư, là những đặc điểm của các cá nhân như: tuổi, giáo dục (số năm đi học,
bằng cấp cao nhất), việc làm (tình trạng việc làm, loại công việc), dân tộc (có hay không có thuộc nhóm dân tộc thiểu số)
Những yếu tố chính ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình được thể hiện
ở Bảng 1.1
Trang 25Bảng 1.1: Những yếu tố chính ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình
Đặc trưng ở cấp độ
vùng
- Sự cách biệt về địa lý
- Hạn chế trong tiếp cận thị trường
- Nguồn lực cơ bản như đất đai và tiếp cận đất đai
- Điều kiện tự nhiên
- Quản lý nhà nước
- Bất bình đẳng
Đặc điểm ở cấp độ
cộng đồng
- Cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông)
- Phân phối đất đai
- Tiếp cận các dịch vụ công (trường học, bệnh viện)
- Cấu trúc xã hội và tài sản xã hội
- Cấu trúc của thu nhập và công việc
- Tình trạng sức khỏe và trình độ giáo dục của các thành viên trong gia đình (tính trung bình)
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 2007
Một số công trình nghiên cứu về đói nghèo tại Việt Nam đã chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo của người dân như sau:
1.3.1 Nhóm 1: Các yếu tố yếu tố sản xuất
- Trình độ học vấn
Những người có trình độ học vấn cao thường tìm được những công việc ổn định
và có mức thu nhập cao Những người có trình độ học vấn thấp thường thiếu hiểu biết, thiếu khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn cần thiết trong hoạt động kinh tế nên phải chấp nhận những công việc bấp bênh, hoặc năng suất lao động thấp với mức thu nhập thấp
- Vay vốn từ định chế chính thức
Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhập hộ gia đình thấp Do
đó vốn vay từ định chế chính thức là công cụ quan trọng giúp hộ dân thoát nghèo
- Diện tích đất của hộ gia đình
Ở nông thôn, đất là tự liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, nguồn tạo ra thu nhập, không có đất hoặc quy mô đất ít thường đi đôi với nghèo
Trang 26- Nghề nghiệp, tình trạng việc làm
Người nghèo thường không có việc làm, làm thuê hoặc làm việc trong nông nghiệp, người giàu thường có việc làm trong những lĩnh vực có thu nhập cao và tương đối ổn định như buôn bán, dịch vụ, công chức
1.3.2 Nhóm 2: Các yếu tố môi trường
Địa bàn cư trú: Địa bàn cư trú có ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng nghèo của
hộ gia đình vì những đặc điểm của địa bàn cư trú như cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ quản lý của chính quyền địa phương, các chính sách được ban hành, sự tập trung của các cơ sở sản xuất kinh doanh góp phần quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của người dân trong địa bàn Trong điều kiện Việt Nam, địa bàn cư trú bao gồm hộ có ở xã thuộc vùng sâu vùng xa hay không, hộ có ở xã thuộc diện CT 135 hay không
1.3.3 Nhóm 3: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của hộ gia đình
- Tuổi chủ hộ:
Đối với những chủ hộ nằm trong độ tuổi từ 20 đến 50 thì khi tuổi càng lớn, người
ta càng có nhiều kinh nghiệm hơn trong sản xuất, do đó mức thu nhập mà họ tạo ra càng lớn hơn
- Giới tính của chủ hộ
Ở vùng nông thôn, miền núi những hộ gia đình có chủ hộ là nữ có nhiều khả năng nghèo hơn những hộ có chủ là nam Điều đó do nữ thường có năng suất lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp thấp hơn nam giới
Trang 27nhất định khi giao lưu, tiếp xúc với môi trường xung quanh Chính điều đó làm cho
họ có ít cơ hội tiếp cận với những sáng kiến khoa học kỹ thuật, từ đó dẫn đến việc có mức sống thấp hơn người dân tộc Kinh và dân tộc Hoa Dự án diễn đàn miền núi Ford (2004) cũng cho thấy việc chủ hộ có thuộc dân tộc thiểu số hay không có ảnh hưởng lớn đến việc hộ rơi vào tình trạng nghèo Tỷ lệ hộ nghèo trong các dân tộc thiểu số cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo thuộc dân tộc Kinh và dân tộc Hoa
1.4 Vấn đề tín dụng đối với hộ nghèo
1.4.1 Tín dụng đối với hộ nghèo
1.4.1.1 Khái niệm
Tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội (Lê Xuân Bá và cs, 2001)
1.4.1.2 Đặc điểm
- Hoạt động tín dụng ngân hàng đều được thực hiện dưới hình thức tiền tệ
Khi nói các hình thức tín dụng khác, chẳng hạn tín dụng thương mại, việc vay mượn dưới hình thức hiện vật (hàng hoá); ngược lại, các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng đều được thực hiện bằng tiền tệ Trên cơ sở huy động mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hoặc lâu dài trong nền kinh tế, để hình thành quỹ cho vay; đồng thời các Ngân hàng thương mại cũng tiến hành cho các tác nhân và tư nhân vay để bổ sung cho nhu cầu SXKD hoặc tiêu dùng Do huy động và cho vay bằng tiền, nên đối tượng cho vay của ngân hàng rất linh hoạt và đáp ứng mọi nhu cầu trong nền kinh tế
- Ngân hàng thương mại đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay;
ở đây ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian tài chính
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với
sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội (Phạm Vũ Lửa Hạ, 2003)
1.4.1.3 Mục đích và vai trò của tín dụng NHCSXH đối với hộ nghèo
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với hộ nghèo Nó được coi là công
cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất thấp, là chìa khoá vàng để giảm nghèo Vai trò tín dụng ngân hàng được thể hiện ở một số nội dung sau:
Trang 28- Cung cấp vốn tín dụng, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi
có hộ nghèo sinh sống:
Vốn tín dụng cho người nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống Trong ba yếu tố cơ bản để hộ nghèo có điều kiện SXKD; đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật; trong đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu có vốn bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất khác, kể cả đất đai Hiện nay, tích luỹ của người nghèo ở nước ta rất thấp, do đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để SXKD Nhờ nguồn vốn của ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn, mà
hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
- Tín dụng ngân hàng làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi:
Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa Cho vay nặng lãi thể hiện ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân hàng hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, mía non, v.v ở thời kỳ giáp hạt
Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, chi phí con đi học hoặc nhu cầu đột xuất), nên họ phải vay nặng lãi Tín dụng nặng lãi gây nhiều tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, làm cho hộ nghèo càng nghèo thêm Chính hoạt động tín dụng ngân hàng, nhất là NHCSXH đã trực tiếp làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi
- Giúp người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường:
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho SXKD để XĐGN; sau một thời gian thu hồi cả gốc và lãi đã buộc người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho gia đình; đồng thời trả nợ cho ngân hàng Để làm được điều đó,
họ phải học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý Từ đó, tạo cho họ tính năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế Mặt khác, khi số đông người nghèo sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường, làm cho họ tiếp cận được kinh tế thị trường một cách trực tiếp Đồng thời giải quyết tình trạng không có việc làm cho hàng
Trang 29vạn lao động nghèo, phát huy tiềm năng sẵn có của các hộ gia đình Như chúng ta đã biết diện tích đất nông nghiệp trên đầu người hiện nay ở các vùng nông thôn của đất nước quá thấp (do quá trình đô thị hoá nhanh làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp) Trong khi đó, số lao động nông thôn ngày càng tăng (một phần do sinh đẻ không có kế hoạch), sản xuất thuần nông (không có ngành nghề phụ) nên thời gian nông nhàn của người nghèo lớn (thời gian làm việc của một lao động trong một năm chỉ khoảng 100 ngày, còn 265 ngày không có việc làm) Tình trạng không có việc làm diễn ra phổ biến ở các vùng nông thôn Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo
đã hỗ trợ phát triển ngành nghề ở nông thôn, như: Chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống cũng như thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống Nhờ vậy, đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động Giải quyết phần lớn thời gian nông nhàn Tận dụng lao động để khai thác ngành nghề truyền thống, khai thác tiềm năng nội lực, tạo cơ hội cho người nghèo tự vận động, vượt qua khó khăn, vươn lên thoát khỏi nghèo đói hoà nhập cộng đồng
- Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới:
Tín dụng cho người nghèo của NHCSXH thực hiện theo các quy định nghiệp
vụ như bình xét công khai đối tượng được vay, thành lập tổ vay vốn, phải qua sự kiểm tra của chính quyền xã, phường, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp từ Trung Ương đến xã, vốn vay được phát trực tiếp tận người vay Do đó, thông qua vay vốn, các hộ nghèo trong tổ cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống; trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế, chia sẻ rủi ro, hoạn nạn Thông qua đó mà tình làng nghĩa xóm được gắn bó hơn Đồng thời số lượng các hội viên sinh hoạt tại các tổ chức hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên) ngày càng đông, hoạt động của các tổ chức hội phong phú hơn về nội dung, các hội làm dịch vụ
ủy thác cho vay hộ nghèo cũng có thêm khoản thu nhập từ phí ủy thác ngân hàng trả theo tỷ lệ và định kỳ nhất định (hàng quý) Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi
bộ mặt kinh tế nông thôn Trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững; hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn
1.5 Hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo 1.5.1 Tại Ngân hàng chính sách xã hội
1.5.1.1 Hiệu quả kinh tế
Phòng Giao Dịch Ngân hàng chính sách xã hội Thuận Bắc nói riêng cũng như Ngân hàng Chính sách Xã hội nói chung là một hệ thống Ngân hàng hoạt động không
vì mục tiêu lợi nhuận nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động chỉ dựa vào các chỉ tiêu sau:
Trang 30Thứ nhất, Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch: NHCSXH là một tổ chức tín dụng Nhà
nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhưng phải bảo toàn vốn Muốn duy trì hoạt động bền vững thì NHCSXH phải có chênh lệch dương về thu - chi nghiệp
vụ Các khoản thu chủ yếu là thu lãi tiền vay; chi chủ yếu trả phí ủy thác, hoa hồng, trả lãi tiền vay, chi hoạt động nghiệp vụ NHCSXH cho hộ nghèo vay vốn phải thu hồi đầy
đủ cả gốc và lãi đúng hạn, hạn chế thấp nhất về rủi ro xảy ra (kể cả rủi ro bất khả kháng)
Khoán thu = Dư nợ bình quân * a triệu/1 tỷ dư nợ bình quân
- Khoán chi là mức chi cho phép các Ngân hàng chính sách xã hội được chi trong năm và thay đổi theo từng năm
Khoán chi = Dư nợ bình quân * b triệu/ 1tỷ dư nợ bình quân
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng chính sách qua các năm Do đó tỷ lệ này càng cao thì hiệu quả hoạt động càng hiệu quả:
Chênh lệch thu - chi
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch =
Chênh lệch khoán thu – chi
Thứ hai, Chất lượng tín dụng:
- Có 03 tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng là tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khoanh, tỷ
lệ sử dụng vốn sai mục đích của người vay
- Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản mà ngân hàng đang dùng để đánh giá chất lượng tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ % giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng và bị chuyển sang nợ quá hạn, với lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất bình thường (lãi suất nợ quá hạn hiện nay bằng 130% lãi suất cho vay) Trên thực tế, các khoản nợ quá hạn thường là các khoản nợ có vấn đề (nợ xấu), có khả năng mất vốn (có nghĩa là tính an toàn thấp) Trong kinh tế thị trường, nợ
Trang 31quá hạn đối với ngân hàng là khó tránh khỏi, vấn đề là làm sao để giảm thiểu nợ quá hạn Những ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp được đánh giá chất lượng tín dụng tốt, hiệu quả tín dụng cao và ngược lại
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay hộ nghèo =
Dư nợ quá hạn cho vay hộ nghèo
tế xã hội như mong muốn của ngân hàng Chỉ tiêu này có thể xác định theo công thức:
Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích =
Số tiền sử dụng sai mục đích
Tổng dư nợ
x 100%
Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng bị đánh giá là thấp và ngược lại
Thứ ba, Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của hộ nghèo, hỗ trợ hộ nghèo
phát triển kinh tế, vượt lên thoát nghèo đói Nếu nguồn vốn của ngân hàng đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn ngày càng tăng của hộ nghèo, thì đánh giá hiệu quả của NHCSXH đối với tín dụng hộ nghèo cao và ngược lại
Thứ tư, Về thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp nhanh chóng, giảm bớt chi phí
trong hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng
1.5.1.2 Hiệu quả xã hội
- Nếu hiệu quả tín dụng của NHCSXH được nâng lên, thì không chỉ các hộ nghèo được vay vốn, mà ngân hàng còn có điều kiện để phục vụ các hộ thuộc vùng khó khăn trong các khoản vay thương mại; phục vụ chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, của địa phương Đây chính là sự tồn tại và phát triển bền vững của NHCSXH
- Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương: Nếu hiệu quả tín dụng cao, ngân hàng sẽ có thêm điều kiện để phục vụ tốt hơn nhu cầu vay vốn của các đối tượng; từ đó sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội của địa phương phát triển
Trang 32- Thông qua cho vay của NHCSXH, đã kéo theo một đội ngũ cán bộ ở cấp xã, huyện vào cuộc cùng ngân hàng, số tiền hoa hồng tổ nhóm, phí ủy thác đã là nguồn thu đáng kể đối với ban quản lý tổ vay vốn và tổ chức hội
- Thông qua vay vốn hộ nghèo, nội dung hoạt động của các tổ chức hội càng thêm phong phú, số lượng hội viên tham gia sinh hoạt ngày càng đông
1.5.2 Về phía hộ nghèo
1.5.2.1 Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo được thể hiện ở doanh số vay, trả (gốc, lãi) đúng hạn, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, rủi ro trong sử dụng vốn thấp Nếu doanh số vay của hộ lớn, hộ vay sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ (gốc, lãi) đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng, trong quá trình sử dụng vốn không gặp các rủi ro gây thất thoát vốn, sau khi trừ đi các khoản chi phí vẫn còn có lãi, thể hiện vốn sử dụng có hiệu quả
- Biểu hiện qua việc sử dụng vốn của hộ nghèo vào SXKD như thế nào? Nếu hộ nghèo vay vốn về SXKD thuận lợi, sản xuất nhiều hàng hoá bán thu được lợi nhuận cao, sau khi trừ đi phần trả nợ cho ngân hàng (gốc, lãi), trả tiền công lao động, mà vẫn
có lãi, thì đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cao Ngược lại, nếu vay vốn về SXKD thua
lỗ thì hiệu quả thấp; thậm chí mất vốn Có nhiều trường hợp vay vốn ngân hàng về chăn nuôi, trồng trọt, tuy đã trả hết nợ cho ngân hàng đúng kỳ hạn, nhưng vẫn bị đánh giá là hiệu quả thấp vì nguồn để trả nợ cho ngân hàng phải đi vay chỗ khác, chứ không phải từ nguồn thu nhập của người vay Trường hợp này, nếu không đi vay chỗ khác thì
hộ nghèo phải bán tài sản hình thành từ vốn vay để trả nợ Cho nên, nếu chỉ nhìn một mặt trả nợ của hộ vay cho ngân hàng để đánh giá hộ vay sử dụng vốn có hiệu quả là chưa đủ
- Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo cũng được đánh giá thông qua tiêu chí: Tỷ suất lợi nhuận và mức sống của hộ nghèo; nếu tỷ suất lợi nhuận được tăng lên, mức sống hộ nghèo được cải thiện tốt, thì hiệu quả tín dụng tốt
- Thông qua việc sử dụng vốn vào SXKD, trình độ quản lý kinh tế của người vay được nâng lên Người nghèo có điều kiện tiếp cận được với kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi tiến tiến, có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật mới Đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng mang lại cho hộ nghèo
- Số hộ thoát nghèo bền vững, vươn lên thành hộ giàu là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của tín dụng đối với hộ nghèo Hộ đã thoát khỏi ngưỡng
Trang 33nghèo đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn chuẩn mực nghèo đói hiện hành, không còn nằm trong danh sách hộ nghèo do Phòng LĐ-TB&XH huyện, thị, thành phố lập theo từng năm
kỳ
-
Số hộ nghèo trong danh sách cuối kỳ
-
Số hộ nghèo chuyển đi địa bàn khác trong kỳ
+
Số hộ nghèo chuyển đến trong kỳ
Mục tiêu của tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo là giúp họ có vốn sản xuất, thoát nghèo để hòa nhập cộng đồng và hơn thế nữa là ổn định tình hình chính trị - xã hội Do vậy, số hộ thoát khỏi nghèo đói hàng năm cao; trong đó, có hộ vay vốn NHCSXH, có nghĩa là vốn của NHCSXH đã được hộ nghèo sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay tại một số địa phương việc đánh giá hộ thoát nghèo không chính xác, vì nhiều lý
do khác nhau
- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn: Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với công tác tín dụng Tỷ lệ này càng cao, một mặt thể hiện nguồn vốn tín dụng lớn để phục vụ hộ nghèo; mặt khác, đánh giá khả năng SXKD của hộ nghèo ngày càng lớn, nguồn vốn có hiệu quả (nếu sử dụng vốn không hiệu quả, thì hộ nghèo sẽ không có nhu cầu vay)
1.5.2.2 Hiệu quả xã hội
- Tạo việc làm cho người lao động: Thông qua công tác cho vay hộ nghèo, đã thu hút được một bộ phận con, em của hộ nghèo có việc làm ổn định, tạo thêm nhiều của cải cho gia đình và xã hội, góp phần hạn chế tệ nạn xã hội, ổn định trật tự chính trị và
an toàn xã hội
- Trình độ dân trí được nâng lên, tránh các tệ nạn xã hội, xây dựng xóm làng giàu mạnh
- Các vùng nghèo, xã nghèo, nhờ nguồn vốn tín dụng; đặc biệt là vốn tín dụng của ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây, nay là NHCSXH đã xoá bỏ được tình
Trang 34trạng vay nặng lãi và bán nông sản non, góp phần thay đổi bộ mặt đời sống nhân dân nông thôn Tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hộ nghèo
1.6 Kinh nghiệm về hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo
1.6.1 Kinh nghiệm một số nước
1.6.1.1 Kinh nghiệm cho vay XĐGN của Ngân hàng Grameen (Bangladesh)
Bangladesh là một nước nông nghiệp lạc hậu, diện tích tự nhiên gần 143.000
km2, dân số khoảng 120 triệu người, thuộc nước nghèo nhất thế giới; trong đó, 80% dân số sinh sống ở nông thôn GDP bình quân đầu người dưới 200 USD, nhưng bình quân GDP của nông dân chỉ hơn 100USD/năm Dân trí thấp, nhiều người mù chữ Bangladesh là nước đồng bằng, thiên tai thường xuyên xảy ra Do đó, đời sống của đa
số nông dân rất thiếu thốn
Ngân hàng Grameen hình thành từ năm 1976, vốn ban đầu chỉ có 28 USD của Giáo sư, TS Yumus sáng lập Hệ thống Ngân hàng Grameen gồm: Ngân hàng TW, trụ
sở tại thủ đô Datka, Văn phòng đại diện tại các bang hoặc vùng, hơn 1.000 Chi nhánh khu vực ở nông thôn; dưới chi nhánh, mỗi làng có Trung tâm tín dụng do thành viên vay vốn tự xây dựng và tự quản lý, một thành viên làm trưởng Trung tâm tín dụng, mỗi Trung tâm tín dụng có ít nhất 10 Tổ tín dụng Mỗi Tổ tín dụng có 5 thành viên, một thành viên làm tổ trưởng Nông dân nghèo muốn được vay tiền Ngân hàng Grameen phải là thành viên của Ngân hàng Grameen và sinh hoạt trong một Tổ tín dụng, các thành viên trong nhóm được yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc của Ngân hàng
về tính kỷ luật, đoàn kết, dũng cảm và chăm chỉ, cũng như “16 quyết định” bao gồm:
Duy trì mô hình gia đình nhỏ, tất cả trẻ em đều được đến trường, thực hiện tiến
bộ gia đình và giúp đỡ các thành viên khác trong nhóm khi gặp khó khăn Hàng tuần, các trung tâm tín dụng họp với các thành viên một lần, mỗi thành viên phải gửi 1 cata (đơn vị tiền tệ của Bangladesh) vào tài khoản tiền gửi của mình tại chi nhánh Ngân hàng Grameen
Quy chế cho vay của Tổ tín dụng: Đầu tiên 2 thành viên trong tổ được vay vốn; khi trả xong nợ, thì 2 thành viên tiếp theo được vay; tổ trưởng tín dụng là người vay cuối cùng Khi tổ trưởng trả xong nợ, thì lại có 2 thành viên khác được vay vốn, quy chế này được lặp đi, lặp lại Các thành viên trong Tổ tín dụng giám sát lẫn nhau về sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ đúng hạn và gửi tiền tiết kiệm
Trang 35Người vay không có tài sản thế chấp với Ngân hàng Grameen, tổn thất về tiền cho vay rất thấp, lãi suất cho vay Ngân hàng Grameen cao hơn lãi suất Ngân hàng thương mại Khi được vay vốn, người vay phải nộp khoản lệ phí, trên số tiền vay, để hình thành quỹ của Tổ tín dụng; trong đó có quỹ phòng ngừa rủi ro và quỹ này được gửi vào chi nhánh Grameen Khi một thành viên vay vốn không còn khả năng trả nợ,
Tổ tín dụng dùng quỹ dự phòng rủi ro để trả nợ thay cho thành viên của mình
Hiện nay, Ngân hàng Grameen có hơn 5 triệu thành viên, hơn 94% thành viên
là nữ; vốn điều lệ 150 triệu taka, tương đương 3,75 triệu USD; trong đó, Nhà nước góp
cổ phần 18 triệu taka, số còn lại là giá trị cổ phiếu của Ngân hàng TW Bangladesh, các NHTM, các tổ chức quốc tế là thành viên Ngân hàng Grameen hoạt động theo cơ chế
tự chủ về tài chính; hạch toán kinh tế chung của cả hệ thống và kinh doanh phải có lãi, Nhà nước không bù lỗ
Về mặt pháp lý: Nhà nước Bangladesh có bộ luật riêng cho Ngân hàng Grameen Ngân hàng TW Bangladesh cấp một giấy phép hoạt động cho Ngân hàng Grameen TW Trung tâm tín dụng thành lập theo làng và Tổ tín dụng thành lập theo xóm do các thành viên thành lập, trên tinh thần tự nguyện của thành viên Chi nhánh Ngân hàng Grameen phục vụ các thành viên Ngân hàng tại nhà (trong buổi họp các thành viên) Theo bộ luật Ngân hàng Grameen, Ngân hàng này không phải nộp bất cứ một loại thuế nào cho Nhà nước
Ủy ban quốc gia kiểm soát về tài chính - tín dụng, có trách nhiệm giám sát việc tuân thủ các chế độ; kiểm tra và thanh tra tại chỗ về tài chính Ngân hàng Grameen và các chi nhánh của Ngân hàng này
Hàng tuần Trung tâm tín dụng, tổ chức họp với các thành viên để kiểm điểm và đôn đốc việc: Gửi tiền tiết kiệm, sử dụng vốn vay và trả nợ mỗi thành viên Nhân viên Chi nhánh Ngân hàng Grameen đến dự họp nhận tiền gửi của thành viên; tiền gửi của
Tổ tín dụng; thu nợ; cho thành viên vay Ngoài cho vay sản xuất nông nghiệp, Chi nhánh Ngân hàng Grameen còn cho thành viên vay sinh hoạt như xây dựng nhà ở mới, sửa chữa nhà cũ, xây dựng nhà vệ sinh, tạo nguồn nước sạch, chữa bệnh…Một món cho vay của Chi nhánh Ngân hàng Grameen là 200 USD tương đương 3 triệu đồng (Nhóm Tác chiến Bản đồ Nghèo đói liên Bộ, 2003)
Trang 36* Nguyên nhân thành công của Ngân hàng Grameen
Một là, Tổ chức hệ thống của Ngân hàng Grameen khoa học; chặt chẽ; mang
tính tự quản giữa các thành viên, công khai, minh bạch
Hai là, Nhà nước Bangladesh khuyến khích Ngân hàng Grameen hoạt động
như: Không thu thuế và tạo hành lang pháp lý cho Ngân hàng Grameen hoạt động ngày một phát triển với tốc độ cao Huy động vốn chú ý đến những món tiền nhỏ, như trong một tuần mỗi thành viên phải gửi 01 taka vào tài khoản của mình (tức 4 taka một tháng); các Tổ tín dụng gửi quỹ của Tổ vào Chi nhánh Ngân hàng Grameen Do đó, nguồn vốn huy động rất bền vững
Ba là, Ngân hàng Grameen TW thực sự là chiếc cầu chuyển tải vốn từ thành thị
về nông thôn, điều hòa vốn từ nơi thừa vốn về nơi thiếu như vay vốn các NHTM, tiếp nhận vốn tài trợ trong nước và nước ngoài để cho nông dân nghèo vay, tạo cơ hội cho
họ thoát nghèo
Bốn là, Các thành viên có tinh thần tự giác và đoàn kết, giúp nhau thoát nghèo
Mỗi Tổ tín dụng có quỹ phòng ngừa rủi ro riêng, dùng để trả nợ thay cho thành viên mất khả năng trả nợ Cho nên Ngân hàng Grameen bảo tồn được vốn điều lệ và bổ sung vốn tự có ngày một tăng
Năm là, Nhiều thành viên Ngân hàng Grameen có trình độ đại học, nhưng có
tinh thần phục vụ nông dân nghèo; đi sát các thành viên thông qua cuộc họp của Trung tâm tín dụng Chi nhánh Ngân hàng Grameen là Ngân hàng phục vụ “tại nhà”, thành viên như: Cho vay, thu nợ và nhận tiền gửi sau các cuộc họp
Sáu là, Thủ tục cho vay của Ngân hàng Grameen đơn giản, nhưng chặt chẽ, vì
nông dân nghèo giám sát nhau sử dụng vốn vay và trả nợ Do đó, thành viên vay vốn không cần tài sản thế chấp Chi nhánh Ngân hàng Grameen cho thành viên vay phải có
sự đồng ý của các thành viên trong tổ tín dụng
1.6.1.2 Kinh nghiệm cho vay XĐGN của Ấn Độ
Việc cấp tín dụng cho người nghèo thông qua NHNo có các chi nhánh tận cấp huyện Việc giải ngân tín dụng ưu đãi được thực hiện thông qua “Tổ tự lực”, mỗi Tổ
có số thành viên từ 10-20 người, tất cả đến từ các gia đình khác nhau, đa số là phụ nữ nghèo Hàng tháng, các thành viên phải nộp vào Tổ một số tiền nhất định để làm quỹ,
số tiền bao nhiêu là do các thành viên tự thoả thuận Thông thường số tiền ban đầu từ 10-20 Rupi (khoảng 20-40US Cent) Tiền tiết kiệm của các tổ viên được thu vào ngày
Trang 37tháng cụ thể (thường là ngày thứ 10 của tháng) Số tiền này được gửi vào tài khoản tiết kiệm của NHTM (thường là NHNo) Hiện nay NHNo của Ấn Độ đóng vai trò là tổ chức xúc tiến tự lực và hỗ trợ thành lập và quản lý các Tổ này Tổ chức tài chính vi mô
đã thực hiện rất nhiều chương trình khác nhau đối với công tác xây dựng năng lực đối với phụ nữ Phụ nữ được đào tạo để thảo luận nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến họ
và nơi họ sinh sống (Nguyễn Trọng Hoài, 2005)
1.6.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Từ những kinh nghiệm của các nước về cấp tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, có tác dụng tham khảo trong công tác tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo của Việt Nam là:
Thứ nhất, về nguồn vốn dành cho XĐGN rất lớn, duy trì liên tục trong nhiều
năm; trong đó, nguồn vốn của Nhà nước và nguồn vốn viện trợ của nước ngoài Nguồn vốn viện trợ nước ngoài được thực hiện chủ yếu thông qua các tổ chức quốc tế, các cơ quan Liên Hiệp quốc Nguồn vốn vay của nước ngoài với lãi suất thấp hoặc không lãi, với thời gian dài Nguồn huy động tiết kiệm trong nước (tiết kiệm trong nhân dân và các tổ chức kinh tế)
Thứ hai, về thành lập Tổ Vay vốn: Quy mô Tổ nên từ 30-40 thành viên, các
thành viên cùng có điều kiện kinh tế như nhau, các thành viên vào Tổ tự nguyện, hoạt động có quy chế rõ ràng Các Tổ viên đóng góp tiền tiết kiệm hàng tháng theo quy định về số tiền và ngày nộp, số tiền này gửi vào NHCSXH tại địa bàn Các dịch vụ cho vay và tiết kiệm nhanh chóng đơn giản, cho phép các tổ chức cho vay gia tăng lượng khách hàng
Thứ ba, về hình thức giải ngân: Giải ngân trực tiếp cho hộ vay (đại diện là chủ
hộ làm hồ sơ vay vốn), số tiền vay tùy theo nhu cầu của các thành viên đăng ký, sau đó
tổ họp bình xét căn cứ vào nhu cầu vay vốn để SXKD, khả năng trả nợ của từng hộ, và
có sự kiểm tra xác nhận của chính quyền phường, xã
Thứ tư, về quy mô cấp tín dụng: Căn cứ đầu tiên để xét duyệt mức cho vay là
nhu cầu vay vốn của hộ Nếu ngân hàng có đủ vốn và hộ vay có khả năng trả nợ thì cho vay với mức tối đa theo nhu cầu của hộ Giải ngân một lúc cho các thành viên vay vốn
Thứ năm, hỗ trợ vốn cho người nghèo, không phải thế chấp tài sản, thu tiền tiết
kiệm, không thu bất cứ một khoản lệ phí nào ngoài lãi suất Do vậy, cần phải có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ kênh tín dụng này, tránh tiêu cực và nâng cao hiệu quả đồng vốn
Thứ sáu, hoạt động của ngân hàng phải công khai, minh bạch, đúng tự nguyện
của hộ nghèo Thủ tục đơn giản, phục vụ ngân hàng “tại nhà” thành viên
Trang 38Tóm tắt Chương 1
Trong Chương 1, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về nguyên nhân nghèo đói và chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH Chương cũng đã đưa ra một số chỉ tiêu, bao gồm các nhóm định tính và định lượng để đánh giá hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
Trang 39CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
CỦA NHCSXH HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
2.1 Giới thiệu chung về tình hình kinh tế - xã hội và tình hình đói nghèo của huyện Thuận Bắc
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận
2.1.1.1 Giới thiệu chung
- Vị trí địa lý
Huyện Thuận Bắc được thành lập theo Nghị định số 84/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ, trên cơ sở tách ra từ huyện Ninh Hải và chính thức
đi vào hoạt động từ ngày 01/10/2005
Huyện nằm về phía bắc của tỉnh Ninh Thuận, cách trung tâm Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm khoảng 20 km, có vị trí tứ cận như sau:
- Phía Đông: Giáp Biển Đông và huyện Ninh Hải
Huyện Thuận Bắc là cửa ngõ phía bắc của tỉnh Ninh Thuận, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Nam Khánh Hoà – Bắc Ninh Thuận, có vị trí địa lý và hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, có đường Quốc lộ 1A chạy qua với chiều dài khoảng
20 km, đường sắt thống nhất Bắc – Nam chạy qua, ở gần vùng cảng biển Ba Ngòi, cảng Ninh Chữ và sân bay Quốc tế Cam Ranh; có điều kiện thuận lợi trong việc kết nối phát triển kinh tế - xã hội với các huyện, thành phố trong tỉnh và với các tỉnh trong vùng và cả nước
- Diện tích
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 31.922,09 ha, trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 7.576,62 ha, chiếm 23,73% tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất lâm nghiệp: 18.851,71 ha, chiếm 59,05% tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất chuyên dùng: 2.228,74 ha, chiếm 69,81% tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất ở: 394,16 ha, chiếm 12,34% tổng diện tích đất tự nhiên
- Quy mô dân số - đơn vị hành chính
- Huyện Thuận Bắc có 06 xã/32 thôn, gồm:
+ Lợi Hải (06 thôn): Ấn Đạt, Bà Râu 1, Bà Râu 2, Kiền Kiền 1, Kiền Kiền 2, Suối Đá
Trang 40+ Công Hải (09 thôn): Suối Giếng, Suối Vang, Hiệp Kiết, Kà Rôm, Hiệp Thành, Bình Tiên, Xóm Đèn, Ba Hồ, Giác Lan
+ Bắc Phong (03 thôn): Ba Tháp, Mỹ Nhơn, Gò Sạn
+ Bắc Sơn (04 thôn): Láng Me, Bỉnh Nghĩa, Xóm Bằng, Xóm Bằng 2
+ Phước Kháng (05 thôn): Đá Mài Trên, Đá Mài Dưới, Đá Liệt, Cầu Đá, Suối Le + Phước Chiến (05 thôn): Đầu Suối A, Đầu Suối B, Tập Lá, Động Thông, Ma Trai
- Có 03 xã đặc biệt khó khăn gồm: Bắc Sơn, Phước Kháng, Phước Chiến
- Tổng dân số toàn huyện năm 2014: 41.138 người/9.479 hộ
- Thành phần dân tộc:
+ Dân tộc thiểu số: Chiếm 70% (chủ yếu là dân tộc Rắclay, Chăm)
Bảng 2.1: Diện tích, dân số của huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận
Diện tích (km2)
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km2)
(Nguồn: Cục thống kê Ninh Thuận, 2015)
2.1.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
- Từ khi giai đoạn 2005 -2014
+ Về kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt: 21,7%
- Tổng GTSX các ngành năm 2010 (theo giá cố định) đạt: 985 tỷ đồng (bằng 7,1 lần so với năm 2005); năm 2011 đạt 1.801,49 tỷ đồng; năm 2012 đạt 1.776 tỷ đồng, năm 2013 đạt 1.945 tỷ đồng, năm 2014 đạt 2.260 tỷ đồng
- Cơ cấu kinh tế theo hướng: “Công nghiệp, xây dựng - Nông nghiệp - Du lịch - dịch vụ”