1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ phân số toán 4

71 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chẩn đoán trong quá trình nhằm giúp GV biết được tình hình kiến thức, kĩ năng liên quan tới nội dung học tập đã có của HS, những sai lầm, chướng ngại gây cản trở học tập để từ đ

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Trang 2

NỘI DUNG PHÉP TRỪ PHÂN SỐ TOÁN 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM ĐỨC HIẾU

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận cũng như trong thời gian 4 năm học tập và rèn luyện tại giảng đường đại học, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Lời đầu tiên tôi xin tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo

Ts Phạm Đức Hiếu – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy, cô khoa Giáo dục Tiểu học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm tôi học tập tại giảng đường

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trường Tiểu học xã Nghĩa Đồng

đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế

Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè những người đã luôn bên cạnh, ủng hộ tôi trong suốt thời gian học đại học

Do điều kiện thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý

từ quý thầy cô và các bạn để cho đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2018

Người thực hiện đề tài

Trần Thùy Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và các số liệu trong khóa luận chưa được công

bố dưới bất kì hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

về cam đoan này

Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2018

Người thực hiện đề tài

Trần Thùy Linh

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt

Viết đầy đủ

GV

HS STN

TL TNKQ

Giáo viên Học sinh

Số tự nhiên

Tự luận Trắc nghiệm khách quan

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP TRỪ PHÂN SỐ TOÁN 4 5

1.1 Những vấn đề chung về kiểm tra đánh giá 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Mục đích đánh giá 7

1.1.3 Vai trò của đánh giá 9

1.1.4 Các nguyên tắc của đánh giá 10

1.1.5 Các hình thức đánh giá trong dạy học ở Tiểu học 13

1.2 Đánh giá chẩn đoán 17

1.2.1.Khái niệm đánh giá chẩn đoán 17

1.2.2 Phân loại đánh giá chẩn đoán 19

1.2.3 Phương pháp phân tích phản ứng trong đánh giá chẩn đoán 19

1.3 Dạy học phép trừ phân số trong Toán 4 21

1.3.1 Mục tiêu dạy học phân số trong Toán 4 21

1.3.2 Nội dung dạy học phân số 21

1.3.3 Nội dung dạy học các phép tính với phân số Toán 4 22

1.3.4 Nội dung dạy học phép trừ phân số Toán 4 23

Trang 7

Kết luận chương 1 24

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP TRỪ PHÂN SỐ TOÁN 4 25

2.1 Nguyên tắc thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ phân số Toán 4 25

2.1.1 Đảm bảo nguyên tắc chung trong kiểm tra, đánh giá 25

2.1.2 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình dạy học phân số môn Toán lớp 4 26

2.1.3 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp 4 27

2.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường 27

2.1.5 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu chẩn đoán 28

2.2 Quy trình thiết kế bài kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ phân số lớp 4 28

2.3 Vận dụng quy trình thiết kế bài kiểm tra đánh giá chẩn đoán nhận thức trong dạy học nội dung phép trừ phân số lớp 4 32

Kết luận chương 2 42

CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT CHẨN ĐOÁN NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN SỐ TOÁN 4 43

3.1 Mục đích khảo sát 43

3.2 Đối tượng khảo sát 43

3.3 Nội dung khảo sát 43

3.4 Kết quả khảo sát 43

3.5 Nhận xét và đề xuất 53

3.5.1 Nhận xét và chẩn đoán 53

3.5.2 Đề xuất phương hướng giảng dạy 56

Kết luận chương 3 58

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Khung ma trận đề kiểm tra 1 30

Bảng 2.2: Khung ma trận đề kiểm tra 2 31

Bảng 2.3: Ma trận đề kiểm tra 34

Bảng 2.4: Bảng phân bố lỗi theo câu hỏi 37

Bảng 2.5: Bảng đáp án 38

Bảng 2.6: Thang điểm từng câu 38

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp kết quả gốc 44

Bảng 3.2: Bảng phân bố lỗi 1 45

Bảng 3.3: Bảng phân bố lỗi 2 46

Bảng 3.4: Bảng phân bố lỗi 3 47

Bảng 3.5: Bảng phân bố lỗi 4 48

Bảng 3.6: Bảng phân bố lỗi 5 49

Bảng 3.7: Bảng phân bố lỗi 6 50

Bảng 3.8: Bảng phân bố lỗi 7 51

Bảng 3.9:Tỉ lệ các lỗi của HS 52

Bảng 3.10: Bảng phân nhóm HS 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Do đó, ở cấp học này cần phải chú trọng trong việc giáo dục HS đặc biệt thông qua các môn học

Trong hệ thống các môn học ở Tiểu học, môn Toán chiếm vị trí quan trọng Thông qua việc học Toán, HS được rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh cùng các phẩm chất trí tuệ khác

Từ đó, các em nhìn nhận thế giới xung quanh qua tư duy logic chặt chẽ của toán học, biết ứng dụng toán học vào thực tế cuộc sống, đặc biệt ở giai đoạn học tập chuyên sâu mà mở đầu là Toán 4, khi các kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn học được yêu cầu ở mức độ phức tạp, khái quát hơn Trong mảng số học, nội dung dạy học về PS và các phép tính với PS chiếm vai trò quan trọng Việc thực hiện các phép tính với PS nói chung và phép trừ PS nói riêng giúp HS hình thành và phát triển năng lực tư duy, tưởng tượng, khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa Học tốt phép trừ PS tạo điều kiện để HS giải quyết các nhiệm vụ học tập khác, ngoài ra, nó giúp các em nhìn nhận một số mặt của thế giới khách quan từ đó vận dụng nội dung được học để giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống

Tuy nhiên, do phép trừ là phép tính ngược của phép cộng, hơn nữa quy tắc thực hiện phép trừ đối với PS có những khác biệt so với STN, điều đó gây nên khó khăn cho HS khi học về mảng kiến thức này Việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức về phép trừ PS vào rèn kĩ năng thực hiện các phép trừ giữa PS với

PS, PS với STN đối với HS còn nhẫm lẫn, dễ mắc sai lầm.Vì vậy, GV cần tìm

ra phương pháp dạy học tích cực giúp HS hiểu được bản chất, quy tắc và thực hiện phép tính một cách thành thạo

Trang 10

Để có phương pháp dạy học hiệu quả thì việc đổi mới là một yêu cầu cần thiết mang tính đột phá giúp nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ từmục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học cho tới việc kiểm tra đánh giá Trong đó, kiểm tra đánh giá là một mắt xích quan trọng của quá trình dạy học Hiện nay, những hình thức đánh giá tích cực đang ngày càng được nghiên cứu và vận dụng rộng rãi

Khoa học đánh giá ngày càng phát triển, các hình thức đánh giá kết quả học tập của HS cũng được phân loại theo nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau Xét theo quá trình học tập sẽ có 3 loại đánh giá: đánh giá sơ khởi, đánh giá trong quá trình và đánh giá tổng kết Trong đó, đánh giá trong quá trình lại bao gồm đánh giá hình thành và đánh giá chẩn đoán (sau khi học một nội dung kiến thức) Đánh giá chẩn đoán trong quá trình nhằm giúp GV biết được tình hình kiến thức, kĩ năng liên quan tới nội dung học tập đã có của HS, những sai lầm, chướng ngại gây cản trở học tập để từ đó GV vạch kế hoạch giảng dạy, củng cố, bổ trợ phù hợp

Vậy nên, đánh giá chẩn đoán là một phần thiết yếu của việc giảng dạy hiệu quả Hơn nữa, nội dung dạy học phép trừ PS có liên quan mật thiết tới những kiến thức, kĩ năng mà HS đã học trước đó Chính vì thế, trong dạy phép trừ PS, GV cần thực hiện những đánh giá chẩn đoán để phát hiện nguyên nhân HS sai lầm, từ đó xây dựng một kế hoạch giảng dạy, củng cố hợp lí, khắc phục những điểm yếu của HS để nâng cao hiệu quả dạy học Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ phân số Toán 4” làm

đề tài nghiên cứu

Trang 11

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ

PS Toán 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ PS Toán 4

- Thiết kế bài kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ PS Toán 4

- Sử dụng đề kiểm tra đã thiết kế để thực hiện khảo sát và chẩn đoán kết quả học tập nội dung phép trừ PS đối với HS lớp 4

4 Khách thể nghiên cứu

Đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ PS Toán 4

5 Đối tượng nghiên cứu

Đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ PS Toán 4

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, sử dụng một số phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu, xây dựng cơ sở lí luận về đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ PS Toán 4; xây dựng các nguyên tắc, quy trình thiết kế đề kiểm tra chẩn đoán và thiết kế đề kiểm tra chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ PS Toán 4

- Phương pháp điều tra, khảo sát để khảo sát đề kiểm tra đã thiết kế

- Phương pháp xử lí số liệu để tổng hợp, thống kê thông tin, kết quả thu được sau khảo sát làm cơ sở để phân tích số liệu và đưa ra chẩn đoán

Trang 12

7 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học xã Nghĩa Đồng

- Nội dung nghiên cứu: Nội dung phép trừ PS Toán 4

- Đối tượng: HS lớp 4A trường Tiểu học xã Nghĩa Đồng

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lí luận về đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ phân số Toán 4

Chương 2: Thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ phân số Toán 4

Chương 3: Khảo sát chẩn đoán nội dung dạy học phép trừ phân số Toán 4

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG

DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP TRỪ PHÂN SỐ TOÁN 4

1.1 Những vấn đề chung về kiểm tra đánh giá

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

a, Kiểm tra

Kiểm tra được hiểu chung là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”.[14]

Theo Nguyễn Xuân Thanh: “Kiểm tra có thể hiểu là sự xem xét thực tế

để đưa ra đánh giá, nhận xét của bất kì một cá nhân, một tổ chức nào trong xã hội ở bất kì một hoạt động nào, nhằm xem xét diễn biến diễn ra có đúng với quy tắc đã xác lập, các tiêu chuẩn và các mệnh lệnh về quản lí đã ban hành hay không.” [15]

Trong lĩnh vực giáo dục, có nhiều khái niệm về kiểm tra được nêu ra: Theo Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết: “Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá.” [6]

Theo Trần Bá Hoành: “Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoạt động của giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá.” [11]

Như vậy, dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng tóm lại, kiểm tra là hoạt động, quá trình GV thu thập các thông tin về kiến thức, năng lực, thái độ của HS trong một giai đoạn học tập nhất định bằng các phương pháp, hình

Trang 14

b, Đo lường

Đối với khái niệm tổng quan về đo lường, theo Phó Đức Hòa: “Đo lường

là khái niệm chung để chỉ sự so sánh một vật hay một hiện tượng với thước

đo hoặc chuẩn mực và có khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng.” [9]

Về đo lường trong giáo dục, có nhiều quan điểm được đưa ra:

Theo Phó Đức Hòa : “Đo lường trong giáo dục là dùng phương tiện để thu thập dữ liệu về đặc tính, hành vi của con người một cách hệ thống, sau đó phân tích các dữ liệu làm cơ sở cho những hành động thích hợp.”[9]

Theo Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết: “Đo lường chỉ việc ghi nhận và mô tả kết quả làm bài kiểm tra của mỗi học sinh bằng một số đo, dựa theo những quy tắc đã định.”[6]

Tóm lại, kết quả thu được từ việc kiểm tra không thể dùng trực tiếp để đưa ra đánh giá mà cần phải trải qua quá trình tổng hợp, hệ thống, đối chiếu với những tiêu chí, chuẩn mực nhất định đã được đề ra và mô tả kết quả theo cách thích hợp Quá trình này chính là đo lường Đo lường xét về mặt định tính được thể hiện bằng sự mô tả, nhận xét còn về mặt định lượng nó được thể hiện bởi các số liệu, bảng biểu,

Trong giáo dục, đánh giá được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: Theo Trần Thị Tuyết Oanh: “ Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục

Trang 15

tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và bản thân học sinh để giúp họ học tập tiến

bộ hơn.” [13]

Theo Vũ Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết: “Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra.” [6]

Theo Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh: “Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá (hiểu biết hay năng lực của học sinh, chương trình, nhà trường ) một cách có

hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, về chương trình, về nhà trường hay đưa ra các chính sách giáo dục.”[12]

Trong nghiên cứu này, đánh giá có thể hiểu là quá trình phân tích thông tin và diễn giải hiện trạng, nguyên nhân của chất lượng giáo dục hay hình thành những phán đoán, rút ra những nhận định, kết luận về năng lực của HS dựa trên kết quả kiểm tra đã thu thập nhằm lấy đó là cơ sở để điều chỉnh, đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục và phát triển người học

1.1.2 Mục đích đánh giá

Tron g giáo dục, đánh giá được tiến hành ở nhiều cấp độ với những mục đích khác nhau Mục đích đánh giá do đối tượng đánh giá quy định Theo Điều 3, Thông tư số 30 /2014/TT-BGDĐT quy định mục đích đánh giá trong dạy học như sau:

“1 Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc

Trang 16

của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những

ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học

2 Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ

3 Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha

mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh

4 Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục.”[4]

Căn cứ thông tư 30 /2014/TT-BGDĐT và thông tư 22/2016/ TT-BGDĐT

đã quy định rõ ràng về mục đích chung của đánh giá trong dạy học Dựa vào

đó có thể xác định mục đích đánh giá của GV đối với đối tượng đánh giá là

HS như sau:

- Đánh giá để dự đoán về năng lực, đặc điểm hay những tiềm năng của đối tượng được đánh giá để làm cơ sở định hướng cho GV bố trí HS và lập kế hoạch giảng dạy phù hợp

- Đánh giá nhằm nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập của HS và hoạt động dạy học của GV, xây dựng những biện pháp, định hướng học tập phù hợp đối với từng HS, đồng thời khuyến khích, thúc đẩy HS học tập kịp thời

Trang 17

- Đánh giá chẩn đoán những khó khăn, sai lầm trong học tập của HS và cung cấp thông tin phản hồi cho hoạt động học tập

- Đánh giá thành quả học tập để báo cáo kết quả học tập, xếp loại hay tuyển chọn

Tóm lại đánh giá nhằm 3 mục đích chính là so sánh, phản hồi và dự đoán

1.1.3 Vai trò của đánh giá

Đánh giá là khâu vô cùng quan trọng quyết định tới hiệu quả cuối cùng của hoạt động dạy học, nó có vai trò to lớn đối với cả người dạy và người học

- Đối với HS việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành thường xuyên, có

+ Đánh giá giúp GV theo dõi chính xác trình độ năng lực của HS trong quá trình học tập, chẩn đoán những khó khăn, điểm yếu tồn tại từ đó có những biện pháp tác động thích hợp, điều chỉnh hoạt động học của HS và hướng dẫn

HS tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động học của bản thân

Trang 18

+ Đánh giá cung cấp những thông tin để GV tự đánh giá hoạt động giảng dạy của bản thân qua đó điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà người giáo viên đang tiến hành

- Ngoài ra đánh giá giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá Như vậy đánh giá là một khâu không thể thiếu của quá trình dạy học

1.1.4 Các nguyên tắc của đánh giá

Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học trong đó có đổi mới đánh giá ngày càng được chú trọng Dù đổi mới việc đánh giá vẫn luôn phải đảm bảo một số nguyên tắc nhất định

Theo thông tư số 30 /2014/TT-BGDĐT về Quy định đánh giá HS tiểu học và thông tư số 22/2016 TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá HS tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30 /2014/TT-BGDĐT đưa ra bốn nguyên tắc đánh giá HS như sau:

“1 Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan

2 Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện đạt chuẩn năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học

3 Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm

số kết hợp với nhận xét; kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất

4 Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.”[3]

Trang 19

Bốn nguyên tắc trên đã bao quát được các nguyên tắc chung trong đánh giá, theo Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết [6], mọi quá trình đánh giá cần phải đảm bảo các nguyên tắc chung sau:

- Đảm bảo tính khách quan

+ Đánh giá cần vận dụng kết hợp nhiều phương pháp và kĩ thuật đánh giá khác nhau: đánh giá định tính với đánh giá định lượng; kĩ thuật đánh giá

truyền thống với đánh giá hiện đại

+ Bảo đảm môi trường xung quanh, cơ sở vật chất và các yếu tố bên ngoài khác không ảnh hưởng đến quá trình kiểm tra và kết quả làm bài, thực hiện hoạt động của HS

- Đảm bảo tính toàn diện

+ Nội dung kiểm tra đánh giá phải bao quát được toàn bộ các nội dung trọng tâm cần đánh giá Mục tiêu đánh giá cần bao quát được nhiều kiến thức,

Trang 20

+ Mục tiêu và phương pháp đánh giá phải phủ hợp với mục tiêu và phương pháp giảng dạy

+ Kĩ thuật đánh giá phải được lựa chọn dựa trên mục đích đánh giá + Có tiến trình cụ thể, rõ ràng từ việc thu thập dữ liệu đến việc đưa ra kết luận, nhận định về việc học của HS

+ Độ khó của các bài tập hay hoạt động đánh giá phải nâng cao dần theo

sự phát triển của cấp lớp

- Đảm bảo tính phát triển

+ Công cụ đánh giá tạo điều kiện cho HS khai thác vận dụng kiến thức,

kĩ năng của nhiều môn học

+ Phương pháp và công cụ đánh giá góp phần kích thích HS phát huy tính tự lực, chủ động và sáng tạo trong học tập; chú trọng thực hành, rèn luyện và phát triển kĩ năng

+ Mục tiêu của đánh giá hướng đến việc duy trì và phát huy sự tiến bộ của người học, góp phần kích thích động cơ học tập đúng đắn của HS

+ Đánh giá đúng góp phần phát triển lòng tự tin, tự trọng và định hướng phấn đấu học tập đúng đắn cho HS, hình thành năng lực tự đánh giá cho HS

- Đảm bảo tính công bằng

+ Công cụ đánh giá đảm bảo mọi HS có thể vận dụng thức và kĩ năng đã học một cách tích cực để đạt kết quả hay hoàn thành nhiệm vụ

+ Bảo đảm hình thức bài kiểm tra quen thuộc với mọi HS

+ Ngôn ngữ sử dụng trong bài kiểm tra đơn giản rõ ràng, phù hợp với trình độ của HS và bài kiểm tra không mang tính đánh đố HS

- Đảm bảo tính công khai

+ HS cần được biết các tiêu chuẩn và yêu cầu đánh giá khi tiến hành thực hiện các nhiệm vụ, các bài kiểm tra

Trang 21

+ HS cần được biết cách tiến hành các nhiệm vụ trong bài kiểm tra để có thể đạt được các tiêu chuẩn và yêu cầu đã định

- Đảm bảo tính giáo dục

+ Đánh giá phải góp phần nâng cao hiệu quả học tập của HS

+ Lấy đánh giá vì sự tiến bộ của HS ; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực học tập, rèn luyện của HS là nội dung cốt lõi

+ Qua đánh giá giúp HS nhận thấy được sự tiến bộ của bản thân, những

gì cần cố gắng hơn trong học tập cũng như thể hiện được sự khẳng định của

GV về khả năng của HS

Đối với bất kì quá trình đánh giá nào, để đảm bảo thực hiện hiệu quả việc đánh giá thì người đánh giá phải tuân thủ các quy tắc cơ bản trên

1.1.5 Các hình thức đánh giá trong dạy học ở Tiểu học

Tùy theo quan điểm tiếp cận khác nhau mà đánh giá được phân loại thành những hình thức khác nhau

Nếu phân loại theo phương tiện thì theo Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết [6] có 2 hình thức đánh giá là:

- Đánh giá bằng điểm số (đánh giá định lượng)

+ Khái niệm: Đánh giá bằng điểm số là hình thức GV sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang điểm để chỉ ra mức độ về kiến thức và kĩ năng mà HS đã thể hiện được qua một hoạt động hoặc sản phẩm học tập

+ Tác dụng: điểm số được xem là kí hiệu phản ánh trình độ năng lực và phẩm chất của HS Điểm số là một chứng cứ xác thực để nhìn nhận trình độ học vấn của HS và công nhận khả năng giảng dạy của GV

- Đánh giá bằng nhận xét (đánh giá định tính)

+ Đánh giá bằng nhận xét là kiểu đánh giá dựa vào các tiêu chí đã định trước mà GV đưa ra những nhận định hoặc phán đoán bằng nhận xét về năng

Trang 22

lực hoặc thái độ của người học thông qua quan sát các hành vi hoặc sản phẩm học tập của HS

+ Tác dụng: Nhận xét cá tác dụng chính là động viên HS phấn đấu học tập thành công hơn, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập của HS

Ở Tiểu học hai hình thức đánh giá trên được sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học và đem lại hiệu quả cao

Theo Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh [12] có nhiều cách phân loại các hình thức đánh giá Nếu dựa vào phương thức giải quyết kết quả, đánh giá được chia thành:

- Đánh giá theo tiêu chí: là hình thức đánh giá người học dựa trên các tiêu chí đã được xác định rõ ràng về thành tích đạt được so với chuẩn đầu ra, thay vì được xếp hạng trên cơ sở kết quả thu được của những HS thuộc mẫu khảo sát Tức là, khi đánh giá theo tiêu chí, chất lượng thành tích của mỗi HS phụ thuộc vào mức độ cao thấp về kỹ năng của chính HS được đánh giá so với các tiêu chí cụ thể đã được đề ra chứ không phụ thuộc vào kết quả thu được về năng lực của HS khác

- Đánh giá theo chuẩn: là hình thức đánh giá đưa ra những nhận xét về mức độ cao hay thấp trong năng lực của cá nhân so với những người khác cùng thực hiện bài kiểm tra

Xét theo mục tiêu đánh giá có thể chia thành các hình thức sau:

- Đánh giá chính thức: là loại hình đánh dựa trên các thiết kế có dạng kiểm tra viết trên giấy, được chẩm điểm với mục tiêu chính là đưa ra kết luận phân loại về người học Đánh giá chính thức thường sử dụng thước đo chuẩn hóa là các dạng bài kiểm tra Những thước đo này có thể phải được thử trước trên HS và dữ liệu sẽ được tính toán, thống kê, tổng kết nhằm đưa ra kết luận

về HS so với các chuẩn cần đạt về độ tuổi hay lớp học và trong sự so sánh với các bạn cùng độ tuổi hay lớp học

Trang 23

- Đánh giá không chính thức: là hình thức đánh giá nhằm mục đích chính

là xem xét, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ học tập hằng ngày của HS nhằm cải thiện, điều chỉnh, nâng cao chất lượng học tập GV có thể sử dụng các hình thức khác nhau để đánh giá như: quan sát, thảo luận, xem xét hồ sơ học tập, tự suy ngẫm, tự đánh giá, cách thức thực hiện một nhiệm vụ học tập,

sự tham gia các hoạt động, tương tác, sự hợp tác với nhau trong nhóm bạn… Đánh giá không chính thức thường chú trọng đến nhận xét định tính về

sự tiến bộ trong học tập của người học hơn là việc định lượng để phân loại hay xếp hạng

Xét theo mục đích đánh giá và quá trình học tập thì có 3 hình thức đánh giá là đánh giá trước dạy học, đánh giá trong dạy học và đánh giá sau dạy học, cụ thể:

- Đánh giá trước dạy học (đánh giá sơ khởi)

+ Đánh giá sơ khởi được tiến hành trước khi thực hiện hoạt động dạy học thông qua các bài kiểm tra khảo sát hay việc nghiên cứu hồ sơ HS, đây chính là sự đánh giá chẩn đoán ban đầu

+ Tác dụng: Đánh giá sơ khởi tạo nền tảng để GV đưa ra nhiều nhận xét quan trọng trong suốt quá trình học tập sau này Đánh giá này giúp GV có được những hiểu biết ban đầu về trình độ giáo dục, nhận thức, năng khiếu, kỹ năng, sở thích, tính cách hay nhu cầu học tập để tổ chức, bố trí HS phù hợp và xây dựng kế hoạch giảng dạy hợp lí

+ Đánh giá chẩn đoán ban đầu còn giúp GV xác định những điểm mạnh, điểm yếu và triển vọng của HS để lựa chọn phương pháp dạy học và định hướng phát triển phù hợp với khả năng của từng HS

- Đánh giá trong dạy học chính là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học/khóa học hay một nội dung học

Trang 24

của HS để điều chỉnh, cải thiện hoạt động giảng dạy hay xây dựng kế hoạch

bổ trợ Đánh giá trong dạy học lại bao gồm hai loại hình đánh giá là đánh giá hình thành và đánh giá chẩn đoán

+ Đánh giá hình thành được tiến hành nhiều lần trong quá trình giảng dạy nhằm cung cấp những thông tin ngược cho GV và HS, thông qua kết quả đánh giá để xác định thực trạng học tập của HS, kiểm tra lại tiến trình giảng dạy của GV, từ đó có thể kịp thời điều chỉnh, cải tiến phương pháp dạy và phương pháp học giúp tiếp tục thực hiện chương trình một cách vững chắc, hiệu quả

+ Đánh giá chẩn đoán trong dạy học là hình thức đánh giá thường diễn ra sau khi tiến hành đánh giá hình thành nhằm phát hiện nguyên nhân sai lầm của HS trong quá trình học tập Kết quả đánh giá chẩn đoán cung cấp thông tin về tình hình kiến thức, kĩ năng cần thiết liên quan tới nội dung học tập của

HS, từ đó GV xác định những nội dung đã thành thạo hay chưa thành thạo, còn thiếu sót (nguyên nhân sai lầm) của từng em, trên cơ sở đó GV xây dựng các biện pháp khắc phục lỗi sai và đưa ra kế hoạch giảng dạy, bổ trợ phù hợp

- Đánh giá sau dạy học (đánh giá tổng kết) là đánh giá mang tính tổng hợp nhằm cung cấp thông tin về mức độ thông thạo trong kiến thức, kĩ năng

đã được học và thái độ của HS

Đánh giá tổng kết được tiến hành khi kết thúc một khóa/lớp học hay giai đoạn học tập (kết thúc một học kì, một môn học, một dự án,…) nhằm đánh giá tổng quát về thành quả cuối cùng của HS và đối chiếu với những mục tiêu giáo dục đề ra Kết quả đánh giá thường được sử dụng để công nhận HS đã hoặc chưa hoàn thành nội dung/chương trình học tập

Trong đề tài này sẽ nghiên cứu về đánh giá chẩn đoán trong dạy học

Trang 25

b Đánh giá chẩn đoán

Từ quan điểm lâm sàng, chẩn đoán có ý nghĩa là hoạt động y khoa trong

đó kết quả đánh giá được sử dụng để xác định khả năng có thể xảy ra của một tình trạng cụ thể, có sự biến đổi đáng kể về định nghĩa chẩn đoán trong giáo dục Trong giáo dục, chẩn đoán mang nhiều ý nghĩa và được tiếp cận từ các quan điểm khác nhau

Về đánh giá chẩn đoán chung trong giáo dục, theo Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh: “Đánh giá chẩn đoán là loại hình kiểm tra đánh giá kiểu thăm

dò, phát hiện thực trạng, có tính định kì hoặc trước khi bắt đầu một đề án, dự

án hay chương trình đổi mới, có thể tiến hành với cá nhân hoặc nhóm (lớp, trường, quận, tỉnh, quốc gia) nhằm cung cấp các thông tin về điểm mạnh, điểm yếu,… của học sinh tại thời điểm đánh giá theo chuẩn hoặc theo tiêu chí.”[12]

Đối với đánh giá chẩn đoán trong quá trình dạy học, có nhiều quan điểm khác nhau:

Đánh giá chẩn đoán là một khâu thiết yếu khi đưa ra quyết định dạy học

Là khâu trung gian kết nối giữa việc xác định các nguy cơ thất bại trong quá

Trang 26

được thiết kế kĩ lưỡng, chẩn đoán cung cấp những thông tin có giá trị về những quan niệm sai lầm của HS đối với nội dung học tập.[20]

Chẩn đoán có thể được hiểu là một hoạt động định hướng dạy học trong

đó kết quả đánh giá cung cấp thông tin về sự thông thạo cũng như định kiến hay sai lầm trong kiến thức và kỹ năng của HS có trước đó Dựa trên việc xác định phạm vi mà HS đã thành thạo và chưa thành thạo, GVsử dụng thông tin

đó để điều chỉnh việc giảng dạy Điều này tạo ra các kế hoạch giảng dạy đa dạng đáp ứng nhu cầu của HS.[18]

Trong một hệ thống dạy học - đánh giá tích hợp, tất cả HS đều được khảo sát để xác định HS nào đi đúng hướng và HS nào có nguy cơ thất bại Khi phân loại HS theo tình trạng nguy cơ, HS nào có xác suất cao không đạt được mục tiêu học tập sẽ được thực hiện đánh giá chẩn đoán Giả định các HS trong nhóm được đánh giá gặp thiếu hụt liên tục trong kiến thức hoặc kỹ năng, những điều ngăn cản sự thành công trong chương trình cốt lõi thì HS đó thường sẽ được bổ trợ thông qua các chương trình dạy học được xây dựng nhằm khắc phục những thiếu hụt đó Để xác định các nội dung, phạm vi cụ thể về lĩnh vực cần khắc phục, bổ trợ thì đánh giá chẩn đoán được thực hiện đối với những HS này [22]

Để hỗ trợ quá trình thiết kế giảng dạy, các kiểm tra chẩn đoán nên đo lường các năng lực thành phần gắn liền với mô hình lý thuyết hay cấu trúc nội dung học tập của HS [19]

Tóm lại, các đánh giá chẩn đoán như vậy nhằm xác định những thông tin

về quá trình nhận thức hay những thiếu hụt cụ thể hoặc quan niệm sai lầm lặp lại nhiều lần trong kiến thức, kĩ năng cần thiết của HS trong quá trình học tập

để để xây dựng kế hoạch khắc phục, bổ trợ hiệu quả

Trang 27

1.2.2 Phân loại đánh giá chẩn đoán

Hiện nay, trong quá trình dạy học, để thực hiện chẩn đoán có thể sử sụng hai loại đánh giá đó là phân tích phản ứng và đánh giá chẩn đoán nhận thức Phân tích phản ứng là loại đánh giá dựa trên phản ứng của HS đối với các câu hỏi, bài tập được xây dựng có liên quan đến nội dung giảng dạy, qua

đó cung cấp thông tin liên tục về tình hình kiến thức, kỹ năng hiện tại của HS bao gồm mức độ thông hiểu, khả năng ứng dụng hay những sai lầm, thiếu sót của HS Dựa trên kết quả phân tích phản ứng của HS đối với các vấn đề, nội dung nhất định để xem xét, điều chỉnh kế hoạch dạy học, sửa chữa các sai lầm hiện tại của HS Ngoài ra, có thể rút ra các lỗi tư duy có hệ thống và liên tục của HS từ những phân tích này

Đánh giá chẩn đoán nhận thức là loại hình đánh giá được cấu trúc trên cơ

sở lý thuyết nhận thức và mô hình thống kê của các mẫu phản hồi của người học, có khả năng cung cấp đánh giá về các quá trình nhận thức cụ thể của HS Các đánh giá chẩn đoán về nhận thức đó cung cấp thông tin cần thiết để thiết

kế, điều chỉnh các chương trình giảng dạy, kế hoạch phụ đạo hoặc các can thiệp bổ sung phù hợp

1.2.3 Phương pháp phân tích phản ứng trong đánh giá chẩn đoán

Trong phân tích phản ứng lại bao gồm hai phương pháp sử dụng hai kỹ thuật khác nhau là: phân tích kỹ năng và phân tích lỗi Hai kĩ thuật này khác nhau về trọng tâm và mục đích sử dụng

Phân tích kỹ năng tập trung vào các điểm mạnh và kết quả trong việc đánh giá mức độ nhuần nhuyễn về kỹ năng cụ thể nào đó của các HS

Phân tích lỗi giúp GV phân loại sai lầm của HS vì thế đánh giá này tập trung vào những điểm yếu trong kiến thức, kĩ năng của HS

Trong cả hai trường hợp, các đánh giá gợi ra câu trả lời cho các loại câu

Trang 28

trong thiết kế đánh giá, các quy trình chẩn đoán này có thể được áp dụng với nhiều hình thức khác nhau như bài tập về nhà, các bài khảo sát trên lớp học hoặc các bài kiểm tra chuẩn hóa

1.2.3.1 Phân tích kỹ năng

Phân tích kỹ năng liên quan đến việc tổng hợp các phản ứng của HS đối với các câu hỏi qua đó xác định mức độ thành thục trong kỹ năng liên quan với các nhóm kỹ năng cụ thể Trong lĩnh vực toán học, phân tích kỹ năng nổi lên là một phương tiện để giải nghĩa chẩn đoán của các phép đo lường dựa vào chương trình (curriculum-based measure, CBM)[16] CBM có một lịch

sử lâu dài là một công cụ đo lường kỹ thuật đầy đủ cho các HS có nhu cầu đặc biệt [21] CBM là một hệ thống hiệu quả để thu thập thông tin về thành tích của HS một cách đáng tin cậy bằng cách sử dụng điều tra nhanh, dễ quản

lý và tính điểm CBM là một hệ thống đo lường đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực đọc, đánh vần, viết và toán làm công cụ sàng lọc để xác định những HS có nguy cơ thất bại Ngoài ra, CBM đã được sử dụng như các công cụ giám sát để đánh giá tốc độ tiến độ của HS.[17]

1.2.3.2 Phân tích lỗi

Phân tích lỗi là phương pháp được sử dụng để xác định sai lầm của HS Phân tích lỗi là quá trình xác định các dạng hiểu lầm của HS thông qua xem xét các phản ứng của HS đối với câu hỏi

Lỗi có thể được phân thành hai loại: lỗi ngẫu nhiên và lỗi quan niệm sai (misconception) Các lỗi ngẫu nhiên không phải là kết quả của sự hiểu lầm cố hữu trong tri thức của HS Quan niệm sai được thể hiện bởi việc mắc lỗi liên tục trong kiến thức hay kỹ năng về một nội dung cụ thể của HS

Đối tượng quan tâm chính trong phân tích lỗi chính là các quan niệm sai, tức là các hiểu lầm liên tục trong suy nghĩ của HS

Ở đề tài này thực hiện nghiên cứu về đánh giá chẩn đoán theo phương

Trang 29

pháp phân tích lỗi của HS

1.3 Dạy học phép trừ phân số trong Toán 4

1.3.1 Mục tiêu dạy học phân số trong Toán 4

Căn cứ vào sách Toán 4 [10] và Sách giáo viên Toán 4 [2], có thể xác định mục tiêu dạy học PS trong Toán 4 như sau:

- Giúp HS có những biểu tượng ban đầu về PS qua hình ảnh trực quan Biết được ý nghĩa của tử số, mẫu số trong các trường hợp cụ thể Biết đọc, viết đúng các PS

- Hiểu mối quan hệ giữa PS và phép chia STN

- Biết tính chất cơ bản của PS, rút gọn PS, quy đồng mẫu số các PS

- Biết so sánh và sắp xếp thứ tự các PS (cùng mẫu và khác mẫu số)

- Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia hai PS đơn giản Biết một số tính chất các phép tính trên các PS Biết vận dụng vào tính giá trị của biểu thức chứa PS, tìm thành phần chưa biết của phép tính, giải toán có lời văn với PS và vận dụng vào đọc tỉ lệ bản đồ

- Biết áp dụng kiến thức đã học về PS vào thực tiễn

1.3.2 Nội dung dạy học phân số

Dựa theo Chương trình Giáo dục Phổ thông bậc tiểu học [1], chương trình PS Toán 4 có những nội dung sau:

Trang 30

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các PS

- Giới thiệu quy tắc nhân PS với PS, nhân PS với STN (trường hợp đơn giản, mẫu số của tích có không quá 2 chữ số)

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các PS Giới thiệu nhân một tổng hai PS với một PS

- Giới thiệu quy tắc chia PS cho PS, chia PS cho STN khác 0

- Thực hành tính:

+ Tính nhẩm về cộng, trừ hai PS có cùng mẫu số, phép tính không nhớ,

tử số của kết quả tính có không quá 2 chữ số; tính nhẩm về nhân PS với PS hoặc với STN, tử số và mẫu số của tích có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ

+ Tính giá trị biểu thức không quá 3 dấu phép tính với các PS đơn giản (mẫu số chung của kết quả tính không có quá 2 chữ số)

1.3.3 Nội dung dạy học các phép tính với phân số Toán 4

Trong Toán 4, ở nội dung các phép tính với PS, HS được học về các phép tính cộng, trừ, nhân, chia Cụ thể như sau:

- Phép cộng PS:

+ Cộng hai PS cùng mẫu số

+ Cộng hai PS khác mẫu số

+ Vận dụng và mở rộng trong trường hợp phép cộng có các STN và PS + Tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép cộng PS

Trang 31

1.3.4 Nội dung dạy học phép trừ phân số Toán 4

Đối với phép trừ PS số HS được học các nội dung sau:

Trang 32

Kết luận chương 1

Nội dung chương 1 thể hiện những vấn đề lí luận cơ bản thuộc đề tài nghiên cứu Trước hết, đề tài trình bày những vấn đề chung về kiểm tra đánh giá bao gồm các khái niệm cơ bản về kiểm tra, đánh giá, đo lường; mục đích đánh giá; vai trò đánh giá; các nguyên tắc đánh giá và các hình thức đánh giá trong dạy học ở tiểu học Tiếp theo đó, do đề tài đi sâu nghiên cứu về đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung PS Toán 4 nên các vấn đề lí luận về đánh giá chẩn đoán và nội dung dạy học PS lớp 4 trong đó có phép trừ PS được trình bày rất rõ ràng, cụ thể

Tóm lại, chương 1 là khái quát về cơ sở lí luận của việc đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung PS Toán 4 Đây chính là cơ sở ban đầu, tiền đề

để thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ

PS Toán 4

Trang 33

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP TRỪ PHÂN SỐ TOÁN 4

2.1 Nguyên tắc thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép trừ phân số Toán 4

2.1.1 Đảm bảo nguyên tắc chung trong kiểm tra, đánh giá

Đề kiểm tra là một trong những công cụ được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của HS Các nguyên tắc đánh giá chính là những tiêu chí

cơ bản định ra làm cơ sở mà khi tiến hành xây dựng đề kiểm tra đánh giá GV cần dựa vào và tuân theo

Để hoạt động đánh giá đạt hiệu quả, các bài kiểm tra đánh giá dù với mục đích nào khi xây dựng cũng phải đảm bảo các nguyên tắc chung trong kiểm tra, đánh giá như:

- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan

- Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng

- Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện

- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

- Nguyên tắc đảm bảo tính công khai

- Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục

- Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển

Khi xây dựng đề kiểm tra, ngoài tuân thủ các nguyên tắc về mặt lí luận, đồng thời các câu hỏi cũng phải chính xác về mặt ngữ pháp Đây là quy tắc chuẩn cho quá trình xây dựng tất cả các loại câu hỏi trong kiểm tra - đánh giá Đảm bảo chính xác về mặt ngữ pháp cũng là cơ sở đảm bảo cho sự chính xác

và khoa học tránh gây sự tranh cãi, hiểu nhầm của HS trong quá trình hiểu câu hỏi Không được đưa ra các thuật ngữ không rõ ràng nhằm mục đích đánh

đố tư duy HS, luôn đảm bảo cách diễn đạt khoa học, rõ ràng, dễ hiểu

Trang 34

Hiện nay, GV cần xây dựng đề kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận phát triển, các câu hỏi đưa ra có tác dụng phát huy tư duy, sáng tạo, tính tích cực của HS, phát triển khả năng giải quyết các tình huống thực tế Đề kiểm tra phải có tính phân hóa được HS thông qua các câu hỏi ở các mức độ khác nhau

Để đề kiểm tra có tính hiệu quả thì các câu hỏi phải đảm bảo tính khả thi nghĩa là hệ thống bài tập đưa ra HS có thể thực hiện được và có khả năng vận dụng trong thực tế dạy học để đem lại hiệu quả

2.1.2 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình dạy học phân

số môn Toán lớp 4

Đối với nguyên tắc này, hệ thống các câu hỏi trong đề kiểm tra phải đảm bảo hai yêu cầu sau:

- Luôn bám sát nội dung chương trình dạy học PS môn Toán lớp 4

Nguyên tắc này yêu cầu việc xác định nội dung các câu hỏi kiểm tra phải xoay quanh nội dung chương trình dạy học

Nội dung của đề kiểm tra trong đề tài này xoay quanh mạch kiến thức về phép trừ PS trong Toán 4 Đối với dạy học phép trừ PS Toán 4 bao gồm các nội dung:

+ Phép trừ hai PS cùng mẫu số

+ Phép trừ hai PS khác mẫu số

+ Vận dụng và mở rộng trong trường hợp phép trừ có các STN và PS + Phép trừ PS có hai dấu phép tính

+ Giải các bài toán liên quan đến phép trừ PS

- Các câu hỏi đưa ra phải phù hợp với mục tiêu chương trình tức là các câu hỏi dùng để kiểm tra những kiến thức, kĩ năng theo đúng mục tiêu cần đạt được khi học tập nội dung đó

Đối với nội dung phép trừ PS mục tiêu dạy học là:

+ HS biết về phép trừ hai PS cùng mẫu số, phép trừ hai PS khác mẫu số

Trang 35

+ HS biết trừ hai PS cùng mẫu số, hai PS khác mẫu số

+ Rèn kĩ năng trừ chính xác, trình bày, làm đúng quy định

+ Biết vận dụng quy tắc trừ hai PS (cùng mẫu, khác mẫu) để thực hiện phép trừ có PS và STN

+ Biết vận dụng kiến thức trừ hai PS để giải các bài toán liên quan

Dựa vào các nội dung và mục tiêu đã xác định để đưa ra các câu hỏi, bài tập phù hợp Hay nói cách khác câu hỏi phải đại diện cho nội dung và thể hiện được mục tiêu cần kiểm tra, đánh giá Đây chính là nhân tố cơ bản nhất để đảm bảo hiệu quả của việc kiểm tra - đánh giá

2.1.3 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp 4

Nội dung các câu hỏi phải phù hợp với đặc điểm tư duy, nhận thức chung của HS lớp 4 Các bài tập đưa ra ở mức độ phù hợp đảm bảo HS vận dụng tư duy một cách tích cực có thể giải quyết

Các câu hỏi, bài tập đưa ra phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS lớp 4 tuy nhiên vẫn đảm bảo khả năng phân hóa HS ở các mức độ khác nhau Đảm bảo phát huy tính sáng tạo, giải quyết vấn đề của HS thông qua các bài tập được xây dựng dưới nhiều dạng khác nhau

Phù hợp với đặc điểm của HS lớp 4 còn thể hiện ở việc sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt các câu hỏi hay các tình huống được đưa ra trong bài tâp phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, tưởng tượng của HS ở độ tuổi này

2.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường

Việc kiểm tra chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi nó được thiết kế phù hợp với điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, các trang thiết bị của nhà trường và địa phương Chính vì thế khi thiết kế đề kiểm tra cũng phải xem xét, căn cứ vào điều kiện thực tế nơi tiến hành kiểm tra

Ngày đăng: 24/09/2018, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w