Tín ngưỡng ra đời từ rất sớm ngay trong xã hội nguyên thuỷ và sau đó từng bước hình thành tôn giáo, nhưng nhận thức đúng đắn về tín ngưỡng, tôn giáo là một quá trình lâu dài, là sự đấu tranh gay go và quyết liệt giữa quan điểm duy vật với quan điểm duy tâm thần bí. Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác Lênin ra đời, việc nhận thức và giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo mới mang tính khoa học và cách mạng.
Trang 1I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Tín ngưỡng ra đời từ rất sớm ngay trong xã hội nguyên thuỷ và sau đó từngbước hình thành tôn giáo, nhưng nhận thức đúng đắn về tín ngưỡng, tôn giáo làmột quá trình lâu dài, là sự đấu tranh gay go và quyết liệt giữa quan điểm duyvật với quan điểm duy tâm thần bí Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời,việc nhận thức và giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo mới mang tính khoahọc và cách mạng
1 Quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo là phạm trù rộng, khá phức tạp cả về mặt lý luận vàthực tiễn, nên hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến tranh luận, chưa thật sự thốngnhất Tuỳ mục đích, góc độ tiếp cận nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa racác quan niệm khác nhau và mỗi quan niệm đều có sự hợp lý riêng
Tín ngưỡng, theo nghĩa ban đầu, xuất phát từ chữ “tín” là lòng tin,
“ngưỡng” là sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một cái gì đó Như vậy, tínngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một cái gì đó như tinvào một cá nhân, một chủ thuyết, một lực lượng siêu nhiên nào đó Tuy nhiên,trong thực tế đời sống xã hội, tín ngưỡng thường được dùng để chỉ tín ngưỡngmang tính tôn giáo - tín ngưỡng tôn giáo, còn tín ngưỡng không tôn giáo,thường được gọi là niềm tin hay sự ngưỡng mộ
Tín ngưỡng tôn giáo cũng được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau “Có
khi tín ngưỡng tôn giáo được coi là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vàonhững lực lượng siêu nhiên, coi lực lượng siêu nhiên ấy có khả năng chi phối,thậm chí quyết định số phận con người, như người ta thường nói tín ngưỡngthờ tổ tiên, tín ngưỡng Phật giáo, tín ngưỡng Kitô giáo ”1
Có khi, tín ngưỡngđược quan niệm là những hình thức tôn giáo dân gian, chưa có hệ thống giáo
lý, giáo luật, tổ chức giáo hội… như các tôn giáo, để phân biệt với tôn giáo hiện đại, như Phật giáo, Kitô giáo, đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo Đó là niềm tin và sự thờ cúng mang tính cá nhân như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa
1 “Tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín”, Tạp chí Cộng sản, số 4 - 1996, tr 59.
Trang 2man giáo, thờ thành hoàng, thờ tổ tiên Như vậy, theo nghĩa này tín ngưỡng tôn giáo được hiểu như là những hiện tượng có tính tôn giáo nhưng chưa phải là
tôn giáo theo nghĩa hẹp nói trên1
Tín ngưỡng là lòng tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một lực lượng
siêu nhiên, thần bí nào đó, một lực lượng mang hình thức trừu tượng (hay biểu
tượng) có sức mạnh hư ảo, vô hình, mà người ta thường gọi là “trời”, “Phật”,
“thần thánh” Lực lượng đó tác động đến đời sống nội tâm của con người,được người ta tin là có thật , sùng bái và tôn thờ Lòng tin ở sự tồn tại thực sựcủa một lực lượng siêu nhiên, tình cảm sợ hãi bị trừng phạt hay trông mong sựche chở, ban phúc của lực lượng siêu nhiên, là hạt nhân của ý thức tôn giáo và
là yếu tố ban đầu của sự hình thành tôn giáo Lòng tin và tình cảm đó cũng là
cơ sở cho những hiện tượng mê tín dị đoan2
Như vậy, không chỉ các tín đồ tôn giáo có tín ngưỡng tôn giáo, mà còn cómột bộ phận nhân dân, dù không phải là tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào, khôngchịu sự ràng buộc của bất cứ giáo lý, giáo luật, hệ thống tổ chức tôn giáo nào(tôn giáo theo nghĩa hẹp) cũng có tín ngưỡng tôn giáo ở các mức độ khác nhau
Ở đây, tín ngưỡng tôn giáo được hiểu là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, tồn tại trong các tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo theo nghĩa hẹp và còn là cơ sở cho
các hiện tượng mê tín Chẳng hạn, khi người ta nói đến tín ngưỡng Phật giáo là
nói đến niềm tin của tăng ni, phật tử vào giáo lý Phật giáo; tín ngưỡng Cônggiáo là niềm tin của các tín đồ, chức sắc Công giáo vào đức Chúa Trời và giáo
lý Công giáo…
Từ những lý luận trên, tín ngưỡng vừa được quan niệm là niềm tin, sựngưỡng mộ, sùng bái, tôn thờ của con người vào những lực lượng siêu nhiênvới quan niệm rằng những lực lượng siêu nhiên ấy có khả năng chi phối, thậmchí quyết định số phận con người; vừa được quan niệm là những hình thức tôngiáo nguyên thủy, để phân biệt với tôn giáo hiện đại Trong sách này, chúng tôi
sử dụng tín ngưỡng cả hai nghĩa đó, tùy điều kiện nhưng thiên về những hìnhthức tôn giáo dân gian
Tôn giáo cũng có nghĩa rộng và nghĩa hẹp khác nhau
1 Nguyễn Chính, “Đảng viên với tín ngưỡng tôn giáo”, Tạp chí Cộng sản, số 11 - 1998, tr 38-42.
2 “Tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín”, Tạp chí Cộng sản, số 4-1996, tr 59
Trang 3Tôn giáo, theo nghĩa rộng là một hiện tượng xã hội, một “hình thái ý thức
xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượngsiêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phậncon người, con người phải phục tùng tôn thờ”1 “Tôn giáo là sự tin tưởng vàsùng bái sức mạnh siêu phàm của thần linh, bắt đầu xuất hiện từ cuối công xãnguyên thuỷ, lúc đầu có hình thức sơ khai, gọi là tôn giáo nguyên thủy, sùngbái tự nhiên như bái vật giáo: thờ thần lửa, sinh thực khí; thờ Tô tem, sau đóphát triển thành đa thần giáo, nhất thần giáo và thành tôn giáo quốc tế”2
Theo nghĩa hẹp, tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao
gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêunhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thựckhách quan vào trong đầu óc của con người
Tôn giáo bao gồm toàn bộ quan niệm, ý thức, tình cảm, hành vi, hoạtđộng, tổ chức tôn giáo Nó đồng nghĩa với đạo, để chỉ các tổ chức tôn giáo nhưđạo Phật, đạo Kitô, đạo Cao Đài Theo đó, tôn giáo không chỉ là một hình thái
ý thức xã hội mà còn là một thiết chế xã hội - một lực lượng xã hội có
tổ chức
Ở nước ta, về mặt quản lý nhà nước, một tổ chức tôn giáo được côngnhận khi có đủ các điều kiện sau: “Là tổ chức của những người có cùng tínngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợiích dân tộc; có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướnghành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật; có đăng
ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định; có trụ sở, tổ chức vàngười đại diện hợp pháp; có tên gọi không trùng tên tổ chức tôn giáo đã được
cơ quan có thẩm quyền công nhận”3
.
Trong công trình nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thuật ngữ tín ngưỡng,tôn giáo theo nghĩa rộng, bao hàm tất cả các hiện tượng con người tin và sùngbái các lực lượng siêu nhiên, không phân biệt nội dung giáo lý, qui mô tổ chứcgiáo hội, số lượng tín đồ và mức độ ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội
1 Trung tâm từ điển học, Từ điển tiếng Việt, Nxb KHXH Hà Nội, 1994
2 “Tôn giáo”, Tạp chí Cộng sản, số 3 - 2000, tr 56.
3Điều 16, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, số 21/2004/ PL-UBTVQH 11.
Trang 4Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo phản
ánh và bị qui định bởi tồn tại xã hội, nhưng đó là “sự phản ánh hư ảo - vàotrong đầu óc của con người - của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộcsống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế
đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”1
Thông qua các chức năngđặc thù như đền bù hư ảo, thế giới quan, điều chỉnh hành vi, liên kết, giao tiếp
mà tín ngưỡng tôn giáo tác động đến các lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hộitheo cả hai chiều tích cực và tiêu cực, nhưng thiên về tiêu cực Con người sángtạo ra tín ngưỡng, tôn giáo rồi tự nguyện làm nô lệ cho nó
Với tính cách là một dạng niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin hư
ảo, hoang đường, phi lôgíc Tín ngưỡng, tôn giáo đưa ra quan niệm về lực
lượng siêu nhiên và từ chối việc chứng minh sự tồn tại thực của lực lượng siêunhiên đó Theo người có tín ngưỡng, tôn giáo, lực lượng siêu nhiên không lệthuộc vào qui luật của thế giới vật chất, thoát ra ngoài vòng những mối liên hệ
và sự phụ thuộc nhân quả Lực lượng siêu nhiên đó còn “sáng tạo” ra giới tựnhiên và con người Lực lượng siêu nhiên là có thật, có khả năng phi phàmgiúp đỡ, cứu vớt họ vượt qua hoạn nạn, khó khăn để đạt được cuộc sống anlành Họ tin rằng ngoài thế giới hiện tại, con người còn tiếp tục được sống ởthế giới khác Nhiều người tin có mối liên hệ thật sự với tổ tiên, ma quỷ, thầnthánh Họ có mối quan hệ thực tiễn ảo tưởng đặc biệt với lực lượng siêu nhiên,
hi vọng sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên đó để giải quyết nhu cầu thựcdụng của họ ở ngay thế giới hiện tại và cả ở kiếp sau ở trên Thiên đường, cõiNiết bàn hay chốn Tây phương cực lạc
Là niềm tin phi lôgíc, tín ngưỡng tôn giáo mô tả những hiện tượng không
thể kiểm tra được bằng thực nghiệm, không có trong hệ thống chung của nhậnthức và hoạt động thực tiễn của con người Khách thể mà người có tín ngưỡngtôn giáo hướng tới không tồn tại trong thế giới hiện thực, nhưng lại rất gần gũivới họ Họ tin và hành động không theo những qui trình thông thường của tưduy Với họ, giáo lý, tín điều là lời của Chúa, của Phật, của Thánh thần luônluôn là chân lý, không được phép nghi ngờ Cho nên họ có những niềm tin,kiêng cữ siêu nhiên, mê tín không thể lý giải bằng lý tính
Trang 5Với tính cách là một hiện tượng xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo thông qua các
hành vi, lễ nghi, tổ chức, hoạt động của người có tín ngưỡng, tôn giáo tạo nên
một cộng đồng xã hội đặc thù liên kết giữa những người cùng tín ngưỡng có
tác động, ảnh hưởng đến các lĩnh vực đời sống tinh thần, đời sống xã hội Tuyảnh hưởng của nó có mặt tích cực nhất định, phù hợp với văn hoá, đạo đức màchúng ta cần xây dựng, nhưng cơ bản thiên về ảnh hưởng tiêu cực nhất là khi
bị kẻ thù lợi dụng để chống phá cách mạng
Mặc dù có bản chất chung là lòng tin vào lực lượng siêu nhiên, nhưng
giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín cũng có sự khác biệt nhất định về hình
thức thể hiện cụ thể, qui mô tổ chức và mức độ, chiều hướng ảnh hưởng củachúng đến đời sống xã hội, con người
Tín ngưỡng là phần ý thức qui định bản chất, hành vi, lễ nghi, tổ chức của
tôn giáo Tôn giáo (cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp) phải dựa trên cơ sở tín ngưỡngnhất định mà thể hiện ra ở các hình thức, các cộng đồng tôn giáo cụ thể Không
có tôn giáo nào lại không dựa trên những tín ngưỡng nhất định nào đó Tínngưỡng thuộc lĩnh vực tư tưởng, tình cảm, tinh thần Tôn giáo vừa có phần ý
thức xã hội vừa là một thực thể xã hội, bao gồm ba thành tố: Tín ngưỡng (được thể hiện trong hệ thống giáo lý, giáo luật); hệ thống lễ nghi (thể hiện ở các qui
định, qui tắc thái độ, hành vi trong hành lễ tôn giáo - một cách thức (hình thức)
tín đồ giao tiếp với thần linh) và tổ chức giáo hội (hệ thống đội ngũ chức sắc,
tín đồ, cơ sở vật chất đảm bảo ) Tất nhiên, tính tổ chức của các tôn giáo có
thể biểu hiện ra ở các qui mô, trình độ khác nhau “Xét về mặt pháp lý, xã hội chỉ nhìn nhận là tôn giáo (theo nghĩa hẹp) khi đã hình thành một cộng đồng xã
hội, hội đủ các yếu tố niềm tin, giáo lý, nghi thức và giáo hội Nếu thiếu tổchức giáo hội thì được coi là tín ngưỡng, hình thức tín ngưỡng”1
Mê tín liên quan chặt chẽ với tín ngưỡng, tôn giáo, ranh giới phân biệt giữa
chúng rất mong manh Chúng có cái chung là niềm tin vào lực lượng siêunhiên, tồn tại đan xen vào nhau, có khi chuyển hoá lẫn nhau và đều ảnh hưởngđến đời sống tinh thần của cá nhân và xã hội Dù vậy, vẫn cần phân biệt, làm
rõ về mặt lý luận để làm cơ sở cho thực tiễn đấu tranh, bài trừ mê tín
Mê tín là vấn đề phức tạp, quan điểm khác nhau thì quan niệm về mê tín sẽkhác nhau Thực tế cho thấy, đối với người theo đạo Kitô, những gì ngoài Phúc
1 “Tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín”, Tạp chí Cộng sản, số 4-1996, tr 59.
Trang 6âm đều được coi là mê tín; đối với tăng ni, phật tử, những gì trái với giáo lýđạo Phật là mê tín “Còn "chính tín" là những gì mà người ta tin và theo đuổi.Những niềm tin và hành vi đó có ở ngay trong cả giáo lý lẫn nghi thức tôngiáo”1
“Quá tin vào một thiên đàng mơ hồ, bỏ rơi thực tại cũng là một dạng
mê tín Nói đúng ra, tham gia vào bất cứ một tôn giáo nào cũng là tham gia vàomột quá trình hành động mê tín”2
Dù trong thực tế chẳng bao giờ các chức sắc,
tín đồ tôn giáo tự thừa nhận điều đó Bởi vậy, khi xem xét, đánh giá mê tín, cần
phải thận trọng và khách quan, vì không thể căn cứ quan điểm, niềm tin riêngcủa từng người để xác định
Hiện nay, ngay trong những người mácxít, mê tín cũng còn được hiểu theocác nghĩa rộng, hẹp khác nhau
Theo nghĩa rộng, người ta thường căn cứ vào chân lý khoa học để xem xét
mê tín Theo đó, mê tín là “tin một cách mù quáng vào cái thần bí, vào chuyệnthần thánh, ma quỷ, số mệnh ”3
Theo nghĩa hẹp, mê tín là những niềm tin theo nghĩa hẹp, hành vi cuồng
tín, mê muội, phản văn hoá, không phù hợp với tiến bộ chung được xã hội nhìnnhận, trái với lợi ích của xã hội, bị lợi dụng, gây thiệt hại trực tiếp cho chínhnhững người tin theo.
Về mặt pháp lý, Nhà nước ta xác định, mê tín là những hoạt động “vi phạm
pháp luật, trái thuần phong mỹ tục, không thuộc giáo lý, luật lệ, lễ nghi của tôngiáo nào, lừa mị, gây thiệt hại về tiền bạc, tài sản, kể cả tính mạng của nhândân, bị Luật Hình sự nghiêm cấm Những hình thức như: cúng và đốt vàng
mã, bói toán, thuốc thánh, hiện hình, cầu cơ, xin quẻ, trừ tà, yểm ma là mêtín”4 Tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng thường gián tiếp đến đời sống xã hộivừa có mặt tiêu cực nhưng cũng có nội dung tích cực nhất định Mê tín chỉ gâytác hại trực tiếp cho những người tin theo và dễ nhìn thấy hậu quả đó Tínngưỡng, tôn giáo được xã hội ta tôn trọng, thừa nhận hoạt động trong khuônkhổ pháp luật Mê tín bị xã hội lên án, pháp luật nghiêm cấm Chúng tôi thừa
nhận, sử dụng mê tín theo nghĩa hẹp này.
3 Trung tâm từ điển học Từ điển tiếng Việt, Nxb KHXH., Hà Nội 1994 tr.607.
1997.
Trang 7Mặc dù, hiện tượng mê tín không thuộc nội hàm tín ngưỡng, tôn giáo,nhưng mê tín như một phạm trù “cặp đôi” với tín ngưỡng, tôn giáo, một hiệntượng cực đoan, thái quá và phái sinh từ tín ngưỡng tôn giáo và thường bị kẻxấu lợi dụng, gây tác hại trực tiếp cho người tin theo Do đó, khi nghiên cứutín ngưỡng, tôn giáo, thì không thể không gắn với vấn đề mê tín
Nguồn gốc tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc kinh tế - xã hội: Do trình độ sản
xuất thấp kém, con người bất lực trước sức mạnh tự nhiên, sức mạnh xã hộilàm cho họ tìm đến với các lực lượng siêu nhiên, thần thánh và hy vọng đượcche chở, cứu vớt V.I.Lênin khẳng định: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lộttrong cuộc đấu tranh chống bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốtđẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống hệt sự bất lực của người dã man trongcuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vàonhững phép màu”1
Tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc nhận thức: Do trình độ nhận thức
thấp kém, con người không lý giải được các hiện tượng bí ẩn của thế giớikhách quan, họ đã tưởng tượng, và gán cho nó sức mạnh siêu tự nhiên, tạo racác biểu tượng tôn giáo Ph.Ăngghen: “Tôn giáo nảy sinh ra… từ những kháiniệm hết sức sai lầm, nguyên thủy của con người về bản chất của chính họ vàthế giới tự nhiên bên ngoài, xung quanh họ”2 V.I.Lênin phân tích thêm: “Khảnăng xuất hiện tôn giáo nằm ngay trong phép biện chứng của quá trình nhậnthức; nhận thức phát triển theo con đường xoắn ốc, ngoằn ngoèo trong quátrình đó dễ dẫn tới sự đơn giản, xơ cứng, phiến diện, ảo tưởng, trừu tượng hóa
- cách xa sự vật ban đầu… sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo”3
Tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc tâm lý: Những trạng thái tâm lý tiêu
cực như sự sợ hãi, cô đơn, bất hạnh, đau khổ, nhất là sợ hãi trước cái chết,thậm chí ngay cả trạng thái tâm lý tình cảm tích cực như: lòng biết ơn, sự kínhtrọng, sự hài lòng và sự ngưỡng mộ trước vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, xãhội cũng làm nảy sinh nhu cầu tôn giáo V.I.Lênin cho rằng: “sự sợ hãi củaquần chúng trước những thế lực mù quáng của thiên nhiên, của sự áp bức, bóc
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.169.
2C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 445
3V.I.Lênin, Toàn tập, tập 27, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, tr.385
Trang 8lột, bất công của giai cấp thống trị đang hàng ngày, hàng giờ đe doạ, đem lạicho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệtvong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng và dồn họ vào cảnhchết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại”1 Ngoài ra, truyềnthống, phong tục, tập quán, thói quen cũng là những nguyên nhân dẫn đến sựhình thành và phát triển của tôn giáo.
2 Tính chất của tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo có tính lịch sử Nó là sản phẩm của lịch sử, ra đời,tồn tại, biến đổi và mất đi gắn với sự vận động, biến đổi của xã hội loài người.Điều kiện lịch sử khác nhau, ở các dân tộc khác nhau thì có tín ngưỡng, tôngiáo khác nhau
Tín ngưỡng, tôn giáo có tính quần chúng Nó phản ánh khát vọng củaquần chúng về một xã hội tự do, bình đẳng và bác ái, là nhu cầu tinh thần,niềm tin của một bộ phận đông đảo quần chúng, nên được đông đảo quầnchúng tin theo Hiện nay, trên thế giới và ở nước ta có rất nhiều người có tínngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo có tính chính trị, trong xã hội có đối kháng giaicấp, giai cấp thống trị sử dụng tôn giáo làm công cụ nô dịch mê hoặc, ru ngủngười lao động, để họ chấp nhận sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, khi
đó tôn giáo có tính chính trị Ngày nay, tín ngưỡng, tôn giáo đã và vẫn đang bịcác thế lực chính trị phản động lợi dụng chống phá cách mạng nước ta Do đó,đòi hỏi chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh chống lại sự lợi dụngtôn giáo của các thế lực thù địch để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhândân ta
Tín ngưỡng, tôn giáo có tính đối lập với khoa học Chúng phản ánh hư
ảo, sai lạc, duy tâm, thần bí thế giới hiện thực vào trong đầu óc con người.Trong lịch sử, nhiều tổ chức tôn giáo, giáo hội đã từng sử dụng quyền lực tôngiáo để phủ nhận các thành tựu khoa học, đàn áp các nhà khoa học Tính chấtđối lập với khoa học trở thành bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo, kìm hãm sựphát triển xã hội
1V.I.Lênin, Toàn tập, tập 17, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.515
Trang 93 Bản chất, chức năng, vai trò xã hội của tín ngưỡng, tôn giáo
Bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xãhội phản ánh xuyên tạc hiện thực khách quan biến lực lượng tự nhiên, xã hộithành lực lượng siêu nhiên; là “thế giới quan lộn ngược”, trong giải quyết mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội Tín ngưỡng, tôn giáo do conngười sáng tạo ra, là biểu hiện của sự khốn cùng hiện thực, đồng thời là sựphản kháng chống lại sự khốn cùng hiện thực ấy Đó là sự phản kháng tiêucực, yếu đuối, tự phát của tầng lớp nhân dân bị áp bức Xét đến cùng, tínngưỡng, tôn giáo áp bức con người về tinh thần, làm tha hóa con người C.Mác
đã chỉ rõ: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim củathế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự
không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”1 Theo C.Mác, tínngưỡng, tôn giáo đã làm cho con người trở nên thụ động, cam chịu bị áp bức
và trở thành nô lệ cho lực lượng siêu nhiên thần bí Trong xã hội có giai cấpđối kháng, giai cấp thống trị sử dụng tôn giáo như một phương tiện để áp bức,
nô dịch và thủ tiêu ý chí đấu tranh của quần chúng lao động
Tuy nhiên, trong tín ngưỡng, tôn giáo cũng hàm chứa những giá trị vănhóa đạo đức nhất định phù hợp với xã hội mới của chúng ta đang xây dựng, đòihỏi chúng ta phải biết kế thừa, phát huy Tín ngưỡng, tôn giáo luôn mang dấu
ấn lịch sử của thời đại, của dân tộc mà nó ra đời, tồn tại và nó cũng biến đổi,thích ứng với sự biến đổi của xã hội Thông thường, khi mới ra đời các tínngưỡng, tôn giáo đều phản ánh nguyện vọng của quần chúng, nhưng trong quátrình tồn tại, vận động và phát triển thường bị các thế lực, giai cấp thống trị lợidụng biến thành công cụ phục vụ cho lợi ích của chúng, chống lại lợi ích củaquần chúng Tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại lâu dài, còn là nhu cầu tinh thầncủa một bộ phận quần chúng nhân dân
Chức năng xã hội của tín ngưỡng, tôn giáo
Chức năng đền bù hư ảo là chức năng xã hội chủ yếu, đồng thời cũng làđặc trưng cơ bản của tín ngưỡng, tôn giáo Trong đời sống xã hội, do conngười còn nhiều sự khổ đau, bất lực, yếu đuối, nên tín ngưỡng, tôn giáo vẫn làchỗ dựa để an ủi, khuyên răn đầy huyền bí về sức mạnh, quyền uy cứu độ của
Trang 10thượng đế, góp phần tạo nên sự hài lòng, tin tưởng vào các lực lượng siêunhiên và cuộc sống hạnh phúc ở thiên đường Nhờ đó tín ngưỡng, tôn giáo gópphần giải toả sự sợ hãi, nỗi bất hạnh trong cuộc đời, giảm nhẹ một cách hư ảo
sự bất hạnh trong cuộc sống con người Tôn giáo là hạnh phúc ảo tưởng củanhân dân
Chức năng thế giới quan: Tín ngưỡng, tôn giáo tạo cho người một quan
niệm về thế giới, về con người, nhưng đó là “thế giới quan lộn ngược”1, “vìbản thân chúng là thế giới lộn ngược” Sự phản ánh của tín ngưỡng, tôn giáo là
sự phản ánh hư ảo về thế giới nên đã định hướng mọi suy nghĩ, nhận thức,hành động của con người, góp phần hình thành trong họ hệ thống quan niệmduy tâm về thế giới và những chuẩn mực, hành động tôn giáo Trong quanniệm của người có tín ngưỡng, tôn giáo, vai trò chủ thể sáng tạo của con người
bị suy giảm, biến mất, họ rất dễ phó mặc cho thần thánh
Chức năng điều chỉnh: Tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng có hệ thống “giá
trị”, chuẩn mực đạo đức tôn giáo nhằm điều chỉnh suy nghĩ, hành vi ứng xửcủa con người với bản thân, với người khác, với xã hội và với giới tự nhiênphù hợp với đức tin Trong đó vừa có những yếu tố tiêu cực, vừa có nhữngchuẩn mực, giá trị đạo đức chân chính, có ý nghĩa tích cực nhất định Tôn giáođiều chỉnh con người, vừa có tính tự giác, vừa có tính bắt buộc tuân theo nộidung ở giáo lý, giáo luật, nghi lễ hành đạo
Vai trò xã hội của tín ngưỡng, tôn giáo.
Vai trò xã hội của tín ngưỡng, tôn giáo xuất phát từ bản chất, chức năngcủa nó và còn chịu sự chi phối của các yếu tố: kinh tế, chính trị, văn hoá, đạođức Thực tế, cùng một tôn giáo, nhưng trong những điều kiện lịch sử khácnhau, chế độ chính trị khác nhau, thì vai trò xã hội của nó cũng khác nhau
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, vai trò xã hội của tín ngưỡng, tôngiáo bị chi phối rất lớn bởi ý thức chính trị - giai cấp Các giai cấp thống trị xãhội đều sử dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích giai cấp mình Các giáo hội, ngoàichức năng tôn giáo còn thực hiện những chức năng ngoài tôn giáo như: thống trị xãhội, chiến tranh xâm lược Do vậy, khi đánh giá vai trò xã hội một tổ chức tôngiáo phải luôn luôn có quan điểm lịch sử, cụ thể
1C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 569
Trang 11Tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng tích cực nhất định đến đời sống xã hội Có lúc tín ngưỡng, tôn giáo đã góp phần cổ vũ cuộc đấu tranh chống lại sự
bất công, tàn bạo trong xã hội có áp bức và bóc lột Văn hóa, đạo đức tínngưỡng, tôn giáo cũng có những nội dung mang tính nhân văn, khuyến thiện,trừ ác, trở thành giá trị văn hoá đạo đức tinh thần của nhân loại Thực tế các tín
đồ, chức sắc tôn giáo giáo đã thực hiện tốt các hoạt động từ thiện, nhân đạo,giúp đỡ, những người thiệt thòi, bất hạnh Bởi thế, Đảng ta khẳng định: “Pháthuy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổchức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tíchcực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”1
Tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực đời sống của cá nhân, cộng đồng: Do bị thế giới quan duy tâm chi phối, tín ngưỡng, tôn
giáo thường hạn chế phát triển tư duy duy vật, khoa học, làm cho con người dễ
có thái độ nhẫn nhục, khuất phục, không tích cực, chủ động, sáng tạo trong việctạo dựng hạnh phúc thật sự nơi trần gian, mà lại hi vọng hạnh phúc ở cuộc sốngsau khi chết Điều đó dễ dẫn đến thái độ mù quáng và hành vi cuồng tín ở nhữngngười có tín ngưỡng, tín đồ, chức sắc tôn giáo Các sinh hoạt tín ngưỡng, tôngiáo rất dễ bị lợi dụng hành nghề mê tín dị đoan Trong thực tế, các hiện tượngtín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan thường đan xen nhau Đồng thời ảnhhưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo tăng lên khi bị giai cấp thống trị và kẻxấu lợi dụng để thực hiện ý đồ chính trị và “buôn thần bán thánh”
4 Xu hướng biến động của tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới
Hiện nay, tín ngưỡng, tôn giáo vận động, biến đổi theo các xu thế khácnhau, đan xen vào nhau, rất khó phân định
Xu hướng đa dạng hoá tôn giáo, xuất hiện “hiện tượng tôn giáo mới”.
Đây là kết quả của hai quá trình: quá trình phân liệt, chia tách từ một tôn giáo
ra thành các tôn giáo, hệ phái khác nhau về giáo lý, sự tu trì; và quá trình hòahợp liên kết, đại kết các tôn giáo cùng hướng tới những mục tiêu nhất định.Quá trình chuyển đạo, đổi đạo làm xuất hiện ngày càng nhiều hệ phái tínngưỡng tôn giáo và các “hiện tượng tôn giáo mới”
2011, tr 245.
Trang 12Hiện nay, ở Mỹ có khoảng 2500 tôn giáo mới, ở Pháp 300, ở Đức 500, ởNhật Bản hơn 1000 các giáo phái khác nhau Ở Việt Nam, có hàng trăm các
“hiện tượng tôn giáo mới” Các “tôn giáo mới” có chi nhánh ở nhiều nước, vớinội dung nửa thiêng nửa tục, tham gia bám vào các hoạt động chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội, thu hút các tín đồ của các tôn giáo khác sẵn có, phá vỡ các tổchức tôn giáo với các thể chế riêng, gây mất ổn định cho nhiều quốc gia, dân tộc
Các hiện tượng tôn giáo mới rất đa dạng, có loại tránh đời, hận đời; cóloại gắn bó với đời; có loại hoài cổ Có loại tôn giáo mới khoác áo “khoa học”,
“đạo đức” có mục đích hoạt động chính trị cực đoan, như đạo Sokagahai ởNhật Bản; Phái Moon ở Hàn Quốc; phái Mật Tông của Đạt Lai Lạt Ma; cácphái Hồi giáo cực đoan như Taliban ở Apganistan, Fig ở Angiêri, Sura ởKosovo…
Có loại “tôn giáo mới” phủ nhận thế giới hiện hữu, luôn gắn mình vớingày tận thế, chủ trương sống khép kín, kỳ quặc, cuồng loạn như giáo pháiKaban, phái Thời đại mới, phái Cổng trời giáo phái Aum (Chân lý Tốithượng) muốn đầu độc toàn nhân loại, hướng tới ngày “tận thế”
Có loại “tôn giáo mới” lợi dụng các hoạt động tưởng chừng không dínhlíu đến tôn giáo như luyện tập thân thể, tu dưỡng bản thân; mong muốn hạnhphúc hưởng lạc dưới trần, hoặc ngược lại theo kiểu ép xác; hoặc muốn dùngkhoa học lý giải và tiếp cận với thế giới vô hình, một kiểu ma thuật hiện đại,gây nên những niềm tin có tính chất mê tín như phong trào “Thần giao cáchcảm”, “Thần thị”, “Thông linh học”, “Pháp Luân công”
Đặc điểm của các hiện tượng tôn giáo mới là tập hợp thành quần thể, sùngbái giáo chủ, cuồng nhiệt, hiến thân; hành vi tín đồ nhiều khi kỳ quái, lập dịhội kín; giáo lý tự do hóa, thực dụng hóa; giáo phái thường nhỏ, mục tiêu đơnnhất, nhưng số giáo phái thường nhiều; phần lớn đều chạy theo các thể nghiệmtâm lý siêu thường
Những hiện tượng tôn giáo nói trên đã tạo nên tính đa dạng tôn giáo hiệnnay, vừa làm giảm tính thiêng và thế lực của các tổ chức tôn giáo, vừa gây ranhiều phức tạp cho các nhà nước, cũng như cho tín đồ, thủ lĩnh các tôn giáo
Xu hướng toàn cầu hoá tôn giáo Lợi dụng quá trình toàn cầu hoá các lĩnh
vực của đời sống xã hội, các tôn giáo như Kitô giáo, Phật giáo, Hồi giáo, và cả
Trang 13“hiện tượng tôn giáo mới”, đều mở rộng ảnh hưởng, mong muốn trở thành tôngiáo toàn cầu Sự đua tranh đó đã dẫn đến sự cạnh tranh, sự rèm pha, thậm chítiêu diệt nhau giữa các tôn giáo Bộc lộ rõ nhất cho xu thế này là một số phần
tử cực đoan của Kitô giáo và Hồi giáo đang tìm mọi cách để “mở rộng nướcChúa”, gây thanh thế nhằm đưa tôn giáo mình áp đặt cho cả nhân loại Điều đólàm tiềm ẩn nhân tố xung đột tôn giáo
Xu hướng dân tộc hoá tín ngưỡng, tôn giáo Đây là xu hướng quan trọng,
phản ánh tính thống nhất và đa dạng trong tôn giáo, trong văn hóa với mongmuốn bảo vệ bản sắc văn hoá (trong đó có tôn giáo) của quốc gia mình Biểuhiện rõ nhất của xu hướng này là các dân tộc đều có ý thức hướng về tôn giáotruyền thống, tiếp biến tôn giáo ngoại sinh thành tôn giáo truyền thống của bảnthân Ở phương Đông, xu thế này đã có cơ sở hiện thực từ truyền thống “hoànhi bất đồng” giữa các tôn giáo Các tôn giáo ngoại nhập thường bị khúc xạ,thay đổi trong quá trình giao thoa, tiếp biến Sự Việt hoá các tôn giáo ngoạinhập, sáng tạo ra các tôn giáo dân tộc như đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo là
ví dụ điển hình
Thế tục hoá tôn giáo cũng là một trong những xu hướng cơ bản, và ngày
càng phổ biến trong đời sống sinh hoạt các tôn giáo
Do vai trò tôn giáo ngày càng bị thu hẹp nhường chỗ cho chính trị, kinh
tế, văn hoá, khoa học và công nghệ, nên không ít người đến với tôn giáo vớinhiều động cơ, ý đồ, tham vọng khác nhau, chứ không thuần tuý là niềm tintôn giáo Các tôn giáo nhập thế bằng cách tham gia vào các những hoạt độngvăn hoá xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế , hy vọng giải quyết những vấn đề thếtục, cứu giúp đồng loại
Xu hướng thế tục hoá cũng còn biểu hiện khá sinh động trong cuộc đấutranh của một bộ phận tiến bộ trong từng tôn giáo, muốn xoá bỏ những nộidung lỗi thời trong giáo lý, những khắt khe trong giáo luật, muốn tiến tới sựđoàn kết giữa các tín đồ, các tôn giáo và không tôn giáo, đấu tranh cho một thếgiới đầy tình thương và hoà bình
Tuy nhiên, sự thái quá của xu thế này cũng dễ làm cho đời sống tôn giáo
bị vẩn đục, nhiều hoạt động và hành vi tôn giáo, mang tính thực dụng, buônthần bán thánh, thương mại hoá sâu sắc
Trang 145 Tín ngưỡng, tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội
Trong chủ nghĩa xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại Chủ nghĩa xã
hội là một xã hội thoát thai từ xã hội cũ, về mọi phương diện kinh tế, đạo đức,tinh thần nó còn mang dấu vết của xã hội ấy Đặc biệt trong thời kì quá độ lênchủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những lợi ích khácnhau của các giai tầng xã hội, sự bất bình đẳng ở một số lĩnh vực vẫn còn, sựngẫu nhiên, may rủi trong nền kinh tế thị trường chưa thể khắc phục được.Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến bộ vàcái lạc hậu còn diễn ra rất đa dạng, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội Điều đó làm cho tôn giáo không chỉ còn tồn tại trong xã hội xã hộichủ nghĩa mà còn có biểu hiện ở từng lúc, từng nơi rất phức tạp Trong chủnghĩa xã hội, con người vẫn chưa hoàn toàn làm chủ được tự nhiên, xã hội Họvẫn phải chứng kiến những hiện tượng ngẫu nhiên, rủi ro, bất hạnh, thiên tai,chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói… xảy ra đối với đồng loại và chi phối đờisống con người Nhiều vấn đề về tự nhiên và xã hội con người còn chưa nhậnthức được Nhiều người vẫn còn tâm lý sợ hãi, nhờ cậy nên vẫn tin theo tôngiáo Do đó, tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúngnhân dân
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực ở Liên Xô và Đông Âubắt nguồn từ sự hạn chế, yếu kém của đảng cộng sản trong tổ chức xây dựngchủ nghĩa xã hội trong đó có giải quyết vấn đề tôn giáo cùng với sự sa sút đạođức cách mạng, thoái hoá, biến chất, tham nhũng của cán bộ, đảng viên, cáchiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội nảy sinh và chậm được khắc phục, côngbằng xã hội bị vi phạm, niềm tin của bộ phận quần chúng nhân dân vào xã hộimới bị giảm sút… đã làm nảy sinh tâm lý hoang mang, dao động, sợ hãi, nhờcậy vào tôn giáo ở một số người
Tín ngưỡng, tôn giáo đã ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, trở thànhtâm lý, tập quán, thói quen của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ nênkhông dễ mất đi trong một thời gian ngắn Mặt khác, tôn giáo còn biết tự điềuchỉnh, thích nghi với điều kiện xã hội mới để tồn tại và đáp ứng nhu cầu vănhoá, tinh thần, tâm lý và tình cảm của một bộ phận quần chúng nhân dân Cácchức sắc tôn giáo ra sức hoạt động tuyên truyền, lôi kéo giáo dân để duy trì sựtồn tại của tôn giáo
Trang 15Các thế lực thù địch dung dưỡng, lợi dụng tôn giáo, gây chia rẽ khối đạiđoàn kết dân tộc, mất ổn định chính trị, thực hiện chiến lược “diễn biến hoàbình” chống phá chủ nghĩa xã hội Điều đó làm cho tình hình tôn giáo có lúc,
có nơi diễn biến rất phức tạp Thực tế tình hình tôn giáo ở các nước xã hội chủnghĩa đã chứng minh điều đó
Trong chủ nghĩa xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo có những thay đổi nhất định Tín ngưỡng, tôn giáo tách khỏi nhà nước và trường học Nhà thờ không
còn là một bộ phận của nhà nước Trường học không giảng đạo Mọi đặcquyền, đặc lợi về chính trị, kinh tế của giáo hội ở xã hội cũ bị xoá bỏ Hệ thống
tổ chức tôn giáo chịu sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa, được bảo đảmhoạt động tôn giáo theo qui định của pháp luật và có trách nhiệm thực hiệnnghiêm pháp luật Tổ chức tôn giáo chỉ chuyên chăm lo việc đạo, truyền bá,thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, không tham gia hoạt động chính trị
Giáo lý, giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo có sự thay đổi nhất định đểthích nghi với chế độ xã hội mới, với văn hoá, truyền thống của dân tộc.Những quy định không phù hợp với pháp luật bị bãi bỏ Hoạt động tín ngưỡng,tôn giáo ngày càng tuân theo đúng pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo có đời sống vật chất và tinh thần ngàycàng cao, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ công dân của chế độ xã hội chủ nghĩa; có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước bảo đảm quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo của công dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Cáctôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Công dân có đạo hoặc không có đạocũng như có đạo khác nhau đều là người chủ đất nước, tôn trọng lẫn nhau,đoàn kết, ủng hộ chính quyền, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Chức sắc, nhà tu hành chuyên tâm chăm loviệc đạo, tích cực góp phần xây dựng chế độ xã hội mới, có trách nhiệmthường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụcông dân và ý thức chấp hành pháp luật
II CÁC TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
1 Những hình thức tín ngưỡng ở các tộc người Việt Nam
Tín ngưỡng, tôn giáo vận động, biến đổi gắn liền với sự vận động, biếnđổi của lịch sử xã hội loài người từ thấp đến cao
Trang 16Tín ngưỡng dân gian là những hình thức và hành vi biểu thị niềm tin củacon người vào các lực lượng siêu nhiên, với quan niệm rằng con người có thể
“quan hệ” với thế giới siêu nhiên đó, nhằm thỏa mãn nhu cầu trần thế củamình Tín ngưỡng dân gian là các hình thức tín ngưỡng chưa có giáo lý, điệnthần, kinh sách, tổ chức như các tôn giáo Phật giáo, Ki tô giáo, Cao Đài…
Các tộc người ở Việt Nam có các tín ngưỡng dân gian khác nhau.
a Các hình thức tín ngưỡng dân gian của tộc người Việt
Người Việt có các hình thức tín ngưỡng dân gian phong phú, đa dạng Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng họ Người Việt tin rằng, tổ tiên ông
bà, tuy đã chết nhưng vẫn "sống" ở thế giới bên kia, vẫn “quan tâm” đến concháu hiện tại, con cháu phải thờ cúng để cầu và mong sự phù hộ độ trì Nếukhông họ sẽ bị quở phạt, hứng chịu tai họa trong cuộc sống hàng ngày Tronggia đình người Việt thờ cúng ông bà, cha mẹ; trong dòng họ thờ, cúng họ tộc, ởphạm vi quốc gia, đất nước người Việt thờ Vua Hùng
Tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc Người Việt có văn hóa “uống
nước nhớ nguồn”, tri ân những người có công với làng, nước và “nâng” họ lênthành các lực lượng siêu nhiên để thờ cúng, mong sự giúp đỡ Người Việt tônvinh, thờ cúng nhiều anh hùng dân tộc như: thờ Hai Bà Trưng, Trần HưngĐạo, Lê Lợi, Quang Trung…; thờ những người có công với cộng đồng làng xãnhư: Tiên hiền, Hậu hiền, Thành hoàng
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt rất phong phú như: Mẫu tam phủ
(Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải), tứ phủ (Mẫu ThượngThiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Liễu Hạnh cai quản Nhân phủ).Người Việt còn “nữ hóa” các vị thần trong các tôn giáo, kết hợp thờ cô, thờmẫu trong các điện thần của các tôn giáo khác
Tín ngưỡng nghề nghiệp Người Việt chủ yếu sản xuất nông nghiệp nên
thực hành các tín ngưỡng, lễ nghi gắn với sản xuất nông nghiệp: tín ngưỡngphồn thực, tôn thờ cây lúa, thần lúa, Tết cơm mới… để mong sinh sôi nảy nở
“của nhiều, vật thịnh”
Tín ngưỡng tổ nghề Người Việt luôn tri ân, tôn thờ những người có công
lập nghề, truyền nghề thủ công, ca kỹ, nghệ thuật cho dân làng, dân làng đều
lập đền thờ, thực hiện các lễ nghi tôn thờ các vị tổ đó Những người Việt buôn
bán thường thờ thần Tài
Trang 17Tín ngưỡng ngư nghiệp, người Việt thờ thần Cá Ông, Tứ vị Thánh
Nương, thờ Cô bác… Đi dọc ven biển Việt Nam ta gặp nhiều đền thờ cá Ông,nghĩa địa cá Ông… được chăm nom như nghĩa địa của tổ tiên, ông bà
Tín ngưỡng theo nghi lễ vòng đời của con người như: Người Việt thờ Bà
Mụ, lễ đầy tháng, lễ thành đinh, lễ thờ ông tơ, bà nguyệt, mừng thọ, lên lão,thờ bản mệnh, tang ma… khá cẩn trọng
Sống trong thế giới tự nhiên đầy bất trắc, người Việt cũng có hệ thống tínngưỡng tôn thờ các hiện tượng tự nhiên: thờ đá, thờ cây, thờ lửa, thờ nước, thờmây, mưa, sấm chớp (tứ pháp) khá phong phú, theo tư tưởng vạn vật hữu linh,
“có thờ có thiêng, có kiêng có lành” Người Việt còn tin, thực hành các hình
thức ma thuật, phù thủy, bùa phép, bói toán
Đặc điểm cơ bản của các hình thức tín ngưỡng dân gian người Việt
Tín ngưỡng dân gian người Việt phổ biến là tín ngưỡng đa thần, gắn chặtvới các huyền thoại, truyền thuyết, thần tích Nơi thờ cúng chủ yếu là ở đình,đền, miếu, tại nhà, vườn, gốc cây, mô đất,… nghi lễ giản đơn…
Tín ngưỡng dân gian người Việt chủ yếu gắn với cộng đồng nhỏ hẹptrong gia tộc, dòng họ, làng xã “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nàolàng ấy thờ”; gắn bó chặt chẽ với văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc,chưa hình thành các thiết chế tổ chức chặt chẽ
Thế giới thần linh, ma quỷ hòa nhập, gần gũi với con người, thậm chítrong một số tín ngưỡng, con người có thể “giao tiếp” với thần linh mà khôngcần qua người trung gian như thầy cúng, bà đồng, phù thủy…
Tín ngưỡng dân gian người Việt có khả năng tác động, hòa nhập, bản địahóa các tôn giáo ngoại nhập, khiến cho tín ngưỡng dân gian thích ứng, biếnđổi, tồn tại lâu bền hơn
Hiện nay, đời sống tín ngưỡng dân gian của người Việt có biến đổi lớn.
Hiện nay, nhiều tín ngưỡng và nghi lễ dân gian được phục hồi và tạo nên đờisống tâm linh, tín ngưỡng khá sôi động Cùng với sự phục hồi này, đời sốngvăn hóa truyền thống cũng phục hưng tạo nên bức tranh văn hóa Việt phongphú, đa dạng theo hướng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại
Tuy nhiên, trong sự phục hồi các tín ngưỡng dân gian đó, một số hủ tục,
mê tín cũng phục hồi, phát sinh, biến tướng Việc lợi dụng tín ngưỡng để buônthần bán thánh, phản văn hóa, phi nhân tính vẫn tồn tại
Trang 18b Các hình thức tín ngưỡng dân gian của các tộc người thiểu số
Tộc người Chăm, người Khơ me tin theo Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo.Tin lành cũng du nhập vào một số vùng tộc người thiểu số và hiện nay đangphát triển nhanh Ngoài các tộc người trên, đại đa số các tộc người thiểu số ởViệt Nam tin theo các tín ngưỡng dân gian
Hiện nay, các tộc người thiểu số tin theo các loại hình tín ngưỡng chính sau:
Tín ngưỡng thờ Tôtem (Thờ vật tổ) còn được các tộc người thiểu số, nhất
là nhóm Môn - Khơ me tin, thực hiện Đây là hình thức tín ngưỡng quan trọng
của xã hội nguyên thuỷ, phản ánh mối quan hệ phụ thuộc của con người vàomôi trường tự nhiên và quan hệ cộng đồng thị tộc Theo quan niệm Tôtem giáo
có một con vật hoặc một vật nào đó là “tổ” sinh ra cộng đồng người, hoặc cótác động đến cộng đồng người một cách hư ảo, khiến cả cộng đồng coi đó làvật tổ và lấy đó làm biểu tượng thờ cúng Từ đó, mỗi tộc người đều lấy mộtcon vật nào đó làm Tôtem cho tộc người mình Tôtem của người Việt cổ là Cásấu, của người Thái là Hổ, của người Mường là đá, là cây Tôtem giáo là hìnhthức con người chuyển dịch quan hệ họ hàng, huyết thống ra thế giới bênngoài Ngày thường, tất cả các thành viên trong bộ tộc không được ăn thịtTôtem, chỉ trong ngày lễ người ta ăn thịt Tôtem với ý nghĩa nhằm tiếp thêmsức mạnh cho mình và góp phần gắn kết quan hệ thị tộc, bộ lạc trở nên chặtchẽ hơn
Như vậy, Tôtem ra đời có tác dụng gắn kết cộng đồng, giữa người vớingười có chung vật tổ Quan hệ với vật tổ chỉ là quan hệ hư ảo, còn quan hệthực là quan hệ giữa người với người Ở đây, sức mạnh trần thế đã mang hìnhthức sức mạnh siêu thần thế
Hiện nay, hình thức thờ Tôtem đã được tiếp biến vào trong hành vị, lễnghi của các tôn giáo, như ăn bánh thánh, uống rượu nho trong đạo Kitô, ănlộc trong đạo Phật
Bái vật giáo là hình thức tín ngưỡng, tôn giáo quan niệm một vật cụ thể
như ngọn núi, dòng suối, tảng đá, cây cổ thụ, thậm chí cả chiếc răng thú, chiếcrìu đá, bình vôi, mảnh vải… được tạo ra bởi các thần linh, mỗi vật đều có thầncủa mình trú ngụ trong đó, có sức mạnh siêu linh có thể trợ giúp con ngườitrong những lúc khó khăn Trong xã hội ngày nay, một số người đeo bùa hộmệnh là dấu vết của tín ngưỡng bái vật nguyên thuỷ
Trang 19Ngày nay, nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam còn tin theo Bái vật giáo,vẫn thờ các thần đất, thần đá, thần cây, thần núi, thần nước, thờ linh hồn cáccon vật, các vật dụng.
Tín ngưỡng hồn lúa, biểu tượng là Mẹ Lúa và nghi thức nông nghiệp tồntại phổ biến trong các tộc người thiểu số, gắn với chu trình sản xuất
Ma thuật giáo (phép phù thuỷ) là hình thức tín ngưỡng tôn giáo nguyên
thuỷ, tin rằng một người cụ thể nào đó có phép lạ, có khả năng giao tiếp vớithần linh, mang sức mạnh của thần linh để cứu giúp hoặc làm hại người khác
mà người thường khác không có Những người như thầy phù thuỷ, thầy mo…
có phép lạ, có thể chữa mọi bệnh tật, trừ mọi ma quỷ, cứu giúp người hay gâyhại cho người khác
Người nguyên thuỷ tin rằng có một thế giới hồn và ma cùng tồn tại với thếgiới của người đang sống Con người ốm đau là do hồn của người đó đi lạc vàothế giới hồn ma Thầy phù thuỷ có phép lạ điều khiển đội âm binh bằng nhữnglời phú chú, tìm hồn lạc về thể xác người ốm Người nguyên thuỷ mong ước cómột cuộc bình yên, hạnh phúc Ma thuật giáo là phương tiện hư ảo để giảiquyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống của người nguyên thuỷ như: chiếntranh, bệnh tật, thiên tai
Hình thức ma thuật giáo rất phong phú: ma thuật làm hại, ma thuật chữabệnh (chữa bệnh bằng phù phép), ma thuật săn bắt, ma thuật tình yêu, ma thuậtkhí tượng (cầu mưa, cầu tạnh, cầu gió )
Ở Việt Nam, nhiều khi tín ngưỡng ma thuật chữa bệnh, ma thuật làm hại,
ma thuật dục tình… được kết hợp với dùng thảo dược để chữa bệnh… Cáchình thức bùa chú, chài, thư, xiên lình, ma lai, ma cà rồng… là các dạng thứccủa ma thuật giáo tồn tại khá phổ biến ở các tộc người ở vùng sâu, vùng xa
Ma thuật giáo tác động đáng kể tới đời sống tinh thần của một bộ phận dân
cư nhẹ dạ, cả tin, nhất là những vùng xa xôi, hẻo lánh, trình độ văn hoá thấp.Tín ngưỡng thành đinh (trưởng thành) còn tồn tại ở nhiều tộc người, điểnhình lễ cấp sắc ở người Dao, tục xăm mình ở người Thái, lễ cắt quy đầu ởngười Chăm, Khơ me, tục cà răng ở một số tộc người ở Tây Nguyên, …
Vật linh giáo ra đời cuối thời kỳ công xã thị tộc, với quan niệm rằng mọi
vật đều có hai phần: “xác” (hữu hình) và “hồn” (vô hình) “Xác” là nơi trú ngụcủa “hồn”, còn “hồn” quyết định phần “xác” Khi con người chết thì chỉ chết
Trang 20về phần xác còn phần hồn tồn tại mãi mãi Từ đó, tạo nên hai thế giới: thực hư; trần gian - địa ngục Con người phải cầu xin thế giới bên kia Như vậy, vậtlinh giáo xuất hiện với quan niệm của tang lễ, với quan niệm hai thế giới songsong tồn tại (hữu hình và vô hình) có quan hệ với nhau Thực chất của vật linhgiáo là thờ cúng linh hồn những người đã khuất Đây là hình thức tín ngưỡngtôn giáo đã “linh hồn hoá” các hiện tượng tự nhiên, gắn cho các hiện tượng đómột sức mạnh ghê gớm, là cơ sở tín ngưỡng quan trọng cho sự ra đời các tôngiáo sau này.
-Tín ngưỡng thờ cúng linh hồn người chết, được thể hiện đậm độ trongtang ma tồn tại phổ biến ở các tộc người, mà nghi lễ bỏ mả của người TâyNguyên là điển hình Nhiều tộc người thiểu số như người Tày, Thái, Nùng,HMông, Dao, Khơ me, Chăm… cũng có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Một sốtộc người cũng thờ Mẫu như người Chăm thờ Pôn Inưgar - người mẹ xứ sở,người Tày, Nùng thờ mẹ Hoa
Tín ngưỡng thờ cúng thổ thần, thần bảo trợ của bản mường, buôn làngcũng tiếp biến thêm thờ Thành Hoàng của người Việt cũng tồn tại khá phổbiến ở các tộc người thiểu số
Sa man giáo là hình thức tín ngưỡng tôn giáo, quan niệm rằng con người
có thể giao tiếp được với thần linh, ma quỷ thông qua người trung gian có phépnhiệm màu để giải quyết những yêu cầu của trần gian Người trung gian này làthầy pháp Saman có thể yêu cầu thần linh giải quyết những vấn đề quan trọngcủa con người trong bộ lạc Saman giáo là hình thức tín ngưỡng tôn giáo đãxác lập quan hệ giữa người với thần và xuất hiện người hành nghề tôn giáochuyên nghiệp với sự giúp đỡ của một nhóm người nhất định, nhằm tạo rakhông gian “linh thiêng” cho linh hồn nhập thoát
Tín ngưỡng Sa man giáo liên quan đến trừ tà, chữa bệnh cũng tồn tại ởcác dân tộc thiểu số: như Then của người Tày, Mỡi của người Mường, Một củangười Thái, Neak tà của người Khơ me, Wua lếnh của người HMông, Pơjaocủa nhiều tộc người Tây Nguyên,… Các dạng thức lên đồng, gọi hồn, phù thuỷtrừ ma bắt của các thầy cúng cũng là các biểu hiện của Saman giáo
Hiện nay, ở Việt Nam đang tồn tại đầy đủ các hình thức tín ngưỡng tôngiáo dân gian này Các hình thức tiền vật linh giáo còn tồn tại ở các dân tộcthiểu số Hai hình thức sau tồn tại xen lẫn trong các lễ hội, các sinh hoạt tínngưỡng tôn giáo Các tộc người ở vùng sâu, vùng xa các hình thức tín ngưỡng
Trang 21dân gian còn bảo lưu khá nguyên vẹn, cùng với những sinh hoạt văn hóa cổtruyền Một số tộc người cư trú ở vùng thấp, gần các trục đường giao thông ởTây Bắc, Tây Nguyên, tín ngưỡng dân gian đang bị mai một, thay vào đó là sựtiếp nhận đạo Tin lành và Công giáo Các thế lực xấu cũng lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo để ngụy tạo ra những cái “giả tôn giáo” như cái gọi là “Tinlành - Vàng Chứ” ở người HMông, “Tin lành - Đề ga” ở Tây Nguyên để chốngphá cách mạng
2 Các tôn giáo ở Việt Nam
a Kitô giáo
Kitô giáo, ra đời vào thế kỷ thứ I ở vùng Palextin, thuộc các tỉnh phíaĐông đế quốc La Mã cổ đại, phản ánh sự bất lực trong cuộc đấu tranh quyếtliệt giữa nô lệ và chủ nô, giữa các dân tộc bị chinh phục và kẻ xâm lược Quầnchúng đã hy vọng vào một lực lượng siêu nhân, một đấng cứu thế để đánh đổ
đế quốc La Mã, giải phóng dân tộc, thực hiện sự công bằng Kế thừa tư tưởngđạo Do Thái, đa thần giáo Hi Lạp, La Mã và những yếu tố tín ngưỡng tôn giáovùng Trung Cận Đông người ta đã sáng tạo ra đấng cứu thế Giê-su, kêu gọilòng thương yêu con người, xây dựng xã hội công bằng, đáp ứng nguyện vọngcủa quần chúng, nô lệ và đông đảo nô lệ tin theo, đạo Kitô ra đời
Thế kỷ I tư tưởng Kitô giáo xuất hiện trong dòng người Do Thái langthang vùng Tiểu Á, Ai Cập Lúc này, Kitô giáo có tư tưởng đấu tranh, chống
áp bức, bóc lột, và được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng, tương thân tương
ái, nên được đông đảo nô lệ tin theo, bị chủ nô nghiêm cấm, sát hại
Vào thế kỷ thứ II, Kitô giáo có biến đổi thành phần xã hội, vai trò, địa vị
và tổ chức cộng đồng của Kitô giáo, chuyển từ phê phán sự áp bức, bóc lộtsang ủng hộ chính quyền La Mã và bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị.Năm 313 Hoàng đế Côngxtăngtin ban hành Sắc lệnh Milanô cho phép Kitôgiáo được truyền bá
Năm 325, giáo hội Kitô (giáo hội La Mã) được thành lập ở Rôma và pháttriển cùng chế độ phong kiến ở châu Âu Năm 392, Kitô giáo được công nhận
là quốc giáo của đế chế La Mã, giữ vị trí độc tôn
Thời kỳ trung cổ (từ năm 476 đến năm 1453) Giáo hội Kitô giáo đạt đến
đỉnh cao quyền lực cả về thần quyền và thế quyền, thống trị toàn bộ đời sốngtinh thần của xã hội và chi phối quyền lực của vua chúa phong kiến
Trang 22Năm 1054, giáo hội Công giáo phân liệt lần thứ nhất: Chính thống giáotách ra khỏi Kitô giáo hình thành một tôn giáo độc lập
Giáo hội Chính thống hiện nay có khoảng 200 triệu tín đồ, thuộc về 15giáo hội chính thống độc lập ở 15 địa bàn chính là: Ixtămbun (Thổ Nhĩ Kỳ),Alếchxanđri (Ai Cập), Nga, Grudia, Xécbia, Rumani, Bungari, Síp, Hi Lạp,Anbani, Balan, Xlôvakia, Xiri, Liban và Mỹ Các giáo hội chính thống giáo rấtchú ý đến hình thức lễ nghi, đều làm lễ bằng tiếng dân tộc mình, đều buộc giáodân phải thường xuyên đi lễ nhà thờ, đeo cây thánh giá và thực hiện đủ 7 phép
bí tích và đều chịu tác động rất quyết định của điều kiện văn hoá, xã hội, nơi
nó du nhập chịu phục tùng yêu cầu của chính quyền sở tại Nhiều giáo hộichính thống cho phép giáo sỹ lấy vợ, lập gia đình
Trong giai đoạn này, giáo hội và vua chúa phong kiến liên tục phát độngchiến tranh “thánh chiến”, kéo dài gần 200 năm (1096-1270) để xâm chiếm cácquốc gia giàu có ở Trung Đông và lập ra toà án tôn giáo để trừng trị những kẻgọi là "rối đạo" đe doạ quyền lực và an ninh của giáo hội và nhà nước phongkiến châu Âu thời trung cổ
Thời kỳ cận hiện đại, từ thế kỷ XVI đến nay, giáo hội Kitô giáo có những
biến đổi mạnh mẽ
Năm 1517, Kitô giáo phân liệt lần thứ hai xuất hiện thêm nhánh Tin lành
và Anh giáo Anh giáo là một tôn giáo chủ yếu dựa theo quan điểm thần họcCanvanh và lập giáo hội riêng, không quan hệ với giáo hội Rôma, nhưng cáchthức hành đạo và cơ cấu tổ chức vẫn theo Công giáo
Hiện nay, tổng số tín đồ của các đạo Kitô trên toàn thế giới có khoảng 1,8
tỉ người, trong đó, Công giáo khoảng 1,02 tỉ, đạo Chính thống khoảng 200triệu, đạo Tin lành và Anh giáo khoảng 550 triệu
Ngoài ra, Công giáo còn có hệ thống dòng tu của những tu sĩ từ bỏ cuộcsống trần tục để cống hiến cuộc đời cho việc đạo Mỗi dòng tu có quy chế tổchức và hoạt động riêng, thuộc quyền điều hành của giáo phận hoặc giáo triềuVatican Hiện nay trên thế giới có hơn 400 dòng tu Một số dòng lớn về namnhư dòng Đô mi ni cô (dòng Đa minh) dòng Jesus (dòng tên), dòng Bơ noa,dòng Phanxicô, dòng Bosco, dòng Lasan, dòng Chúa Cứu thế, dòng GioanThiên Chúa Một số dòng nữ như dòng Kín Ca mê rô, dòng Bơ noa, dòngthánh Phao lô, dòng Bác ái, dòng Đức Bà
Đạo Kitô ở Việt Nam
Trang 23Ở Việt Nam, Kitô giáo có hai nhánh chính: Công giáo và Tin lành.
Công giáo ở Việt Nam
Công giáo được truyền vào Việt Nam qua nhiều giai đoạn, khó khăn,phức tạp, gắn liền với quá trình xâm lược của thực dân Pháp
Năm 1533 đã có các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ba Nha đến truyền giáo ởNinh Cường, Quần Anh tỉnh Nam Định, nhưng không có kết quả
Năm 1628, chúa Trịnh Tráng ra lệnh cấm người Việt Nam không đượctiếp xúc với Tây dương đạo trưởng Các giáo sĩ bị trục xuất khỏi Đàng ngoài
Từ 1664 đến 1884, việc truyền giáo vào Việt Nam do các giáo sĩ ngườiPháp thông qua “Hội Thừa sai Pari” dưới sự hỗ trợ của chính phủ Pháp đã đạtđược những kết quả bước đầu
Từ 1885 đến năm1945, nhờ có sự giúp đỡ của giáo hội La Mã và chính
quyền đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, giáo sĩ “Hội thừa Sai Pari” đẩymạnh và mở rộng phạm vi truyền giáo, xây dựng hàng ngàn cơ sở tôn giáo, mởtrường đào tạo giáo sĩ, phong chức thánh cho người Việt, số lượng giáo dân vàgiáo sĩ người Việt tăng nhanh Năm 1933, Vatican đã chính thức giao quyền tựquản và phong chức giám mục cho Giáo hội Việt Nam
Từ năm 1945 đến năm 1975, Công giáo ở Việt Nam có sự phân hoá
sâu sắc:
Giai đoạn từ năm 1945 - 1954, đa số tín đồ Công giáo nêu cao truyềnthống yêu nước, đi theo cách mạng, đóng góp sức người, sức của cho khángchiến chống thực dân Pháp thắng lợi Nhưng vẫn còn, một bộ phận giáo sĩ,chức sắc Công giáo bị thực dân Pháp lợi dụng đã kích động, lôi kéo giáo dân đitheo thực dân Pháp, quay lưng lại với phong trào kháng chiến của dân tộc
Từ năm 1954, ở miền Bắc đa số giáo dân theo Đảng xây dựng cuộc sốngmới và tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, xây dựng,bảo vệ miền Bắc Trong khi đó, một bộ phận giáo dân bị kích động đã di cưvào Nam Trong đó có một bộ phận bị chính quyền Mỹ-nguỵ lợi dụng chốngphá cách mạng, đàn áp các tôn giáo khác, gây sự hằn thù giữa các tôn giáo Sau đại thắng mùa xuân 1975 đến nay, đất nước độc lập, thống nhất đilên chủ nghĩa xã hội, đồng bào Công giáo cả nước đã nhanh chóng hoà nhậpvào cuộc sống mới, cùng đồng bào cả nước bắt tay vào sự nghiệp xây dựng,bảo vệ Tổ quốc Giáo hội Công giáo Việt Nam được thành lập (5/1980) đẩy
Trang 24mạnh tu bổ, xây dựng thánh thất, trường học, đào tạo giáo sĩ, củng cố giáohội, mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo nước ngoài Tuy nhiên vẫn cònmột bộ phận nhỏ còn mặc cảm và bị các thế lực xấu lợi dụng chống phá cáchmạng Việt Nam.
Nội dung cơ bản về giáo lý
Giáo lý của đạo Kitô chứa đựng trong Kinh thánh, gồm hai phần: Cựuước và Tân ước
Cựu ước có 46 cuốn Tân ước có 27 cuốn; 22 lá thư gửi các giáo đoàn
và sách “Khải huyền” tiên đoán về tương lai
Theo giáo lý, Kitô giáo thì Thiên Chúa có trước đời đời, có trước cảkhông gian và thời gian Thiên chúa có 3 ngôi: Cha - Con - Thánh thần Tuy
là 3 ngôi nhưng cùng một bản thể là thánh, đều “đồng đẳng, đồng vinh, đồngquyền” Mỗi một ngôi có chức năng, vai trò khác nhau đối với con người.Ngôi một - Cha: tạo dựng; Ngôi hai - Con: cứu chuộc; Ngôi ba - Thánh thần:thánh hoá
Thiên Chúa là đấng sáng tạo nên trời đất, muôn loài, từ hư không, trong
Thiên Chúa là đấng thiêng liêng, sáng láng, là chúa tể trời đất và muônloài, có quyền phép vạn năng sắp xếp, vận hành trật tự trong vũ trụ một cáchhợp lý và tuyệt đối Con người do Thiên Chúa tạo nên theo hình ảnh của ThiênChúa, có nhiệm vụ thờ phụng Thiên Chúa và tiếp tục công cuộc kiến tạo tráiđất của Thiên Chúa
Ađam được Thiên Chúa tạo ra từ đất, bụi và được thổi sinh khí vàothành người sống Êva mẹ của sự sống được tạo nên từ xương sườn của Ađam.Con người là sản phẩm hoàn hảo, tuyệt mỹ của Thiên Chúa Con người cólương tâm, trí khôn, đạo đức nên làm chủ thế giới Con người quan hệ trực tiếpvới Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương Sau này khi con người sangã, tội lỗi, mối quan hệ không còn trực tiếp nữa mà thông qua đấng cứuchuộc là chúa Giêsu
Trang 25Con người có hai phần: thể xác (mang tính phàm tục) và linh hồn (mangtính thiêng liêng) Linh hồn do Thiên Chúa truyền vào, tồn tại vĩnh cửu, cònthể xác trở về cát bụi Con người có tính phàm tục nên mắc nhiều tội lỗi Bảnchất tội lỗi của con người là do tính tự do Khi chết, linh hồn không được vàothiên đàng ngay mà phải chịu sự phán xét của Thiên Chúa Nếu có tội phải đẩyxuống hoả ngục cho quỷ dữ hành hạ và lửa thiêu đốt Loài người phải mang tội
tổ tông do vợ chồng Ađam - Êva gây ra Con cháu Ađam đông đúc, phạmnhiều tội lỗi, được Thiên Chúa răn dạy qua các tiên tri nhưng không có kếtquả, nên phải bị trừng phạt bởi nạn đại hồng thuỷ Chỉ có ông Noê là ngườisống đạo đức, thánh thiện, được Thiên Chúa báo trước, cho đóng một thuyềnlớn chở gia đình, vợ con, muông thú, mỗi loài một cặp để lưu giống
Về sau loài người khởi thủy từ ông già Noê vẫn tiếp tục phạm tội,không nỡ lại huỷ diệt loài người một lần nữa, Thiên Chúa bèn cho ngôi hai làĐức chúa Con xuống trần thế cứu chuộc tội lỗi cho loài người
Đức chúa Con tên là Giêsu do trinh nữ Maria sinh hạ tại thành phốBétlêhem Để cứu chuộc tội lỗi cho loài người, Giêsu phải chịu đóng đinh trêncây thập tự Chết được 3 ngày, Giêsu sống lại, ở trần thế với các môn đệ thêm
40 ngày nữa, sau đó về trời Trước khi về trời, Chúa lập ra 7 phép bí tích đểnhờ đó, loài người có thể thông công được với Thiên Chúa để được ThiênChúa cứu rỗi Sau khi Chúa Giêsu lên trời được 10 ngày, Thiên Chúa cử ngôi 3
là Đức chúa Thánh thần hiện xuống, ban sức mạnh và lòng can đảm cho cácmôn đệ của Chúa Giêsu để họ đi truyền đạo
Luật lệ của giáo hội Công giáo khá phức tạp, chi tiết, cụ thể Trong đó,
cơ bản nhất là 10 điều răn được ghi trong Kinh Cựu ước đó là:
1- Phải kính thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự
2- Không được lấy danh Chúa để làm những việc phàm tục
3- Dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa
4- Thảo kính với cha mẹ
5- Không được giết người
6- Không được dâm dục
7- Không gian tham lấy của người khác
8- Không làm chứng dối, che dấu sự gian dối
9- Không ham muốn vợ (chồng) người khác
Trang 2610- Không được ham muốn của trái lẽ.
Lễ nghi của Công giáo thể hiện trong bảy phép Bí tích và các ngày lễ
trong năm
Bảy phép bí tích: Bí tích Rửa tội, là phép tông truyền để trở thành tínhữu Bí tích Thêm sức, là phép giúp tín hữu giữ vững lòng tin để đi vào việcđạo nơi trần thế Bí tích Thánh thể, là phép làm cho Thiên Chúa ngự vào lòngtín hữu để được chúa che chở, cứu vớt Bí tích Giải tội, là phép giải tội làm chotín hữu hối hận, tự giác xưng hết tội lỗi và quyết tâm sửa chữa Bí tích Xức dầuthánh, là phép xức dầu cho bệnh nhân trong cơn nguy tử để được Thiên Chúanâng đỡ, cứu vớt và được "chết lành" Bí tích Truyền chức Thánh, là phépphong chức thánh cho tu sĩ nam đã tu học và có đủ điều kiện để thay mặt ThiênChúa "chăn dắt" con chiên Bí tích Hôn phối, là phép tăng cường tính duy nhất
và bền vững trong hôn nhân và quan hệ gia đình của tín hữu
Các ngày lễ chính trong năm của Công giáo, trong đó có những ngày lễbuộc các tín đồ phải tham dự (lễ trọng): Lễ Giáng sinh (24/12); Lễ Phục sinh(Từ 21-3 đến 25-4); Lễ Chúa Giêsu lên trời (15-8); Lễ Chúa thánh thần hiệnxuống; Lễ Đức bà Maria và Lễ Các Thánh (1-11) Lễ chủ nhật quanh năm
Cơ cấu tổ chức và phẩm trật của giáo hội Kitô giáo
Đạo Chính thống và đạo Tin lành đều không có tổ chức lãnh đạo thốngnhất trên toàn thế giới mà tổ chức theo các giáo hội riêng rẽ, độc lập theo từng
hệ phái hoặc theo từng quốc gia
Công giáo có tổ chức giáo hội thống nhất toàn thế giới
Cơ cấu tổ chức và phẩm trật của giáo hội Công giáo xếp sắp theo hệthống: Giáo hoàng - Giám mục đoàn - Hồng y đoàn - Giáo hội địa phương -Giáo hội cơ sở
Theo Kinh Thánh, Giáo hội là một cộng đồng hữu hình có tổ chức màChúa Giêsu đã lập trước lúc về trời để lưu tồn sự hiện diện của Thiên Chúa ởtrần thế Giáo hội có 4 đặc điểm: Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo, Tôngtruyền Giáo hội Công giáo có hệ thống tổ chức phẩm trật thống nhất và chặtchẽ từ trung ương đến các địa phương:
Giáo Hoàng là giáo chủ, đức thánh cha, người kế vị thánh Phêrô, là đại
diện của Chúa Giêsu, vị chủ nhân tối cao đối với các tín đồ có “quyền tốithượng, toàn diện và trực tiếp” đối với Giáo hội Giáo hoàng do Hội đồng
Trang 27Hồng y bầu ra, giữ nguyên chức đến hết đời Giáo hoàng thực hiện quyền lựccủa mình thông qua Giám mục đoàn, Hội đồng Hồng y và bộ máy Giáo triềuVatican Giáo hoàng mặc phẩm phục màu trắng.
Giám mục đoàn bao gồm tất cả giám mục trên thế giới họp với Giáo
hoàng để duy trì sự hiệp thông và cai quản đoàn giáo hội Giám mục đoàn họpdưới sự điều khiển của Giáo hoàng gọi là “Công đồng chung” để quyết địnhnhững vấn đề quan trọng của Giáo hội, như đường hướng hoạt động, chấnchỉnh tổ chức, đức tin Nghị quyết của Công đồng chung được Giáo hoàng phêchuẩn, công bố
Thượng Hội đồng giám mục là cơ quan thường trực của Giám mục đoàn.
Giữa hai kỳ họp của Thượng hội đồng giám mục có Văn phòng làm việc doTổng thư ký điều khiển, chức Tổng thư ký do Giáo hoàng chỉ định
Hồng y đoàn là một công đoàn gồm các vị Hồng y được Giáo hoàng tấn
phong có nhiệm vụ duy nhất là bầu Giáo hoàng mới mỗi khi trống ngôi
Giáo triều Vatican, là cơ quan đầu não của giáo hội Công giáo thế giới,
được coi như là một quốc gia Công giáo ở thủ đô Rôma, Italia Toà thánhVatican có nguồn tài chính lớn do đóng góp của các thế lực phong kiến, giáohội ở các địa phương từ lợi nhuận từ các cổ phần kếch xù mà Vatican góp vớicác công ti tư bản tài chính và công nghiệp ở nhiều nước Âu - Mỹ
Các địa phận và các giáo hội địa phương - là một cộng đoàn tín hữu giớihạn trong một địa vực nhất định, là cấp hành chính chính thức của Giáo hội,trực thuộc Giáo triều Vatican về mọi phương diện
Cai quản địa phận là một giám mục có tất cả quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp trong phạm vi tôn giáo, đã chịu chức linh mục ít nhất là 5 năm, cóquyền phong chức, bổ nhiệm, điều khiển, kỷ luật linh mục trong địa phận.Định kỳ 5 năm một lần, Giám mục phải báo cáo với Giáo hoàng về tình hìnhtrong địa phận và đến Vatican yết kiến Giáo hoàng Dưới Giám mục có Giámmục phó, Giám mục phụ tá, Hội đồng tư vấn, Hội đồng linh mục
Giáo tỉnh là một hợp đoàn địa phận trong một khu vực do Toà thánhVatican thiết lập, nhưng không được coi là cấp hành chính chính thức củaGiáo hội
Đứng đầu giáo tỉnh là một Tổng giám mục, có nhiệm vụ và quyền hạn:Chăm lo đức tin và kỷ luật của giáo hội; Kinh lý các địa phận trực thuộc; Đề
Trang 28cử Giỏm mục địa phận trống ngụi; cử hành nghi lễ tại cỏc nhà thờ trong giỏotỉnh sau khi bỏo cho Giỏm mục địa phận biết.
Giỏo miền ở những nước cú nhiều giỏo tỉnh cú thể được Toà thỏnh chohợp lại thành giỏo miền Cỏc giỏm mục trong giỏo miền lập ra hội đồng giỏmmục Giỏo xứ là tổ chức cuối cựng cú tư cỏch phỏp nhõn, là cộng đồng tớn hữutrong địa phận Đứng đầu giỏo xứ là một linh mục Linh mục chớnh xứ cúquyền: thực hiện cỏc phộp bớ tớch cho tớn đồ trừ bớ tớch thờm sứ và truyền chứcthỏnh; lập và lưu giữ cỏc hồ sơ, sổ sỏch về việc sửa đổi, hụn phối, bỏo tử vàbáo cáo thờng kỳ cho giám mục về những vấn đề đó; cử hành các nghi lễ antáng cho các tín hữu qua đời trong giáo xứ Trợ giỳp cho linh mục chỏnh xứ cúlinh mục phú xứ và cỏc phú tế
Trong Giỏo xứ cũn cú cỏc Họ đạo hoặc khỏc Khu, cỏc Giỏp Giỏo hạt là
tổ chức liờn hiệp giữa cỏc Giỏo xứ theo địa dư trong phạm vi địa phận do giỏmmục thiết lập Đõy là tổ chức khụng cú tư cỏch phỏp nhõn trong cơ cấu tổ chứcgiỏo hội Đứng đầu mỗi giỏo hạt là Hạt trưởng
Hiện nay, tớnh đến thỏng 12 năm 2012, Giỏo hội Cụng giỏo Việt Nam cú
khoảng 6 triệu tớn đồ, chiếm 6,84% dõn số cả nước; 4044 chức sắc, 7500 chứcviệc: 02 Hồng y; 3 tổng Giỏm mục; 33 Giỏm mục; 2104 Linh mục; 7500 tu sĩ(trong đú cú 6000 nữ tu); 84 dũng và tu hội; được tổ chức thành 26 giỏo phận,khoảng 3.000 giỏo xứ, 6000 giỏo họ, 9000 cơ sở thờ tự và 7 đại chủng viện.Đại đa số tớn đồ chức sắc Cụng giỏo “sống tốt đời đẹp đạo”, “Kớnh chỳa yờunước”, sống phỳc õm trong lũng dõn tộc, phục vụ hạnh phỳc đồng bào
Giỏo hội Cụng giỏo Việt Nam là một bộ phận của Giỏo hội Cụng giỏohoàn vũ, phụ thuộc và chịu sự chỉ đạo của Tũa thỏnh Vatican, như đườnghướng mụ vụ, trong việc bổ nhiệm Giỏm mục, hay định kỳ 5 năm một lần cỏcGiỏm mục phải về Roma bỏo cỏo Giỏo hoàng và viếng mộ 2 Thỏnh tụng đồ.Hiện nay, Giỏo hội Cụng giỏo Việt Nam tăng cường mở rộng quan hệ với cỏc
tổ chức Cụng giỏo, Giỏo hội Cụng giỏo cỏc nước trờn toàn thế giới như thamgia Hội đồng Giỏm mục Á Chõu, tham gia Đại hội Giới trẻ thế giới và khu vựcchõu Á, tham gia cỏc diễn dàn tụn giỏo ở cỏc nước và giao lưu với cỏc tụn giỏobạn…
Đặc điểm Đạo Cụng giỏo: Cụng giỏo là tụn giỏo đặc biệt đề cao thầnquyền của mỡnh hơn để người tớn hữu hướng về siờu nhiờn một cỏch tuyệt đối.Đặc biệt là quyền lực của Giỏo hoàng Giỏo hoàng cú quyền tối thượng và
Trang 29quyền bất khả ngộ, gắn liền với hệ thống giáo lý, giáo luật với tính chất thiêngliêng nhờ quyền uy Thiên Chúa, cộng với sự màu nhiệm của phép bí tích xâmnhập và chiếm lĩnh đời sống tâm linh của con ngươi nơi trần thế như sợi dây
vô hình cột chặt giữa giáo dân với cộng đồng dân chúa, với Giáo hội
Đạo Công giáo trên thế giới có tính quốc tế Nó không những là một tôngiáo có cơ cấu tổ chức chặt chẽ mà còn là một nhà nước về mặt thế quyền, cóquan hệ ngoại giao với 180 nước trên thế giới và có đại diện với các tổ chứclớn như Liên hiệp châu Âu, Liên bang Nga và các tổ chức quốc tế khác
Tuy là một tổ chức tôn giáo nhưng Công giáo có tính chính trị, là quansát viên Liên Hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế có uy tín, có tiếng nói quantrọng trên trường quốc tế
Công giáo có tính quần chúng không phải là một sản phẩm do đế quốcphong kiến đặt ra hoặc mê hoặc quần chúng, cũng không phải là thứ tínngưỡng của riêng chức sắc Công giáo mà chính là vấn đề tín ngưỡng của cáctầng lớp quần chúng rộng rãi
Đạo Công giáo có tính xã hội như các tôn giáo khác đều tham gia vàocác hoạt động từ thiện nhân đạo, giáo dục, y tế, việc làm… Điều đó vừa thểhiện bản chất của tôn giáo là hướng thiện, đồng thời cũng tranh thủ tình cảmcủa các thành phần trong xã hội đối với tôn giáo mình
Đạo Công giáo là một tôn giáo có tính tổ chức cơ cấu tổ chức chặt chẽ,thống nhất có hệ thống phẩm trật được quy định rõ ràng
Đạo Công giáo là một tôn giáo có tính phổ quát, khá rộng rãi có mặt ởnhiều nước trên thế giới, ở tất cả các châu lục và ở hầu hết các tỉnh, thành phốnước ta
b Đạo Tin lành ở Việt Nam
Phong trào cải cách tôn giáo ở châu Âu thế kỷ XVI, XVII hình thành đạoTin lành là một tất yếu lịch sử, là sự tiến bộ về tôn giáo và xã hội Đạo Tin lành
ra đời đã góp phần đưa châu Âu thoát khỏi tình trạng trì trệ và ngưng đọng củađêm trường Trung cổ dưới sự cai trị của phong kiến và giáo hội Công giáo
Điểm khác biệt cơ bản giữa đạo Tin lành với Công giáo là Đạo Tin lànhchỉ tin vào Kinh thánh, qua Kinh thánh tín đồ có thể hiệp thông được với ThiênChúa, không cần khâu trung gian giữa người và Chúa
Trang 30Đạo Tin lành đã đơn giản hoá các nghi lễ, không thờ ảnh tượng, khôngthờ mẹ Maria, và quan niệm bà Maria chỉ đồng trinh cho đến khi sinh chúaGiêsu.
Đạo Tin lành không lệ thuộc Giáo hoàng và Tòa thánh La Mã
Tín đồ của đạo Tin lành được tham gia quản lý giáo hội, mục sư vàgiảng sư không phải sống độc thân
Cuối thế kỷ thứ XIX, các mục sư người Pháp truyền Đạo Tin lành vàoViệt Nam Năm 1911, Hội Liên hiệp Cơ đốc và truyền giáo (CMA) của Mỹ lậpđược cơ sở ở Đà Nẵng và đến năm 1918 đã tổ chức được 16 chi hội ở Bắc Kỳ,Trung Kỳ và Nam Kỳ Đến năm 1954, số lượng tín đồ Tin lành có tới 50 ngànngười, có gần 100 mục sư với giáo hội chung là Tổng hiệp hội Hội Thánh Tinlành Việt Nam
Sau năm 1975, Tin lành đã phát triển và có mặt ở khắp các tỉnh, thànhphố từ Thừa Thiên - Huế trở vào, hình thành các trung tâm lớn: Thành phố HồChí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang, Lâm Đồng, Đắc Lắc
Trong những năm gần đây Tin lành tích cực truyền đạo vào các tỉnh TâyNguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi đồng bào các dân tộc ít người sinhsống và trong các đối tượng học sinh, sinh viên, trí thức, người kinh doanh ởthành thị So với các tôn giáo khác, số lượng tín đồ Tin lành ở nước ta khônglớn, nhưng tốc độ phát triển những năm gần đây gia tăng nhanh Gần đây do bịcác thế lực thù địch xúi dục, lừa bịp nên đã xuất hiện một số vấn đề vượt khỏiphạm vi tôn giáo như: vấn đề Tin lành Đềga ở Tây Nguyên, Vàng Chứ - Tinlành ở vùng núi phía Bắc
Thực hiện Thông tư 01 về công nhận đạo Tin lành, các địa phương đãcông nhận nhiều điểm, nhóm hoạt động của Tin lành trong đồng bào các dântộc thiểu số Tây Nguyên và Tây Bắc, Đông Bắc
Hiện nay, đạo Tin lành ở nước ta có nhiều hệ phái và tổ chức khác nhau,
trong đó có các hệ phái, tổ chức lớn là: Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành ViệtNam (miền Nam); Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc); Cơ đốcPhục lâm; Bắp tít; Cơ đốc truyền giáo; Ngũ tuần; Tin lành Đại Hàn
Đến tháng 3 năm 2011, Đạo Tin lành đã có hơn 1 triệu tín đồ, chiếm1,14% dân số cả nước; trong đó có 436 mục sư, 306 mục sư nhiệm chức, 458
Trang 31truyền đạo, 455 chi hội, 4409 điểm nhóm, 351 nhà thờ, với hơn 90 tổ chức vànhóm Tin lành.
Trong số hơn 90 tổ chức, nhóm Tin lành hiện có ở Việt Nam, có 10 tổchức đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng kí hoạt động tôn giáo, số cònlại chủ yếu là một số nhóm Tin lành mới du nhập và các nhóm Tin lành tư gianhỏ lẻ
Các tổ chức Tin lành đã được Nhà nước công nhận là: Tổng hội Hộithánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) - 1958; Tổng Liên hội Hội thánh Tin lànhViệt Nam (miền Nam) - 2001; Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam - 2007; Giáohội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam - 2008; Tổng hội Báp tít Việt Nam (Ấn điển -Nam phương) - 2008; Hội thánh Báp tít Việt Nam (Nam phương) - 2008; Hộithánh Tin lành Mennonite Việt Nam - 2008; Hội thánh Liên hữu Cơ đốc ViệtNam - 2010; Hội thánh Tin lành Trưởng lão - 2008; Riêng Hội thánh Phúc âmNgũ tuần Việt Nam - đã cấp đăng kí hoạt động 2009, nhưng chưa công nhận tổchức tôn giáo
Đạo Tin lành là một tôn giáo có đường hướng và phương thức hoạt độngrất năng động, luôn luôn đổi mới và thích nghi, từ hình thức đến nội dung đểphù hợp với hoàn cảnh xã hội Đặc biệt đạo Tin lành là một tôn giáo rất quantâm và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, nhất là lĩnh vực từ thiệnnhân đạo, coi đó là phương tiện, điều kiện để truyền giáo, mở rộng lực lượng.Điều này không những làm cho đạo Tin lành thêm hấp dẫn mà còn tạo ra uytính, khả năng tiếp cận và chung sống với những thể chế chính trị khác nhau,quốc gia, dân tộc khác nhau
c Phật giáo
Đạo Phật ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên ở Ấn Độ trên vùng
đất thuộc Nêpan ngày nay Đạo Phật là một trong những trào lưu chống lại sựphân chia đẳng cấp vô cùng khắc nghiệt trong xã hội Ấn Độ cổ đại
Theo truyền thuyết, người sáng lập đạo Phật là Thái tử Cồ đàm Tất Đạt
Đa (Siddharta Gautama), sinh năm 563 trước công nguyên Từ nhỏ Thái tửsinh sống trong nhung lụa, không tiếp xúc với xã hội, không biết đến nhữngđói khát, bệnh tật già yếu và chết chóc
Năm 17 tuổi, Thái tử cưới vợ, sinh con, được tiếp xúc với cuộc sốngngoài cung đình, biết đến những cảnh già yếu, bệnh tật, chết chóc
Trang 32Năm 29 tuổi, Ngài quyết định tu hành khổ hạnh, mong tìm được sự giảithoát cho chúng sinh Sau 6 năm tu khổ hạnh ở núi Tuyết sơn mà không nhậnthức được chân lý, không tìm con đường giải thoát, Ngài tự mình thiền địnhdưới gốc Bồ đề (bodhi) tại làng Uruvêla, đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý.Sau 49 ngày đã ngộ được chân lý, hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc củakhổ đau và con đường cứu vớt Ngài tự xưng là Phật (Buddha - giác ngộ).Người đời gọi Ngài là Thích ca mầu ni (bậc thánh của dòng họ Thích ca).
Từ đó, Phật truyền bá đức tin, thành lập các đoàn truyền giáo, nhanhchóng thu hút được đông đảo tín đồ
Năm 483 trước công nguyên, lúc 80 tuổi, Phật tịch
Năm 484, Đại hội Tăng đoàn lần I được triệu tập gồm 500 tì kheo, kéodài 7 tháng để biên soạn về giáo lý, giới luật và luận giải của Phật về giáo lý vàgiới luật
Đại hội Tăng đoàn lần II diễn ra vào khoảng thế kỷ IV trước Côngnguyên với khoảng 700 tì kheo, kéo dài 8 tháng để giải quyết những bất đồng
về thực hành giới luật và luận giải kinh điển, hình thành hai phái Trưởng lão
bộ (Tiểu thừa) gồm các tì kheo cao tuổi chiếm thiểu số, và Đại chúng bộ (Đạithừa), gồm những người trẻ tuổi, chiếm đa số
Đại hội Tăng đoàn lần III tiến hành vào giữa thế kỷ III (trước Côngnguyên) với 1000 tì kheo kéo dài 9 tháng Nhà vua Asoca bảo hộ Phật giáo,các tăng đoàn phát triển nhanh
Đại hội Tăng đoàn lần IV (tiến hành vào khoảng 125 - 150 sau Côngnguyên) dưới triều Vua Ca nhi sắc ca (Kaniska), có 500 tì kheo tham dự, đãhoàn chỉnh tam tạng kinh điển Phật giáo, gồm Kinh, Luật, Luận
Đến thời vua Gúp ta (thế kỷ IV đến thế kỷ VI sau Công nguyên), đạoPhật suy thoái trước sự phát triển của Ấn Độ giáo
Từ thế kỷ VIII trở về sau, đạo Ixlam xâm nhập Ấn Độ Năm 1193, đạoPhật ở Ấn Độ lâm vào tình trạng suy tàn và bị tiêu diệt do bị Hồi giáo tiếncông Tuy nhiên đạo Phật đã kịp lan sang các nước Bắc Á, Nam Á và sau đó ranhiều nước khác trên thế giới, với số lượng tín đồ đông đảo và ảnh hưởng lớn
Trong quá trình phát triển, đạo Phật đã hình thành nhiều bộ phái khácnhau Có hai bộ phái lớn là Đại thừa và Tiểu thừa
Phật giáo Tiểu thừa quan niệm rằng chỉ có người tu hành mới giải thoátmình khổ đau: "tự độ tự tha" Phái tiểu thừa chủ trương tuân theo kinh Phật
Trang 33làm đúng lời Phật Phật không hoá thân mà chỉ có một Phật Thích ca màu ni.Phái này phát triển xuống phía Nam, nên gọi là hệ phái Nam tông.
Phật giáo Đại thừa quan niệm rằng người tu hành không chỉ giải thoátriêng cho mình mà có trách nhiệm giải thoát cho nhiều người, chủ trương hiểuPhật để hành đạo hợp với điều kiện của chúng sinh Phật không là một mà Phậtcòn hoá thân, mọi người đều có Phật tính "tự độ tự tha, tự giác giác tha" Pháinày phát triển lên phía Bắc, nên gọi là Bắc tông
Ngày nay, Phật giáo có trên 360 triệu tín đồ, chiếm 6% dân số thế giới,tập trung chủ yếu ở các nước châu Á
Đạo Phật không có tổ chức giáo hội thế giới, mà mỗi nước có giáo hộiPhật giáo riêng Hiện nay, có hai tổ chức quốc tế mang tính quần chúng tựnguyện của tăng ni, phật tử theo khu vực: Tổ chức Phật giáo châu Á vì hoàbình (ABCP), ra đời năm 1970, gồm 16 thành viên của 12 nước, trong đó cóViệt Nam, với tôn chỉ mục đích chống chiến tranh, cùng nhau xây dựng thếgiới hoà bình và thịnh vượng Tổ chức Thân hữu phật tử thế giới (WFB) ra đờinăm 1950 tại Cô-lôm-bi-a chỉ là diễn đàn quốc tế của Phật giáo
Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam
Từ đầu công nguyên Phật giáo được truyền vào Việt Nam theo hai conđường từ Ấn Độ và Trung Quốc Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V, Phật giáo
ở Việt Nam chịu ảnh hưởng chủ yếu của Phật giáo Ấn Độ Thế kỷ thứ III, LuyLâu (Thuận Thành-Bắc Ninh ngày nay) đã trở thành trung tâm Phật giáo lớncủa cả nước
Từ thế kỷ thứ VI trở đi, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ
từ Phật giáo Trung Quốc chủ yếu là phái Thiền tông, Mật tông và hoà cùng tínngưỡng dân gian, tạo ra bức tranh "Tam giáo đồng nguyên" (Phật-Nho-Lão)
Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XV Phật giáo ở Việt Nam phát triển cựcthịnh và có đóng góp to lớn trong quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc
Từ thế kỷ XV đến thế kỳ XX, Phật giáo bị suy vi và Nho giáo trở thành
hệ tư tưởng chính trị của chế độ phong kiến Việt Nam Tuy vậy, Phật giáo vẫntồn tại, phát triển bền vững trong nhân dân và trở thành một lực lượng quantrọng để bảo tồn, duy trì truyền thống văn hoá dân tộc Khi thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược, Phật giáo bị chèn ép và phân hoá
Từ năm 1930 - 1975, Phật giáo ở Việt Nam đã tham gia tích cực vào sựnghiệp giải phóng dân tộc Phong trào “Phật giáo Cứu quốc" đã thu hút được
Trang 34đông đảo tăng ni, phật tử tham gia và đã có đóng góp to lớn vào thắng lợi củacách mạng Việt Nam.
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1981 “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”
ra đời, quy tụ tăng ni, phật tử cả nước, hành đạo trong một tổ chức Phật giáothống nhất đã động viên hàng triệu tăng ni, phật tử hăng hái tham gia xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, hoạt động theo đường hướng chung “đạo pháp dân tộc chủ nghĩa xã hội” Từ đây, Phật giáo được chấn hưng trong cả nước: tu sửa vàxây dựng mới hàng ngàn chùa chiền, in ấn Kinh Phật, mở trường Phật học cơbản và cao cấp, xây dựng Viện Nghiên cứu Phật học
-Tính đến tháng 7 năm 2007, số người theo Phật giáo có khoảng 11 triệungười, chiếm hơn 12% dân số cả nước; trong đó có 46.495 chức sắc, 10 nghìnchức việc; có 14.775 cơ sở thờ tự trên toàn quốc, trong đó Phật giáo Bắc tông
có 23.665 cơ sở thờ tự, Phật giáo Nam tông có 570 cơ sở thờ tự và phái Khất
sỹ có 540 cơ sở thờ tự Hiện Giáo hội Phật giáo Việt Nam có hệ thống đào tạo
từ cấp cơ sở tới Học viện Phật giáo gồm: 04 Học viện Phật giáo, 32 trườngTrung cấp Phật học (hiện chỉ có 28 trường đang tổ chức đào tạo với 08 lớp caođẳng và một số lớp trình độ sơ cấp ở các chùa)
Giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội
Giáo lý của đạo Phật được thể hiện trong tam tạng kinh điển, tập trung
trong các luận thuyết, khái niệm cơ bản: vô tạo giả, vô thường, vô ngã, sắckhông, nhân duyên, tứ diệu đế
Vô tạo giả, theo quan niệm của Phật giáo vạn vật (vạn pháp) trên thế
giới do những phần tử vật chất và tinh thần tương hợp tạo thành Thế giới đượcphân chia thành 3 cõi lớn: Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới Đây là cốt lõitrong lý thuyết về bản thể luận của Phật giáo
Vô thường, theo quan niệm của Phật giáo mọi vật trong vũ trụ không
đứng yên mà luôn vận động, biến đổi không ngừng theo quy luật: thành trụ hoại - không, hay sinh - trụ - dị - diệt Sự tồn tại của mọi vật là tiền đề, là điềukiện để tiến đến cái khác nó, không phải là nó Do vậy, trong thành có không,trong sinh có diệt Sự biến đổi của vạn pháp, của vũ trụ diễn ra liên tục không cóbắt đầu, không có kết thúc, tạo ra động lực phát triển của vũ trụ, của vạn pháp
-Vô ngã, Phật giáo quan niệm, thế giới vật thể do nhiều yếu tố hợp thành
rồi lại tan ra tạo thành vật thể mới, không có cái bản ngã bất biến Con người là
“một pháp” đặc biệt của thế giới, do ngũ uẩn tạo thành gồm: sắc uẩn, thụ uẩn,
Trang 35tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn Khi ngũ uẩn hợp con người sinh, ngũ uẩn tan,con người diệt Do đó, không tồn tại cái tôi, mà sự tồn tại của con người chỉ là
“giả tạm”
Nhân duyên, theo quan niệm của Phật giáo nhân duyên chi phối sự
chuyển hoá, phát triển của vạn vật Nhân là mầm, là nguyên nhân tạo quả;duyên là điều kiện, phương tiện Sự tồn tại, phát triển của vạn vật đều chịu sựchi phối của một hoặc nhiều nhân duyên tạo thành Nhân không tự có mà donhân - duyên đã có từ cái trước nó (kiếp trước) để lại
Trong vũ trụ, hệ thống nhân - duyên nhiều vô cùng “trùng trùng duyênkhởi” quyết định sự tồn tại của vật: nhân - duyên hoà hợp, sự vật sinh; nhân -duyên biệt ly, sự vật tất diệt
Sắc - không: Phật giáo quan niệm vạn pháp luôn tồn tại ở hai dạng sắc
và không Cái ta nhìn thấy được gọi là sắc; cái ta không nhìn thấy được gọi làkhông; trong sắc có không và trong không có sắc Sắc, sắc, không, không là sựchuyển hoá không ngừng trong sự vật và con người
Theo Phật giáo, con người là pháp hữu sinh, tồn tại theo luật duyên quả báo, cũng tuân theo quá trình sinh - trụ - dị - diệt Con người tồn tạichỉ là “giả tướng” không có thật - “vô ngã” (không có cái ta)
nhân-Mỗi hành động của con người đều chứa đựng hậu quả bên trong gọi lànghiệp Con người đang sống có chứa "nghiệp" của kiếp trước Con người hômnay đang giữ nghiệp cho con cháu mai sau Do vậy, con người luôn chịunghiệp báo kế tục nhau: nghiệp - nghiệp - báo Mỗi người đang sống đều cótam nghiệp: thân nghiệp, ý nghiệp và khẩu nghiệp Phật giáo luôn khuyên conngười trau dồi, gìn giữ, giữ nghiệp thật trong sáng mới thoát khỏi vòng luânhồi sinh tử, trở về cõi Phật
Tứ diệu đế (còn gọi tứ thánh đế) là bốn chân lý kỳ diệu luận giải về sự
khổ, bản chất của khổ, nguyên nhân sinh ra khổ và con đường giải thoát khỏinỗi khổ, gồm: Khổ đế, tập đế, (nhân đế), diệt đế và đạo đế
Khổ đế, là chân lý nói về sự khổ Theo Phật giáo, cuộc đời của con
người là bể khổ Phật giáo chỉ ra con người chịu tám nỗi khổ lớn: sinh khổ, lãokhổ, bệnh khổ, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, thủngũ uẩn khổ Phật giáo cho rằng nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biểncủa cả bốn đại dương Nỗi khổ do con người tự gây nên trong cuộc sống củamình Con người cần hiểu sự khổ để, giải thoát khỏi sự khổ
Trang 36Tập đế, là chân lý nói về nguyên nhân của sự khổ Con người khổ đau là
do tam độc: tham (lòng tham lam), sân (sự giận dữ), và si (sự si mê), làm chocon người luân hồi trong vòng sinh tử khổ đau
Diệt đế, là chân lý giải thoát khỏi sự khổ, đưa con người đến với hạnh
phúc, an lạc Theo Phật giáo, mọi nỗi khổ của con người có thể loại bỏ được.Muốn diệt khổ phải diệt từ gốc, tức diệt nguyên nhân sinh ra khổ đó là diệt trừtam độc: tham, sân, si, làm cho con người nhận thức được Phật pháp, giải thoátkhỏi nỗi khổ để được sống hạnh phúc, an vui ở Niết Bàn
Đạo đế, là chân lý nói về con đường diệt trừ khổ đau để thành đạo Phật
giáo đưa ra nhiều biện pháp, quan trọng nhất là thực hành bát chính đạo (támcon đường chân chính) đó là: chính ngữ, chính kiến, chính tư duy, chínhnghiệp, chính mệnh, chính định, chính đinh tấn, chính niệm Thực hành Bátchính đạo, cũng chính là thực hiện Tam học của Phật giáo gồm: Giới (giữ giớiluật) - Định (thiền định) - Tuệ (hiểu biết)
Theo Phật giáo, Niết bàn đó là nơi con người đã diệt hết mọi ái dục, vô
minh chấm dứt sự khổ đau, kiếp luân hồi, con người sống hạnh phúc, bình antrong trạng thái tinh thần đã đoạn từ mọi phiền não, ham muốn Niết bàn có thể
ở ngay trên trần thế - hữu dư Niết bàn và ở thế giới bên kia khi con ngườikhông luân hồi sinh tử - vô dư Niết bàn
Giới luật của Phật giáo, là những quy định, hướng dẫn Phật tử phải giữ
gìn, kiêng kỵ trong việc ăn, ở, đi lại, sinh hoạt, tu luyện nhằm chế ngự dụcvọng, khuyến thiện, trừ ác giúp họ giải thoát Phật giáo có các giới luật cơ bản:ngũ giới, lục độ, lục hoà, thập thiện, tứ ân và thực hành 10 điều tâm niệm
Ngũ giới, là 5 điều cấm đối với phật tử, tăng ni, gồm: không được sát
sinh; không trộm cắp; không dâm dục, không quan hệ với vợ chồng ngườikhác; không nói điều sai, ác, xằng bậy; không uống rượu
Lục độ gồm: bố thí; trì giới; tinh tấn; nhẫn nhục; thiền định; trí tuệ Lục hoà gồm: chung sống hoà hợp; không được tranh cãi gây lộn; đồng
tâm nhất trí; cùng giải thích phát minh và phổ biến; giữ thuần phong mỹ tục vàluật pháp nhà nước bình đẳng về quyền lợi
Thập thiện gồm 3 điều thiện về thân: không sát sinh, trộm cắp, không tà
dâm; 4 điều thiện về khẩu: không nói dối, không nói hai mặt, không nói bịa
Trang 37đặt, không nói ác ý; 3 điều về thiện ý: không sinh lòng tham lam, không giận
dữ và không ý xấu
Tứ ân gồm: ân tam bảo; ân người giúp đỡ; ân cha mẹ; ân quốc gia
Đối với bậc Sadi còn phải theo 5 điều cấm sau: không trang điểm vàdùng nước hoa; không nằm giường có đệm và giường đôi; không xem ca hát;không giữ vàng bạc; không ăn quá giờ quy định
Đối với Tỳ kheo tăng (nam) phải giữ 250 giới; Tỳ kheo ni (nữ) phải giữ
348 giới; Hoà thượng phải giữ tới 500 giới
Thực hiện đúng giới luật sẽ tạo cho con người bốn đức tính: từ, bi, hỉ,
xả Từ là làm cho người khác hưởng sung sướng an bình Bi là làm cho ngườikhác hết đau khổ, phiền não Hỉ là là vui vẻ, không hiềm khích, không ghen tỵvới hạnh phúc, thành công của người khác Xả là thanh thản, không luyến ái,không bực tức, nóng giận, không phiền não
Tăng đoàn và lễ nghi chính
Tu sĩ của Phật giáo được chia thành hai loại: tu tại gia gọi là phật tử,xuất gia tu hành với nam gọi là tăng, nữ gọi là ni Phẩm trật của Phật giáo đượcchia thành: tỳ kheo, đại đức, thượng toạ và hoà thượng Trải qua thời gian tuluyện từ tiểu, điều thụ giới Sa di lên sư bác; thụ giới tì kheo lên sư ông, đạiđức, sư thầy, sau đó tiếp tục lên thượng tọa, hoà thượng
Lễ nghi của Phật giáo đơn giản, nhằm thờ Phật và truyền đạo Chùa là
nơi sinh hoạt tôn giáo Lễ vật: hương, hoa, quả, thức ăn chay Các ngày lễ, ngàysinh hoạt tôn giáo trong năm Theo Âm lịch: ngày 1 tháng Giêng lễ vía Phật DiLặc; ngày 15 tháng Giêng lễ Thượng Nguyên; ngày 8 tháng Hai lễ vía PhậtThích Ca xuất gia; ngày 15 thang Ba lễ vía Phật Thích ca nhập diệt; ngày 4tháng Tư lễ vía Bồ tát Văn thù; ngày 15 tháng Tư lễ Phật đản; ngày 19 thángSáu lễ vía Quan thế âm bồ tát thành đạo; ngày 13 tháng Bảy lễ vía Đại thế chí
bồ tát; ngày 15 tháng Bảy lễ Vu lan; ngày 30 tháng Bảy lễ vía Địa tạng bồ tát;ngày 19 tháng Chín lễ Quan thế âm bồ tát xuất gia; ngày 17 tháng Mười một lễvía Phật A di đà; ngày 8 tháng Mười hai lễ vía Phật Thích ca thành đạo; ngoài
ra, từng chùa có lễ giỗ các bậc sư tổ hàng tháng vào ngày 15 và 30 nhữngngười tu hành tập hợp tại chùa hay tu viện để đọc lại giới luật
Các tông phái và tổ chức giáo hội
Đạo Phật có các tông phái chủ yếu:
Trang 38Chân ngôn tông (Mật tông) hình thành vào thế kỷ thứ VII ở Ấn Độ, do
phái Phật giáo Đại thừa kết hợp với các yếu tố bùa chú, phù phép của ấn Độthực hiện Ở Việt Nam, Chân ngôn tông được trộn lẫn, đan xen với các tôngphái khác và có ảnh hưởng nhất định đến phật giáo thời Lý, Trần
Tịnh độ tông, được hình thành ở Trung Quốc khoảng thế kỷ thứ IV, là
tông phải dựa chủ yếu vào Phật lực để giải thoát
Thiền tông, là tông phái Phật giáo lớn ở Trung Quốc hình thành từ thế kỷ
VI do Bồ Đề Đạt Ma sáng lập Thiền tông có nghĩa là yên lặng để suy nghĩ đểtìm thấy Phật ở ngay trong tâm của con người Khi du nhập vào Việt Nam hìnhthành nên Thiền Trúc Lâm, ảnh hưởng rất lớn trong tầng lớp trí thức, vua quan
Phật giáo ở hai miền tuy có những nét khác biệt nhưng nhìn chung đều
có đóng góp quan trọng trong công cuộc đấu tranh giải phóng và xây dựng chủnghĩa xã hội Khi đất nước bị xâm lăng, nhiều người con Phật, không phân biệtsơn môn, hệ phái đã rời bỏ thiền môn, tòng quân đánh giặc, cứu nước Nhiềuchùa trở thành cơ sở cách mạng nuôi giấu cán bộ Nhiều thiền sư, cư sĩ, phật tử
đã trở thành cốt cán của các tổ chức kháng chiến trên khắp mọi miền đất nước,không tiếc thân mình để đấu tranh bảo vệ độc lập của dân tộc Sự đóng góp củaPhật giáo Việt Nam đã được lịch sử ghi nhận
Với tinh thần từ - bi - hỉ - xả, trong tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội,Phật giáo đã giáo dục con người biết sống vị tha, hòa hợp, loại bỏ oán thù, coitrọng bình đẳng và tiến bộ xã hội Giáo lý của Phật giáo phù hợp với đạo đức
xã hội, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Phật giáo chủtrương “Duy tuệ thị nghiệp” - lấy trí tuệ làm sự nghiệp nên đạo Phật giáo dụcphật tử chăm lo học tập, nâng cao trí tuệ để đóng góp công sức của mình vàocông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tăng ni, tín đồ phật tử tíchcực tham gia lao động sản xuất, đóng góp sức người, sức của để xây dựng chủnghĩa xã hội
Trong hoạt động từ thiện Phật giáo Việt Nam có nhiều đóng góp quantrọng: vì mục đích cứu khổ, độ sinh của đạo Phật, từ ngày thành lập Giáo hộiPhật giáo Việt Nam đã luôn quan tâm đến việc vận động cứu trợ nhân đạo, gópphần giảm bớt gánh nặng cho xã hội Các hoạt động thường xuyên trong côngtác từ thiện - xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là xây dựng hệ thốngTuệ Tĩnh đường, Phòng chẩn trị y học dân tộc, xây dựng các trường, lớp, nhàdưỡng lão, cơ sở nuôi trẻ mồ côi, mở trường dạy nghề miễn phí, tham gia
Trang 39phong trào phòng chống HIV/AIDS, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ từ thiện, xãhội cho tăng, ni, phật tử và tổ chức nhiều cuộc cứu trợ… Các hoạt động từthiện - xã hội này đã góp phần vào việc xóa đói, giảm nghèo, làm vơi bớtnhững khó khăn, gánh nặng cho cộng đồng, xã hội Đây cũng chính là phươngchâm “phục vụ chúng sinh là cúng dành chư phật” trong đường hướng hoạtđộng đồng hành cùng dân tộc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Đặc điểm Phật giáo Việt Nam: được truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã
hòa nhập, thích nghi và kết hợp với đời sống tâm linh, văn hóa của người dân,nên có những đặc điểm riêng biệt làm cho Phật giáo ở Việt Nam trở nên linhhoạt, phong phú
Phật giáo dung hợp cùng tín ngưỡng truyền thống của người Việt nhưthờ cúng tổ tiên, thờ thần, thờ Mẫu nhưng Phật giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo đểlàm nên đạo Phật Việt Nam
Phật giáo dung hợp với Nho giáo, Lão giáo để trở thành “Tam giáo đồngnguyên”, hộ trì quốc gia, dân tộc Đó là sự kết hợp rất trí tuệ để hài hòa vàcùng phát triển
Phật giáo du nhập vào Việt Nam để trở thành một tôn giáo gắn bó giữađạo với đời, thể hiện tinh thần nhập thế Phật giáo Việt Nam có truyền thốngyêu nước, gắn bó với dân tộc, cùng đồng hành trong những giai đoạn thăngtrầm của đất nước, góp phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc
Phật giáo Việt Nam có tinh thần đoàn kết nội bộ Tuy có nhiều tông pháiPhật giáo cùng tồn tại và phát triển, nhưng tất cả đều sinh hoạt trong một tổchức chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam cònđoàn kết với các tầng lớp trong xã hội và đoàn kết với các tôn giáo bạn
Du nhập vào Việt Nam, Phật giáo cũng lại hình thành và phát triển theotruyền thống của cư dân, phát triển dòng họ thế tục Việc quản lý, kỷ luật sưsãi do Sơn môn giải quyết Chỉ khi nào sư sãi vi phạm pháp luật, chính quyềnmới can thiệp vào
Văn hóa, đạo đức Phật giáo thấm đẫm trong tâm tưởng mỗi con ngườiViệt Nam qua các thế hệ, đã góp phần tạo dựng nên nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Với những đặc điểm trên, Phật giáo Việt Nam đã có một vị trí rất vữngvàng trong lòng dân tộc
Trang 40d Hồi giáo (Đạo Ixlam)
Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ VII ở bán đảo ẢRập, khi chế độ công xãthị tộc tan rã, đang bước vào thời kỳ xã hội có giai cấp
Sự ra đời của Hồi giáo gắn với cuộc đời, sự nghiệp của Môhamét 632) Môhamét sinh ở Mecca, thuộc bộ lạc Carét, thiếu thời phải đi làm thuê
(570-và dẫn khách qua sa mạc
Năm 25 tuổi (năm 595), ông giúp việc cho một goá phụ giàu có, sau đólấy bà làm vợ Sau đó, ông bỏ nhà vào núi tu luyện, khởi xướng đức tin vớitham vọng thống nhất các bộ lạc, thị tộc trên bán đảo ả Rập thành một khối
“tôn giáo duy nhất”, một vị thần tối cao nhất
Năm 40 tuổi (610), Môhamét đắc đạo, lập ra Hồi giáo và là người đứngđầu Hội đồng Hồi giáo ở quốc gia Hồi giáo đầu tiên
Quá trình phát triển của Hồi giáo
Năm 610, Môhamét bắt đầu truyền giáo, đến năm 622, Hồi giáo trởthành tôn giáo chính ở Mêdica, số lượng tín đồ phát triển nhanh
Từ năm 622 đến năm 630, đạo quân Hồi giáo đánh chiếm Mecca, xoá bỏcác tượng thần của tín ngưỡng đa thần giáo, truyền bá đạo Hồi ra toàn bộ bánđảo Ả Rập
Từ năm 636, Nhà nước Khali phát động Hồi giáo tiến hành các cuộc
"thánh chiến" đánh chiếm được nhiều nước ở Trung Á, Bắc Phi, Xi Ry, IRắc,Ácmênica, làm cho đạo Hồi phát triển mạnh
Đến thế kỷ thứ IX, Hồi giáo trở thành tôn giáo chính của các cư dân từđịa Trung Hải đến vịnh Ba Tư Thế kỷ thứ X, Hồi giáo lan sang châu Phi và
Ấn Độ Đến thế kỷ thứ XVI, Hồi giáo có mặt ở Đông Nam Á, Trung Quốc
Năm 1789, Napôlêông 1 tiến công Ai Cập đã chấm dứt các cuộc “thánhchiến” và mở rộng lãnh thổ của đạo Hồi, đặt đạo Hồi đối đầu với văn minh vậtchất, thế tục của chủ nghĩa tư bản
Các hệ phái Hồi giáo
Sau khi giáo chủ Môhamét chết, nội bộ Hồi giáo tự chia rẽ, hình thànhnhiều hệ phái, có sự khác nhau về giáo lý, cơ cấu giáo đoàn và phương thứcbầu giáo chủ
Hệ phái Su nít là hệ phái Hồi giáo chính thống, họ theo đuổi các tập tục,luật lệ của đạo I-xlam nguyên thuỷ từ thời Môhamét Đa số tín đồ hệ phái này