1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia phân số toán 4

70 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRẦN THỊ MINH HUỆ THIẾT KẾ ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP CHIA PHÂN SỐ TOÁN 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Tiể

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

TRẦN THỊ MINH HUỆ

THIẾT KẾ ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP CHIA PHÂN SỐ TOÁN 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM ĐỨC HIẾU

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Phạm Đức Hiếu, hiện đang là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Trong quãng thời gian qua, thầy là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp em luôn đi đúng hướng mà mình đã đề ra

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục tiểu học, đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập giúp em có nền tảng để bước vào cuộc sống

Để khóa luận được hoàn thiện, được khảo sát trong thực tế, đó là nhờ sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Trường Tiểu học Phú Phúc, đặc biệt là cô giáo Trần Thị Loan Các thầy, cô đã không quản ngại nhằm tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này Em xin chân thành cảm ơn

Đặc biệt, em vô cùng biết ơn gia đình và bạn bè đã luôn là nguồn động viên tinh thần lớn nhất trong suốt thời gian em học tập

Do chưa có kinh nghiệm nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018

Người thực hiện

Trần Thị Minh Huệ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Với kết quả có được ngày hôm nay, trong mấy tháng qua, tôi đã không ngừng nghiên cứu, học hỏi cùng với sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn

bè Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và các

số liệu trong khóa luận chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội,ngày 2 tháng 5 năm 2018

Người thực hiện

Trần Thị Minh Huệ

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP CHIA PHÂN SỐ TOÁN 4 5

1.1 Những vấn đề chung về kiểm tra, đánh giá 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Mục đích kiểm tra, đánh giá 7

1.1.3 Vai trò của đánh giá 10

1.1.4 Các nguyên tắc của đánh giá 11

1.1.5 Các hình thức đánh giá trong dạy học ở Tiểu học 13

1.2 Đánh giá chẩn đoán 15

1.2.1 Khái niệm 15

1.2.2 Phân loại đánh giá chẩn đoán 17

1.2.3 Phương pháp phân tích phản ứng trong đánh giá chẩn đoán 17

Trang 7

1.3 Dạy học phép chia phân số trong Toán 4 19

1.3.1 Mục tiêu dạy học phân số Toán 4 19

1.3.2 Nội dung dạy học phân số Toán 4 19

1.3.3 Nội dung dạy học các phép tính với phân số Toán 4 20

1.3.4 Nội dung dạy học phép chia phân số Toán 4 21

Kết luận chương 1 22

Chương 2 THIẾT KẾ ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP CHIA PHÂN SỐ TOÁN 4 23

2.1 Nguyên tắc thiết kế đề kiểm tra chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia phân số Toán 4 23

2.1.1 Đảm bảo nguyên tắc chung trong kiểm tra, đánh giá 23

2.1.2 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình dạy học phép chia phân số toán 4 23

2.1.3 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp 4 23

2.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế dạy học 24

2.1.5 Đảm bảo tính chẩn đoán 24

2.2 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán 24

2.3 Vận dụng quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia phân số Toán 4 31

2.3.1 Xác định mục đích của đề kiểm tra 31

2.3.2 Dự đoán các lỗi sai mà học sinh có thể mắc phải 31

2.3.3 Xác định hình thức đề kiểm tra 31

2.3.4 Thiết kế ma trận đề kiểm tra 31

Trang 8

2.3.5 Dựa vào ma trận để biên soạn câu hỏi đảm bảo tính chẩn đoán 32

2.3.6 Xây dựng bảng phân bố lỗi theo câu hỏi, đáp án, thang điểm và dự kiến thời gian làm bài 34

2.3.7 Xem xét lại việc biên soạn câu hỏi, điều chỉnh và hoàn thiện đề kiểm tra 35

Kết luận chương 2 38

Chương 3 KHẢO SÁT CHẨN ĐOÁN NỘI DUNG DẠY HỌC PHÉP CHIA PHÂN SỐ TOÁN 4 39

3.1 Mục đích khảo sát 39

3.2 Đối tượng khảo sát 39

3.3 Cách thức khảo sát 39

3.4 Kết quả khảo sát 39

3.5 Nhận xét 51

Kết luận chương 3 53

KẾT QUẢ VÀ KIẾN NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC 59

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Ma trận đề kiểm tra 31

Bảng 2.2 Bảng phân bố lỗi theo câu hỏi 34

Bảng 2.3 Bảng đáp án và thang điểm 35

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp đáp án lựa chọn của 30 học sinh 40

Bảng 3.2 Bảng phân tích lỗi 1 41

Bảng 3.3 Bảng phân tích lỗi 2 42

Bảng 3.4 Bảng phân tích lỗi 3 44

Bảng 3.5 Bảng phân tích lỗi 4 45

Bảng 3.6 Bảng phân tích lỗi 5 46

Bảng 3.7 Bảng phân tích lỗi 6 47

Bảng 3.8 Bảng thống kê số lượng học sinh mắc lỗi 49

Bảng 3.9 Bảng kết quả chẩn đoán 49

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán……….25

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự cao thấp về trình độ toán học của một quốc gia, phản ánh được quốc gia đó có cường thịnh hay không Toán giúp người học phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, khả năng suy luận, kích thích óc tò mò, tự khám phá và rèn luyện một phong cách làm việc khoa học Bởi vậy việc đặt nền móng toán học cho HS ở cấp học đầu tiên là vô cùng cần thiết và quan trọng

Môn Toán ở Tiểu học, mỗi lớp có vị trí, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể khác nhau Riêng môn Toán ở lớp 4 có một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó khái quát, hệ thống lại nội dung môn Toán ở các lớp 1, 2, 3 đồng thời nâng cao mở rộng và bổ sung các kiến thức khác chưa có ở các lớp dưới Môn Toán lớp 4

mở đầu cho giai đoạn học tập sâu, tạo tiền đề cho HS học tập ở các lớp trên Nội dung Toán 4 gồm bốn mạch kiến thức cơ bản: Số học, đại lượng và

đo đại lượng, các yếu tố hình học và giải toán có lời văn Trong đó, mạch số học đóng vai trò trọng tâm, chiếm lượng lớn thời gian dạy học Toán 4 Dạy học số học có nội dung kiến thức mới và tương đối khó đối với HS đó là PS Dạy học về các phép tính với PS giúp HS phát triển khả năng tính toán, tư duy logic, tưởng tượng phát triển, đồng thời trang bị cho các em các kiến thức

cơ bản tiếp tục các cấp học cao hơn Đặc biệt với nội dung phép chia PS, HS được rèn luyện khả năng nhân chia số tự nhiên, áp dụng giải các bài toán có lời văn và ứng dụng trong thực tế Tuy nhiên đây cũng là nội dung HS dễ mắc sai lầm Vì vậy, GV phải có phương pháp dạy phù hợp, sáng tạo trong quá trình dạy học để HS tiếp thu kiến thức dễ dàng và nắm chắc kiến thức được học

Trang 12

Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang tác động mạnh đến giáo dục thì việc đổi mới giáo dục là điều tất yếu Quá trình giáo dục không chỉ đổi mới từng khâu mà phải thực hiện trên tất cả các giai đoạn Trong đó khâu cuối cùng cũng là khâu quyết định đó là kiểm tra, đánh giá năng lực người học cần phải được chú trọng hơn nữa Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập của mình, giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy của mình phù hợp với từng đối tượng HS và giúp cán bộ quản

lí điều chỉnh quá trình quản lí phù hợp với mục tiêu đào tạo Việc đánh giá HS phải dựa trên toàn bộ quá trình học tập của HS Có thể chia nó thành ba phần

cụ thể là đầu vào, quá trình học và đầu ra của quá trình dạy học, tương ứng có

ba hình thức là đánh giá trước dạy học, đánh giá trong dạy học và đánh giá sau dạy học Trong đó đánh giá chẩn đoán là một hình thức đánh giá trong dạy học và có thể được thực hiện trước hoặc sau khi dạy một nội dung kiến thức nào đó Việc đánh giá sau khi dạy một bài học mới giúp GV xác định được mức độ hiểu bài của HS, còn chưa rõ hay dễ nhầm lẫn nội dung nào để kịp thời điều chỉnh, bổ sung giúp cho việc dạy học nội dung tiếp theo trở nên

dễ dàng hơn đồng thời HS cũng nắm chắc được kiến thức hơn Do đó, với dạy học nội dung phép chia PS ở lớp 4 là một nội dung mới, HS dễ nhầm lẫn thì việc thực hiện đánh giá chẩn đoán là tất yếu

Để thực hiện việc đánh giá có rất nhiều hình thức, trong đó đánh giá trực tiếp là thiết kế đề kiểm tra cho học sinh Thực tế việc kiểm tra đánh giá còn gặp rất nhiều khó khăn GV thường kiểm tra đánh giá dựa trên những kinh nghiệm mà ít khi để ý đến cơ sở khoa học, tính quy chuẩn của việc thiết kế đề kiểm tra GV chọn kiểu câu hỏi, cách thức ra đề đánh giá HS ít khi để ý đến mục tiêu đo lường, đánh giá, đến cơ sở khoa học của việc ra đề kiểm tra là nhằm kiểm tra kiến thức, kỹ năng gì, đặc biệt là kiểm tra năng lực gì Và sau mỗi bài kiểm tra, GV ít khi phân tích đánh giá chất lượng các đề kiểm tra để

Trang 13

rút kinh nghiệm, đồng thời xem xét để phát hiện những thiếu hụt gì ở HS, từ

đó điều chỉnh hoạt động dạy và học

Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Thiết kế đề

kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia phân số Toán 4”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4

- Thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS toán 4

- Sử dụng đề kiểm tra đã thiết kế để thực hiện khảo sát và chẩn đoán kết quả học tập nội dung phép chia PS đối với học sinh lớp 4

4 Khách thể nghiên cứu

Đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4

5 Đối tượng nghiên cứu

Đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung

về thiết kế đề kiểm tra, phân số lớp 4, đánh giá chẩn đoán làm cơ sở, hỗ trợ cho việc nghiên cứu đề tài

Trang 14

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn GV chủ nhiệm về trình độ, học lực của HS giúp việc ra đề kiểm tra phù hợp với trình độ của HS

- Phương pháp thực nghiệm: Khảo sát học sinh lớp 4 về nội dung phép chia phân số, lấy số liệu thực tế để đánh giá chẩn đoán

- Phương pháp xử lí số liệu: Từ số liệu thu được, tổng hợp, thống kê để rút ra kết luận về kết quả đánh giá chẩn đoán

7 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học Phú Phúc

- Nội dung nghiên cứu: Nội dung phép chia PS toán 4

- Đối tượng khảo sát: học sinh lớp 4B1 Trường Tiểu học Phú Phúc

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận bao gồm:

- Chương 1: Cơ sở lí luận về đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4

- Chương 2: Thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4

- Chương 3: Khảo sát chẩn đoán nội dung dạy học phép chia PS Toán 4

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG

DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP CHIA PHÂN SỐ TOÁN 4

1.1 Những vấn đề chung về kiểm tra, đánh giá

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Kiểm tra

Về khái niệm Kiểm tra, đã có rất nhiều quan điểm được nêu ra:

- Đối với Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết: “Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp

dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá.” [1; 10]

- Trần Bá Hoành cũng cho rằng: “Việc kiểm tra cung cấp những dữ liệu, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.” [12; 13]

- Với Nguyễn Công Khanh: “Kiểm tra là quá trình xem xét, tổ chức thu thập thông tin và gắn với hoạt động đo lường để đưa ra các kết quả, so sánh, đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu hay chuẩn đã đề ra, với mục đích xác định xem cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt được, những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng/chi phối…” [14; 30]

Đồng quan điểm với các tác giả, khóa luận này đưa ra quan điểm như sau: Kiểm tra là quá trình GV xem xét HS đạt được những kiến thức, kĩ năng, thái độ như thế nào so với mục tiêu/chuẩn đề ra tại một thời điểm cụ thể, từ đó

có kế hoạch giúp HS cải thiện thành tích học tập nói riêng, nâng cao chất lượng giáo dục nói chung

1.1.1.2 Đo lường:

Nhiều ý kiến đưa ra về khái niệm Đo lường như sau:

Trang 16

- Đối với Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết: “Đo lường chỉ việc ghi nhận và mô tả kết quả làm bài kiểm tra của mỗi học sinh bằng một số đo, dựa theo những quy tắc đã định.” [1; 10]

- Theo Phó Đức Hòa nhận định: “Đo lường trong giáo dục là dùng phương tiện để thu thập dữ liệu về đặc tính, hành vi của con người một cách

có hệ thống, sau đó phân tích các dữ liệu làm cơ sở cho những hành động thích hợp.” [9; 14]

- Còn với Nguyễn Công Khanh: “Đo lường liên quan đến việc sử dụng các con số vào quá trình lượng hóa các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính (định lượng/đo lường về số lượng).” [14; 26]

Trong khóa luận này thống nhất cách hiểu với hai tác giả Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết cho rằng: “Đo lường chỉ việc ghi nhận và mô tả kết quả làm bài kiểm tra của mỗi học sinh bằng một số đo, dựa theo những quy tắc đã định.”

1.1.1.3 Đánh giá

Về khái niệm Đánh giá, đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra:

- Đối với Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết: “Đánh giá kết quả học tập được hiểu là đánh giá học sinh về học lực và hạnh kiểm thông qua quá trình học tập các môn học cũng như các hoạt động khác trong phạm vi nhà trường.” [1; 10]

- Trần Bá Hoành nhận định tương tự: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất của người học hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách thống nhất trong quá trình kiểm tra.” [12; 12]

- Nguyễn Bá Kim cũng quan niệm: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích

Trang 17

những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.” [15; 303]

- Theo Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng: “Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và bản thân học sinh để giúp họ học tập tiến bộ hơn.” [16; 12]

Từ các quan điểm trên, có thể hiểu: Đánh giá là một quá trình GV thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin hay dữ liệu liên quan đến việc học tập và trải nghiệm của HS nhằm đưa ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất người học hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học

1.1.2 Mục đích kiểm tra, đánh giá

Theo Nguyễn Công Khanh, kiểm tra đánh giá trong giáo dục có mục đích chung là cung cấp các thông tin giúp cho việc ra quyết định về dạy học và giáo dục Có 3 cấp độ đối tượng sử dụng các thông tin này:

- Cấp độ trực tiếp dạy và học:

+ Người sử dụng thông tin là GV, HS và phụ huynh HS

+ Thông tin quan trọng ở cấp độ này cho biết việc dạy và học có đạt hiệu quả hay không? Kết quả đầu ra của từng cá nhân có đạt được theo như mục tiêu hay chuẩn đề ra hay không? Những thông tin này sẽ được cung cấp ở cả quá trình dạy và học cho đến cuối giai đoạn dạy và học

- Cấp độ hỗ trợ hoạt động dạy và học:

+ Người sử dụng thông tin là các cán bộ quản lí việc dạy và học như: Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, cố vấn học tập, chuyên gia tư vấn học đường,…

+ Thông tin được đưa ra là về chất lượng chương trình, đội ngũ GV,

Trang 18

các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình dạy và học,… từ đó có các biện pháp can thiệp để cải tiến chất lượng Những thông tin này không được cung cấp liên tục mà theo định kì và quan tâm chủ yếu đến nhóm người học hơn là cá nhân HS

Trong cấp độ trực tiếp dạy và học, đánh giá sẽ cung cấp cho GV những thông tin nhằm mục đích sau:

- Phân loại HS:

Trong giáo dục, GV phải phân loại HS để việc dạy học đạt hiệu quả hơn Qua phân loại HS, GV sẽ có phương pháp dạy học cụ thể đối với từng nhóm HS đó, bổ sung kiến thức, kĩ năng riêng cho từng nhóm

Việc phân loại được thực hiện thông qua kiểm tra đánh giá HS Các trường hợp đưa ra đánh giá phân loại là: chia nhóm, cặp học tập, phân loại một HS cụ thể theo học một GV cụ thể với từng môn học cụ thể

Một cách khác để phân loại HS đó là xác định HS có điểm bài kiểm tra các kĩ năng cơ bản dưới điểm chuẩn của bài kiểm tra định kì toàn trường hay quốc gia, hoặc phân loại HS vào nhóm những HS yếu cần có sự

hỗ trợ đặc biệt

- Lên kế hoạch và điều chỉnh hoạt động giảng dạy:

Dựa trên kết quả kiểm tra đánh giá, GV sẽ điều chỉnh hoạt động dạy

và lên kế hoạch giảng dạy để HS tiếp nhận được đầy đủ các kiến thức, kĩ

Trang 19

năng cần thiết

Khi kiểm tra đánh giá thấy HS có biểu hiện mất trật tự hoặc không nắm vững kiến thức,… GV sẽ thay đổi ngay cách dạy của mình cho hiệu quả Chẳng hạn GV sẽ sử dụng các trò chơi học tập hay kể một câu chuyện,… để tạo hứng thú cho HS tập trung vào bài hoặc dừng việc dạy bài mới để ôn lại bài ngày hôm trước nếu câu trả lời của HS thể hiện không nắm vững kiến thức cũ

- Chẩn đoán các vấn đề của học sinh:

Nghiên cứu của các chuyên gia giáo dục cho thấy, phần lớn kết quả kiểm tra đánh giá được GV dùng để nhận biết, hiểu và điều chỉnh các vấn

đề học tập của HS

Qua kết quả kiểm tra đánh giá, GV phát hiện sớm các khó khăn trong học tập của HS, luôn giám sát những HS có vấn đề về học tập hoặc vấn đề

về hành vi trong lớp học Từ đó, GV có thể tiến hành các hoạt động giúp

đỡ cần thiết, kịp thời để học sinh tiến bộ

- Phán đoán giá trị, xếp loại học tập và phân định mức độ tiến bộ:

Kết quả kiểm tra đánh giá cung cấp cho GV những thông tin nhằm phán đoán giá trị của HS hoặc xếp loại mức độ tiến bộ trong học tập của các em

Qua đó, GV sẽ điều chỉnh hoạt động dạy đối với từng mức đối tượng

Trang 20

HS GV cũng thông báo với HS và phụ huynh để HS xem xét lại cách học của mình và phụ huynh có trách nhiệm hơn đối với con em mình [14; 12-20]

1.1.3 Vai trò của đánh giá

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập có một tầm quan trọng đặc biệt, nó

là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Đây là khâu khởi đầu cho một chu trình giáo dục đồng thời cũng là kết thúc của chu trình giáo dục này để mở ra một chu trình giáo dục khác cáo hơn

Làm tốt khâu kiểm tra đánh giá sẽ giúp nâng cao chất lượng dạy học môn học đó nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung

Theo Trần Thị Tuyết Oanh, đánh giá có vai trò đối với cả ba đối tượng trong quá trình dạy học đó là GV, HS và cán bộ quản lí

HS tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động học của bản thân mình

+ Đánh giá giúp GV xác định những mục tiêu đề ra cho HS đã phù hợp chưa, xem xét phương pháp giáo dục, giảng dạy cần cải tiến hay không, như thế nào, chọn lọc kĩ năng giáo dục và giảng dạy phù hợp từ đó giúp GV điều chỉnh hoạt động giảng dạy và giáo dục

Đánh giá trước khi giảng dạy giúp GV đặt ra mục tiêu học tập, lựa chọn

Trang 21

phương pháp phù hợp và chuẩn bị tài liệu học tập

Đánh giá trong khi giảng dạy sẽ đưa ra những quyết định về cách thức, nhịp độ bài giảng tạo thu hút và kiểm soát hành vi của HS đồng thời điều chỉnh kế hoạch bài giảng

Sau giảng dạy , GV đánh giá học tập của HS để xác định được mức độ đạt được các mục tiêu của HS để có quyết định phù hợp cũng như xếp loại

HS

- Đối với HS:

+ Đánh giá được tiến hành tốt giúp HS có cơ hội để củng cố tri thức, phát triển trí tuệ Thông qua kiểm tra đánh giá, HS được tái hiện và chính xác hóa tri thức, hoàn thiện khắc sâu, hệ thống hóa những tri thức đã thu nhận được, giúp HS rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức và phát triển năng lực tư duy sáng tạo Ngoài ra HS còn thu được những thông tin về quá trình học của mình từ đó tự phân tích, tự đánh giá bản thân để điều chỉnh cách học cho phù hợp

+ Hình thành ở HS nhu cầu, thói quen tự kiểm tra, đánh giá, giáo dục động cơ, thái độ đúng đắn

+ Thông qua kiểm tra đánh giá sẽ bồi dưỡng cho HS tinh thần trách nhiệm, tính tích cực, chủ động và độc lập trong học tập, đồng thời rèn luyện tính tự giác, kỉ luật và ý chí vươn lên trong học tập

- Đối với các nhà quản lí giáo dục:

Giúp các nhà quản lí đi đến những quyết định để cải tiến và hoàn thiện nội dung hay chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học Cụ thể là việc sử dụng tài liệu nào, phương pháp, phương tiện nào là thích hợp [16; 41-45]

1.1.4 Các nguyên tắc của đánh giá

Theo như Phó Đức Hòa, đánh giá bao gồm 3 nguyên tắc chủ yếu:

- Đảm bảo tính khách quan của việc đánh giá

Trang 22

- Đảm bảo tính phân hóa của việc đánh giá

- Đảm bảo tính rõ ràng của việc đánh giá

* Tính khách quan của việc đánh giá

- Đánh giá phải phản ánh trình độ thật của việc nắm tri thức môn học tức

là phản ánh đúng tình hình người học; nắm các tri thức một cách có ý thức và vững chắc

- Đánh giá không theo chủ quan của người đánh giá mà phải đảm bảo công bằng và chính xác Nếu GV đánh giá cho điểm các em quá rộng dẫn đến

HS sẽ bị lầm tưởng về khả năng, không chịu tiến bộ Ngược lại, cho điểm quá khắt khe sẽ không khích lệ được tinh thần học tập của HS GV cần kết hợp sự đòi hỏi cao với thái độ quan tâm chăm lo đến mỗi người học

- Phải đánh giá chính xác khả năng truyền đạt lại các đơn vị tri thức trong ngôn ngữ nói một cách độc lập và nhất quán, hình thức truyền đạt phù hợp với nội dung cần truyền đạt

- Đánh giá cho điểm phải khách quan vì thái độ tự do chủ nghĩa, rộng rãi, không được nâng điểm hay ra câu hỏi quá dễ hoặc quá khó Bởi câu hỏi quá dễ sẽ không phân loại được HS, còn câu hỏi quá khó sẽ không phát huy được tính sáng tạo của HS

* Tính phân hóa của việc đánh giá

- Những mặt khác nhau trong kết quả học tập của học sinh phải được đánh giá theo các cách khác nhau

- Đánh giá phải đảm bảo tính toàn diện và phát triển GV cần cân nhắc kĩ khi đánh giá sản phẩm bài làm của HS trên phương diện tập thể GV đánh giá từng bước theo tiến trình logic của bài làm của HS, không chỉ chú trọng đến kết quả mà còn chú ý đến cách thức làm bài của HS GV nên khuyến khích khả năng sáng tạo, khác biệt trong làm bài của HS Như thế GV sẽ phân loại được trình độ của HS lớp mình

Trang 23

Đồng thời phải chú ý đến các đặc điểm riêng của các môn học Các môn học có đặc trưng, nội dung khác nhau nên cần có cách đánh giá chuẩn cụ thể của từng môn học để phù hợp

- Tính phân hóa cao của đánh giá thể hiện nhà sư phạm phải quan sát có

hệ thống việc học tập của học sinh; từ đó đánh giá, cho điểm công bằng và chính xác

* Tính rõ ràng của việc đánh giá

- Đánh giá cho điểm phải rõ ràng để người học phải biết tại sao mình được đánh giá như vậy Có như thế, cho điểm mới trở thành phương tiện kích thích HS học tập tốt

- Người học phải hiểu rõ ràng có nắm vững tri thức và phát huy được tính sáng tạo khi làm bài (tính mềm dẻo của tư duy) thì bài làm mới được đánh giá tốt

- Đánh giá rõ ràng nên vừa bằng định lượng, vừa bằng định tính Tức là vừa cho điểm vừa nhận xét nhằm giải thích một cách thỏa đáng những ưu điểm, hạn chế của lời giải, vạnh ra định hướng giúp người học phát huy hoặc khắc phục [9; 21-22]

1.1.5 Các hình thức đánh giá trong dạy học ở Tiểu học

Có nhiều cách phân loại các kiểu/loại hình đánh giá trong giáo dục dựa vào những đặc điểm như phạm vi đối tượng đánh giá, phương thức giải thích kết quả, mục đích đánh giá và quá trình dạy học,…

* Dựa vào phạm vi đối tượng đánh giá:

- Đánh giá trên lớp học (classroom assessment): Là loại hình đánh giá được tiến hành với đối tượng là HS trong một lớp học, nhằm thu thập thông tin về việc đạt các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ qua từng bài học, hằng ngày, hằng tháng, để tìm hiểu xem từng HS đã học tập như thế nào, có tiến bộ hay không

Trang 24

Các loại công cụ để đánh giá trên lớp học: câu hỏi phát vấn trên lớp, hệ thống bài tập ở lớp, thảo luận nhóm, bài tập về nhà, mẫu biểu quan sát,…

- Đánh giá dựa vào nhà trường (school – based assessment): Là loại hình đánh giá được Ban Giám Hiệu nhà trường chủ trì và được tiến hành với đối tượng là tất cả HS trong nhà trường

Loại hình đánh giá này không chỉ quan tâm đến kết quả của bài kiểm tra mà còn quan tâm đến thành tích của HS trong suốt cả năm học và sự phát triển nhân cách HS

- Đánh giá trên diện rộng (broad assessment): Là loại hình đánh giá do các nhà quản lí giáo dục chủ trì, tiến hành trong phạm vi đối tượng HS ở các cấp quận, huyện, tỉnh/thành phố, vùng lãnh thổ, quốc gia, khu vực, quốc tế Đánh giá trên diện rộng quan tâm đến mục tiêu kiến thức kĩ năng và sự phát triển nhân cách của HS, đặc biệt là cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho việc ra các quyết định giáo dục quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục như điều chỉnh chính sách giáo dục của một địa phương hay quốc gia

* Dựa vào phương thức giải thích kết quả:

- Đánh giá dựa theo chuẩn (norm – referenced assessment): Là so sánh thành tích của các đối tượng cùng được đánh giá với nhau bằng cách đưa ra những nhận xét về mức độ cao hay thấp trong năng lực của cá nhân so với những người khác cùng làm bài thi

Trong đánh giá theo tiêu chuẩn, bài kiểm tra được sử dụng để xác định việc thực thi của một cá nhân về một hệ các nhiệm vụ xác định có liên quan tới việc thực thi của những người khác cùng hoàn thành bài kiểm tra đó

- Đánh giá dựa theo tiêu chí (critertion – referenced assessment): Người học được đánh giá dựa trên các tiêu chí đã được xác định rõ ràng về thành tích đạt được so với chuẩn/mục tiêu đã đề ra, thay vì được xếp hạng trên cơ sở kết

Trang 25

quả thu được của những HS được khảo sát

Trong đánh giá theo tiêu chí, bài kiểm tra được sử dụng để xác định việc thực thi của một người theo một số chuẩn mực nhất định

* Dựa vào mục đích đánh giá và quá trình dạy học:

- Đánh giá trước dạy học:

Đánh giá sơ khởi (placement assessment): Kiểm tra chất lượng đầu năm học giúp GV tìm hiểu HS để có thể tổ chức các em lại thành một lớp học nhằm thúc đẩy hoạt động học tập của các em

- Đánh giá trong dạy học bao gồm hai hình thức:

+ Đánh giá hình thành (formative assessment): Là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học/khoá học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động hướng dẫn, giảng dạy

+ Đánh giá chẩn đoán (diagnostic assessment): Là loại hình kiểm tra đánh giá thăm dò, phát hiện thực trạng, tiến hành sau khi dạy một nội dung kiến thức nào đó nhằm phát hiện những sai lầm của HS từ đó có biện pháp giúp HS khắc phục lỗi sai đó, đồng thời GV điều chỉnh phương pháp dạy học của mình cho hiệu quả

- Đánh giá sau dạy học:

Đánh giá tổng kết (summative assessment): Là đánh giá có tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp những thông tin về sự tinh thông/thành thạo của

HS về kiến thức, kĩ năng và thái độ sau khi kết thúc một khóa/lớp học hoặc một môn học/học phần/chương trình

Trang 26

triệu chứng và kết quả xét nghiệm; 2 Xác định hiện tượng trục trặc bất thường, thường là trong máy móc” [18]

Chẩn đoán được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như Giáo dục,

Y tế,… Hoạt động chẩn đoán sử dụng biện luận, phân tích và kinh nghiệm để phát hiện ra tính chất và nguyên nhân của sự vật, hiện tượng

1.2.1.2 Đánh giá chẩn đoán

Trong dạy học, để ra được những quyết định dạy học chắc chắn phải thực hiện đánh giá chẩn đoán Đánh giá chẩn đoán nhằm liên kết việc xác định HS mắc những sai lầm nào trong học tập và việc GV sử dụng các biện pháp để can thiệp bổ sung, chẩn đoán cung cấp thông tin hữu ích về những quan niệm sai lầm của HS đối với nội dung học tập [23]

Có rất nhiều quan điểm được đưa ra về định nghĩa đánh giá chẩn đoán

trong giáo dục:

- Trong quan điểm lâm sàng, chẩn đoán được hiểu là hoạt động y khoa

sử dụng kết quả đánh giá để xác định các khả năng có thể xảy ra của một tình trạng cụ thể Ví dụ, trong giáo dục đặc biệt, khi HS có biểu hiện khó khăn trong vấn đề học tập, các nhà tâm lý sẽ thực hiện các đánh giá tâm lý và giáo dục tiêu chuẩn để phân loại HS đó

- Trong giáo dục nói chung, đánh giá chẩn đoán có nghĩa là GV tiến hành việc kiểm tra chẩn đoán HS, từ kết quả thu được GV xác định mức độ thông thạo kiến thức, kĩ năng của HS và nguyên nhân mắc sai lầm của HS từ

đó GV bổ sung kiến thức, kĩ năng còn thiếu sót cho HS, đồng thời trau dồi, điều chỉnh phương pháp dạy học đạt hiệu quả hơn Điều này giúp tạo điều kiện tốt nhất cho HS trong quá trình học tập [20]

Trong hệ thống giáo dục toàn diện, HS được khảo sát để xác định năng lực nhận thức HS nào còn yếu kém, chưa đạt được mục tiêu học tập, sẽ được tiến hành đánh giá chẩn đoán Giả định rằng các HS trong nhóm này thiếu hụt

Trang 27

rất nhiều về kiến thức và kĩ năng thì việc đánh giá chẩn đoán sẽ xác định được nguyên nhân HS mắc những sai lầm trong quá trình học tập từ đó GV thiết kế những phương pháp giúp nhóm HS này bổ trợ các kiến thức, kĩ năng còn thiếu để giải quyết vấn đề mắc sai lầm [25]

Để hỗ trợ việc thiết kế dạy học, các kiểm tra chẩn đoán nên đo lường năng lực của HS trên các thành phần được gắn trong mô hình lý thuyết học tập [24] Qua đó, việc đánh giá chẩn đoán sẽ chính xác và có hiệu quả

1.2.2 Phân loại đánh giá chẩn đoán

Trong dạy học, có hai loại đánh giá đang được sử dụng để cung cấp thông tin chẩn đoán là phân tích phản ứng và đánh giá chẩn đoán nhận thức

- Phân tích phản ứng dựa trên phản ứng của HS đối với các câu hỏi có liên quan đến nội dung giảng dạy và cung cấp cho GV những thông tin liên tục về sự thông thạo hoặc ứng dụng kiến thức và kỹ năng hiện tại của HS Qua phân tích phản ứng của HS, GV xác định được những hiểu lầm hiện tại của HS từ đó điều chỉnh việc dạy và học Ngoài ra, một số thông tin về các lỗi tư duy có hệ thống và liên tục của HS có thể rút ra từ những phân tích này

- Còn đánh giá chẩn đoán nhận thức có khả năng cung cấp đánh giá về các quá trình nhận thức cụ thể của HS, qua đó giúp GV thiết kế các chương trình giảng dạy phụ đạo hoặc các can thiệp bổ sung

1.2.3 Phương pháp phân tích phản ứng trong đánh giá chẩn đoán

Trong một số trường hợp, khó có thể đánh giá chính xác về câu trả lời của HS Do đó, cần sử dụng hai kỹ thuật phân tích phản hồi đó là phân tích

kỹ năng và phân tích lỗi

Hai phương pháp trên khác nhau về bản chất và mục đích sử dụng:

- Phân tích kỹ năng tập trung vào các điểm mạnh và kết quả trong việc đánh giá mức độ thành thục của các HS đối với những kỹ năng cụ thể

Trang 28

- Phân tích lỗi tập trung vào những điểm yếu và giúp GV phân loại sai lầm của HS

Trong cả hai trường hợp, các đánh giá gợi ra câu trả lời cho các loại câu hỏi cụ thể được được xây dựng nhằm mục đích chẩn đoán Do tính linh hoạt trong thiết kế đánh giá, các quy trình chẩn đoán này có thể được triển khai theo nhiều hình thức như bài tập về nhà, các bài khảo sát trên lớp học hoặc các bài kiểm tra chuẩn hóa

1.2.3.1 Phân tích kỹ năng

Phân tích kỹ năng liên quan đến việc tổng hợp các phản ứng của HS đối với các câu hỏi để xác định mức độ thành thục kỹ năng liên quan tới các nhóm kỹ năng cụ thể Trong toán học, phân tích kỹ năng được hiểu như một phương tiện để giải nghĩa chẩn đoán của các đo lường dựa vào chương trình (curriculum- based measure, CBM) [21]

CBM từ lâu đã là một công cụ đo lường kỹ thuật đầy đủ cho các HS có nhu cầu đặc biệt [24] CBM là một hệ thống hiệu quả để thu thập thông tin đáng tin cậy về thành tích của HS bởi việc tiến hành điều tra nhanh, dễ quản

lý và tính điểm Là một hệ thống đo lường, CBM đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực đọc, đánh vần, viết và toán làm công cụ sàng lọc để xác định những HS mắc sai lầm Ngoài ra, CBM đã được sử dụng như một công

cụ giám sát tiến độ để đánh giá mức độ tiến bộ của HS Nhiều nghiên cứu đã cho thấy hiệu quả của công cụ đo lường này [19]

1.2.3.2 Phân tích lỗi

Một phương pháp khác thường được sử dụng để xác định sự hiểu lầm của HS trong toán học là phân tích lỗi Phân tích lỗi là quá trình xem xét các phản ứng câu hỏi của HS để xác định một dạng hiểu lầm

Lỗi có thể được phân thành hai loại: lỗi ngẫu nhiên và quan niệm sai:

- Các lỗi ngẫu nhiên có thể là lỗi cẩu thả, nhầm lẫn, mà không liên quan

Trang 29

đến sự nắm vững kiến thức, kỹ năng của HS

- Quan niệm sai thể hiện sự hiểu lầm liên tục về kiến thức hoặc kỹ năng

1.3 Dạy học phép chia phân số trong Toán 4

1.3.1 Mục tiêu dạy học phân số Toán 4

Dạy học PS Toán 4 nhằm mục đích giúp HS:

- Biết đọc, viết PS, rút gọn PS, so sánh và quy đồng PS có cùng mẫu số

và khác mẫu số

- Biết thực hiện các phép tính, biết tính nhẩm trong các trường hợp

đơn giản

- Biết vận dụng một số tính chất của các phép tính để tính một cách hợp lý

1.3.2 Nội dung dạy học phân số Toán 4

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nội dung dạy học PS như sau:

- Giới thiệu khái niệm ban đầu về các PS đơn giản Đọc, viết, so sánh các PS; PS bằng nhau

- Phép cộng, phép trừ hai PS có cùng hoặc không có cùng mẫu số (trường hợp đơn giản, mẫu số của tổng hoặc hiệu không quá 100)

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các PS

- Giới thiệu quy tắc nhân PS với PS, nhân PS với số tự nhiên (trường hợp đơn giản, mẫu số của tích không quá 2 chữ số)

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các PS, giới thiệu nhân một tổng hai PS với một PS

Trang 30

- Giới thiệu quy tắc chia PS cho PS, chia PS cho số tự nhiên khác 0

- Thực hành tính: tính nhẩm về cộng, trừ hai PS có cùng mẫu số, tử số của tổng hoặc hiệu có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ Tính nhẩm về nhân PS với PS hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu của tích có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ

Tính giá trị biểu thức có không quá 3 dấu phép tính với các PS đơn giản (mẫu số chung của kết quả tính có không quá 2 chữ số) [2; 34]

1.3.3 Nội dung dạy học các phép tính với phân số Toán 4

Trong sách giáo khoa toán 4 nội dung dạy học các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) với PS cụ thể như sau:

+ Nhân PS với số tự nhiên

+ Tính chất giáo hoán và kết hợp của phép nhân các PS

+ Nhân một tổng hai PS với một PS

- Phép chia PS:

+ Chia PS cho PS

+ Chia số tự nhiên cho PS

Trang 31

+ Chia PS cho số tự nhiên khác 0

1.3.4 Nội dung dạy học phép chia phân số Toán 4

Trang 32

Kết luận chương 1

Nội dung chương 1 chính là tiền đề để thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4

Trong chương 1, tôi đã thể hiện rõ ràng các nội dung thuộc cơ sở lí luận

về đánh giá chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4 bao gồm những vấn đề chung về kiểm tra, đánh giá, đánh giá chẩn đoán và nội dung dạy học phép chia phân số Toán 4 Trong đó liên quan đến kiểm tra đánh giá,

có các nội dung về khái niệm, mục đích đánh giá, vai trò đánh giá, các nguyên tắc đánh giá và các hình thức đánh giá Đặc biệt nội dung đánh giá chẩn đoán được trình bày chi tiết và đầy đủ là cơ sở để việc thiết kế đề kiểm tra nội dung phép chia phân số Toán 4 đảm bảo các nguyên tắc

Như vậy, các nội dung được trình bày ở chương 1 giúp cho việc triển khai chương 2 có căn cứ và khoa học hơn

Trang 33

Chương 2 THIẾT KẾ ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHÉP CHIA PHÂN SỐ TOÁN 4

2.1 Nguyên tắc thiết kế đề kiểm tra chẩn đoán trong dạy học nội dung phép chia phân số Toán 4

Để thiết kế được một đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán đạt hiệu quả trong dạy học nội dung phép chia PS Toán 4 thì đề kiểm tra phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

2.1.1 Đảm bảo nguyên tắc chung trong kiểm tra, đánh giá

- Cần xác định rõ mục tiêu đánh giá bởi đánh giá lá quá trình tiến hành

có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục tiêu đã đề ra

- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi trong đề kiểm tra đánh giá giúp học sinh định hướng khi trả lời

- Phải dựa trên những cơ sở của phương pháp dạy học mà xem xét kết quả của một câu trả lời, của một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc quyết định về mặt sư phạm

- Phương pháp và cách thức tiến hành kiểm tra đánh giá phải diễn ra trong hoàn cảnh thoải mái, HS cảm thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt

2.1.2 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình dạy học phép chia phân số toán 4

- Các câu hỏi được đưa ra phải có mục đích giúp HS biết cách thực hiện phép chia PS toán 4 và biết tính nhẩm trong các trường hợp đơn giản

- Hệ thống các câu hỏi trong đề kiểm tra luôn luôn phải bám sát nội dung chương trình học phép chia PS toán 4, phải đảm bảo được mức độ kiến thức cần đạt được

2.1.3 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp 4

- Hệ thống câu hỏi đưa ra phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS

Trang 34

Đề kiểm tra được xây dựng ở mức độ vừa phải, không quá dễ cũng không quá khó và có thể phân loại được HS để HS có thể vừa giải quyết được yêu cầu của bài tập, vừa phát huy được tính sáng tạo

- Để phát huy tính sáng tạo của HS thì các câu hỏi trong đề kiểm tra được xây dựng phải mang tính khoa học có nghĩa là các bài tập đưa là hoàn toàn mới, các phương án trả lời dựa trên các lỗi mà HS có thể mắc phải, các câu hỏi được xây dựng dưới nhiều dạng khác nhau từ đó để HS tự tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo

2.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế dạy học

Hệ thống bài tập phải có tính khả thi, nghĩa là chúng phải là một hệ thống đề kiểm tra có thể vận dụng được trong thực tế dạy học và đem lại hiệu quả như mong muốn Tức là đề kiểm tra phù hợp với cơ sở vật chất, điều kiện thực tế tại trường, lớp muốn khảo sát

2.1.5 Đảm bảo tính chẩn đoán

Hệ thống bài tập trong đề kiểm tra phải kiếm tra về kiến thức HS vừa học, phải chẩn đoán được các khả năng sai của HS, để kết thúc kiểm tra, phân tích kết quả có thể thấy được HS đang thiếu sót kiến thức nào.Từ đó, GV sẽ điều chỉnh hoạt động dạy của mình giúp HS bổ sung những kiến thức, kĩ năng còn hạn chế

2.2 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán

Trang 35

Hình 2.1 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán

* Bước 1: Xác định mục đích của đề kiểm tra

Đề kiểm tra đánh giá chẩn đoán được thực hiện sau khi HS được học xong một nội dung kiến thức nào đó Để việc kiểm tra đạt hiệu quả thì trước hết phải xác định mục đích của đề kiểm tra

Xác định mục đích của đề kiểm tra

Dự đoán các lỗi sai mà HS có thể mắc phải

Xác định hình thức đề kiểm tra

Dựa vào ma trận để biên soạn câu hỏi đảm bảo tính chẩn đoán

Xây dựng đáp án, thang điểm và dự kiến thời gian làm bài

Xem xét lại việc biên soạn câu hỏi, điều chỉnh và hoàn thiện đề kiểm tra

Thiết kế ma trận đề kiểm tra

Ngày đăng: 24/09/2018, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w