Nâng cao nhận thức vai trò quản lý của Nhà nước trong việc tạo nguồn tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập hoạt động và nâng cao chất lượng đào tạo.. Để đạt được mục tiêu đó,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỖ THÀNH NAM
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
THỰC HIỆN TỰ CHỦ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỖ THÀNH NAM
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
THỰC HIỆN TỰ CHỦ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ANH TÀI
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHẤM LUẬN VĂN
PGS.TS TRẦN ANH TÀI PGS.TS.LÊ DANH TỐN
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Học viên
Đỗ Thành Nam
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lời cám ơn sâu sắc tới Thầy hướng dẫn khoa học PGS.TS Trần Anh Tài đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo Trường Đại học Kinh
tế - Đại ho ̣c Quốc gia Hà Nội, Khoa Kinh tế Chính trị, Hô ̣i đồng khoa ho ̣c và các thầy, cô giáo đã giảng da ̣y , truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Tôi muốn gửi lời cảm ơn tới các tác giả của những tài liệu tham khảo, những người đi trước đã để lại cho chúng tôi những kinh nghiệm quý báu
Tôi xin được cám ơn Ban giám hiệu các Trường đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập hồ sơ, số liệu để thực hiện luận văn và xin cám ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Đỗ Thành Nam
Trang 5i
MỤC LỤC
Trang
Danh mục bảng……… i
Danh mục hình ……… ……….ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.2 Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính tại cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ 8
1.2.1 Khái quát về cơ sở giáo dục đại học công lập 8
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ chế tự chủ tài chính 12
1.2.3 Cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập 18
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ 30
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 30
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 32
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 35
2.2 Phương pháp xử lý tài liệu, số liệu 35
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP THỰC HIỆN TỰ CHỦ Ở VIỆT NAM 37
3.1 Khái quát về đề án tự chủ của các trường đại học công lập và về một số trường đại học công lập thực hiện tự chủ theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP của Chính phủ 37
3.1.1 Khái quát về đề án tự chủ của các trường đại học công lập theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP của Chính phủ 37
3.1.2 Khái quát về một số trường đại học công lập thực hiện tự chủ theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP của Chính phủ 40
3.2 Thực trạng thực hiện cơ chế quản lý tài chính trước và sau khi được phê duyệt Đề án tự chủ theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP của Chính phủ 41
3.2.1 Về cơ chế thu và quản lý các nguồn thu tài chính 41
3.2.2 Về cơ chế sử dụng các nguồn thu tài chính 46
3.2.3 Về cơ chế giám sát 49
Trang 6ii
3.3 Đánh giá mức độ hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục
đại học công lập thực hiện tự chủ 50
3.3.1 Tính hiệu lực của cơ chế quản lý tài chính 50
3.3.2 Tính hiệu quả của cơ chế quản lý tài chính 52
3.3.3 Tính linh hoạt của cơ chế quản lý tài chính 54
3.3.4 Tính công bằng của cơ chế quản lý tài chính 55
3.3.5 Tính ràng buộc về mặt tổ chức của cơ chế quản lý tài chính 59
3.3.6 Sự thừa nhận của cộng đồng 60
CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP THỰC HIỆN TỰ CHỦ Ở VIỆT NAM 62
4.1 Quan điểm, định hướng của việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập Việt Nam 62
4.1.1 Nhà nước tạo ra cơ chế quản lý tài chính phù hợp thực tế, phù hợp năng lực phát triển của các cơ sở giáo dục đại học công lập 62
4.1.2 Đổi mới nhận thức về vai trò, địa vị pháp lý, môi trường hoạt động của cơ sở giáo dục đại học công lập trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 63
4.1.3 Nâng cao nhận thức vai trò quản lý của Nhà nước trong việc tạo nguồn tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập hoạt động và nâng cao chất lượng đào tạo 64
4.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam 65
4.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao tính hiệu lực của cơ chế quản lý tài chính 66
4.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao tính hiệu quả của cơ chế quản lý tài chính 69
4.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao tính linh hoạt của cơ chế quản lý tài chính 75
4.2.4 Nhóm giải pháp nâng cao tính công bằng của cơ chế quản lý tài chính 75
4.2.5 Nhóm giải pháp nâng cao tính ràng buộc tổ chức của cơ chế quản lý tài chính 78
4.2.6 Nhóm giải pháp nâng cao sự đồng thuận của cộng đồng xã hội 79
4.3 Một số điều kiện để thực hiện giải pháp 81
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 742
2 Bảng 3.2 Dự kiến chi phí đầu tư cho 01 sinh viên/năm 45
3 Bảng 3.3 So sánh cơ cấu chi của 4 trường năm học 2014 - 2015 so với năm học 2015 - 2016 46
4 Bảng 3.4 Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (CGCN) của các trường trước và
5 Bảng 3.5 Dự kiến thu - chi giai đoạn 2017 - 2020 53
Trang 8iv
DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 So sánh số thu học phí, lệ phí trước và sau khi thực hiện tự chủ 43
2 Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng các quỹ của 4 trường tự chủ năm học 2015 - 2016 47
Trang 91
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh những năm gần đây giáo dục đại học ở Việt Nam có rất nhiều thay đổi, ngày càng có nhiều trường đại học ngoài công lập, đại học nước ngoài và nhiều chương trình du học tại chỗ của nước ngoài tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ giáo dục đại học ở Việt Nam Điều này, đã đặt các cơ sở giáo dục đại học công lập của Việt Nam vào một vị thế cạnh tranh với những tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục đại học trong nước và nước ngoài ngày càng cao hơn Do vậy, việc trao quyền tự chủ và đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam là điều kiện tiên quyết để nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút sinh viên, tạo ra nhiều nguồn thu của các trường, đồng thời sẽ giảm gánh nặng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đại học
Để đạt được mục tiêu đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các
cơ sở giáo dục Đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017 nhằm khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học công lập đổi mới, chủ động khai thác, sử dụng hợp
lý nguồn ngân sách nhà nước, tăng cường thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách, cải thiện môi trường đào tạo, tăng khả năng cạnh tranh, thu hút sinh viên của các cơ sở giáo dục công lập ở Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội cho các đơn
vị này nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo trong quản lý tài chính và tài sản của đơn vị để tăng khả năng đáp ứng của trường đại học với môi trường
xã hội, kinh tế, thích ứng với sáng tạo và công nghệ thay đổi
Đứng trước cơ hội đổi mới nhưng cũng là khó khăn, thách thức đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập khi nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp
Trang 102
cho giáo dục đại học ngày càng thu hẹp, học phí vẫn bị khống chế bởi mức trần thu học phí theo quy định, cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục đại học công lập ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của cơ chế quản lý tài chính đối với việc tạo nguồn thu và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính
để đảm bảo nhu cầu chi tiêu và phát triển bền vững của đơn vị Tuy nhiên, cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập với những bất cập, hạn chế trong quá trình quản lý ngân sách, trong huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính từ xã hội hay phân cấp quản lý giữa các chủ thể tham gia cơ chế quản lý tài chính, đã ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu cũng như hiệu quả hoạt động của các đơn vị Những điểm này trở thành thách thức không nhỏ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam nếu muốn nâng cao chất lượng đào tạo trong xu thế hội nhập và phát triển giáo dục đại học Vì vậy, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Từ thực trạng trên cùng với những kiến thức lý luận được đào tạo và
kinh nghiệp thực tiễn trong quá trình công tác, tôi lựa chọn đề tài "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam" để làm luận văn thạc sỹ của mình
1.2 Câu hỏi nghiên cứu đối với vấn đề nghiên cứu
Luận văn của tôi trả lời câu hỏi nghiên cứu: Cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam hiện nay đã phù hợp chưa? có điều gì bất cập? các giải pháp nào cần được thực hiện để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 113
Đề xuất các giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ
+ Phân tích và đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ
+ Đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các
cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ
3 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ chế quản lý tài chính tại một
số cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại 04 trường: Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Điện lực và Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội được Chính phủ phê duyệt thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017 theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014; số liệu sử dụng giai đoạn năm 2014 - 2016 Về nội dung, luận văn nghiên cứu các nội dung của cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam theo cách tiếp cận của chuyên ngành quản lý kinh tế
4 Kết cấu của luận văn:
Luận văn được bố cục gồm 4 Chương, cụ thể như sau:
Phần mở đầu
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trang 135
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện
tự chủ ở Việt Nam đã có rất nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước hướng đến việc phân tích thực trạng tài chính trong cơ sở giáo dục đại học công lập tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị cải cách, đổi mới nhằm thúc đẩy, đổi mới hơn nữa cơ chế quản lý tài chính ở các trường đại học công lập Các công trình nghiên cứu từ trước tới nay, có thể khái quát như sau:
Một là, nêu lên xu thế, kinh nghiệm tự chủ tại các cơ sở giáo dục đại
học công lập của một số nước, kinh nghiệm ở một số cơ sở giáo dục đại học công lập Việt Nam (Vũ Trường Giang, 2011); nêu ra một số lý luận về tự chủ,
tự chủ tài chính trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học (Ngô Thế Chi, 2011) Một số tác giá đã nêu ra mối quan hệ, điều kiện thực hiện tự chủ, tác động của chính sách tăng học phí Tác giả Bùi Tiến Hanh (2006) đã nghiên cứu và luận giải cơ chế để thực hiện xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản
lý tài chính công đối với giáo dục công lập, cơ chế khuyến khích và quản lý đối với hoạt động giáo dục ngoài công lập, cơ chế thu và sử dụng học phí, Tuy nhiên trong nghiên cứu của tác giả, phương pháp tiếp cận về chính sách học phí vẫn bị ảnh hưởng bởi quan điểm coi học phí là nguồn thu thuộc ngân sách nhà nước, được Nhà nước cho phép các trường đại học thu trên cơ sở hoạt động đào tạo do nhà nước đầu tư Nghiên cứu chưa coi giáo dục đại học
là một loại hàng hóa và mang lại lợi ích tư do đó người được hưởng lợi ích phải chịu chi trả chi phí tương xứng với chất lượng hàng hóa theo quan điểm chia sẻ chi phí
Trang 146
Hai là, sơ bộ đánh giá thực trạng, những tác động tích cực của cơ chế
quản lý tài chính như tạo ra cơ sở pháp lý để các trường thực hiện tự chủ tài chính; giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước; tạo điều kiện cho các trường chủ động nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính gắn với chất lượng hoạt động (như tiết kiệm chi, chống lãng phí) Đa dạng hóa và tăng nguồn thu sự nghiệp, nguồn tài trợ từ doanh nghiệp, các dự án (Hoàng Văn Châu, 2011) Tác giả Lê Phước Minh tập trung nghiên cứu, đánh giá chính sách tài chính cho giáo dục đại học, đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho giáo dục ở Việt Nam, làm rõ các cơ hội, thách thức và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học ở nước ta Với góc độ tiếp cận nhằm phân tích chính sách tài chính cho giáo dục đại học nên những kết quả đóng góp của Luận án có giá trị tham khảo tốt với các cơ quan quản lý vĩ mô nhưng chưa đánh giá đầy đủ cơ chế quản lý tài chính đối với riêng cơ sở giáo dục đại học công lập
Ba là, chỉ ra những vướng mắc, khó khăn liên quan tới cơ chế quản lý
tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập, đó là sự chưa đồng nhất giữa cơ chế
và thực tê, phân bổ ngân sách cho chi thường xuyên còn nặng tính bình quân, dựa trên yếu tố “đầu vào”, chưa chú trọng đầu ra là chất lượng, nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề Trong đó, khó khăn nhất vẫn là chưa có cơ chế phù hợp để tăng nguồn thu tài chính phục vụ cho hoạt động của đơn vị Nguồn thu tài chính chủ yếu thu từ ngân sách nhà nước, các khoản học phí, lệ phí Tuy nhiên, Nguyễn Trường Giang (2014) chỉ ra "mức học phí tại các trường đại học hiện nay rất thấp, không đủ bù đắp chi thường xuyên: Chính sách học phí của Việt Nam đã được giữ nguyên trong một thời gian trên 10 năm (từ 1998 đến 2009), đến năm 2010 được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP với mức điều chỉnh theo lộ trình tăng dần từ 20-25% mỗi năm Tuy vậy theo tính toán đến năm 2015 mức thu học phí cũng chỉ đáp ứng
Trang 157
được từ 40% - 50% chi phí đào tạo cần thiết" Đồng quan điểm đó, Phạm Thị Vân Anh (2017) đánh giá mức học phí quy định chưa đảm bảo bù đắp đủ chi phí hoạt động cần thiết, chưa sát với yêu cầu chi phí đặc thù của từng ngành, nghề đào tạo, cào bằng cũng như chưa gắn với yêu cầu về chất lượng, thương hiệu của từng trường Mặt khác, cơ chế quản lý chưa đưa ra tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị được giao quyền tự chủ Cơ chế kiểm soát theo yếu tố đầu vào chưa làm rõ trách nhiệm giải trình của các trường Việc ra quyết định đầu tư, sửa chữa, mua sắm tài sản chịu sự quản lý, chi phối của nhiều văn bản (Luật xây dựng, đấu thầu, quản lý tài sản ) làm cho các trường gặp khó khăn trong đầu tư, nâng cấp cở sở vật chất để nâng cao chất lượng đào tạo
Bốn là, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp, như duy trì tỷ lệ chi
ngân sách cho giáo dục đại học (2%÷2,4% tổng chi ngân sách); đầu tư một số trường đạt chuẩn quốc tế; thay đổi cách phân bổ ngân sách; thí điểm cơ chế đặt hàng, “mua” dịch vụ công đối với các ngành học Đẩy mạnh xã hội hóa,
có lộ trình tính đủ chi phí đào tạo đại học theo các mức độ (Nguyễn Trường Giang, 2014) Các nghiên cứu cũng đã khẳng định, trong các nội dung của tự chủ tài chính trong các trường đại học, việc hình thành cơ chế quản lý tài chính là vấn đề quan trọng nhất Thực tế đó đòi hỏi các trường đại học cần phải xây dựng cho mình một cơ chế sử dụng kinh phí, sử dụng các nguồn thu đáp ứng được yêu cầu công khai, minh bạch, tiết kiệm và hiệu quả Nguyễn Thị Ngọc Loan (2016) đưa ra một số giải pháp như "các trường cũng cần tiếp tục đổi mới toàn diện: Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ mang tính chi tiết, đảm bảo tính công khai, dân chủ và công bằng; Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của từng người lao động Trong đó, chú trọng giải pháp chi trả thu nhập theo hiệu quả công việc, khuyến khích, hấp dẫn, thu hút người có năng lực, có trình độ" Mở rộng hơn, Vũ Minh Đạo (2017) đề xuất
Trang 168
"Về tài chính và tài sản, cơ sở giáo dục đại học có đủ năng lực thực hiện tự chủ ở mức cao nhất, tự bảo đảm toàn bộ kinh phí thường xuyên và kinh phí đầu tư thì được tự chủ về quản lý, sử dụng kết quả tài chính theo cơ chế tài chính của doanh nghiệp"
Nhìn chung, các nghiên cứu đều thống nhất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, cơ chế trả thu nhập, quản lý tài sản Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu nhìn nhận vấn đề từ góc độ quản lý nói chung như cơ chế tự chủ, chính sách phân bổ tài chính cho giáo dục đại học và chính sách học phí, chưa đi sâu nghiên cứu vào vấn đề cụ thể, đặc biệt quan trọng là cơ chế quản lý tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập hiện nay, gồm:
cơ chế thu học phí và thu sự nghiệp, cơ chế quản lý các nguồn thu và cơ chế
sử dụng các nguồn thu Các kết quả nghiên cứu mang tính chất chuyên biệt về
một nội dung như công tác kế toán, công tác đào tạo chuyên môn chưa có điều kiện sử dụng số liệu tài chính để phân tích, làm rõ tác động của cơ chế tới việc mở rộng, đa dạng hóa nguồn thu; đổi mới, nâng cao chất lượng Đặc biệt, chưa phân tích sâu cơ cấu thu chi Giải pháp chỉ mang tính gợi mở, đơn lẻ cho một trường, chưa làm rõ trách nhiệm giải trình, chưa khái quát chung cho các trường có cùng đặc điểm cơ chế quản lý tài chính tự chủ toàn diện
1.2 Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính tại cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ
1.2.1 Khái quát về cơ sở giáo dục đại học công lập
1.2.1.1 Khái niệm và vai trò của các cơ sở giáo dục đại học công lập Khái niệm, mô hình và địa vị pháp lý của trường đại học công có sự khác nhau trong hệ thống giáo dục đại học ở mỗi quốc gia Tuy nhiên khái niệm về trường đại học công lập có thể được hiểu như sau: Trường đại học công lập là trường do chính quyền thành lập và quản lý Nguồn kinh phí đảm bảo cho các trường đại học công lập hoạt động phụ thuộc vào chính sách đầu
Trang 17Vai trò của các cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học
Các cơ sở giáo dục đại học công lập đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, thể hiện khái quát qua các mặt sau:
Sự ra đời và hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập thể hiện vai trò của Nhà nước đối với giáo dục đại học Nhà nước thông qua các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học công lập để điều tiết các nguồn lực xã hội sao cho có hiệu quả nhất, từ đó điều tiết cơ cấu đào tạo nhân lực hợp lý, duy trì và phát triển giáo dục đào tạo Thông qua các cơ sở giáo dục đại học công lập, Nhà nước muốn đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích công về giáo dục đại học Lợi ích này lan tỏa ra toàn xã hội, đảm bảo tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng tiếp cận với giáo dục đại học
Các cơ sở giáo dục đại học công lập là nơi triển khai các chính sách đầu
tư phát triển giáo dục địa học của mỗi quốc gia Các cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu Nhà nước, được Chính phủ hoặc chính quyền ở các địa
Trang 1810
phương cấp ngân sách để triển khai các chính sách phát triển giáo dục đại học của chính quyền các cấp Ở Việt Nam các cơ sở giáo dục đại học công lập được Nhà nước giao kinh phí, tài sản, cơ sở vật chất để thực hiện các mục tiêu và chính sách ưu tiên đầu tư cho giáo dục đào tạo của đất nước
Các cơ sở giáo dục đại học công lập giữ vai trò định hướng cho hoạt động
và sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học của quốc gia Các cơ sở giáo dục đại học công lập định hướng cho phát triển các chương trình đào tạo bằng cách
bổ sung, hoàn thiện các chương trình đã có sẵn, xây dựng các chương trình đào tạo mới phù hợp với xu thế phát triển của xã hội; định hướng cho nghiên cứu khoa học thông qua việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, duy trì các hướng nghiên cứu cơ bản, triển khai cáchướng nghiên cứu mới,
Các cơ sở giáo dục đại học công lập có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Trong hệ thống giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục đại học công lập có lợi thế hơn các trường tư thục về điều kiện đảm bảo chất lượng như đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, học liệu, thư viện để thực hiện được các sứ mạng nêu trên
1.2.1.2 Một số đặc điểm riêng của các cơ sở giáo dục đại học công lập Các cơ sở giáo dục đại học công lập có một số đặc điểm riêng, ảnh hưởng quyết định tới cơ chế tài chính của trường đại học đối với hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường Các đặc điểm đó là:
Về cơ chế quản lý và bộ máy tổ chức hoạt động
Trường đại học công lập do chính quyền thành lập nên chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát về tổ chức bộ máy, hoạt động hành chính theo quy định của Nhà nước hoặc chính quyền các cấp Bộ máy quản lý, điều hành của trường đại học công lập được tổ chức phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường nhưng phải tuân thủ các quy định về lĩnh vực này trong các văn bản pháp luật của Nhà
Trang 1911
nước hoặc địa phương Bộ máy quản lý điều hành của trường đại học công lập thường có Ban Giám hiệu, các phòng chức năng và khoa đào tạo, viện nghiên cứu chuyên ngành
Ngoài ra, các trường đại học công lập còn chịu sự quản lý chuyên môn của cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục đại học, chịu sự quản lý hoặc giám sát về nội dung chương trình đào tạo, về chỉ tiêu và phương thức tuyển sinh của các trường đại học
Về nguồn tài chính và cơ chế quản lý tài chính
Các cơ sở giáo dục đại học công lập còn có đặc điểm quan trọng là sở hữu thuộc về Nhà nước Các trường đại học công lập do Nhà nước thành lập và đầu tư kinh phí để xây dựng và hoạt động nên tính chất hoạt động của các trường đại học công lập thường không vì mục đích lợi nhuận
Về nguồn kinh phí: (1) Nhà nước cấp kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao; (2) trường được phép thu một số khoản phí, lệ phí (được coi là nguồn thu thuộc NSNN), mức thu học phí bị khống chế trong khung quy định của Nhà nước; (3) trường tổ chức hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để có nguồn thu khác NSNN chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn tài chính của trường đại học công lập
Về cơ chế quản lý tài chính: Các cơ sở giáo dục đại học công lập được tự chủ trong khuôn khổ quy định Các cơ sở được tự chủ tối đa ở một số khoản chi nhất định; nhưng đồng thời phải tuân thủ các khoản mục chi đã được ấn định bởi cơ quan phân bổ và giao dự toán Điều này chưa cho phép các trường đại học công lập thực hiện được chính sách ưu đãi đối với người dạy và người học hoặc tập trung đầu tư để nâng cao chất lượng
Như vậy, các cơ sở giáo dục đại học công lập là một thiết chế vô cùng quan trọng của xã hội và trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức toàn cầu, trách
Trang 2012
nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học công lập ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Đồng thời các cơ sở giáo dục đại học công lập có tính
tự chủ rất cao trong các hoạt động học thuật, trong phương thức tổ chức quản lý
và đào tạo,… Nhận thức về vai trò, sứ mạng và đặc điểm của các cơ sở giáo dục đại học công lập là nền tảng để hoạch định chính sách giáo dục đại học, quyết định một cơ chế quản lý (trong đó bao gồm cả cơ chế quản lý tài chính) phù hợp
để các cơ sở giáo dục đại học công lập hoạt động thực sự có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của cả xã hội
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ chế tự chủ tài chính
1.2.2.1 Khái niệm chung về cơ chế tự chủ tài chính
Cơ chế tự chủ tài chính là một văn bản pháp luật chứa đựng những quy định về quyền tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học công lập Nó là một tập hợp những quy định nhằm chuyển đổi quyền hạn ra quyết định về tài chính của nhà nước sang các trường có thể hoạt động độc lập trong lĩnh vực tài chính
Nội dung cơ chế tự chủ tài chính của các quốc gia khác nhau, nó phụ thuộc vào quan điểm tập trung hay phân cấp quản lý của nhà nước Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hầu như các trường không có quyền tự chủ tài chính Cấp trên giao kế hoạch ngân sách chi thường xuyên, nghiên cứu khoa học, đầu tư, sửa chữa tài sản; mức thu học phí, cấp học bổng cho từng đối tượng sinh viên, quy định nội dung chương trình, thời lượng đào tạo; phân bổ sản phẩm đào tạo về đâu? Các trường chỉ có trách nhiệm tổ chức chi đúng khoản mục; kinh phí chi không hết, chi không đúng mục thì phải nộp lại nhà nước, không được chuyển sang năm sau Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì các trường có quyền tự chủ tài chính cao hơn là được tự do khai thác, phân bổ các nguồn tài trợ của chính phủ và các nguồn tài chính tư nhân, được quyết định mức học phí…
1.2.2.2 Một số đặc điểm của tự chủ tài chính
Trang 2113
Tự chủ trong quản lý và khai thác các nguồn thu:
Nguồn thu là những khoản kinh phí nhà trường nhận được không phải hoàn trả Theo luật pháp, nó được dùng cho việc triển khai hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường Nó bao gồm: (1) Nguồn thu từ ngân sách cấp cho chi thường xuyên, chương trình mục tiêu quốc gia, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ bản và các loại kinh phí khác như tinh giản biên chế; đào tạo lại; kinh phí đối ứng; thực hiện các nhiệm vụ đặt hàng của nhà nước; kinh phí y tế; xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, nước, đường giao thông…); ký túc xá sinh viên Các nguồn thu này được quản lý, sử dụng theo sự phân loại dự toán chi tiêu của nhà nước (2) Nguồn thu hoạt động sự nghiệp là các khoản thu nhận được từ thu phí, lệ phí của người học theo quy định của pháp luật; khoản thu hoạt động dịch vụ; tiền lãi chia từ hoạt động liên doanh, liên kết, tiền gửi ngân hàng; thu nhập do các đơn vị trực thuộc nộp lên; thu nhập khác như tiền thư viện, ký túc xá sinh viên (3) Nguồn thu từ nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, cho, tặng theo quy định của pháp luật (4) Nguồn thu khác là nguồn thu ngoài phạm vi quy định nói trên như vốn vay tín dụng, vốn huy động của cán bộ công nhân viên; vốn liên doanh, liên kết
Trong tự chủ tài chính yêu cầu các trường quản lý và khai thác các nguồn thu theo đúng chế độ, đúng phạm vi và định mức, sử dụng phiếu thu phù hợp, phải đưa vào dự toán và được quản lý, hạch toán đúng pháp luật Các khoản thu đảm bảo tính công khai, minh bạch, kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố thẩm quyền và trách nhiệm Những khoản thu theo quy định thì nhà trường có nghĩa vụ thu đúng, thu đủ Hoạt động có tính đặc thù, phục vụ nhu cầu xã hội, hoạt động sản xuất kinh doannh, cung ứng dịch vụ, liên doanh liên kết thì các trường tự quyết định mức thu theo nguyên tắc bù đắp đủ chi phí và có tích luỹ
Tự chủ trong quản lý chi tiêu
Trang 2214
Chi tiêu là chỉ các loại chi phí phát sinh khi các trường triển khai hoạt động, bao gồm: (1) Chi thường xuyên là những khoản chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao; chi thu phí, lệ phí; chi hoạt động dịch vụ (kể cả thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trích khấu hao, trả vốn, trả lãi vay) Nội dung chi thường xuyên, bao gồm: chi tiền lương, tiền công, phụ cấp, BHXH, học bổng, tiền thưởng; chi mua hàng hóa dịch vụ như điện nước, xăng dầu, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, công tác phí, thuê mướn, sửa chữa nhỏ, mua vật
tư phục vụ đào tạo… và những chi phí khác (2) Chi không thường xuyên là những khoản chi thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ; đào tạo lại; chương trình mục tiêu quốc gia; nhiệm vụ nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát…); vốn đối ứng dự án có nguồn vốn nước ngoài; thực hiện nhiệm vụ đột xuất do cấp có thẩm quyền giao; tinh giản biên chế; đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị, sửa chữa lớn; hoạt động liên doanh, liên kết và chi khác theo quy định
Yêu cầu chi tiêu tài chính là các khoản chi của nhà trường phải dựa trên các tiêu chuẩn, định mức khoa học, hợp lý; đảm bảo tiết kiệm, chính xác, trung thực, đúng số phát sinh, đúng mục đích, phạm vi chi tiêu và hiệu quả sử dụng; chấp hành nghiêm chế độ tài chính kế toán của nhà nước và nhà trường quy định
Để tạo ra sự tự chủ trong chi tiêu thì các trường cần được giao quyền hạn
rõ ràng trong phân bổ nguồn lực để thực hiện cung cấp dịch vụ công một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất Nhưng đi kèm với quyền hạn thì phải gắn trách nhiệm cụ thể, có như vậy ngân sách nhà nước cũng như các nguồn lực khác phân bổ, cung cấp cho nhà trường mới được sử dụng hợp lý, hiệu quả Việc cân bằng giữa quyền quản lý và trách nhiệm là vấn đề cốt lõi trong quản lý chi tiêu của các nhà trường
Tự chủ trong quản lý và sử dụng tài sản của nhà trường
Trang 2315
Nó được hiểu là các trường có trách nhiệm tăng cường quản lý, khai thác
và nâng cao hiệu suất, hiệu quả sử dụng tài sản cho việc thực hiện sứ mạng, nhiệm vụ được giao, đồng thời góp phần tạo ra nguồn thu cho nhà trường
1.2.2.3 Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính
Việc ứng dụng cơ chế tự chủ tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập là một tất yếu do yêu cầu phát triển đặt ra Tuy nhiên, vai trò của nó được thể hiện qua những tác động tới các nhà trường
Những tác động tích cực
Nếu cơ chế tự chủ tài chính được xây dựng theo hướng đề cao, tăng cường quyền tự chủ, những quy định trong nó phù hợp với quy luật vận động của các phạm trù kinh tế, tài chính, xã hội… thì có tác động tích cực tới sự phát triển của các nhà trường, bao gồm:
Một là, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các cơ sở giáo dục đại học
công lập, nó góp phần cải thiện, nâng cao được chất lượng đào tạo Bởi vì, các trường muốn giữ vững và nâng cao uy tín, danh tiếng thì phải phải chú trọng tới các hoạt động của mình Từ khâu tuyển sinh, các trường phải tuyển những sinh viên, học viên có trình độ, có chất lượng phù hợp với nội dung, chương trình đào tạo, không để xảy ra hiện tượng tuyển sinh ồ ạt, chỉ quan tâm tới số lượng
Trong quá trình đào tạo, sẽ thúc đẩy nhà trường phải đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy, học tập đảm bảo cập nhật được xu thế phát triển của thời đại để thu hút thêm sinh viên đăng ký và dự học tại nhà trường Muốn tạo
ra nguồn thu, các trường phải tích cực chủ động đa dạng hóa, nâng cấp các chương trình và hình thức đào tạo như đào tạo chất lượng cao, đào tạo đại trà; học chính quy, học bán thời gian, học từ xa; học ngắn hạn, dài hạn… đáp ứng mọi nhu cầu học tập của xã hội Mặt khác, cơ chế tự chủ tài chính sẽ khuyến khích và bắt buộc các trường phải tích cực hơn trong việc tìm kiếm các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học Đặc biệt là tìm kiếm các cơ hội liên kết với
Trang 2416
các trường đại học có uy tín trên thế giới nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, góp phần vào việc phát triển kinh
tế xã hội của đất nước
Hai là, thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học công lập nâng cao hiệu quả
hoạt động, khuyến khích các trường làm tốt hơn các nhiệm vụ, sứ mạng của mình, giảm được thời gian và những chi phí vô ích Trong khi cơ chế kế hoạch hóa tập trung, từ việc nhỏ đến việc lớn (mua sắm thường xuyên đến sắp xếp tổ chức ) đều phải trải qua các bước thủ tục hành chính phức tạp Các trường phải báo cáo, xin ý kiến cấp trên, gây tốn kém về thời gian, kinh phí thực hiện Giao quyền tự chủ tài chính sẽ giúp các trường năng động, sáng tạo, chủ động hơn trong thực hiện các nhiệm vụ được giao và mọi hoạt động đều gắn với trách nhiệm thì các trường sẽ làm việc có hiệu quả, có năng suất hơn; như vậy sẽ làm giảm chi phí kiểm tra, kiểm soát của quá trình thực hiện
Ba là, thúc đẩy việc tăng thu, tiết kiệm chi, nâng cao hiệu quả hoạt động,
tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên Điều này góp phần tạo động lực để cán bộ công nhân viên nhà trường yên tâm tập trung vào công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục, tăng nguồn thu …
sẽ củng cố được lòng tin, uy tín của nhà trường, thu hút thêm sinh viên, tạo cơ hội liên kết, hợp tác đào tạo với các cơ sở trong và ngoài nước
Những tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực của cơ chế tự chủ tài chính, nó cũng có thể xảy ra những tác động tiêu cực, bao gồm:
Một là, mục tiêu xã hội của giáo dục đại học có thể bị ảnh hưởng Vì, nếu
những quy định trong cơ chế không đảm bảo sự minh bạch, chặt chẽ, để xảy ra việc quá đề cao quyền tự chủ tài chính nhưng không làm rõ trách nhiệm, biện pháp quản lý đi kèm thì có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sự thống nhất, sự
Trang 2517
công bằng và tiến bộ xã hội Nó dễ tạo ra cơ chế khuyến khích các trường bỏ qua trách nhiệm xã hội, mà chỉ tập trung vào việc cung ứng các dịch vụ đáp ứng cho những người có khả năng chi trả, làm cho người nghèo sẽ mất đi cơ hội sử dụng dịch vụ giáo dục đại học Đặc biệt trường hợp các trường áp dụng biện pháp tăng học phí để tăng nguồn thu Để đảm bảo cơ hội giáo dục bình đẳng cho mọi người dân thì Nhà nước và các tổ chức xã hội cần có những chính sách
hỗ trợ, giúp đỡ sinh viên nghèo thông qua chính sách cho vay; hỗ trợ học bổng
Hai là, có thể xảy ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các trường có
cùng ngành nghề, nội dung đào tạo Nguyên nhân là do muốn thu hút người học, các trường thường đưa ra những ưu đãi khác nhau; trong đó, có biện pháp giảm học phí Khi cắt giảm học phí sẽ làm cho các trường thiếu hụt nguồn thu, buộc phải cắt giảm thời gian, nội dung, chương trình đào tạo, cắt giảm dịch vụ
đi kèm như dịch vụ thư viện; thiết bị thí nghiệm, thực hành, thực tập… dẫn tới giảm chất lượng
Ba là, các trường nhỏ, các trường mới thành lập sẽ gặp khó khăn Bởi vì,
các trường này thường có cơ sở vật chất nhỏ, chưa có uy tín, khó tạo lòng tin với các đối tác và cũng gặp khó khăn trong việc thu hút người học
Bốn là, có thể làm nảy sinh khuynh hướng các trường chạy theo lợi
nhuận, chạy theo nguồn thu dẫn tới vi phạm các quy định, quy chế giáo dục đại học Vì nguồn thu, vì lợi nhuận, một số trường sẽ tăng cường mở rộng quy mô đào tạo tức là tăng số sinh viên, học viên; tăng số giờ giảng dạy và các hình thức đào tạo nhưng lại buông lỏng quản lý Chẳng hạn, nới lỏng tiêu chuẩn đầu vào với người học; dẫn tới chất lượng đầu vào của sinh viên, của học viên thấp; không phù hợp với nội dung, chương trình đào tạo làm cho quá trình đào tạo của nhà trường sẽ không hiệu quả, gây lãng phí
Trang 2618
Qua những phân tích nêu trên, có thể thấy cơ chế tự chủ tài chính đóng vai trò rất quan trọng Nó góp phần tạo ra môi trường pháp lý cho các trường hoạt động với tư cách là một chủ thể nhằm huy động tối đa các nguồn lực tiền
tệ, phi tiền tệ và sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả, đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ, sứ mạng của nhà trường Mặt khác, nó cũng có những tác động tiêu cực đến mục tiêu hoạt động, khả năng cạnh tranh của các
cơ sở giáo dục đào tạo công lập ở Việt Nam
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho thấy đối với bất kỳ một đơn vị, một tổ chức, một doanh nghiệp nào thì hoạt động tài chính là hoạt động trung tâm, hoạt động then chốt Bởi vì, nó là hoạt động nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cho đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp đó tồn tại và phát triển Đặc biệt, trong bối cảnh cơ chế tự chủ tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập ngày càng được mở rộng, trao quyền tự chủ ngày một cao hơn, công tác quản lý tài chính ngày càng đòi hỏi cần phải hoàn thiện, đổi mới trên cơ sở cơ chế quản lý tài chính đang dần được định hình ở Việt Nam Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định
1.2.3 Cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập
1.2.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính
là sử dụng tài chính làm công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước Nhà nước
Trang 2719
thông qua hoạt động tài chính để điều tiết hoạt động của nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu đã định Xét theo nghĩa này, nội dung của quản lý tài chính chủ yếu là việc lựa chọn và xác định chính xác các chính sách tài chính hữu hiệu và lấy đó làm căn cứ để quy định nội dung cụ thể của thu chi ngân sách
Như vậy, nếu xét theo cả hai nghĩa được nêu trên thì quản lý tài chính là dùng công cụ tài chính của Nhà nước thông qua các chính sách, phương thức,
hệ thống khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý Tuy nhiên, quan điểm này chưa làm rõ sự khác biệt cơ chế quản lý tài chính với quản lý tài chính dẫn đến quan điểm đồng nhất giữa quản lý tài chính và cơ chế quản lý tài chính
Tác giả Võ Văn Thường phân tích khái niệm về "cơ chế kinh tế" và "cơ chế quản lý kinh tế" xuất phát từ mối quan hệ giữa kinh tế và tài chính hay nói cách khác, tài chính phản ánh các quan hệ kinh tế Trong mối quan hệ này kinh
tế là gốc song cũng nhấn mạnh tài chính không thụ động phản ánh các quan hệ kinh tế mà nó gây tác động tích cực ngược lại đối với các quan hệ kinh tế, ngay
cả điều chỉnh các quan hệ kinh tế đồng hành Như vậy, xuất phát từ nghiên cứu
về khái niệm "cơ chế kinh tế" và "cơ chế quản lý kinh tế" tác giả này làm sáng
tỏ bản chất của "cơ chế tài chính" và "cơ chế quản lý tài chính" theo góc độ nói trên Các kết quả trong nghiên cứu này đã đưa đến khái niệm rằng: Cơ chế quản
lý tài chính đó là hệ thống các hình thức, phương pháp và biện pháp tài chính được sử dụng để tác động vào quá trình vận hành của các quan hệ kinh tế tương ứng nhằm đạt các mục tiêu quản lý được xác định Cơ chế quản lý tài chính được hiểu theo quan điểm này chưa phản ánh rõ vai trò của chủ thể quản lý và mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể quản lý khi vận hành cơ chế
Kết quả của nhóm nghiên cứu do TS Phạm Văn Ngọc chủ trì [18] bước đầu giả định rằng mỗi một doanh nghiệp trong nền kinh tế đều phải đứng trước
sự khan hiếm về nguồn lực tài chính mà nó có thể sở hữu Do đó, doanh nghiệp
đó cần sử dụng hiệu quả nguồn tài chính mà nó có được Muốn vậy nó cần có
Trang 2820
một cơ chế quản lý tài chính tốt để thực hiện mục tiêu tài chính của nó Từ đó,
có thể hiểu định nghĩa về cơ chế quản lý tài chính như sau: "Cơ chế quản lý tài chính là một tập hợp các phương pháp, công cụ phù hợp với pháp luật hiện hành nhằm thực hiện mục tiêu tài chính của đơn vị kinh tế trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực tài chính và những nguồn lực khác"
Như vậy, qua nghiên cứu các tài liệu, giáo trình và các công trình khoa học có liên quan, các tác giả đều có quan điểm khá thống nhất về nội hàm của
cơ chế quản lý tài chính Tuy nhiên, ở các khái niệm nêu trên đều có nhược điểm là chưa thấy rõ được vai trò của chủ thể quản lý khi sử dụng các phương pháp, công cụ tác động đến đối tượng quản lý; sự tương tác qua lại giữa các chủ thể trong quá trình vận hành các chính sách, phương tiện, hệ thống, Các yếu tố này là một phần của cơ chế quản lý tài chính
Theo quan điểm của tác giả, có thể nêu khái niệm về cơ chế quản lý tài chính như sau: Cơ chế quản lý tài chính là tổng hợp các phương pháp, công cụ phù hợp với pháp luật hiện hành được nhà quản lý áp dụng để quản lý hoạt động tài chính liên quan đến đối tượng quản lý trong điều kiện cụ thể nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra
1.2.3.2 Đặc điểm cơ chế quản lý tài chính
Theo cách định nghĩa như trên thì cơ chế quản lý tài chính có mối quan
hệ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản lý, là các chủ thể quản lý vận hành các phương thức và công cụ tác động đến mục tiêu và quá trình hoạt động giáo dục đại học của đơn vị Đồng thời phụ thuộc vào quyết tâm, hành động của lãnh đạo nhà trường khi đưa ra các quyết định quản lý, điều hành, triển khai thực hiện Điều này sẽ có ảnh hưởng để cơ chế quản lý tài chính hoặc là bàn đạp
hỗ trợ cho sự phát triển của cơ sở giáo dục đại học công lập hoặc ngược lại
Cơ chế quản lý tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc lĩnh vực quản lý tài chính công Cải cách quản lý tài chính công sẽ tăng hiệu
Trang 2921
quả sử dụng nguồn lực tài chính của xã hội Các nội dung cải cách quan trọng phổ biến là cải cách quản lý chi tiêu ngân sách; phương thức lập, phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra; phương thức huy động các nguồn lực xã hội hóa, Đối với giáo dục đại học, Chính phủ cũng thực hiện nhiều chính sách cải cách
cơ chế quản lý tài chính trong các thập kỳ vừa qua Các xu hướng cải cách được tập trung theo hướng: thay đổi quan điểm về lợi ích giáo dục đại học, chia sẻ chi phí giữa Nhà nước và người học để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách; đầu tư tập trung cho các chương trình đào tạo nhân tài, đào tạo chất lượng cao,
Các cơ sở giáo dục đại học công lập là chủ thể vận hành cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học công lập theo quy định của lĩnh vực tài chính công Tuy nhiên, hoạt động thu, chi tài chính của các trường đại học giống như hoạt động kinh tế vi mô của bất kỳ một doanh nghiệp nào Nó chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường Vì vậy, cơ chế quản lý tài chính đối với các
cơ sở giáo dục đại học công lập cũng không nằm ngoài sự tác động nói trên, cũng vận hành theo cơ chế thị trường
Cơ chế quản lý tài chính phụ thuộc vào các điều kiện để tổ chức thực hiện việc quản lý tài chính (nguồn lực tài chính; tài sản; đội ngũ cán bộ giảng viên và quản lý; ứng dụng công nghệ thông tin; ) và phải tuân thủ các quy định quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước trong phạm vi có liên quan
1.2.3.3 Nội dung của cơ chế quản lý tài chính ở các trường đại học công lập
Thứ nhất, cơ chế quản lý nguồn ngân sách nhà nước
Triển khai các chương trình đào tạo là một hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập, thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo cho xã hội Nhiệm vụ này được Chính phủ giao cho các cơ sở giáo dục đại học công lập và cung cấp nguồn ngân sách để thực hiện Thông thường kinh phí được Chính phủ cung cấp cho các cơ sở giáo dục đại học công lập nằm trong
Trang 3022
khoản ngân sách chi cho giáo dục đại học Để thực hiện vai trò quản lý, Chính phủ sẽ sử dụng công cụ ngân sách Nhà nước kết hợp với các phương thức, biện pháp hành chính khác để tác động đến hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Do đó, cơ chế quản lý nguồn ngân sách của Chính phủ chi cho hoạt động này sẽ tuân thủ quy trình quản lý từ khâu lập dự toán, xét duyệt và cấp ngân sách như một hoạt động của khu vực công
Thứ hai, cơ chế quản lý nguồn thu ngoài ngân sách cấp
Cơ chế quản lý nguồn thu ngoài ngân sách của các cơ sở giáo dục đại học công lập được xem xét trên các nội dung sau:
(1) Nguồn thu từ học phí
Học phí ở hầu hết các nước là nguồn thu ngoài ngân sách cấp đầu tư lớn nhất cho giáo dục đại học Với quan điểm hiện nay của Nhà nước, học phí là sự chia sẻ chi phí theo hướng người học cần trả một phần quan trọng chi phí cho giáo dục đại học trong khi nhu cầu đại học ngày càng tăng, xu hướng giảm cấp tài chính cho giáo dục đại học của Nhà nước; giáo dục đại học đem lại lợi ích cho riêng cá nhân nhiều hơn là so với lợi ích chung cho xã hội, do đó việc người hưởng thụ giáo dục đại học phải trang trải chi phí nhiều hơn là công bằng
Tuy nhiên, do chịu sự ảnh hưởng trong một thời gian dài được bao cấp nên việc tính đúng, tính đủ chi phí để xác định mức thu học phí là không phù hợp với thu nhập của đại đa số người dân ở Việt Nam Vì vậy, Nhà nước cần sử dụng kết hợp hiệu quả công cụ ngân sách và học phí để giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô, chất lượng và nguồn lực khan hiếm trong giáo dục đại học Hiện nay, tuy cho phép một số cơ sở giáo dục đại học công lập được tự chủ xây dựng mức thu học phí nhưng Nhà nước vẫn ban hành quy định mức trần học phí để đảm bảo lợi ích giữa nhà trường với người học
Trong chi phí đào tạo thường xuyên, về nguyên tắc không dễ dàng để bóc tách khoản chi nào sẽ được chi từ ngân sách nhà nước và khoản chi nào sẽ được
Trang 3123
bù đắp chi từ nguồn học phí Việc sử dụng học phí để bù đắp chi phí các trường được hoàn toàn tự chủ Các trường sử dụng học phí phụ thuộc vào yêu cầu và đặc thù của ngành nghề đào tạo (có thể cần đầu tư cho trang thiết bị thí nghiệm, đầu tư cho các chương trình thực hành, thực tập kỹ năng, )
(2) Nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn, cung cấp dịch
vụ
Nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học có được xuất phát từ một trong các chức năng cơ bản của các cơ sở giáo dục đại học công lập là nơi triển khai các nghiên cứu khoa học cơ bản và chuyển giao kết quả nghiên cứu phục
vụ xã hội Chiến lược đa dạng hóa nguồn tài chính nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách đã buộc các trường đại học quan tâm nhiều hơn đến nguồn thu từ hoạt động này Ở các nước phát triển, hoạt động này đóng góp phần không nhỏ trong cơ cấu nguồn lực tài chính của các trường đại học Nguồn kinh phí thu được từ hoạt động nghiên cứu khoa học của các cơ sở giáo dục đại học công lập
có thể có được từ các chương trình, dự án khoa học được nhà nước tài trợ hoặc thông qua việc thực hiện chương trình, dự án khoa học, chuyển giao công nghệ
và bán sản phẩm cho các doanh nghiệp bên ngoài
Tương tự là việc xây dựng cơ chế thu đối với các nguồn thu khác một cách hợp lý để bù đắp các khoản chi hoạt động trong năm Đồng thời phải đa dạng các nguồn thu trên cơ sở liên doanh, liên kết trong lĩnh vực đào tạo với các đối tác trong nước và ngoài nước; tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực đào tạo, học thuật, nghiên cứu khoa học để trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm thêm những khoản viện trợ cho đào tạo
1.2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính
Các chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước
Trang 3224
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, cho nên mọi đường lối, chính sách của Nhà nước đều ảnh hưởng tới các cơ sở giáo dục đại học công lập Nguyên nhân:
Thứ nhất, Nhà nước là người xây dựng hệ thống luật pháp, định hướng
phát triển các trường và kiểm tra, giám sát những việc gì được làm trong khuôn khổ pháp luật
Thứ hai, hệ thống chính sách và công cụ như chính sách tài chính, đầu tư,
tiền lương, thu nhập, chi tiêu của Nhà nước có tác động rất lớn đến cơ chế quản
lý tài chính của các trường Hệ thống chính sách này phải phù hợp với cơ chế thị trường, có tính cạnh tranh thì mới tăng cường sự chủ động cho các trường Nói cách khác, cơ chế quản lý tài chính mới phát huy tác dụng, góp phần thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học công lập phát triển
Hệ thống pháp luật của Nhà nước
Hệ thống pháp Luật của nhà nước có tác động rất lớn tới hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của các cơ sở giáo dục đại học công lập Bởi vì, nó chính là cơ sở pháp lý để các trường có thể tăng cường huy động các nguồn lực tài chính từ nhà nước, từ xã hội…
Ở góc độ quản lý, các trường chịu ảnh hưởng của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục Đại học; Luật Ngân sách; Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Luật doanh nghiệp; Luật Khoa học công nghệ; Luật Công chức, Viên chức
Sự phát triển của thị trường lao động
Trong kinh tế thị trường, sự phát triển của thị trường sức lao động có vai trò rất quan trọng, nó có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một trường đại học công lập Bởi vì, nó liên quan tới nhu cầu xã hội hoá giáo dục đại học, thị trường lao động càng phát triển thì càng có tác động lớn tới cơ chế quản
lý tài chính của trường đại học công lập, nguyên nhân là do:
Trang 3325
Thứ nhất, thị trường là nơi sử dụng sản phẩm đào tạo, nghiên cứu khoa
học nó là nơi cuối cùng thẩm định chất lượng của một nhà trường Nếu sản phẩm đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường được các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước sử dụng thì trường đại học đó mới tồn tại, phát triển được
Thứ hai, sự ủng hộ của xã hội đối với lĩnh vực đào tạo Vì người sử dụng
sản phẩm đào tạo là xã hội Cho nên sự ủng hộ của xã hội là điều kiện quan trọng để trường thực hiện cơ chế quản lý tài chính
Thứ ba, thực hiện quan hệ thị trường trong quá trình đào tạo và sử dụng
sản phẩm đào tạo Bởi vì, trong kinh tế thị trường, sản phẩm đào tạo là một loại hàng hoá đầu vào của quá trình sản xuất Cho nên, quá trình đào tạo và sử dụng sản phẩm cũng phải vận dụng quan hệ thị trường Nghĩa là người học, người sử dụng sản phẩm phải trả chi phí đào tạo Tuỳ theo mức độ thị trường hoá mà mức chi phí đào tạo được xác lập khác nhau Tuy nhiên, chi phí này cần đảm bảo cho nhà trường có thể tái sản xuất mở rộng quá trình đào tạo
Năng lực quản lý của cơ quan chủ quản
Là nhân tố tạo môi trường thúc đẩy sự chuyển biến về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động dịch vụ của các trường đại học công lập Bởi
vì, nó vừa là cơ sở để hiện thực hoá, vừa là rào cản cho mọi chủ trương chính sách của ðảng, Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đại học
Năng lực nội sinh của các trường đại học
Năng lực nội sinh của trường đại học, nó chính là nguồn tài chính, nguồn nhân lực, vật lực, môi trường, thông tin, cần thiết cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học
1.2.3.5 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính
Để đo lường và phản ánh chất lượng, tác động của cơ chế quản lý tài chính đối với cơ sở giáo dục công lập thì cần phải có một hệ thống các tiêu chí
Trang 34sự tương thích với trình độ phát triển kinh tế xã hội, chế độ chính trị, tập quán, văn hóa truyền thống và xu hướng hội nhập quốc tế) Suy cho cùng, hiệu lực của cơ chế quản lý tài chính được thể hiện khi nó đạt được tính khả thi Đây là thước đo thực tế của cơ chế quản lý tài chính
Như vậy, những quy định, quy trình, thủ tục, hồ sơ liên quan tới việc thực hiện cơ chế quản lý tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập phải có tính công khai, minh bạch, rõ ràng, logic, thống nhất với nhau để tạo thành một chỉnh thể Các điều kiện áp dụng cơ chế quản lý tài chính vào thực tế phải dễ dàng không tạo ra cơ chế “xin cho”
Nói cách khác, cơ chế quản lý tài chính phải tạo ra một khung pháp lý hoàn chỉnh cho các cơ sở giáo dục đại học dựa vào đó để chủ động tổ chức các hoạt động tài chính của mình một cách hiệu quả, đáp ứng mục tiêu, sứ mạng của nhà trường một cách tốt nhất Vì vậy, cơ chế quản lý tài chính phải có các chỉ tiêu về mặt định tính và định lượng, nó bao hàm được tất cả hoạt động của các
cơ sở giáo dục đại học trong quá trình tạo lập và sử dụng nguồn thu
Thứ hai là tính hiệu quả
Hiệu quả của một cơ chế có thể được “đo lường” dưới hai khía cạnh cơ bản là lợi ích và chi phí Một cơ chế được xem là hiệu quả khi nó đáp ứng được mong muốn của người ban hành và đạt được mục tiêu đặt ra là “tác động” tới các quan hệ liên quan để điều chỉnh theo hướng tích cực, với một mức chi phí
Trang 3527
thấp nhất Hiệu quả của cơ chế trước tiên được thể hiện về chất lượng nội dung của những quy định, chính sách đưa ra trong cơ chế Hơn nữa, nó phải được xem xét ở trạng thái sau khi cơ chế tác động lên các quan hệ xã hội, tức là kết quả đạt được trên thực tế Muốn đánh giá hiệu quả của cơ chế quản lý tài chính thì chúng ta cần thực hiện theo hai bước:
(1) So sánh giữa trạng thái các quan hệ liên quan trước và sau khi áp dụng cơ chế để xác định những biến đổi thực tế đạt được do sự tác động của cơ chế;
(2) Đối chiếu với mục đích mong muốn đạt được của người có trách nhiệm ký ban hành cơ chế
Tính hiệu quả là một chỉ tiêu rất quan trọng để phản ánh kết quả của cơ chế quản lý tài chính đem lại so với thời kỳ chưa áp dụng cơ chế quản lý tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập Nó được thể hiện qua sự tăng, giảm của các chỉ tiêu có liên quan tới tài chính như sự tiết kiệm chi phí, hoặc lợi ích đem lại cao hơn chi phí bỏ ra, nâng cao hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ trong các trường…
Chỉ tiêu định lượng dùng đo lường tính hiệu quả của cơ chế quản lý tài chính bao gồm: Quy mô, cơ cấu nguồn thu chi hàng năm; Hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Thu nhập tăng thêm của cán bộ công nhân viên; Suất đầu
tư cho 1 sinh viên; Cơ cấu, tỷ lệ giảng viên trên sinh viên; Số bài báo, công trình nghiên cứu khoa học hàng năm của nhà trường…
Trong đó, quy mô nguồn thu chi phản ánh năng lực tài chính của từng trường trong quá trình hoạt động Nếu quy mô nguồn thu chi càng lớn thì chứng
tỏ nhà trường càng có năng lực về tài chính và có nhiều hoạt động khác nhau
Cơ cấu nguồn thu là tỷ lệ của mỗi nguồn thu trong tổng nguồn thu, bao gồm: nguồn ngân sách, học phí, dịch vụ, nghiên cứu khoa học, viện trợ… Cơ cấu nguồn thu cho biết khả năng quản lý tài chính của nhà trường, bởi vì nguồn
Trang 3628
thu càng đa dạng thì khả năng quản lý tài chính càng cao Tỷ lệ nguồn thu sẽ cho biết nhà trường đang hoạt động dựa vào nguồn tài chính nào là chủ yếu Cơ cấu nguồn thu cũng cho biết trong điều kiện, khả năng của mình, các trường nên tìm giải pháp để tăng thu từ nguồn nào
Cơ cấu nguồn chi là tỷ lệ của các mục chi (như chi tiền lương, tiền công, thu nhập tăng thêm; điện nước, xăng dầu; mua vật tư, dụng cụ thí nghiệm, thực hành, thực tập, mua tài liệu; chi đầu tư phát triển; chi nghiên cứu khoa học…)
so với tổng nguồn chi hoạt động trong năm của nhà trường Cơ cấu nguồn chi cho biết khả năng tiết kiệm và hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí trong năm của nhà trường Nguồn kinh phí của nhà trường đang đầu tư chủ yếu cho vấn đề gì? trong tương lai cần thay đổi theo hướng nào? để duy trì sự cạnh canh và phù hợp với chiến lược phát triển nhà trường
Thứ ba là tính linh hoạt
Tính linh hoạt của cơ chế quản lý tài chính là những quy định trong nó phải có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh tế xã hội, xu hướng phát triển của thị trường giáo dục đại học trong nước và quốc tế Cho phép các trường được tự do lựa chọn tìm kiếm, sử dụng các nguồn kinh phí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ theo đuổi trong ngắn hạn và dài hạn Chẳng hạn, mức độ linh hoạt của cơ chế cấp ngân sách, quyền tự chủ về tính học phí… sẽ tác động tới phản ứng của các trường trong việc thay đổi mục tiêu, đối tượng, số lượng tuyển sinh phù hợp với năng lực, nhu cầu đào tạo của xã hội Ví dụ, Nhà nước muốn giảm sự mất cân đối về chỉ tiêu đào tạo giữa các ngành kinh tế, kỹ thuật, y tế… thì chỉ cần tăng hoặc giảm hệ số định mức ngân sách cấp cho mỗi loại chỉ tiêu đào tạo Các trường phải tự điều chỉnh chỉ tiêu được ngân sách cấp kinh phí thấp
Thứ tư là tính công bằng
Trang 3729
Những quy định trong cơ chế quản lý tài chính phải tạo ra sự công bằng giữa quyền tự chủ và trách nhiệm đi kèm Trong đó, trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học công lập là trách nhiệm đối với sinh viên, cha mẹ sinh viên, người
sử dụng lao động, công chúng nói chung và Nhà nước nói riêng Nó bao gồm việc đảm bảo chất lượng đào tạo, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đem lại sự hài lòng cho sinh viên và cộng đồng, các thông tin tài chính của nhà trường phải đảm bảo tính minh bạch và giải trình công khai
Tuy nhiên, những quy định trong cơ chế cần đảm bảo sự hài hòa giữa quyền hạn và trách nhiệm, phải cân bằng giữa chi phí và lợi ích đem lại Ví dụ, chương trình đào tạo chất lượng cao thì nhà trường được quyền đưa ra mức học phí tương ứng hay người học phải chi trả học phí cao phù hợp với chất lượng nhận được
Thứ năm là tính ràng buộc về mặt tổ chức
Để đảm bảo tính hiệu quả thì những quy định trong cơ chế quản lý tài chính phải phù hợp với pháp luật hiện hành Ngoài ra, nó cần phải có sự hỗ trợ
về mặt hành chính để thực hiện các quy định của các trường trong thực tiễn Bởi
vì, đôi khi hiệu lực của các quy định bị cản trở do những ràng buộc về quyền thực thi pháp lý trong thiết kế và thực hiện các biện pháp của các quy định đó Đối với một số loại quy định thì những khó khăn có thể nảy sinh với các chức năng điều phối, giám sát và đánh giá
Tính ràng buộc tổ chức của cơ chế quản lý tài chính còn thể hiện ở chỗ,
nó có tác dụng thúc đẩy các trường chủ động tìm kiếm nguồn lực tài chính ngoài ngân sách Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có chính sách thích hợp, chưa có quy định cụ thể về mặt luật pháp, nhiều trường chưa quan tâm dẫn tới chưa khơi thông được nguồn tài chính này
Thứ sáu là sự thừa nhận của cộng đồng
Trang 3830
Cơ chế quản lý tài chính được xem như là một bản thỏa thuận giữa nhà nước và các trường nhằm đảm bảo sự đồng thuận chung về quản lý thu chi tài chính Vì vậy, cơ chế quản lý tài chính có mục đích thay việc Nhà nước thường xuyên phải nâng mức chi ngân sách bằng việc trao quyền để các trường chủ động khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính một cách hiệu quả, đáp ứng tốt nhất cho việc nâng cao chất lượng đào tạo.Sự thành công của cơ chế quản lý tài chính phụ thuộc vào mức độ cộng đồng thừa nhận nó
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Phân bổ nguồn ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục đại học công lập theo sản phẩm đầu ra
Hiện nay, hệ thống giáo dục đại học Úc có khoảng gần 40 trường đại học công lập và 2 trường đại học tư Trong đó nhiều chương trình đào tạo của các trường đại học công lập được các tổ chức kiểm định độc lập đánh giá cao Chính phủ Úc cung cấp nguồn NSNN cho các trường đại học công lập để thực hiện các chương trình này Năm 2008, Chính phủ nước này đã tiến hành cuộc đánh giá có quy mô lớn đối với giáo dục đại học do GS Dennis Bradley (Nguyên Giám đốc Đại học Nam Úc) chủ trì Các khuyến nghị từ kết quả của cuộc nghiên cứu đã được Chính phủ xem xét, phê duyệt thực hiện để điều chỉnh trong chính sách tài chính đối với đại học [3]:
Cơ chế cấp kinh phí theo nhu cầu và lấy sinh viên làm trung tâm; sử dụng các chỉ số thực hiện được xây dựng cho bốn lĩnh vực rõ ràng là căn cứ phân bổ nguồn kinh phí: sự tham gia và mức độ giáo dục hòa nhập của sinh viên, kinh nghiệm của sinh viên, kiến thức của sinh viên, chất lượng đầu ra
Đảm bảo chất lượng trong đó nhận mạnh các chuẩn và kết quả đầu ra được thực hiện thông qua Tổ chức tiến hành kiểm định và giám sát hoạt động
Trang 39Nhật đẩy mạnh quyền tự chủ tài chính, cũng như thay đổi cơ chế quản lý tài chính của các trường đại học sau khi có luật cải cách giáo dục tháng 7/2003 với sự khuyến khích kiểu doanh nghiệp đại học Bắt đầu từ năm 2004, các trường đại học quốc gia lần đầu tiên được nhận kinh phí trọn gói để chi tiêu Tuy Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn quy định mức học phí hàng năm, nhưng các
cơ sở giáo dục đại học được phép điều chỉnh tăng mức học phí tăng khoảng 20%
Singapore cho phép các trường đại học được tự chủ và khuyến khích các trường đa dạng hóa các nguồn tài chính, đặc biệt là từ doanh nghiệp Chính phủ vẫn cấp ngân sách chính cho giáo dục đại học, nhưng các trường được tự định mức học phí và được trao quyền tự chủ hoàn toàn về nguồn nhân lực
Hàn Quốc có cơ chế khác Trong khi các trường công vẫn tiếp tục chịu sự hạn chế trong những lĩnh tài chính thì các trường đại học tư thục lại được mở rộng tự chủ về tài chính Tuy nhiên, từ năm 2008, Hàn Quốc cũng đã thí điểm việc tăng cường tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường đại học Một số đại học lớn như Đại học Seoul được trao quyền nhiều hơn trong các quyết định tài chính của họ
Chính phủ các nước thu nhập trung bình ở Đông Á trao cơ chế quản lý tài chính cho một số trường đại học, dưới dạng phân bổ ngân sách công theo cơ chế tài trợ trọn gói và cho phép cơ sở linh hoạt hơn trong ấn định mức học phí cho
Trang 4032
một số chương trình và trong một số trường hợp Tuy vậy, ngay cả những cơ sở
tự chủ vẫn bị hạn chế trong việc vay vốn thương mại và sở hữu tài sản
Ví dụ, ở Thái Lan, các trường đại học tự chủ nhận ngân sách nhà nước thông qua chế độ phân bổ kinh phí trọn gói, được tự chủ trong xác định cơ chế quản lý và sử dụng nhân sự Các trường này cũng được quyền quản lý, sử dụng tài sản công Các trường đại học tự chủ ở Indonexia về mặt pháp lý được trao quyền tự chủ đáng kể, tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng dẫn đến tự chủ tài chính thực sự Nhưng Indonexia cũng đã thành công trong việc áp dụng một số loại hình ngân sách cạnh tranh, ngoài các trường đại học tự chủ Các cơ
sở giáo dục đại học của Malaysia cũng nhận ngân sách nhà nước thông qua kinh phí cấp trọn gói
Ở Lào, nước có thu nhập thấp, trường Đại học Quốc gia Lào đã được trao quyền tự chủ tài chính một phần Cơ chế quản lý tài chính được thiết lập cho phép trường tự quản lý nguồn thu dưới sự giám sát của Hội đồng trường
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ việc khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về cơ chế quản
lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập có thể rút ra các bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam
Thứ nhất, các trường đại học công lập là hạt nhân cho mục tiêu nâng cao
chất lượng đào tạo
- Các nước có nền kinh tế phát triển cao đều đã rất quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo và chiến lược con người, đặc biệt là chiến lược nhân tài
- Các chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao thường được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả ở các trường đại học công lập, các trường có danh tiếng và uy tín cao
Thứ hai, Nhà nước sử dụng công cụ phân bổ, cấp phát ngân sách để ưu
tiên về cơ chế và đầu tư tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập