Các nghiên cứu này đã đưa ra những dẫn liệu khá đầy đủ về sự đa dạng các loài côn trùng nước thuộc bộ Hemiptera ở nước ở Việt Nam tại một số khu vực như Vườn quốc gia Xuân Sơn, Ba Vì, Cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi chắc chắn không thể hoàn thành được luận văn này nếu không có được
sự hướng dẫn nhiệt tình, những lời động viên ủng hộ của thầy cô, bạn bè và gia đình trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Đầu tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Anh Đức Thầy đã hướng dẫn tận tình và cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Đồng thời, tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Nguyễn Văn Vịnh cùng toàn thể thầy giáo, cô giáo bộ môn Động vật Không xương sống - Khoa Sinh học - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại bộ môn
Qua đây, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Ngô Xuân Nam cùng các cán bộ của Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện nghiên cứu này Nghiên cứu này của tôi nhận được sự hỗ trợ từ đề tài:
“Nghiên cứu, đề xuất và xây dựng mô hình ứng dụng giải pháp sinh thái, thủy lợi nhằm bảo tồn gắn với phát triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam”,
mã số: ĐTĐSL.CN-11/16, và dự án: “Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam”
Cuối cùng, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn đứng phía sau ủng hộ và khích lệ tôi Chính sự động viên của mọi người đã cho tôi niềm tin vào con đường tôi đã chọn
Hà Nội, ngày 11 tháng 1 năm 2018
Học viên
Chu Thị Đào
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn 3
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học bộ Hemiptera ở nước tại khu vực Đông Nam Á 3
1.2 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học bộ Hemiptera ở nước tại Việt Nam 6
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam và khu di tích Mỹ Sơn 10
1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam 10
1.3.2 Khái quát điều kiện tự nhiên khu di tích Mỹ Sơn 11
Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng, thời gian nghiên cứu 13
2.2 Địa điểm nghiên cứu 13
2.3 Phương pháp thu mẫu 15
2.4 Phương pháp phân tích mẫu vật 16
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 17
2.5.1 Đánh giá đa dạng thành phần loài 17
2.5.2 Đánh giá mối liên hệ giữa thành phần loài và điều kiện sinh cảnh 18
Chương 3 – KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Thành phần loài Hemiptera ở nước tại tỉnh Quảng Nam 21
3.2 Đánh giá đa dạng Hemiptera ở nước và mối liên quan giữa thành phần loài với các sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn 29
3.2.1Đánh giá mức độ đa dạng thành phần loài Hemiptera ở nước giữa các sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn 30
3.2.2 Đánh giá mối liên quan giữa thành phần loài Hemiptera ở nước giữa các sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Cấu trúc thành phần giống, loài của các họ Hemiptera ở nước tại tỉnh Quảng Nam 21Bảng 3.2 Danh sách thành phần loài Hemiptera ở nước thu được ở 24tỉnh Quảng Nam 24Bảng 3.3 Kết quả phân tích các chỉ số đa dạng của Hemiptera ở nước giữa các sinh cảnh tại khu di tích trong đợt thu mẫu tháng 8/2016 30Bảng 3.4 Kết quả phân tích các chỉ số đa dạng của Hemiptera ở nước giữa các sinh cảnh tại khu di tích trong đợt thu mẫu tháng 4/2017 32Bảng 3.5 Danh sách thành phần loài tương ứng với từng dạng sinh cảnh của khu di tích Mỹ Sơn 34Bảng 3.6 Kết quả phân tích ANOSIM so sánh thành phần loài giữa các sinh cảnh trong đợt thu mẫu tháng 8/2016 41Bảng 3.7 Kết quả phân tích ANOSIM so sánh thành phần loài giữa các sinh cảnh trong đợt thu mẫu tháng 4/2017 42
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại tỉnh Quảng Nam 14
Hình 2.2 Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại suối Khe Thẻ, thuộc khu di tích Mỹ Sơn 15
Hình 2.3 Một số đặc điểm được sử dụng trong các khóa định loại tới họ của bộ Hemiptera ở nước 17
Hình 3.1 Tỷ lệ % thành phần loài của các họ thuộc bộ Hemiptera ở nước 23
tại tỉnh Quảng Nam 23
Hình 3.2 Tỷ lệ % thành phần giống của các họ thuộc bộ Hemiptera ở nước 23
tại tỉnh Quảng Nam 23
Hình 3.3 Kết quả đánh giá mức độ tương đồng giữa các điểm thu mẫu vào tháng 8/2016 sử dụng chỉ số Bray – Curtis 38
Hình 3.4 Kết quả phân tích MDS đánh giá mức độ tương đồng về cấu trúc thành phần loài giữa các điểm thu mẫu trong nghiên cứu vào tháng 8/2016 38
Hình 3.5 Kết quả đánh giá mức độ tương đồng giữa các điểm nghiên cứu vào tháng 4/2017 sử dụng chỉ số Bray – Curtis 40
Hình 3.6 Kết quả phân tích MDS đánh giá mức độ tương đồng về cấu trúc thành phần loài giữa các điểm thu mẫu trong đợt thu mẫu tháng 4/2017 40
Trang 71
MỞ ĐẦU
Bộ Cánh nửa Hemiptera là bộ có số lượng loài lớn và có nhiều đại diện sống
ở nước Cho tới nay trên thế giới đã có khoảng 5000 loài đã được ghi nhận thuộc 23
họ, hơn 350 giống, trong số đó có hơn 4600 loài sống ở nước ngọt [27, 28, 38] Hemiptera ở nước đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái ở nước Các loài thuộc bộ này chủ yếu ăn các loài động vật cỡ nhỏ như giáp xác cỡ nhỏ, các loài côn trùng nước khác như ấu trùng thuộc bộ Phù du, bộ Cánh lông và ấu trùng muỗi Nhiều loài trong bộ Hemiptera sống ở nước còn được sử dụng làm thực phẩm ở các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan [10] Tại Mexico, các loài thuộc họ Corixidae được phơi khô và sử dụng như loại thực phẩm giàu protein [38]
Những năm gần đây bộ Hemiptera ở nước cũng đã được nghiên cứu nhiều hơn Các nghiên cứu này đã đưa ra những dẫn liệu khá đầy đủ về sự đa dạng các loài côn trùng nước thuộc bộ Hemiptera ở nước ở Việt Nam tại một số khu vực như Vườn quốc gia Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Tiên, Hoàng Liên và một số tỉnh như Cao Bằng Bắc Kạn, Hà Giang, Nghệ An [1-5, 15, 23, 37] Tuy nhiên đa số các nghiên cứu này mới chỉ góp phần vào việc đánh giá mức độ đa dạng về thành phần loài bộ Hemiptera ở nước tại Việt Nam Đến nay vẫn chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhóm loài côn trùng nước thuộc bộ Hemptera ở nước và điều kiện sinh cảnh Thêm vào đó, đã có nhiều nghiên cứu và dẫn liệu thành phần loài tại các khu vực Bắc Bộ và Nam Bộ, vẫn chưa có nghiên cứu về Hemiptera ở nước tại khu vực Trung Trung Bộ, nên cần có những nghiên cứu để bổ sung dẫn liệu thành phần loài Hemiptera ở nước tại khu vực này
Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có địa hình phức tạp, bề mặt địa hình chia cắt và hệ thống sông ngòi khá phát triển Đây là điều điện lý tưởng để các nhóm côn trùng nước phát triển Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào về các nhóm côn trùng nước nói chung và bộ Hemiptera ở nước nói riêng Các loài côn trùng ở nước là các đối tượng chịu ảnh hưởng trước tiếp khi môi trường bị con người tác động, vì vậy, việc nghiên cứu về chúng là rất quan trọng Ngoài việc đưa ra các dẫn liệu và đánh giá bước đầu về sự đa dạng thành phần loài côn trùng nước thuộc bộ Hemiptera ở
Trang 82
nước, nghiên cứu còn chú trọng vào điều kiện sinh sống của từng nhóm loài tại các địa điểm thu mẫu Khu vực di tích Mỹ Sơn đang chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các tác động của con người, việc bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái tại khu di tích vẫn đang là vấn đề nhiều thách thức Do các thành phần trong hệ sinh thái có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, nên việc bảo tồn khu di tích không chỉ giới hạn ở việc trùng tu tôn tạo phần di tích tháp, mà còn cần bao gồm cả việc nghiên cứu hệ sinh thái tự nhiên và các yếu tố môi trường ở khu di tích Chính vì vậy, để có có sở xây dựng
mô hình ứng dụng các giải pháp sinh thái, thành phần của quần xã sinh vật tại khu vực này đã được điều tra, nghiên cứu Việc tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bộ Cánh nửa ở nước (Insecta: Hemiptera) tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam” là thật sự cần thiết với hai mục tiêu:
- Nghiên cứu thành phần loài Hemiptera ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam
- Bước đầu tìm hiểu mối liên quan giữa các thành phần loài và điều kiện sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn- tỉnh Quảng Nam
Trang 93
Chương 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học bộ Hemiptera ở nước tại khu vực Đông Nam Á
Hemiptera ở nước bao gồm 3 nhóm chính: Gerromorpha (nhóm sống trên màng nước) và Nepomorpha (nhóm sống dưới nước) và Leptopodomorpha, tuy không sống ở môi trường nước nhưng chủ yếu kiếm ăn, bắt mồi ở gần các thủy vực [27, 28, 38] Trong đó, số lượng loài thuộc nhóm Nepomorpha là lớn nhất với khoảng 2400 loài Nhóm Gerromorpha có khoảng 2100 loài trên toàn thế giới [38]
Bộ Hemiptera ở nước có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái ở nước [36] Họ Gerridae có nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống của con người Một
số loài thuộc giống Halobates thuộc họ Gerridae được biết đến như là loài có thể
hấp thụ kim loại nặng và chúng thường được sử dụng làm chỉ thị sinh học của Cadmium và các kim loại nặng khác trên bề mặt biển [33] Ngoài ra, một số loài thuộc họ này còn được sử dụng làm sinh vật mô hình trong nghiên cứu về tiến hóa sinh sản [38] Bên cạnh đó, vai trò của một số họ thuộc nhóm Nepomorpha cũng được nhắc tới mặc dù còn chưa được nghiên cứu kỹ Các họ Naucoridae, Belostomatidae, Nepidae có vai trò trong kiểm soát ấu trùng muỗi Ngoài việc được
sử dụng làm thức ăn cho cá và con người như cà cuống (Lethocerus indicus), họ
Belostomatidae còn có vai trò trong kiểm soát các loài thuộc lớp thân mềm và một
số loài của họ này có thể giúp kiểm soát những vật chủ trung gian của sán Tuy nhiên, một số loài thuộc họ Notonectidae gây hại cho môi trường nuôi cá [10, 38]
Khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng có số lượng loài Côn trùng nước bộ Hemiptera chiếm ưu thế, đặc biệt có nhiều giống thậm chí là phân họ đặc hữu [10,
27, 28] Nghiên cứu đầy đủ và hệ thống nhất về khu hệ Hemiptera ở nước là của
Chen et al (2005) cho khu vực Malesia (khu vực nằm giữa eo Kra của miền nam
Thái Lan và các đảo phía Đông của New Guinea; các đảo Bismarck và Solomon) Tại khu vực này, các tác giả đã ghi nhận khoảng 1.000 loài thuộc 100 giống, 17 họ, chiếm một phần tư tổng số loài Hemiptera ở nước đã biết trên thế giới [10] Trong
Trang 10Lan Trong nghiên cứu này tác giả đã nhấn mạnh giống Fischerotrephes lần đầu tiên ghi nhận ở Thái Lan, 18 loài thuộc giống Helotrephes, hầu hết các loài đều có phân bố khá hạn chế Chỉ 1 loài thuộc giống Hydrotrephes được tìm thấy ở Thái
Lan, trong khi đó, các loài thuộc giống này khá nhiều và có phân bố rộng rãi khắp Philippines và Indonesia tới Sri Lanka (22 loài) Tác giả cũng đưa ra các nhận định
về vùng phân bố của giống Hydrotrephes tại Thái Lan, tuy nhiên vẫn cần các
nghiên cứu thêm về nhóm này [34] Chen (2006) đã tổng hợp và mô tả 47 loài thuộc
bộ Hemiptera ở nước thu được tại vùng Đông - Bắc Thái Lan Đây là những nghiên cứu đầu tiên đưa ra được danh lục thành phần loài, mô tả và phân bố của nhóm Hemiptera ở nước tại Thái Lan [11] Vitheepradit (2007) cũng đã đưa ra khóa định loại của phân họ Ptilomerinae ở Thái Lan: ghi nhận 14 loài thuộc 6 giống tại khu
vực này, trong số đó có giống Ptilomerella chỉ ghi nhận ở miền nam Thái Lan [41]
Vitheepradit (2008) cũng đã có những nghiên cứu chi tiết về nhóm Gerromorpha tại Thái Lan Trong đó, tác giả đã mô tả hơn 80 loài, 15 giống thuộc họ Gerridae, 16 loài thuộc 4 giống họ Hebridae, 17 loài thuộc họ Hydrometridae, 18 loài thuộc họ Velliidae và 2 loài thuộc họ Mesoveliide được ghi nhận ở khu vực này [40] Cũng
đã có một số nghiên cứu về sinh thái học đáng chú ý như Tuy nhiên, cũng giống như các nước khác trong khu vực Malesia, các nghiên cứu chủ yếu tập trung về mặt phân loại học và mô tả loài mới Các nghiên cứu về sinh thái học và tiến hóa của các loài Hemiptera ở nước vẫn còn rất thiếu
Bộ Hemiptera ở nước được nghiên cứu nhiều nhất tại Singapore và bán đảo Malaysia Tính đến nay, đã có khoảng 120 loài được ghi nhận cho Singapore và 198 loài được ghi nhận cho bán đảo Malaysia [8, 14, 26, 27, 30-32, 42, 43, 48, 51] Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2001) còn cung cấp phân bố, tập tính và khóa
Trang 115
định loại đến họ [14] Andersen (2002) đã tiếp tục các nghiên cứu của mình về nhóm có số lượng loài lớn nhất trong bộ Hemiptera ở nước: Veliidae Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, mới chỉ có 33 loài thuộc 15 giống được ghi nhận, đồng thời tác giả cũng ghi chú những đặc điểm sinh thái học, tập tính và phân bố của từng nhóm cụ thể trong khu vực Singapore - Malaysia [8] Nieser (2002, 2004) công bố những nghiên cứu của ông về 4 họ Corixidae, Micronectidae, Pleidae và Notonectidae cho khu vực này Trong đó, số lượng loài thuộc họ Micronectidae chiếm ưu thế với 17 loài, họ Notonectidae với 11 loài thuộc 4 giống, trong khi đó họ Corixidae và Pleidae chỉ có 2 loài [25, 26] Yang và cộng sự (2005) tiếp tục đưa ra nghiên cứu về họ Hydrometridae tại khu vực này Nghiên cứu đã đưa ra khóa định loại 19 loài trong khu vực Đông Nam Á Trong số đó đã ghi nhận được 14 loài ở Singapore-bán đảo Malaysia [43] Zettel (2011) đã đưa ra danh sách 11 loài thuộc 7 giống của họ Helotrephidae được ghi nhận cho khu vực này [51] Yang và cộng sự (2011) đã ghi nhận, mô tả đặc điểm và phân bố của 5 loài thuộc họ Mesoveliidae [44] Polhemus (2013) đã thêm vào danh sách 2 loài thuộc họ Belostomatidae, 4 loài thuộc họ Aphelocheiridae, 10 loài thộc họ Nepidae, 14 loài thuộc họ Naucoridae, được ghi nhận tại khu vực này Ngoài ra, tác giả còn cung cấp phân bố của chúng tại các khu vực khác trong Đông Nam Á [29, 30] Thêm vào đó, đã thống
kê được có hơn 80 loài đặc hữu thuộc bộ Hemiptera ở nước tại đảo Borneo [10] Các nghiên cứu tại khu vực này đã nghiên cứu chi tiết phân bố và đặc điểm của từng nhóm loài, đồng thời cũng đưa ra các khóa định loại Các nghiên cứu này đều đưa ra cái nhìn toàn diện về côn trùng thuộc bộ Hemiptera ở nước, đặc biệt là các nghiên cứu về phân loại học
Các nghiên cứu về bộ Hemiptera ở Campuchia và Myanmar vẫn còn rất ít Zettel (2011) đã công bố 7 loài mới cho Myanmar và đưa ra danh sách 64 loài thuộc nhóm Gerromorpha tại khu vực này [52] Zettel và cộng sự (2017) đã công bố những dân liệu đầu tiên về thành phần loài Hemiptera ở nước tại Campuchia Theo đó, đã có
41 loài thuộc 25 giống và 11 họ được ghi nhận cho khu vực này [53] Cùng trong năm này, Polhemus đã bổ sung thêm những dẫn liệu thành phần loài cho khu vực
Trang 126
Campuchia Trong nghiên cứu này, đã có 68 loài được ghi nhận thuộc 35 giống và 11
họ Thêm vào đó, tác giả đã công bố 4 loài mới trong nghiên cứu này đó là Amemboa
cambodiana (họ Gerridae); Microvelia penglyi, M setifera và M bokor (thuộc họ
Veliidae) [34] Những nghiên cứu về thành phần loài Hemiptera ở nước tại khu vực Campuchia và Myanmar vẫn còn rất thiếu, chính vì thế, đây cũng là khu vực lý tưởng
để nghiên cứu về đa dạng sinh học Hemiptera ở nước
Phần lớn các nghiên cứu phân loại Hemiptera ở nước dựa trên đặc điểm hình thái Ngoài ra còn có các nghiên cứu về tiến hóa và sinh thái học, địa lý sinh vật của Cheng, Andersen cũng đã nghiên cứu về cấu trúc và sự phát triển của trứng, phần phụ miệng [7] Cheng (1989) nghiên cứu địa lý sinh vật và cây phát sinh chủng loại
của nhóm Halobates Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ gần gũi của hai giống Halobates và giống Asclepios [13] Cho đến nay, nghiên cứu các hóa thạch và sử
dụng kĩ thuật sinh học phân tử, giải trình tự ADN để nghiên cứu về tiến hóa và phát sinh chủng loại các họ thuộc bộ Hemiptera ở nước đã được áp dụng [18] Tuy nhiên, việc sử dụng sinh học phân tử phân tích gặp nhiều khó khăn vì các dữ liệu vẫn chưa đầy đủ để so sánh và đối chiếu Trong các nghiên cứu sau này cũng nên chú trọng đến sinh thái học, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, khí hậu và con người lên nhóm sinh vật vì hiện tại các nghiên cứu này vẫn còn rất thiếu Ngoài ra, một số tác giả còn sử dụng các nhóm loài Hemiptera ở nước để nghiên cứu địa lý sinh vật [18]
1.2 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học bộ Hemiptera ở nước tại Việt Nam
Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa Việt Nam là điểm nóng về đa dạng sinh học (Biodiversity Hotspot) thuộc khu vực Indo-Burma (gồm Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và nam Trung Quốc) [27, 28] Địa hình phức tạp với hệ thống sông ngòi dày đặc, chế độ thủy văn thay đổi theo mùa đã góp phần tạo nên sự đa dạng của côn trùng nước ở Việt Nam cũng như sự đa dạng của bộ Hemiptera
Những năm gần đây đa dạng thành phần loài Hemiptera ở nước cũng đã được nghiên cứu khá nhiều tại Việt Nam Từ những dẫn liệu đầu tiên về họ
Trang 137
Gerridae đã ghi nhận hơn 40 loài cho Việt Nam Ghi nhận về họ này ở Việt Nam cũng đã khá đầy đủ và chi tiết Tính đến nay, đã có khoảng 70 loài thuộc họ này được ghi nhận cho Việt Nam [1-5, 15, 23, 37, 38] Vì thế, ngoài các nghiên cứu
về phân loại học và đa dạng thành phần loài, hướng nghiên cứu về sinh thái học
và tập tính của chúng cũng cần phải được mở rộng thêm
Họ có số lượng lớn nhất trong bộ Hemiptera ở nước là Veliidae Tuy nhiên, vì kích thước nhỏ nên việc thu mẫu là khó khăn hơn các họ khác Trên thế giới có khoảng hơn 850 loài thuộc 57 giống của họ Veliidae [12] Tính đến nay, Việt Nam đã ghi nhận khoảng 40 loài thuộc họ này [1-5, 15, 19, 23, 31, 37, 38,
46, 47] Trong số các loài đã ghi nhận, có 7 loài mới được là Strongylovelia albopicta, S bipunctata, S setosa, S vasarhelyii, và Entomovelia quadripenicillata, Rhagovelia polymorpha và R yangae, 3 loài ghi nhận lần đầu cho Việt Nam là Halovelia malaya, Haloveloides sundaensis và Xenobates mandai [19, 46, 47] Họ Veliidae là một trong những họ có tiềm năng nghiên cứu lớn tại Việt Nam
Họ Helotrephidae thường được bắt gặp tại các khu vực nước chảy chậm
của suối Các loài thuộc nhóm Fischerotrephes, Platytrephes và Distotrephes ưa sống ở dưới đáy những con suối sạch, còn nhóm Mixotrephes và Idiotrephes lại
hay được bắt gặp ở chỗ đá ẩm có rêu Cho đến nay, đã có hơn 180 loài của họ này được ghi nhận trên thế giới, 23 loài được ghi nhận cho Thái Lan và hơn 120 loài được tìm thấy ở khu vực Malesia [12] Trong khi đó, mới chỉ có 6 loài thuộc
họ này được ghi nhận ở Việt Nam [1-5, 15, 23, 37, 38, 46]
Họ Aphelocheiridae có 92 loài được ghi nhận trên toàn thế [12] Các nghiên cứu về họ Aphelocheiridae ở Việt Nam vẫn còn rất ít [50] Tại Việt Nam,
đã ghi nhận được 12 loài thuộc giống Aphelocheirus trong đó có 3 loài mới là Aphelocheirus apicalis, A flavinotatus, A sapa [40] Tuy nhiên, các ghi nhận
này mới chỉ tập trung tại khu vực Bắc Trung Bộ, khu vực trung du và vùng núi phía Bắc, chưa có nhiều nghiên cứu về họ Aphelocheiridae tại các khu vực khác của Việt Nam
Trang 148
Họ Micronectidae có thể bắt gặp ở trong các nghiên cứu về bộ Hemiptera
ở nước tại Việt Nam Có 6 loài Micronecta fugitans, M guttatostriata, M khasiensis, M polhemusi, M quadristrigata, M siva được ghi nhận ở Việt Nam [1-
5, 15, 23, 31, 37] Tuy nhiên, số loài thuộc họ thu được ở khu vực Trung quốc là
27 loài và ở Malaysia là 16 loài [12, 38] Thêm vào đó, trong hầu hết các nghiên
cứu ở Việt Nam đều chưa thể xác định tên khoa học chính xác Cần có một
nghiên cứu toàn diện về họ này ở Việt Nam trong tương lai
Notonectidae là họ có số lượng lớn trong nhóm Nepomorpha với hơn 400 loài được ghi nhận trên toàn thế giới [12] Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ ghi
nhận được 8 loài là Anisops breddini, A kuroiwae, Aphelonecta gavini, Enithares metallica, E stridulata, E sinica, E madalayensis và E cilliata [20, 26] Vậy nên,
tiềm năng nghiên cứu về các loài thuộc họ này ở Việt Nam vẫn còn rất lớn
Có hơn 60 loài thuộc họ Ochteridae trên toàn thế giới, ở khu vực Malesia cũng đã ghi nhận hơn 28 loài [12] Tuy nhiên, ở Việt Nam, mới chỉ có ghi nhận
của 2 loài đó là Ochterus marginatus và O signatus [12, 38] Một trong những
nguyên nhân khiến việc nghiên cứu về họ Ochteridae ở Việt Nam gặp khó khăn đó
là sự khó khăn trong việc thu mẫu Họ Ochteridae này không sống trong nước như các họ thuộc nhóm Nepomorpha khác, chúng sống ở bên bờ nước và có khả năng di chuyển khá linh hoạt nên việc thu mẫu khó hơn các họ khác
Hầu hết các họ trong bộ Hemiptera ở Việt Nam vẫn còn được nghiên cứu chưa kĩ càng Các họ Corixidae, Belostomatidae, Gelastocoridae, Pleidae, Hebridae, Mesoveliidae đều mới chỉ ghi nhận từ 1 - 2 loài ở Việt Nam [1-5, 15,
23, 37] Trong khi đó, trên thế giới đã ghi nhận được 450 loài thuộc 32 giống của
họ Corixidae, 160 loài thuộc 9 giống của họ Belostomatidae, 100 loài thuộc 3 giống thuộc họ Gelastocoridae, 40 loài thuộc họ Pleidae [12] Chính vì thế, các
họ này cần được nghiên cứu sâu hơn tại Việt Nam
Đã có nhiều nghiên cứu về đa dạng thành phần loài bộ Hemiptera ở nước ngọt tại Việt Nam Trần Anh Đức và cộng sự (2015) đã đưa ra được những dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài Hemiptera ở nước tại Hà Giang 44 loài thuộc 32
Trang 15cứu về Hemiptera tại các Vườn Quốc Gia Vườn Quốc Gia Xuân Sơn có 54 loài thuộc
34 giống, 12 họ thuộc bộ Hemiptera ở nước [37] Trong số các loài thu được ở Vườn
Quốc Gia này đã bắt gặp được loài Gigantometra gigas mới chỉ có ghi nhận ở một vài
nơi tại Việt Nam [37] Những dẫn liệu về thành phần loài Hemiptera ở nước tại Vườn Quốc Gia Hoàng Liên cũng đã được công bố Tính đến nay, đã có 65 loài, 34 giống thuộc 15 họ Hemiptera ở nước được ghi nhận tại Vườn Quốc Gia này Nghiên cứu này
cũng đã bổ sung dẫn liệu mới về phân bố của các loài Limnogonus nitidus, Metrocoris acutus, Onychotrechus esakii, Ptilomera tigrina (họ Gerridae), Hyrcanus sp (họ Hebridae); Microvelia douglasi (họ Vellidae) mà trước đây chưa từng được ghi nhận tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên Đặc biệt, loài Aquarius elongatus (họ Gerridae) là loài
lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam [1, 5] Khu vực Nghệ An đã có những dẫn liệu thành phần loài Hemiptera ở nước Trong đó, đã ghi nhận được 70 loài thuộc 36 giống
và 15 họ tại khu vực này Nghiên cứu về bộ Hemiptera ở nước tại Nghệ An cũng đã ghi
nhận 4 loài đặc hữu cho Việt Nam là Eotrechus pumat, Strongylovelia bipunctata, S setosa, và Aphelocheirus flavinotatus Ngoài ra, còn lần đầu ghi nhận được giống Xiphovelia (thuộc họ Veliidae) cho Việt Nam [23] Các nghiên cứu về bộ Hemiptera ở
nước tại Việt Nam mới chỉ tập trung ở các thủy vực nước ngọt, chưa có nhiều nghiên cứu tại các thủy vực khác
Các nghiên cứu về bộ Hemiptera ở nước tại các thủy vực nước mặn tại Việt Nam vẫn còn rất ít ỏi Cho đến nay, Côn trùng nước bộ Hemiptera ở biển đã xác định được khoảng 10 loài thuộc 3 họ: Gerridae, Veliidae và Hermatobatidae Trong đó, họ Gerridae có 5 loài, họ Veliidae có 4 loài và họ Hermatobatidae có 1 loài Trong số các loài Côn trùng nước bộ Hemiptera bắt gặp tại Côn Đảo có loài
Xenobates singaporensis là ghi nhận mới cho Việt Nam, góp phần mở rộng thêm
dữ liệu về phân bố của loài này [3]
Trang 1640, 43-51], trong đó họ Gerridae là nhiều nhất với gần 70 loài, họ Veliidae có khoảng hơn 40 loài [1-5, 15, 25, 39, 40, 47, 49] Các họ khác vẫn còn rất ít nghiên cứu tổng hợp
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam và khu di tích Mỹ Sơn
1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông Tỉnh Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn [55]
Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông hình thành
3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa
và dải đồng bằng ven biển Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn) Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc, Điện Bàn đến Tam Quang, Núi Thành Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang [55]
Trang 1711
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm 25,6oC Lượng mưa trung bình 2000-2500mm Vùng Tây Bắc thuộc lưu vực sông Bung (các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang) có lượng mưa thấp trong khi vùng đồi núi Tây Nam thuộc lưu vực sông Thu Bồn (các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Hiệp Đức) có lượng mưa lớn Mưa lớn lại tập trung trong một thời gian ngắn trên một địa hình hẹp, dốc tạo điều kiện thuận lợi cho lũ các sông lên nhanh [55]
Diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.040.683 ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá, Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 40, 9%; trữ lượng gỗ của tỉnh khoảng 30 triệu m3 Diện tích rừng tự nhiên
là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha
Do địa hình đồi dốc và lượng mưa lớn nên mạng lưới sông ngòi của tỉnh Quảng Nam khá dày đặc Quảng Nam có hai hệ thống sông lớn là Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ Diện tích lưu vực Vu Gia Thu Bồn (bao gồm một phần lưu vực thuộc tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi, thành phố Đà Nẵng là 10.350 km2 và lưu vực sông Tam Kỳ là
735 km2 Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại các cửa Hàn (Đà Nẵng), Đại (Hội An) và An Hòa (Núi Thành) Ngoài hai hệ thống sông trên, sông Trường Giang có chiều dài
47 km chảy dọc ven biển theo hướng Bắc Nam kết nối hệ thống sông Vu Gia Thu Bồn
và Tam Kỳ [57]
1.3.2 Khái quát điều kiện tự nhiên khu di tích Mỹ Sơn
Khu di tích Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
có vị trí tọa độ địa lý: Vĩ độ Bắc: 15o515, Kinh độ Đông: 108o573 Khu di tích Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng có đường kính khoảng 2 km thuộc xã Duy Phú huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Khu di tích Mỹ Sơn được quy hoạch bảo tồn
Trang 1812
và phát huy có tổng diện tích: 1.158 ha Nơi đây, với hơn 70 công trình kiến trúc đền tháp của nền văn minh Chămpa được kết tinh trong những di chứng vật chất trường tồn, chứa đựng những giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật được tạo lập trong một thời gian dài suốt 9 thế kỷ (từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XIII), được đánh giá ngang hàng với các di tích nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á như Angkor, Pagan, Bôrôbudua Khu di tích Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng, hội đủ các yếu tố cần thiết như đỉnh núi, rừng cây, mặt nước gắn kết với các đền tháp thành một thể thống nhất không thể tách rời Cảnh quan thiên nhiên của khu vực có sự hiện diện của nhiều loại thực vật, động vật hoang dã đã mang lại các nét đặc trưng riêng cho khu di tích này [54]
Khu vực quy hoạch có địa hình phức tạp Là một khu thung lũng bao quanh là một vòng núi đất, núi đá có độ cao từ 120m đến 350m Đỉnh Răng Mèo (có tên gọi khác là đỉnh Hòn Đền) cao nhất, có độ cao khoảng 750m so với mặt nước biển Trên các sườn núi có nhiều suối nhỏ đều đổ về suối Khe Thẻ Suối Khe Thẻ chảy từ trong thung lũng Mỹ Sơn ra hợp lưu với một dòng Tụ thủy (phía Đông Bắc) đổ ra hồ Thạch bàn ở phía Tây [54]
Tuy nhiên, khu di tích đang chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các tác động của con người, việc bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái tại khu di tích vẫn đang là vấn đề nhiều thách thức lớn Do các thành phần trong hệ sinh thái có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nên việc bảo tồn khu di tích không chỉ giới hạn ở việc trùng tu tôn tạo phần di tích tháp, mà còn cần bao gồm cả việc nghiên cứu hệ sinh thái tự nhiên và các yếu tố môi trường ở khu di tích Chính vì vậy, để có có sở xây dựng mô hình ứng dụng các giải pháp sinh thái, thành phần của quần xã sinh vật tại khu vực này
đã được điều tra, nghiên cứu [54]
Trang 19
13
Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu vật trưởng thành của bộ Hemiptera ở nước thu được tại một số thuỷ vực trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, do cán bộ Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình và học viên, cán bộ bộ môn Đông vật Không xương sống - khoa Sinh học - trường Đại học Khoa học Tự nhiên thu trong 3 đợt: tháng 9/2015, tháng 8/2016 và tháng 4/2017
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Có tổng cộng 79 điểm thu mẫu tại tỉnh Quảng Nam, trong đó:
Đợt 1: từ 18/9/2015 tới 28/9/2015 với 49 điểm thu mẫu tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam được thu bởi cán bộ Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình Trong 49 điểm thu mẫu này, đã thu được Hemiptera ở nước tại 28 điểm
Đợt 2: từ 13/8/2016 tới 16/8/2016 tại 30 điểm thu mẫu tập trung trong khu di tích Mỹ Sơn, thôn Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam
Đợt 3: Từ 08/04/2017 đến10/04/2017, tiến hành thu lặp lại 30 điểm đã thu ở đợt 2
Tuy nhiên, trong đợt 3, không thu được mẫu ở 5 vị trí là MS 16, MS 27, MS
28, MS 29, MS 30 vì tại thời điểm khảo sát, nước lũ lên cao và chảy xiết
Tóm tắt các đặc điểm sinh cảnh tại mỗi điểm thu mẫu được trình bày ở Phụ lục 4 , sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại tỉnh Quảng Nam được thể hiện ở Hình 2.1 và địa điểm thu mẫu tại khu di tích Mỹ Sơn được thể hiện ở Hình 2.2:
Trang 2014
Hình 2.1 Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại tỉnh Quảng Nam
Khu di tích Mỹ Sơn (Hình 2.2)
Trang 22ưa sống ở vùng nước tĩnh gần bờ hay bề mặt đá, v.v Chính vì vậy việc thu mẫu
ở các vi sinh cảnh sẽ giúp thu được nhiều loài nhất có thể [10, 24]
Đối với nhóm Hemiptera sống trên mặt nước, sử dụng vợt quét nhanh và dứt khoát trên mặt nước nơi chúng có mặt, sau đó khóa miệng vợt để tránh chúng nhảy ra ngoài Với nhóm sống dưới nước, sử dụng vợt quét vào những nơi có giá thể như cây thủy sinh, cành cây, rễ cây, lá Ngoài ra đối với những loài sống bám
ở tầng đáy, chúng tôi sử dụng một số những tác động cơ học: dùng chân sục vào
đá, khuấy động dòng chảy, để vợt ngược chiều, những loài sống bám tầng đáy sẽ theo dòng nước chảy vào trong vợt [10, 24] Các mẫu vật sau khi thu được bảo quản trong cồn 90° và đem về lưu trữ và phân tích tại phòng thí nghiệm Đa dạng Sinh học, Bộ môn Động vật Không xương sống, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
2.4 Phương pháp phân tích mẫu vật
Mẫu vật được phân tích dựa trên các khóa định loại đã được công bố của nhiều tác giả khác nhau, bao gồm, khóa định loại đến họ và giống thuộc bộ Hemiptera của
Chen và cộng sự (2005), khóa định loại đến các loài thuộc họ Micronectidae của Nieser
và cộng sự (2002); khóa định loại đến phân họ và giống thuộc họ Notonectidae của Nieser và cộng sự (2004); khóa định loại đến loài thuộc họ Naucoridae, Aphelocheriidae, Ochteridae, Gelastocoridae, Nepidae, Belostomatidae của Polhemus
và cộng sự (2012, 2013); khóa định loại đến loài thuộc giống Enithares (họ
Notonectidae) của Lansbury (1968); Khóa định loại đến loài thuộc họ Veliidae của Andersen và cộng sự (2002) [10, 20 - 22, 25, 26, 29 - 31]
Các khóa định loại tới họ thường sử dụng các đặc điểm như: các đốt của antenna, chiều dài và chiều rộng của đầu, chân trước, chân sau, ống thở (đối với
Trang 2317
nhóm Gerromorpha và nhóm Nepomorpha) Các khóa định loại tới giống thường sử dụng các đặc điểm của chân trước: đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống, đốt bàn; các đặc điểm của đốt bụng, mảnh lưng Đối với các khóa định loại tới loài, thường
sử dụng các đặc điểm của phần phụ sinh dục vì đó là cơ chế cách ly sinh sản và đặc trưng cho từng loài Riêng nhóm Leptopodomorpha còn sử dụng đặc điểm của gân cánh trong các khóa định loại tới loài Một số đặc điểm được sử dụng trong các khóa định loại tới họ của bộ Hemiptera ở nước được thể hiện ở Hình 2.3
Hình 2.3 Một số đặc điểm được sử dụng trong các khóa định loại tới họ của bộ Hemiptera ở nước (Nguồn ảnh: Andersen N M, Polhemus D A, Polhemus J.T) 2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.5.1 Đánh giá đa dạng thành phần loài
Các chỉ số đa dạng sinh học được sử dụng bao gồm: chỉ số Margalef (d) và chỉ số Shannon - Weiner (H’)
Chỉ số Margalef (d) là chỉ số được sử dụng rộng rãi để xác định tính đa
dạng hay độ phong phú về loài Chỉ số Margalef được xác định khi biết số loài và số lượng cá thể trong mẫu đại diện của quần xã, được tính theo công thức [16, 17]:
𝑑 = log 𝑁𝑆−1
Trang 2418
Trong đó d: chỉ số đa dạng Margalef
S: số loài trong mẫu
N: tổng số cá thể
Chỉ số Shannon – Weiner (H’) được sử dụng để xác định lượng thông tin
hay tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Công thức để tính chỉ
số này là [17]:
𝐻′ = − 𝑛𝑖
𝑁
𝑠 𝑖=1 log2𝑛𝑖
𝑁 Trong đó: H’: chỉ số đa dạng loài
s: số lượng loài
N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
𝑛𝑖: số lượng cá thể của loài i
Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là
số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số H’ Trong tự nhiên, chỉ số H’ phổ biến trong khoảng 1,5 – 3,5 và hiếm khi vượt quá 4,0 [16, 17]
2.5.2 Đánh giá mối liên hệ giữa thành phần loài và điều kiện sinh cảnh
Chỉ số tương đồng Bray-Curtis được dùng để đánh giá mức độ tương đồng
về thành phần loài của các điểm nghiên cứu và được tính theo công thức [16, 17]:
𝑆𝑖𝑗 = 100 × 1 − 𝑦𝑝𝑖=1 𝑖𝑗 − 𝑦𝑖𝑘
𝑦𝑖𝑗 + 𝑦𝑖𝑘
𝑝 𝑖=1
Trong đó: 𝑆𝑗𝑘: Hệ số tương đồng của hai mẫu j và k (theo %)
𝑦𝑖𝑗: Số lượng cá thể loài i có trong mẫu j
𝑦𝑖𝑘: Số lượng cá thể loài I có trong mẫu k
p: Số loài có trong mẫu j và k
Giá trị 𝑆𝑗𝑘 nằm trong khoảng 0 - 100%, 𝑆𝑗𝑘 càng lớn thì tính tương đồng của hai mẫu càng cao [16]
Trang 2519
Phân tích tính Cluster và MDS (multidimension scaling) thường được dùng
để đánh giá mối tương quan giữa thành phần loài giữa các điểm thu mẫu Biểu diễn mỗi quan hệ tương đồng này bằng hai cách đó là biểu diễn theo nhóm (clustering) và biểu diễn theo không gian (MDS) Trong biểu diễn theo nhóm, các điểm thu mẫu được biểu diễn dưới dạng các nhánh cây, nhánh cây càng gần nhau thì mức độ tương đồng càng cao Còn biểu diễn theo không gian MDS chỉ rõ các điểm gần nhau sẽ có tính tương đồng cao hơn so với những điểm cách xa nhau Trong biểu diễn MDS, giá trị của hàm Stress càng nhỏ thì vị trí các điểm được thể hiện trên không gian 2 chiều càng phù hợp với hệsố tương đồng giữa chúng Giá trị Stress < 0,05: rất tốt (excellent); Stress < 0,1: tốt (good); Stress < 0,2: chấp nhận được (potential useful) và Stress > 0,3: vị trí giữa hai điểm được xếp ngẫu nhiên [18] Phân tích MDS và Cluster đều dựa trên chỉ số tương đồng Bray – Curtis Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là tại các điểm thuộc các dạng sinh cảnh khác nhau nhưng lại có độ tương đồng cao hơn với các điểm thu mẫu ở cùng một dạng sinh cảnh Vậy thì, sự khác biệt thành phần loài giữa các dạng sinh cảnh này có ý nghĩa thống kê hay không Chính vì thế, phân tích ANOSIM được sử dụng như một cách để kiểm tra lại giả thuyết của phân tích MDS [16]
Phân tích ANOSIM được sử dụng để kiểm tra thống kê xem có sự khác biệt
đáng kể giữa hai hoặc nhiều nhóm đơn vị lấy mẫu hay không Nếu hau nhóm mẫu khác nhau về thành phần loài thì sẽ có sự khác biệt Phân tích ANOSIM được tính dựa theo công thức [16, 17]:
𝑅 = 𝑟𝐵− 𝑟𝑊𝑁(𝑁 − 1)/4Trong đó: 𝑟𝐵: là độ tương đồng trung bình giữa các điểm thu mẫu trong nhóm
𝑟𝑊: là độ tương đồng trung bình giữa các cặp điểm thu mẫu thuộc các nhóm khác nhau
Trang 2620
tương đồng (sử dụng hệ số tương đồng Bray-Curtis cho số liệu sinh học) Giả thuyết H0 là hai tập tập số liệu không có sự tương quan (R = 0) Nếu kết quả tính toán R≠0 và mức ý nghĩa p < 0.05 thì giả thuyết H0 sẽ bị loại bỏ và hai tập số liệu có mối tương quan với nhau Phân tích ANOSIM được triển khai dựa trên chỉ số tương đồng Bray – Curtis [16, 17]
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel® v.2010 của hãng Microsoft® Corporation Các phân tích tính toán về chỉ số đa dạng, chỉ số tương đồng, phân tích Cluster-MDS và phân tích ANOSIM được thực hiện bằng phần mềm Primer v.6 của Primer-ETM Ltd, UK ((http://www.primer-e.com/)
Trang 2721
Chương 3 – KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài Hemiptera ở nước tại tỉnh Quảng Nam
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại tỉnh Quảng Nam đã xác định được 39 loài Hemiptera ở nước, thuộc 30 giống và 13 họ Số lượng giống, loài của từng họ Hemiptera ở nước bắt gặp tại khu vực nghiên cứu được nêu ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Số lượng giống, loài của các họ Hemiptera ở nước tại tỉnh
ở ngoài tự nhiên và có phân bố khá rộng Các loài thuộc họ Gerridae đã được nghiên cứu khá kĩ ở Việt Nam nên các mẫu vật thu được của họ này đều được xác định tên khoa học
Trang 2822
Tiếp đến là họ Veliidae và họ Micronectidae với 4 loài Họ Veliidae là họ có
số lượng lớn nhất trong bộ Hemiptera ở nước, tuy nhiên vì kích thước nhỏ nên rất khó quan sát và thu mẫu Có 3 loài thuộc họ Veliidae trong nghiên cứu này đã xác định được tên khoa học, trong khi đó 4 loài thuộc họ Micronectidae thu được mới
chỉ có duy nhất 1 loài xác định được tên khoa học chính xác là Micronecta quadristrigata Vì vậy, cần có nghiên cứu tiếp theo để so sánh đối chiếu với mẫu
vật của các loài liên quan để có thể xác định tên loài một cách chính xác
Naucoridae và Nepidae là hai họ có số lượng loài lớn thứ 3 trong nghiên cứu
này Họ Naucoridae thu được 3 loài là Gestroiella limnocoroides, Heleocoris ovatus
và Naucoris scutellaris Họ Nepidae thu được 3 loài Cercotmetus asiaticus, Laccotrephes sp và Ranatra gracilis Nhìn chung, các loài thu được trong nghiên
cứu này đều là những loài có phân bố rộng và dễ dàng bắt gặp ngoài tự nhiên Trong số mẫu vật thu được của hai họ này, chỉ duy nhất mẫu thuộc giống
Laccotrephes là chưa thể xác định tên khoa học một cách chính xác, vì thế trong
những nghiên cứu sau cũng nên chú ý tới nhóm này Cả hai họ này đều chiếm 7,69% tỉ lệ thành phần loài và 10 % tỉ lệ thành phần giống trong nghiên cứu này
Họ Notonectidae thu được 2 loài là Nychia sappho và Enithares sp chiếm
5,12% trong tỉ lệ thành phần loài và 6,67% trong tỉ lệ thành phần giống Đối với Hemiptera ở nước nói chung, các khóa định loại đến loài thường chỉ áp dụng được cho con trưởng thành của loài Trong nghiên cứu này, các mẫu thuộc giống
Enithares thu được đều là thiếu trùng nên chưa xác định được chính xác tên loài
Vì vậy, trong các đợt khảo sát tiếp theo, cần chú ý để thu được con trưởng thành của giống này
Các họ còn lại Mesoveliidae, Hebridae, Hydrometridae, Pleidae, Aphelocheiridae mỗi họ có 1 loài chiếm 2,56% tỉ lệ thành phần loài và 3,33% tỉ lệ
thành phần giống Trong đó, họ Pleidae chỉ có 1 loài là Paraplea frontalis chỉ thu được trong đợt thu mẫu tháng 8/2016 tại điểm MS 29 và điểm MS 30
Tỉ lệ phần trăm số giống, loài Hemiptera ở nước cũng được thể hiện ở Hình 3.1 và Hình 3.2
Trang 2923
Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài của các họ Hemiptera ở nước
tại tỉnh Quảng Nam
Hình 3.2 Tỷ lệ % số giống của các họ Hemiptera ở nước
tại tỉnh Quảng Nam
2,56
38,52
2,56 2,56
10,25 2,56
5,12 2,56 10,25
7,69 7,69
Mesoveliidae Gerridae Hebridae Hydrometridae Veliidae Aphelocheiridae Belostomatidae Helotrephidae Micronectidae Naucoridae Nepidae Notonectidae Pleidae
3,33
33,35
3,33 3,33 10
3,33 6,67 3,33 3,33
10
Mesoveliidae Gerridae Hebridae Hydrometridae Veliidae Aphelocheiridae Belostomatidae Helotrephidae Micronectidae Naucoridae Nepidae Notonectidae Pleidae
Trang 30Phân bố trên thế giới
3 Amemboa intermedia Zettel
Trang 3125
Các khu vực khác của tỉnh Quảng Nam
Phân bố trên thế giới
6 Limnogonus fossarum
fossarum (Fabricius, 1775)
Trung Quốc, Thái Lan [12]
7 Limnogonus nitidus (Mayr,
1865)
Campuchia, Việt Nam:
10 Ptilomera hylactor Breddin,
1903
+ + Trung Quốc, Lào, Thái
Lan, từ miền Bắc đến Nam Việt Nam, các tỉnh như: Điện Biên, Vĩnh Phúc, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đồng Nai, Lào Cai [1-5,
12, 25, 39, 40, 47]
11 Ptilomera tigrina Uhler, 1860 + + Trung Quốc, Lào,
Campuchia, Thái Lan, Malaysia, từ miền Bắc đến miền Nam Việt
Trang 3226
Các khu vực khác của tỉnh Quảng Nam
Phân bố trên thế giới
Zettel & Chen, 1996
43]
14 Ventidius distanti Paiva, 1918 + Myanmar, Thái Lan,
Việt Nam: Côn Đảo- Phú Quốc [3, 43, 54]
15 Ventidius karen Lansbury,
1990
Kon Tum, Hà Giang, Thái Lan [12, 17, 43]
16 Ventidius longitarsus Chen &
Trang 3327
Các khu vực khác của tỉnh Quảng Nam
Phân bố trên thế giới
Zettel, 2000
22 Strongylovelia vasarhelyii
Zettel & Tran, 2006
Đồng, tỉnh Gia Lai [49]
25 Lethocerus indicus (Le
Peletier & Serville, 1825)
Singapore, Malaysia, Việt Nam [12]
Hồng Kông , Viê ̣t Nam ,
Trang 3428
Các khu vực khác của tỉnh Quảng Nam
Phân bố trên thế giới
Philippines Indonesia, Châu Úc [16]
32 Heleocoris ovatus
Montandon, 1897
+ + Indochina, Trung Quốc,
Burma, Việt Nam [33]
33 Naucoris scutellaris Stål,
1859
Malaysia, Philippine, Thái Lan [33]
Họ Nepidae
34 Cercotmetus asiaticus Amyot
& Serville, 1843
+ + Java, Sumatra, Borneo,
Malaysia, Việt Nam, Trung Quốc [24]
36 Ranatra gracilis Dallas, 1850 + + Lào, Việt Nam, Thái
Lan, Ấn Độ, Malaysia [23]
Trang 3529
Các khu vực khác của tỉnh Quảng Nam
Phân bố trên thế giới
Họ Pleidae
39 Paraplea frontalis Fieber,
1844
Loan, Việt Nam, Thái Lan, Singapore [28]
Ghi chú: “+”: có mặt
Trong thời gian thực hiện đề tài luận văn này, kết quả nghiên cứu thành phần loài Hemiptera ở nước tại khu di tích Mỹ Sơn đã được tác giả của luận văn công bố trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 33, số 1S, trang 72-78
Trong số 39 loài thuộc 30 giống và 13 họ thu được, có 9 loài chưa xác định
được tên khoa học thuộc các giống: Timasius (thuộc họ Hebridae), Rhagovelia (họ Veliidae), Aphelocheirus (họ Aphelocheiridae), Laccotrephes (Nepidae), Helotrephes (họ Helotrephidae), Micronecta (Micronectidae), Enithares
(Notonectidae) Cần có các nghiên cứu tiếp theo để so sánh đối chiếu với mẫu vật của các loài liên quan để có thể xác định tên loài một các chính xác
3.2 Đánh giá đa dạng Hemiptera ở nước và mối liên quan giữa thành phần loài với các sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn
Khu vực di tích Mỹ Sơn đang chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các tác động của con người, việc bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái tại khu di tích vẫn đang là vấn đề nhiều thách thức Để có có sở xây dựng mô hình ứng dụng các giải pháp sinh thái vào phục hồi hệ sinh thái khu di tích Mỹ Sơn, việc đánh giá đa dạng thành phần loài côn trùng nước nói chung, Hemiptera ở nước nói riêng và mối liên quan giữa quần
xã sinh vật với một số điều kiện môi trường là cần thiết
Trang 3630
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu, dựa trên việc quan sát các yếu tố đặc điểm nền đáy, tính chất dòng chảy, độ che phủ của rừng và mức độ tác động của con người, đã xác định được 3 sinh cảnh tại khu vực suối của khu di tích Mỹ Sơn: Sinh cảnh 1: Độ che phủ 60-100%, nền đáy chủ yếu là đá tảng, đá cuội, thuộc khu vực rừng đầu nguồn và ít chịu tác động của con người tương ứng các điểm MS 01, MS 02, MS 03, MS 04, MS 05, MS 06, MS 07, MS 08, MS 09, MS10, MS11 Sinh cảnh 2: độ che phủ 30-60%, hai bên bờ suối là cây bụi và rừng trồng, nền đáy chủ yếu là sỏi nhỏ xen lẫn cát, rất ít đá tảng thuộc khu vực quanh tháp tương ứng với các điểm MS 12, MS 13, MS 14, MS 15, MS 16, MS
17, MS 18, MS 19, MS 20, MS 21 Sinh cảnh 3 là những nơi có độ che phủ thấp, nền đáy chủ yếu là sỏi nhỏ xen lẫn cát và nhiều bùn, ven bờ là đất mềm, thuộc khu vực có các hoạt động dịch vụ du lịch tương ứng với các điểm MS 22, MS
Bảng 3.3 Kết quả phân tích các chỉ số đa dạng của Hemiptera ở nước giữa các
sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn trong đợt thu mẫu tháng 8/2016
Trang 3832
Trong đợt thu mẫu tháng 8/2016, chỉ số đa dạng d và H’ trung bình tại sinh cảnh 1 là cao nhất, tiếp đó là đến sinh cảnh 2 và cuối cùng là sinh cảnh 3 Nhìn chung, số lượng loài và số lượng cá thể thu được ở các điểm thuộc sinh cảnh 1 và sinh cảnh 2 nhiều hơn sinh cảnh 3 Những điểm có số lượng loài cao hơn đều là những khu vực có độ che phủ cao và ít chịu ảnh hưởng của con người, hoặc là những suối có tính chất nền đáy đa dạng, ngoài cấu trấu là nền đá xen lẫn sỏi, cát đặc biệt là nhiều sản phẩm chất hữu cơ được phân hủy từ lá rừng Ngược lại, những điểm có chỉ số đa dang thấp hơn đều là suối có độ che phủ thấp, cấu trúc nền đáy ít
đa dạng, ít mùn bã hữu cơ, hoặc chịu tác động tiêu cực của con người
Kết quả phân tích chỉ số đa dạng của Hemiptera tại các điểm thu mẫu tháng 4/2017 được trình bày ở Bảng 3.4
Bảng 3.4 Kết quả phân tích các chỉ số đa dạng của Hemiptera ở nước giữa các
sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn trong đợt thu mẫu tháng 4/2017
Trang 39Ghi chú: “-”: không xác định giá trị
Trong đợt thu mẫu tháng 4/2017, chỉ số d và H’ trung bình tại các sinh cảnh cũng có sự khác biệt giữa các sinh cảnh tương tự như ở đợt 1 Sinh cảnh 1 là sinh cảnh có số lượng loài cao, chỉ số trung bình d và H’ cũng cao nhất Tuy nhiên, các chỉ số này thấp hơn đợt thu mẫu tháng 8/2016 Sinh cảnh 3 có số lượng loài trung bình và chỉ số trung bình d và H’là lớn thứ 2 Số lượng loài thu được tại mỗi điểm thu mẫu của sinh cảnh 3 trong đợt tháng 4/2017 cũng tăng lên nhưng các điểm từ
MS 27 đến MS 30 lại không thu mẫu lặp lại nên chưa phản ánh được một cách chính xác Các chỉ số trung bình d và H’, số lượng loài có xu hướng giảm ở sinh cảnh 1 và 2 qua 2 đợt thu mẫu tại khu di tích Mỹ Sơn
3.2.2 Đánh giá mối liên quan giữa thành phần loài Hemiptera ở nước giữa các sinh cảnh tại khu di tích Mỹ Sơn
Đối với mỗi nhóm loài Hemiptera ở nước l ại có những môi trường sống ưa thích khác nhau nên các yếu tố sinh cảnh là thường có ảnh hưởng lớn đối với thành phần loài và phân bố của chúng Danh sách thành phần loài tương ứng với từng dạng sinh cảnh được thể hiện ở Bảng 3.5
Trang 4034
Bảng 3.5 Danh sách thành phần loài tương ứng với từng dạng sinh cảnh
tại khu di tích Mỹ Sơn STT Tên khoa học Sinh cảnh 1 Sinh cảnh 2 Sinh cảnh 3
7 Limnometra matsudai Miyamoto,