1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn tập đọc

86 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế, việc dạy đọc hiểu văn bản ở các trường Tiểu học hiện nay còn nhiều hạn chế như: giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu văn bản chủ yếu dựa vào hệ thống các câu hỏi được đưa ra s

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS KHUẤT THỊ LAN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu

sắc tới các thầy giáo, cô giáo tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khoá luận này Đặc biệt là cô giáo T.S Khuất Thị Lan - người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khoá luận

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện

đề tài

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và học sinh trường Tiểu học Tích Sơn – thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiên giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn !

Vĩnh Phúc, ngày tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Kim Thị Hương Ly

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong khoá luận là trung thực Những kết quả nêu trong khoá luận chưa được công bố trên bất cứ công trình nào

Vĩnh Phúc, ngày tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Kim Thị Hương Ly

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc đề tài 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Đặc điểm của học sinh Tiểu học 6

1.1.2 Khái quát về vấn đề đọc hiểu văn bản 8

1.1.3 Kĩ năng và chiến thuật đọc hiểu văn bản 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Khảo sát lỗi phát âm ở Tiểu học 17

1.2.2 Khảo sát các dạng bài tập đọc lớp 4, 5 20

1.2.3 Khảo sát việc dạy và học đọc hiểu ở Tiểu học 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA PHÂN MÔNTẬP ĐỌC ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED. 2.1 Biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh Tiểu học 31

2.1.1 Đọc lướt 31

2.1.2 Xây dựng câu hỏi gợi mở để hiểu từ khoá và từ khó của bài 36

2.1.3 Xác định câu quan trọng, ý quan trọng của tác phẩm 40

2.1.4 Đưa hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài 43

2.2 Luyện đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học 49

2.2.1 Trọng âm và ngữ điệu 49

Trang 6

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57

3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm 57

3.2 Nội dung thực nghiệm 57

3.3 Đối tượng, địa điểm thực nghiệm 57

3.4 Tiến trình thực nghiệm 59

3.4.1 Chuẩn bị thực nghiệm 59

3.4.2 Tiến hành dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 59

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 59

3.4.4 Giáo án thực nghiệm 59

3.5 Kết quả thực nghiệm 74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục ở trường Tiểu học nói riêng, môn Tiếng Việt là một môn học bắt buộc và được xem là một môn học quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình học Môn học này có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng những mục tiêu của từng bài học Bên cạnh đó, môn học này còn có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt: Nghe - nói - đọc - viết Các kĩ năng này đóng vai trò hết sức quan trọng, nó có quan hệ chặt chẽ, tương tác, hỗ trợ cho nhau, chúng không chỉ hình thành phát triển kĩ năng giao tiếp, trong các môi trường hoạt động lứa tuổi mà còn trong cuộc sống hằng ngày Ngoài ra, nó còn là phương tiện để giúp các em học tốt các môn khác

Trong bốn kĩ năng kể trên thì kĩ năng đọc là một trong những kĩ năng có vai trò chủ đạo vì đọc một cách có ý thức sẽ tác động trực tiếp tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của học sinh Qua bài Tập đọc học sinh còn được cung cấp thêm về vốn từ ngữ, cách diễn đạt, tư duy, những hiểu biết về tác phẩm văn học, từ đó nâng cao trình độ văn hoá nói chung và trình độ hiểu biết

về tiếng Việt nói riêng

Mỗi một tác phẩm văn học đều được các tác giả gửi gắm vào đó những tâm tư, tình cảm của mình đối với cuộc sống, thế giới xung quanh Những điều đó không được thể hiện một cách trực diện mà nó ẩn chứa trong các câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ hay thậm chí là cả một tác phẩm văn học Để đọc được một tác phẩm không khó nhưng để hiểu được nội dung mà tác giả muốn gửi gắm vào tác phẩm đó không phải là một việc đơn giản, nó phụ thuộc vào cách đọc, cách hiểu của mỗi người Học sinh ở Tiểu học đã có vốn ngôn ngữ khá phong phú và kĩ năng đọc ngày càng được rèn luyện nhất là đối

Trang 8

với những học sinh ở các lớp 4, 5 Để giúp các em có thể tiếp thu được các tri thức thì nhiệm vụ quan trọng của giáo viên đó là dạy cho học sinh kĩ năng đọc hiểu văn bản

Trên thực tế, việc dạy đọc hiểu văn bản ở các trường Tiểu học hiện nay còn nhiều hạn chế như: giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu văn bản chủ yếu dựa vào hệ thống các câu hỏi được đưa ra sẵn trong sách giáo khoa để tái tạo lại nội dung, một số học sinh không có hứng thú với bài tập đọc và không suy nghĩ tích cực để tìm hiểu nội dung bài học Vậy làm thế nào để học sinh có hứng thú với bài đọc, hiểu được nội dung mà tác giả gửi vào trong bài học đó

là điều mà chúng tôi quan tâm nhất

Chính vì vậy, đọc hiểu văn bản là kĩ năng vô cùng quan trọng trong việc dạy học ở trường Tiểu học Đây cũng là một trong những kĩ năng giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện

này Từ những lí do kể trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Rèn kĩ năng

đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Tập đọc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

* Ở nước ngoài

Quan niệm về đọc được Viện sĩ M.R.Lorop, trong cuốn Sổ tay thuật ngữ

Phương pháp dạy học tiếng Nga (1988), có đưa ra và trình bày khái niệm đọc

từ góc độ ngôn ngữ Ông cho rằng đọc là quá trình giải mã chữ - nghĩa, đọc là

sự kết hợp của hai quá trình đọc thành tiếng và đọc hiểu

Trong tác phẩm Đọc sách như một nghệ thuật (1940) của hai tác giả

Mortimer J.Adler và Charles Van Doren đã đưa ra quan điểm về nghệ thuật đọc và những quan điểm về nhu cầu đạt được các cấp độ cao hơn trong nghệ thuật đọc

* Ở Việt Nam

Trang 9

Trong Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học, (2002), NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã khẳng định việc dạy và đọc hiểu cho học sinh Tiểu học có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả học tập của học sinh

Việc dạy học chính là cách dạy tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, hay nói cách khác đó chính là một quá trình nhận thức Điều này đã được tác giả Lê

Phương Nga nói đến trong cuốn Dạy tập đọc cho học sinh ở Tiểu học (2003),

NXB Giáo dục Ngoài ra, cuốn sách này còn đề cập đến những vấn đề về âm thanh của ngôn ngữ và ngữ nghĩa của văn bản Từ đó giúp giáo viên xác lập nội dung luyện đọc thành tiếng và luyện đọc hiểu cho học sinh Tiểu học

Các tác giả Lê Phương Nga – Nguyễn Trí đã có công trình nghiên cứu cụ thể về phân môn tập đọc ở Tiểu học trong Phương pháp dạy học tiếng Việt 2,

(2004) Trong công trình nghiên cứu này, hai tác giả đã trình bày những cơ sở khoa học của viêc dạy tập đọc ở Tiểu học, quy trình và hình thức tổ chức dạy tập đọc ở từng khối lớp nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hiện đại, những kĩ năng giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học Bên cạnh đó, hai tác giả còn đưa ra nhiều phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập

Theo hai tác giả Nguyễn Trí và Nguyễn Trọng Hoàn, trong Tìm vẻ đẹp

bài văn ở Tiểu học (2005), NXB Giáo dục, đã cho rằng đọc và viết là hai kĩ

năng dạy học sinh biết xử lý văn bản chữ, kĩ năng đọc không chỉ là tiếp nhận thông tin mà đọc còn để bộc lộ khả năng hiểu của người đọc

Trong Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM – số 29 (2011), tác giả Trịnh

Thị Cẩm Ly đã khẳng định tầm quan trọng của dạy học phân môn Tập đọc ở trường Tiểu học và và đưa ra những biện pháp hướng dẫn học sinh đọc sáng tạo nhằm giúp người đọc đạt được kĩ năng đọc ở nhiều mức độ khác nhau

Trang 10

Ngoài ra, trong cuốn sách Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản

trong nhà trường phổ thông (2012) tác giả Phạm Thị Thu Hương đã đưa ra

một số chiến thuật để đọc hiểu văn bản như: đánh dấu và ghi chú, đọc suy luận, phim trí óc, câu hỏi kết nối tổng hợp để hỗ trợ tích cự cho đọc hiểu văn bản

Trong dạy học tiếng Việt, nhà biên soạn chương trình sách giáo khoa cũng chú trọng tới việc dạy đọc - hiểu bằng cách đưa ra hệ thống bài tập, câu hỏi tìm hiểu bài để giúp học sinh nắm được nội dung của bài tập đọc

3 Mục đích nghiên cứu

Rèn cho học sinh lớp 4, 5 kĩ năng đọc hiểu văn bản Từ đó, giúp học sinh biết vận dụng kĩ năng này thành thạo trong hoạt động giao tiếp, nâng cao hiệu quả đọc trong nhà trường

Rèn luyện tốt hai hình thức đọc: Đọc hiểu văn bản và đọc diễn cảm văn bản

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đọc

Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học đọc hiểu của học sinh các lớp

4, 5 trong phân môn tập đọc

Đưa ra biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh Tiểu học

Vận dụng kĩ năng thông qua giáo án thực nghiệm

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các bài tập đọc trong SGK tiếng Việt lớp 4, 5 Phạm vị nghiên cứu: Học sinh lớp 4, 5 ở trường Tiểu học Tích Sơn

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tạp chí, sách báo, giáo

trình có nội dung rèn luyện kĩ năng đọc hiểu nhằm đưa ra những nhận xét và tìm ra các phương pháp phù hợp với học sinh lớp 4, 5 để rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh

Trang 11

Phương pháp thống kê, phân loại: bảng thông kê, bảng khảo sát nhằm

tìm hiểu thưc trạng dạy đọc hiểu văn bản ở lớp 4, 5 và đánh giá mức độ hiểu văn bản của học sinh ở lớp thực nghiệm, đối chứng sau khi tiến hành thực nghiệm

Phương pháp điều tra: Dự giờ, trao đổi với học sinh, giáo viên về những

khó khăn trong dạy đọc hiểu để tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình đọc hiểu của học sinh, thực trạng dạy đọc hiểu hiện nay ở trường Tiểu học

Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Kết quả trước và sau khi thực hiện bài bày

có sử dụng các biện pháp đã đưa ra nhằm thấy được kết quả của các biện pháp

và nắm tính khả thi của những biện pháp được đưa ra

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài được triển khai thành 3 chương với các nội dung như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Tập đọc

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Đặc điểm của học sinh Tiểu học

1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 4, 5

Lứa tuổi học sinh Tiểu học là giai đoạn từ 7 đến 12 tuổi, đặc điểm tâm lý của học sinh ở giai đoạn này chủ yếu do hoạt động học tập mang lại Vì vậy đến trường học tập là bước ngoặt quan trong đối với trẻ, đó là nơi trẻ có những mối quan hệ mới được hình thành như: quan hệ bạn bè, quan hệ thầy trò

Nếu như đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 1, lớp 2 là những bước chuyển từ hoạt động vui chơi của lứa tuổi mầm non sang hoạt động học tập thì học sinh lớp 4, 5 đã có những đặc điểm tâm lý mới được hình thành và phát triển phù hợp với hoạt động học tập

Về mặt cơ thể, các em từ 9 đến 11 tuổi đã có đủ chiều cao và cân nặng

để thực hiện các hoạt động học tập và lao động trong nhà trường Về tâm lí, các em là lớp học sinh cuối cấp, được rèn luyện học tập trong thời gian khá dài nên các em đã chững chạc, mạnh mẽ Học sinh ở lứa tuối này đã tự ý thức được mình, đánh giá hành vi theo chuẩn mực đạo đức xã hội Dó đó, về mặt thực tiễn các em giàu vốn sống thực tiễn và khả năng hoạt động thực tế

Để tổ chức giờ đọc đạt hiệu quả, chúng ta phải nắm được đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh Tiểu học khi để làm cơ sở của việc dạy học Đặc biệt, chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm được bản chất kĩ năng đọc

1.1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ học sinh lớp 4,5

Ngôn ngữ là phương tiện đắc lực nhất của hoạt động trí tuệ, là yếu tố góp phần làm cho các quá trình tâm lí của người phát triển hơn về chất so với con vật Ngôn ngữ liên quan đến tất cả các quá trình tâm lí của con người, đặc biệt

là quá trình nhận thức và ghi nhớ

Trang 13

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của các

em, ngôn ngữ giúp các em giao tiếp, trao đổi với nhau trong học tập và vui chơi

Ở lớp 4, 5 ngôn ngữ nói và viết của các em đã thành thạo và hoàn thiện

về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhân thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân qua nhiều kênh thông tin khác nhau như: sách vở, báo chí, truyền thông…

Vì vậy, giáo viên cần trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ bằng cách hướng hứng thú của trẻ váo các loại sách báo có lời và không lời như: sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,…đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết váo, viết truyện, nhằm giúp các em tích lũy vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng

1.1.1.3 Đặc điểm nhân thức của học sinh lớp 4, 5

Nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng Cấp độ này bao gồm hai quá trình tâm lý: cảm giác và tri giác Cảm giác và tri giác càng phong phú thì các tri thức về thế giới xung quanh của trẻ tiếp thu sẽ càng rộng rãi, đa dạng và sâu sắc Cảm giác, tri giác các sự vật hiện tượng trong cuộc sống và thế giới khách quan xung quanh trẻ là nguồn gốc đầu tiên cũng là nội dung chủ yếu vốn tri thức ban đầu của trẻ

So với các lớp đầu cấp, đặc điểm tri giác của học sinh giai đoạn cuối cấp Tiểu học đã phát triển hơn, chính xác, đầy đủ hơn, phân hỏa rõ ràng, có chọn lọc hơn Các em đã biết tìm ra dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết để đi đến phân tích, tổng hợp và tìm ra mối liên

hệ giữa các dấu hiệu đặc trưng ấy Tri giác của học sinh giai đoạn này đã mang tính mục đích và phương hướng rõ ràng Điều này cho thấy sự cần thiết

Trang 14

phải hướng dẫn và hiểu được nội dung mình được nghe thường xuyên Những câu chuyện hay, lời kể hấp dẫn, sinh động được các em tri giác tốt hơn, học sinh sẽ yêu thích và hứng thú tìm hiểu nội dung câu chuyện đó hơn

Nhận thức lí tính: Nhận thức lí tính là cấp độ nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất (bên trong) và những mối liên hệ, quan hệ có tính chất quy luật cỉa hiện thực mà trước đó ta chưa biết, cấp độ này gồm các quá trình: trí nhớ, tưởng tượng và tư duy

+ Ở giai đoạn này, trí nhớ của các em vẫn hình hành và phát triển mạnh nhưng ghi nhớ ý nghĩa đang dần chiếm ưu thế Vì vậy dạy học tập đọc giáo viên cần chủ động hình thành cho học sinh phương pháp tìm hiểu nội dung câu chuyện hoặc phân ra nội dung câu chuyện thành các đoạn, đặt tên cho các đoạn hoặc đặt ra các câu hỏi về nhân vật, tình huống và cốt truyện… để học sinh trả lời và ghi nhớ

+ Tưởng tượng của học sinh cuối bậc Tiểu học hoàn chỉnh hơn về kết cấu logic Các em có thể tự tưởng tượng để hiểu được đăc điểm tâm lý, tính cách, sở thích, của nhân vật chính xác hơn

+ Tư duy của học sinh ở lớp 4,5 đã thoát ra khỏi tính trực quan hành động và mang dần tính trực quan hình tượng Trẻ dần nắm được mối quan hệ của các khái niệm Các thao tác tư duy như: không gian, thời gian, phân loại,…được hình thành và phát triển mạnh, tư duy ngôn ngữ bắt đầu hình thành

1.1.2 Khái quát về vấn đề đọc hiểu văn bản

1.1.2.1 Quan niệm về đọc

Nhiều người coi đọc là việc sử dụng bộ mã chữ - âm, nghĩa là từ việc hình con chữ để phát ra thành lời, đã đọc thì phải phát ra thành tiếng, có người

lại cho rằng: “Đọc là hiểu những gì trên trang giấy” hay “Ngữ âm là phần

thứ nhất của việc đọc và hiểu là điều sau đó”

Trang 15

Từ trước đến nay đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước đã đưa ra quan niệm về đọc Trong đó nổi lên là một số quan niệm cần

kể đến sau:

Những quan niệm về đọc ở nước ngoài

Theo tác giả Adam, 1990: “Đọc là quá trình phức tạp bao gồm sự kết

hợp của các khả năng cảm nhận, tâm lý ngôn ngữ và nhận thức”

Theo tác giả Smith, 1995: “Đọc là một quá trình tương tác, trong quá

trình đó, tri thức có trước về thế giới của người đọc tương tác với thông điệp được truyền đạt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng văn bản”

Theo tác giả M.R.Lơvôp trong cuốn Sổ tay thuật ngữ phương pháp học

tiếng Nga (1998) đã định nghĩa: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu

nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)

Những quan niệm về đọc ở Việt Nam

Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc không phải chỉ là tái tạo âm

thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc của tri giác và nhuần thấm tín hiệu để giải mã ngôn ngữ, mà nghệ thuật, mã văn hoá đồng thời với việc huy động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mỹ và ý nghĩa của tác phẩm” “Đọc không phải chỉ là hoạt động nhận thức nội dung, ý nghĩa từ văn bản mà còn hoạt động trực quan sinh động giàu cảm xúc có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người Đọc văn còn là một hành động mang tính chất tâm lý, một hành động tinh thần bộc lộ rõ ràng năng lực của từng người”

Tác giả Trần Đình Sử trích dẫn giải thích của Đại bách khoa toàn thư

Trung Quốc (quyển Giáo dục) đã đưa ra quan niệm về hoạt động đọc như sau:

“Đọc là một quá trình hoạt động tâm lý nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kí hiệu

Trang 16

ngôn ngữ được in hay được viết” Từ đó tác giả đã chỉ ra một số nội dung

quan trọng, then chốt về việc đọc:

+ Đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất phải hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản); phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu cầu, năng lực)

và tác động qua lại của chủ thể và văn bản

+ Đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hoá)

+ Đọc là quá trình tiêu dùng văn hoá văn bản (hưởng thụ, giải trí, học tập)

+ Đọc là quá trình tạo ra “năng lực người” (năng lực hiểu mình, hiểu văn

hoá và hiểu thế giới)

Như vậy, đọc là một hoạt động văn hoá có tầm nhân loại và ý nghĩa giáo dục sâu sắc

1.1.2.2 Quan niệm về đọc hiểu văn bản

Theo tác giả Nguyễn Thị Hạnh trong Dạy đọc hiểu ở Tiểu học (2005),

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra đọc được xem như một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện đó là: Thứ nhất, quá trình vận động bằng mắt sử dụng bộ mã chữ - âm

để phát ra một cách chân thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Quá trình này được gọi là đọc thành tiếng; Thứ hai, đó là sự vận động tư tưởng, tình cảm sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối quan hệ giữa con người

và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để hiểu được nội dung những

gì được đọc Quá trình này được gọi là đọc hiểu

Đọc hiểu văn chính là phương thức đọc nhằm cảm thụ và hiểu biết chính xác tác phẩm văn bản, có hiểu biết và chiếm lĩnh được giá trị văn chương

Trang 17

Vấn đề đọc hiểu văn bản gần đầy đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Rất nhiều các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về đọc hiểu như:

Theo hai tác giả Anderson & Paerson, 1984: “Đọc hiểu là năng lực nhận

thức phức tạp yêu cầu khả năng tích hợp thông tin trong văn bản với tri thức

có trước của người đọc”

Tác giả Rumelhart, 1994 đã cho rằng: “Đọc hiểu là quá trình tương tác

xảy ra giữa một người đọc và một văn bản”

Trong những năm gần đây, quan niệm về đọc hiểu của PISA được nhiều

người tán thành, PISA đã đưa ra định nghĩa về đọc hiểu: “Đọc hiểu là sự hiểu

biết, sử dụng, phản hồi và chiếm lĩnh các văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như tham gia vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân”

Theo PISA, định nghĩa về đọc và đọc hiểu không phải là cố định mà nó

có sự thay đổi theo thời gian, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội Quan niệm này của PISA hoàn toàn phù hợp với quan niệm của UNESSCO về năng lực

đọc hiểu: “Đó là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi,

tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in kết hợp trong những bối cảnh khác nhau”

Tác giả Nguyễn Thanh Hùng, khi bàn đến những khái niệm then chốt về

đọc hiểu, ông cho rằng “ đọc – hiểu là khái niệm bao chùm có nội dung quan

trọng trong quá trình dạy văn”, “Đọc – hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động học, đọc hiểu cũng chỉ năng lực của người đọc

Tác giả đã đi vào lí giải nội hàm của nghĩa “đọc” và nghĩa “hiểu” Trong

đó “Đọc không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình

thức tỉnh cảm xúc của tri giác và nhuần thấm tín hiệu để giải mã ngôn ngữ,

Trang 18

mà nghệ thuật, mã văn hoá đồng thời với việc huy động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mỹ và ý nghĩa của tác phẩm”.“Đọc không phải chỉ là hoạt động nhận thức nội dung, ý nghĩa từ văn bản mà còn hoạt động trực quan sinh động giàu cảm xúc có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người Đọc văn còn là một hành động mang tính chất tâm lý, một hành động tinh thần bộc lộ rõ ràng năng lực của từng người”còn “Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của các sự vật hiện tương, đối tương nào đó và ý nghĩa của các mỗi quan hệ đó Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng và đời sống Hiểu tức là trả lời được câu hỏi: Cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Đó là biết,

là làm trong đọc hiểu Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn”

Tác giả Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học đã khẳng định:

“Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp, ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”

Từ những hiểu biết trên “đọc hiểu” theo chúng tôi đọc hiểu là: “Quá

trình người đọc kiến tạo lại ý nghĩa của văn bản mà tác giả đã gửi gắm vào

đó thông qua hệ thống các câu hỏi, hoạt động, hành động, thao tác tuỳ theo mỗi tác phẩm nhất định”

1.1.2.3 Vai trò của hoạt động đọc hiểu văn bản

Trong dạy học Tập đọc ở trường Tiểu học, dạy học sinh đọc hiểu văn bản trước hết trang bị cho học sinh nền tảng kiến thức cơ bản của phân môn Tập đọc Cũng với những kiến thức nền tảng được tiếp nhận còn là quá trình hình thành và rèn luyện ở học sinh những kĩ năng, kĩ xảo để học sinh từng bước chiếm lĩnh được văn bản, tiếp nhận văn bản một cách chủ động, sáng tạo theo những cách riêng của mình không phụ thuộc nhiều vào giáo viên, SGK

Trang 19

Trước hết, đọc là hoạt động cơ bản nhất, nó bao gồm các kĩ năng: đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm Trong các kĩ năng đó thì đọc hiểu

có vai trò quan trọng nhất Đọc hiểu được phân biệt với các hoạt động khác vì tính nhận thức của nó Đọc hiểu chính là việc đọc để hiểu được nội dung văn bản, đánh giá được ý đồ của tác giả, thấy được giá trị về hình thức của văn bản, hoạt động lĩnh hội được thông tin để áp dụng vào kinh nghiệm sống của bản thân người đọc Vì vậy đọc mà không hiểu những gì mình đang đọc thì chưa được gọi là biết đọc Muốn vậy, người đọc phải đọc văn bản một cách

có ý thức thì mới lĩnh hội được đích tác động của văn bản

Hơn nữa, người đọc khi biết cách đọc hiểu sâu sắc, thấu đáo các văn bản, tác phẩm được đọc thì người đọc mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội được tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong tác phẩm, văn bản

Từ đó,người đọc có công cụ để lĩnh hội tri thức khoa học các môn học khác trong nhà trường Nhờ biết cách đọc hiểu văn bản mà học sinh dần dần có khả năng tự đọc, tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về cuộc sống, từ đó hình thành thói quen, hứng thú với việc đọc sách, với việc tự học thường xuyên Có rất nhiều tài liệu trong và ngoài nước nhấn mạnh vai trò của sự thông hiểu trong khi đọc

Trang 20

1.1.2.4 Mục đích của hoạt động đọc hiểu

Theo hai tác giả Sweet và Snow, 2002 đã cho rằng: “Mục đích chính của

việc đọc là thu nhận và kiến tạo ý nghĩa từ văn bản”

Đọc hiểu văn bản nhằm đạt nhiều mục đích khác nhau: đọc để giải trí; đọc để tìm kiếm thông tin; đọc để thưởng thức, để tranh luận với bạn bè; đọc

để học, tìm tòi, khám phá được thế giới xung quanh Ngoài ra, đọc hiểu được văn bản còn hình thành nền tảng kiến thức văn chương cơ bản, sâu sắc, hình thành nhân cách người học

Trong trường Tiểu học, mục tiêu khái quát của việc đọc hiểu tác phẩm là

để học: học để hiểu cuộc sống xung quanh, học để hình thành những thói quen tốt, hình thành tình yêu đối với quê hương đất nước, con người, thiên nhiên Tuy nhiên vào từng bài học cụ thể mục tiêu khái quát trên sẽ quy về từng mục tiêu nhỏ

Ví dụ:

Khi dạy một bài tập đọc bất kì, việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài học luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Việc đọc không đơn giản chỉ là sự đánh vần lên thành tiếng của con chữ một cách chính xác mà hơn vậy đó còn là một quá trình nhận thức để học sinh có khả năng thông hiểu những gì được học, được đọc Việc đọc không thể tách rời việc hiểu Chỉ khi thấu hiểu một cách sâu sắc thì học sinh mới có thể lĩnh hội những tri thức, tư tưởng, tình cảm chứa đựng trong văn bản một cách toàn diện

Thông qua việc đọc và hiểu văn bản, học sinh có thể tự đọc, tự học để

mở rộng vốn kiến thức và khả năng nhận thức trong cuộc sống Bên cạnh cung cấp kiến thức cần thiết cho cuộc sống, việc đọc hiểu giúp học sinh bồ dưỡng tâm hồn, xây dựng ở học sinh nhân cách Nó làm thức tỉnh trong mỗi con người tình yêu cái đẹp, giàu lòng nhân ái bao dung và yêu thương trong cuộc sống Thông qua các bài tập đọc, các từ, các câu văn hay sẽ để lại trong

Trang 21

học sinh những ấn tượng trong tâm trí đó sẽ trở thành nguồn chất liệu cho người đọc Hiểu các từ và vận dụng chúng khi cần thiết để viết văn, giao tiếp Cái đích cuối cùng của việc tìm hiểu một tác phẩm văn học đó là hiểu được văn bản đấy Kết quả của việc hiểu phụ thuộc vào định hướng tiếp cận

và mục tiêu của người đọc khi tiếp cận văn bản Khi đọc mỗi tác phẩm văn học để có thể điều chỉnh quá trình đọc sao cho phù hợp với mục tiêu Vì thế, người đọc luôn phải tự đặt ra cho mình câu hỏi như là: “Đọc văn bản này để làm gì ?” Việc xác định mục đích đọc là bước khởi đầu quan trong để có thể tương tác thành công với mỗi văn bản

Mục đích cuối cùng của dạy đọc hiểu là dạy cho học sinh kĩ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản, tiếp nhận, xử lý được các thông tin trong quá trình đọc Vì vậy, việc dạy đọc hiểu có vai trò đặc biệt trong dạy Tập đọc nói riêng, trong dạy học ở Tiểu học nói chung

1.1.3 Kĩ năng và chiến thuật đọc hiểu văn bản

1.1.3.1 Kĩ năng đọc

Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp đòi hỏi quá trình tập luyện lâu dài

Trong Dạy đọc và học đọc (1982) ,NXB GD Hà Nội, của tác giả Lê Hữu Tỉnh

và Trần Mạnh Hưởng đã chia việc hình thành kĩ năng đọc thành ba giai đoạn: Phân tích; tổng hợp (hay còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hoạt động); giai đoạn tự động hoá

Giai đoạn học vần đó là sự phân tích các chữ cái và đọc các con chữ đấy theo các âm Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả chữ chọn vẹn, trong đó từ sẽ được tiếp nhận bằng thị giác và âm phát ra trùng với nhận thức ý nghĩa Sự thông hiểu nghĩa của các từ trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, điều này có nghĩa là việc đọc được thực hiện trong sự đoán nghĩa Sang lớp 2, lớp

3 học sinh chuyển sang giai đoạn đọc tổng hợp Học sinh lớp 4, lớp 5 ngày

Trang 22

càng trở nên tự động hoá nghĩa là người đọc ít quan tâm đến quá trình đọc mà chủ yếu chiếm lĩnh văn bản (bài khoá)

Như vậy ta có thể hiểu: Kĩ năng đọc là kĩ năng dùng mắt để nhận biết kí hiệu và chữ, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc

và sử dụng bộ máy phát âm để phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe

Kĩ năng đọc là một kĩ năng quan trọng của người tham gia giao tiếp Thông qua việc rèn luyện kĩ năng đọc, người đọc có thể hoàn thiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa mỗi quan hệ đó được thể hiện trong văn bản

Kĩ năng đọc giúp cho người đọc hình thành năng lực giải thích, phân tich, khái quát, biện luận đúng sai về logic Nghĩa là kết hợp năng lực với tư duy và biểu đạt, kĩ năng đọc giúp người nghe tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin một cách chính xác và chuẩn mực

Kĩ năng đọc còn giúp cho người đọc bao quát được nội dung và biết cách vận dụng lý thuyết tiếp thu được qua văn bản vào trong thực tiễn cuộc sống Việc đọc không thể tách rời việc chiếm lĩnh một công cụ ngôn ngữ (ở đây là Tiếng Việt); mục đích này được thực hiện thông qua con đường giao tiếp có ý thức

1.1.3.2 Chiến thuật đọc hiểu văn bản

Thuật ngữ chiến thuật đã được các nhà nghiên cứu về đọc hiểu trên thế giới quan niệm như sau:

Từ điển ngữ văn của tác giả Harris và Hodges đưa ra định nghĩa về chiến

thuật đó là: “Một kế hoạch có tính hệ thống được lựa chọn và kiểm soát có

chủ ý để thúc đẩy sự thực hiện công việc của cá nhân trong giờ học tập”

Tài liệu tổng hợp theo nhóm chủ đề của Hiệp hội Đọc quốc gia Mĩ đưa

ra quan điểm từ nội dung tổng kết đánh giá của họ vào năm 2000 như sau:

Trang 23

“Chiến thuật là một cách tiếp cận toàn diện của một cá nhân tới một nhiệm vụ

nó bao gồm việc một người tư duy và hành động như thế nào khi lập kế hoạch

và đánh giá những thành công của chính mình Nói chung, những người thành công là những người sử dụng tốt các chiến thuật, họ biết dùng các cách thức phong phú gắn với mục đích cụ thể như thế nào để thực hiện chúng trong một chuỗi công việc đã được lập kế hoạch và kiểm soát về việc lập kế hoạch của họ”

Garner, 1987 đã cho rằng: “Chiến thuật đọc hiểu được xác định như là

quá trình nhận thức được dẫn dắt thận trọng bởi mục đích cụ thể hoặc một cách xử lý, để điều khiển chuyển sự cố gắng của người đọc với việc giải mã văn bản và kiến tạo ý nghĩa của văn bản”

Như vậy, có thể xem chiến thuật đọc hiểu là những biện pháp, những thủ thuật, những cách thức, thao tác nhất định nhằm dẫn dắt quá trình nhận thức cuả học sinh để chiếm lĩnh, kiến tạo ý nghĩa của văn bản một cách tích cực, chủ động, hiệu quả Chiến thuật là bước đệm quan trọng, là cầu nối không thể thiếu của người đọc, giúp cho người đọc từng bước tiếp cận tác phẩm một cách độc lập, thuần thục, có sáng tạo Hay nói theo cách khác, nếu đích đến là hình thành bạn đọc (học sinh) với tất cả các phẩm chất của một độc giả thì chiến thuật là con đường từng bước để chinh phục khó khăn, trở ngại những rào chắn trong tư duy, trong cảm thụ để việc đọc trở nên dễ dàng hơn, người đọc có khả năng làm chủ việc đọc của mình Chiến thuật đọc đòi hỏi phải có

sự dẫn dắt, can thiệp thận trọng của tư duy với định hướng mục tiêu rõ ràng

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khảo sát lỗi phát âm ở Tiểu học

Với học sinh Tiểu học phát âm là một phương diện quan trọng bổ trợ cho quá trình đọc hiểu Khi trẻ phát âm chuẩn có thể khiến cho người nghe, người đọc hiểu được nội dung bài học, hứng thú hơn với bài học Hiện nay, tình

Trang 24

trạng mặc lỗi phát âm ở Tiểu học rất phổ biến Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát lỗi phát âm của học sinh ở trường Tiểu học Tích Sơn để khảo sát tình trạng phát âm sai của học sinh ở đây

1.2.1.1 Địa điểm tiến hành

Để nắm được tình hình cụ thể các lỗi phát âm của học sinh khi đọc bài tập đọc, chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số lớp của trường Tiểu học Tích Sơn – phường Tích Sơn – thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc

1.2.1.2 Phương pháp điều tra

Chúng tôi tiến hành phối hợp nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình điều tra để thu thập tài liệu và tiến hành xử lý số liệu Các phương pháp chủ yếu được sử dụng là: Phương pháp trực quan, phương pháp đàm thoại, trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh, thống kê

1.2.1.3 Cách thức tiến hành

Trò chuyện với học sinh để phát hiện ra một số lỗi mà học sinh ở đây thường mắc phải Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành cho học sinh đọc hai tác phẩm sau:

Bài thơ: Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận - TV4, tập 2, trang 59

Tác phẩm truyện: Lập làng giữ biển – Trần Nhuận Minh – TV5, tập 2,

trang 36

1.2.1.4 Kết quả điều tra

Qua việc điều tra ở các lớp 4, 5 ở hai trường Tiểu học Tích Sơn bằng việc tiến hành dự giờ, cho các em đọc hai văn bản đã nêu ở trên chúng tôi đã rút ra được một số lỗi phát âm mà học sinh ở trường đều hay mắc phải qua bảng thống kê sau:

Trang 25

Lớp 4A3 4A4 5A5 5A6 Tổng

Trang 26

Từ bảng khảo sát đã được thống kê chúng ta có thể thấy:

Học sinh ở trường tiểu Tiểu học Tích Sơn phần lớn đều mắc các lỗi về phát âm thường gặp như: phát âm lẫn các tiếng bắt đầu bằng âm l và âm n, phát âm sai âm chính, thanh điệu

Ví dụ: Như khi đọc bài thơ: Hành trình của bầy ong khi đọc câu thơ:

“Không gian là nẻo đường xa Thời gian vô tận mở ra sắc màu.”

Trong các lỗi phát âm đã được nêu ở trên thì lỗi phát âm nhầm lẫn giữa l

và n chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm 20,7 %

Bên cạnh lỗi lẫn l và n thì lỗi phát âm sai âm đệm và thanh điệu cũng

tương đối nhiều Lỗi bỏ âm đệm chiếm 7,14%, phát âm sai âm đêm oo thành

Những bài tập được khảo sát ở đây là những bài tập yêu cầu học sinh suy nghĩ, vận dụng vốn hiểu biết để hiểu được nội dung, ý nghĩa mà bài tập đọc

Trang 27

mang lại Những bài tập chỉ đơn giản yêu cầu học sinh lựa chọn giọng đọc, tập đọc phân vai, đọc diễn cảm thì sẽ không đề cập đến

Hệ thống các bài đọc hiểu trong chương trình tập đọc lớp 4, 5 như sau:

+ Tiếng sáo diều: Vui chơi

Học kì II các em học 5 chủ điểm tiếp theo dạy trong 17 tuần với nội dung:

+ Người ta là hoa đất: Năng lực, tài chí

Trang 28

* Lớp 5

Học kì I:

Ở học kì I các em học 5 chủ điểm được dạy trong 18 tuần với các nội dung là:

+ Việt Nam – Tổ Quốc em: Yêu Tổ Quốc

+ Cánh chim hoà bình: Bảo vệ hoà bình, vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc

+ Con người với thiên nhiên: Sống hài hoà và chinh phục thiên nhiên + Giữ lấy màu xanh: Bảo vệ môi trường

+ Vì hạnh phúc con người: Chống bệnh tật, đói nghèo, lạc hậu

Học kì II các em học 5 chủ điểm tiếp theo dạy trong 17 tuần với nội dung:

+ Người công dân: Sống và làm việc theo pháp luật, xây dựng xã

hội văn minh

+ Vì cuộc sống thanh bình: Bảo vệ an ninh, trật tự xã hội

+ Nhớ nguồn: Giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống dân tộc

+ Nam và nữ: Thực hiện bình đẳng Nam – Nữ

+ Những chủ nhân tương lai: Thực hiện quyền của trẻ em

1.2.2.2 Nhận xét về hệ thống bài tập đọc hiểu trong SGK

a) Hình thức câu hỏi đọc hiểu

Các bài tập đọc, các câu hỏi đọc hiểu trong SGK đều có hình thức rõ ràng ở mỗi bài Thông qua việc tổng hợp các dạng câu hỏi, chúng tôi thấy có những dạng câu hỏi cơ bản sau:

1) Các câu hỏi dùng các từ để hỏi như: tìm, nêu, phát hiện, chỉ ra đó là bài tập yêu cầu học sinh tái hiện, nêu nội dung bài tập đọc, tìm các từ ngữ, chi tiết quan trọng

Ví dụ:

Trang 29

Tìm những chi tiết cho thấy cây thảo quả phát triển rất nhanh

(Mùa thảo quả) Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm trăng vừa tĩnh mịch, vừa sinh động trên công trường sông Đà?

(Tiếng đàn Ba-la-lai ca trên sông Đà) 2) Các câu sử dụng các từ: như thế nào, kể lại đó là các câu hỏi tái hiện yêu cầu học sinh kể lại các sự vật, hiện tượng

Ví dụ:

Em hãy kể lại vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ

(Trước công trời) Nhà vua chọn người như thế nào để truyền ngôi?

(Những hạt thóc giống)

Trang 30

5) Câu hỏi có những từ ngữ: chọn đúng ý, chọn câu trả lời thích hợp là

những câu hỏi, bài tập trắc nghiệm

Ví dụ:

Những thành ngữ, tục ngữ nào dưới đây nói lên bài học mà các môn sinh nhận được trong ngày mừng thọ cụ giáo Chu?

i Tiên học lễ, hậu học văn

ii Uống nươc nhớ nguồn

iii Tôn sư trọng đạo

iv Nhất tự vi sư, bán tự vi sư

(Nghĩa thầy trò) 6) Những câu hỏi yêu cầu học sinh đặt tên cho truyện, tìm ý nghĩa của

bài là những câu hỏi về ý nghĩa, nội dung của bài đọc

Ví dụ:

Bài văn trên có mấy đoạn? Em hãy đặt tên cho từng đoạn văn

(Đất Cà Mau)

7) Những câu hỏi có những từ: làm thế nào, nói lên điều gì, là những

câu hỏi nhằm yêu cầu học sinh tự suy luận đánh giá nhân vật

Ví dụ:

Qua khổ thơ cuối, tác giả muốn nói lên điều gì ?

(Cao Bằng)

8) Câu hỏi sử dụng những từ: vì sao tác giả, tình cảm của tác giả như thế

nào là những câu hỏi mang tính chất đánh giá thái độ

Ví dụ:

Đặt hình ảnh người chiến sĩ đi tuần bên hình ảnh giấc ngủ yên bình của học sinh, tác giả bài thơ muốn nói lên điều gì?

(Chú đi tuần)

Trang 31

9) Câu hỏi bắt đầu bằng những từ: vì sao, tại sao là những câu hỏi suy

luận dựa vào gợi ý

10) Các từ ngữ: vì, với, có gì hay thuộc nhóm câu hỏi khai thác giá trị

của những yếu tố nghệ thuật của văn bản

Ví dụ:

Phép nhân hoá ở cuối khổ thơ giúp tác giả nói lên điều gì về tấm lòng

của cửa sông đối với cội nguồn

(Cửa sông)

Cách nói dòng sông mặc áo có gì hay?

(Dòng sông mặc áo)

11) Những câu hỏi có những từ: tìm thêm, còn biết, nhớ đến, nếu

được thuộc câu hỏi liên hệ thực tế

Ví dụ:

Hãy kể tên một số luật của nước ta hiện nay mà em biết?

(Luật tục xưa của người Ê-đê) Hãy giới thiệu về thổng thống đầu tiên của nước Nam Phi

(Sự sụp đổ của chế độ A-pác-thai)

Từ những dạng bài tập, câu hỏi đọc hiểu được chia thành các dạng như ở trên ta có thể thấy tính nhất quán của các dấu hiệu trên khiến cho học sinh dễ dàng trả lời được các câu hỏi trong phần tìm hiểu bài Việc này giúp cho quá trình đọc hiểu của học sinh được diễn ra một cách nhan chóng, hiệu quả việc đọc được nâng cao hơn

Trang 32

Ví dụ:

Khi đưa ra những câu hỏi bắt đầu bằng các từ: Vì sao, tại sao học sinh

sẽ hình thành phản xạ tìm các chi tiết có trong bài đọc và dựa vào các chi tiết

đó đề suy luận, trả lời được các câu hỏi đã được đưa ra

b) Nội dung các câu hỏi, bài tập đọc hiểu

Thứ nhất: Các câu hỏi, bài tập đọc hiểu mặc dù mang tính khoa học, logic cao nhưng một số câu hỏi, bài tập mang tính áp đặt, không kích thích học sinh phải suy nghĩ nhiều Các câu hỏi đó nêu ra trước cách hiểu, nhận xét của người soạn, học sinh chỉ là người minh hoạ lại nội dung đó

Ví dụ: Trong bài thơ Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà vẻ đẹp gắn bó,

sự hoà quyện giữa con người và thiên nhiên trong đêm trăng bên sông Đà phải được học sinh rút ra sau khi tìm hiểu những hình ảnh đẹp được tác giả nhắc đến trong bài thơ nhưng trong phần hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bài kết luận này đã được tác giả đưa ra sẵn bằng câu hỏi: Tìm một hình ảnh đẹp trong bài thơ thể hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên trong đêm trăng trên sông Đà ?

Thứ hai: Các câu hỏi còn khá tổng hợp, khái quát dẫn đến học sinh khó trả lời

Như vậy, có thể thấy để hướng dẫn học sinh đọc hiểu có hiệu quả thì nội dung câu hỏi chiếm vai trò rất quan trọng câu hỏi dùng để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài cần phải rõ ràng, dễ hiều và cần phải xây dựng làm sao cho phù hợp với trình độ tư duy của học sinh lớp 4, 5

1.2.3 Khảo sát việc dạy và học đọc hiểu ở Tiểu học

1.2.3.1 Mục đích khảo sát

Việc khảo sát được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực trạng dạy và học đọc hiểu ở lớp 4, 5 về việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp của giáo viên trong quá trình dạy học Từ việc khảo sát để có căn cứ đưa ra

Trang 33

những biện pháp khắc phục những tồn tại của dạy và học đọc hiểu ở lớp 4, 5

1.2.3.2 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát tại trường Tiểu học trên địa bàn Vĩnh Yên, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 16 giáo viên khối lớp 4, 5 và 100 học sinh lớp 4, 100 học sinh lớp 5 của trường Tiểu học Tích Sơn - Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc

1.2.3.3 Nội dung khảo sát

* Khảo sát giáo viên

Chúng tôi tiến hành khảo sát thông qua phiếu điều tra xoay quanh nội dung sau:

+ Những thuận lợi, khó khăn của giáo viên trong quá trình dạy Tập đọc cho học sinh lớp 4, 5

+ Những giải pháp được giáo viên sử dụng trong giờ tập đọc

+ Quy trình dạy học Tập đọc lớp 4, 5 gặp những thuận lời và khó khăn

* Khảo sát học sinh

+ Tìm hiểu nhu cầu hứng thú của học sinh khi học tiết Tập đọc

+ Những hoạt động dạy giờ Tập đọc của giáo viên mà học sinh cảm thấy hứng thú

1.2.3.4 Các phương pháp và kĩ thuật khảo sát

Khảo sát qua phiếu hỏi

Dự giờ, quan sát giờ dạy

Tham khảo giáo án

1.2.3.5 Kết quả khảo sát

a) Khảo sát tình hình dạy đọc hiểu ở tiểu học

* Thuận lợi

Trang 34

- Đội ngũ giáo viên có chuyên môn nghề nghiệp vững vàng có tính dạy

dỗ và chỉ bảo tận tình cho học sinh

- Nội dung trong SGK rõ ràng, in đẹp, sắp xếp hợp lý theo các chủ điểm học tập

- Các bài tập đọc được chọn lựa tương đối phù hợp với trình độ và năng lực của học sinh tiểu học về độ dài

- Trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy được cung cấp một cách đầy đủ

- Giáo viên nắm vững quy trình, phương pháp, vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học trong quá trình dạy tập đọc

- Giáo viên chưa chú trong đến hình thức đọc thầm

- Có thể thấy trong một tiết dạy giáo viên tiến hành cho học sinh đọc thầm nhiều lần nhưng trên thực tế việc đọc thầm còn chưa được vận dụng triệt

để Giáo viên phát lệnh ra những không hề kiểm tra lại mức độ đọc thầm của học sinh, kiểm tra xem các em có đọc thầm hay không và đại đa số các em không tham gia đọc thầm

- Giáo viên chưa chú trọng đến các phương pháp rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh:

+ Giáo viên đưa ra câu hỏi – học sinh trả lời – học sinh khác đưa ra lời nhận xét, đánh giá câu trả lời của bạn – giáo viên nhận xét và chốt lại câu trả lời đúng nhất

+ Giáo viên tiểu học hầu như rất ít khi cho học sinh tìm hiểu ý nghĩa của tên bài tập đọc, mối liên hệ của bài tập đọc đối với chủ điểm tuần học

Trang 35

+ Việc tìm các từ khó, từ mới và giải nghĩa các từ đấy đều do giáo viên chỉ định và dựa và SGK đọc lên Học sinh không được tự tư duy, liên hệ các

từ đó với thực tiễn để tìm ra nghĩa của các từ đó

* Các biện pháp giáo viên sử dụng trong giờ dạy Tập đọc lớp 4, 5

- Sử dụng tranh, ảnh minh hoạ để giải nghĩa những từ khó trong bài

- Sử dụng phim ảnh, video liên quan đến nội dung bài học nhằm tạo hứng thú cho học sinh

- Tổ chức thi đọc diễn cảm

- Sử dụng công nghệ thông tin vào giờ học

- Liên hệ thực tế, lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, giáo dục môi trường,

an toàn giao thông

b) Khảo sát tình hình việc học đọc hiểu

Qua việc tìm hiểu thực trạng trường Tiểu học chúng chúng tôi thấy việc học đọc hiểu của học sinh có những thuận lợi và khó khăn sau:

- Học sinh còn chưa chủ động, tập chung tìm hiểu bài

- Một số học sinh không có thói quen chuẩn bị bài trước ở nhà

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Trên đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề rèn kĩ năng đọc

cho học sinh thông quan phân môn Tập đọc lớp 4, 5 Đó là chỗ dựa quan

Trang 36

trọng để tìm hiểu, khảo sát, so sánh đối chiếu trên các tài liệu liên quan thực

Về cơ sở thực tiễn: Tìm hiểu về các lỗi phát âm mà học sinh thường hay mặc phải, khảo sát chương trình Tập đọc các lớp 4, 5, thực trạng dạy và học đọc hiểu Qua việc khảo sát cho thấy, giáo viên bước đầu đã sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học mới phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, tuy nhiên chưa đạt hiệu quả cao trong việc rèn kĩ năng nói cho học sinh Khảo sát thực trạng học của học sinh để tìm hiểu về những hứng thú cũng như khó khăn của học sinh còn vướng mắc trong quá trình học tập phân môn Kể chuyện Đó là những vấn đề đặt ra từ kết quả khảo sát, là cơ sở để đề xuất một

số giải pháp đưa ra ở chương 2

Trang 37

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC

2.1 Biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh Tiểu học

2.1.1 Đọc lướt

2.1.1.1 Đọc lướt để hiểu chủ điểm văn bản

Đọc lướt là hình thức có nhiều lợi thế để hiểu văn bản, đây là hình thức đọc không phát ra âm thanh mà chuyển trực tiếp từ kí tự sang để hiểu văn bản

Mỗi một bài tập đọc ở Tiểu học đều gắn liền với các chủ điểm của tuần học Phần lớn khi tìm hiểu một bài tập đọc, các em còn chưa gắn chủ điểm tuần học và từng bài học để có thể hiểu chủ điểm bài đọc Vì vậy khi dạy học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc lướt toàn bộ bài đọc để có thể hiểu được nội dung chủ điểm của văn bản bằng cách như:

Yêu cầu học sinh đọc lướt toàn bộ văn bản Sau khi học sinh đọc qua tác phẩm, giáo viên nên đặt câu hỏi liên quan đến chủ điểm bài học để học sinh hiểu nội dung bài học thông qua tuần chủ điển bằng cách đặt các câu hỏi: + Bài tập đọc nói về cái gì, viết về cái gì, viết về ai ?

+ Bài tập đọc này nằm trong chủ điểm nào? Muốn xác định bài đó nằm trong chủ điểm nào thì đòi hỏi các em cần phải đọc kĩ tác phẩm

+ Từ chủ điểm tuần học em hãy nêu lên mối liên hệ của bài tập tập đọc với chủ điểm đó

Ví dụ: Khi dạy bài: Thư gửi các em học sinh TV5 tập 1 đây là một bài

trong tuần chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em Để học sinh gắn liền chủ điểm học giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện bằng cách sau:

Trang 38

+ Bài tập đọc nói về cái gì, viết về cái gì, viết về ai ? (Nói về bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho học sinh nhân ngày khai giảng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà)

+ Bài tập đọc này nằm trong chủ điểm nào? (Chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em)

+ Mối liên hệ của bài tập tập đọc với chủ điểm đó? (Bài tập đọc nói về ngày khai giảng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà)

Từ việc nắm được chủ điểm tuần học mà học sinh có thể liên hệ được nêu được nội dung của bài học gắn liền với từng tuần học Từ đó học sinh có thể hiểu nội dung bài học nhanh hơn

2.1.1.2 Đọc lướt để hiểu nội dung, ý nghĩa văn bản

a) Đọc lướt để hiêu nội dung, ý nghĩa của từng đoạn

Để học sinh hiểu được nội dung, ý nghĩa của văn bản thì trước hết học sinh phải tìm được ý chính của đoạn, cách chia đoạn

Đối với học sinh ở lớp 4, 5 việc phân chia đoạn theo ý các em đã được làm quen ở các lớp trước vì vậy trước khi tìm hiểu nội dung bài đọc, giáo viên cần cho các em đọc lướt 2 – 3 lần để các em kịp nắm bắt được nội dung từng phần đọc, việc làm này sẽ giúp các em chia đoạn sẽ dễ dàng hơn Sau khi đọc xong thì các em sẽ phải tự phân chia đoạn

Ví dụ: Bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa - Tô Hoài – TV5 tập 1

Đoạn 1: Đoạn thơ đầu tiên

Đoạn 2: tiếp theo đến như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng Đoạn 3: tiếp theo đến qua khe giậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chót

Đoạn 4: các câu còn lại

Việc phân chia đoạn như vậy giúp các em tìm ra ý chung của đoạn, từ ý chung đó phát triển thành ý chung của cả tác phẩm

Trang 39

Sau khi học sinh chia đoạn xong, giáo viên có thể cho học sinh tìm hiểu nội dung của các đoạn theo các hình thức: cá nhân, theo nhóm, trò chơi để giúp học sinh chia đoạn có hiệu quà và hứng thú với bài học

Ví dụ: Bài Những con sếu bằng giấy , TV5 tập 1

Giáo viên có thể cho học sinh tiến hành tìm hiểu từng đoạn theo các cách sau:

- Tiến hành theo cá nhân Có thể thực hiện theo các bước sau:

+ Giáo viên yêu cầu từng cá nhân đọc tác phẩm và xác định ý chính của từng đoạn theo suy luận của mình

+ Lần lượt từng cá nhân đứng lên phát biểu

+ Các bạn khác lắng nghe và nhận xét

+ Giáo viên rút ra nhận xét và chốt ý của từng đoạn

* Ưu điểm:

+ Học sinh phải độc lập suy nghĩ

+ Học sinh được mạnh dạn phát biểu suy nghĩ của mình

+ Thu được nhiều ý kiến khác nhau

+ Phát huy khả năng tư duy của các em hiệu quả

* Nhược điểm

+ Mất nhiều thời gian của tiết học

+ Chỉ thực hiện với những đoạn dễ tìm hiểu Nội dung ngắn gọn, thống nhất với nhau

- Tiến hành tìm hiểu nội dung từng đoạn theo nhóm

+ Giáo viên chia lớp thành các nhóm

+ Mỗi nhóm sẽ đọc và trình bày nội dung của từng đoạn sau khi đã thống nhất giữa các thành viên

+ Nhóm khác đưa ra nhận xét

* Ưu điểm

Trang 40

+ Có thể áp dụng đối với những tác phẩm khó

+ Mất ít thời gian

+ Khi làm việc theo nhóm các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn

+ Các cách chia được đưa ra chính xác hơn so với chia theo cá nhân

* Nhược điểm

+ Lớp mất trật tự

+ Nhiều em không tham gia vào thảo luận còn làm việc riêng

Việc tìm hiểu ý của đoạn hoặc của bài theo nhóm giáo viên cần căn cứ vào nội dung của bài để xây dựng hệ thống câu hỏi giúp học sinh tìm hiểu được dễ hơn Có thể chuyển thành các câu hỏi trắc nghiệm, hay những câu hỏi

ở mức độ khó vừa phải (đối với nhóm 2)

Ví dụ: Bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa

Bài văn thể hiện tình cảm gì của tác giả đối với quê hương Em hãy chọ

n phương án mà em cho là đúng nhất:

A Tình yêu đối với quê hương

B Tình cảm tự hào với quê hương

C Sự thương nhớ ra riết với quê hương

- Tìm hiểu nội dung của mỗi đoạn theo trò chơi

Việc tiến hành theo trò chơi có thể khiến cho không khí học tập sôi động hơn Khi tiến hành tìm hiểu nội dung của mỗi đoạn theo trò chơi giáo viên nên chia lớp thành các nhóm sẽ hiệu quả hơn Các hình thức trò chơi có thể thực hiện theo các cách

+ Cách 1: Ghép hoặc nối

Tên đoạn hoặc nội dung của từng đoạn sẽ được giáo viên viết ra các thẻ học tập, yêu cầu học sinh lấy các thẻ đó ra ghép chúng lại với nhau sao cho phù hợp hoặc giáo viên chia tên và nội dung của từng đoạn thành 2 cột

Ngày đăng: 24/09/2018, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w