Tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 4” nhằm góp phần giúp sinh viên, giáo viên tiểu học có một cái
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán Tiểu học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học:
ThS ĐÀO THỊ HOA
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Đào Thị Hoa là người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Cô đã dành nhiều thời gian đọc bản thảo, bổ sung và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành khóa luận
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa giáo dục tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã trực tiếp giảng dạy tôi, đã giúp tôi có cơ hội học tập và nâng cao trình độ về lĩnh vực lí luận và phương pháp dạy học chuyên môn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô và các em học sinh trường tiểu học Đồng Xuân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và thực nghiệm
Do kiến thức, năng lực còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu còn nhiều thiết sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày 20 tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Hải Yến
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Mở đầu
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1
1.1 Dạy học tích hợp 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Các mức độ tích hợp 4
1.1.3 Vai trò của dạy học tích hợp 10
1.1.4 Khó khăn trong dạy học tích hợp 11
1.2 Bài tập tích hợp 12
1.2.1 Khái niệm bài tập tích hợp 12
1.2.2 Vai trò của bài tập tích hợp 13
1.2.3 Phương pháp chung giải bài tập tích hợp 14
1.3 Thực trạng dạy học các bài tập tích hợp về số tự nhiên ở khối lớp 4 16
1.3.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 16
1.3.2 Kết quả điều tra 17
Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SỐ TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH LỚP 4 25
2.1 Mục tiêu dạy học số tự nhiên ở lớp 4 25
2.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4 26
2.2.1 Khái quát một số vấn đề về số tự nhiên trước lớp 4 26
2.2.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4 26
2.3 Nguyên tắc của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp 27
2.4 Cách thiết kế bài tập tích hợp 28
Trang 42.5 Quy trình xây dựng bài tập tích hợp 30
2.6 Hệ thống bài tập tích hợp về số tự nhiên cho học sinh lớp 4 33
2.6.1 Dạng 1: Tích hợp trong nội bộ môn học 33
2.6.2 Dạng 2: Tích hợp lồng ghép/liên hệ thực tiễn 37
2.6.3 Dạng 3: Tích hợp lồng ghép/liên hệ với các môn học khác 43
2.6.4 Dạng 4: Kết hợp tích hợp với môn học khác và liên hệ thực tiễn 49
2.7 Định hướng sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học về chủ đề số tự nhiên lớp 4 53
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 56
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 56
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 56
3.4 Các giai đoạn thực nghiệm sư phạm 56
3.4.1 Khảo sát lớp thực nghiệm sư phạm 56
3.4.2 Thời gian thực nghiệm sư phạm 57
3.4.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 57
3.4.4 Khảo sát sau khi thực nghiệm sư phạm 57
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 58
Kết luận chương 3 63
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Khuyến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, “Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước”, “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”… Những câu nói này đã không còn xa lạ với mỗi chúng
ta, nó nói lên cho chúng ta thấy tầm quan trọng của thế hệ trẻ cũng như vai trò của việc giáo dục trẻ em Từ lâu giáo dục đã chiếm một vị trí quan trọng, là nền móng của sự phát triển kinh tế quốc dân, nó quyết định sự thịnh vượng của cả đất nước Trong đó giáo dục tiểu học lại càng quan trọng hơn, bởi tiểu học là một giai đoạn có ý nghĩa rất đặc biệt trong cuộc đời của một con người Trong giai đoạn giáo dục này, diễn ra sự hình thành cơ sở nển tảng về mặt nhận thức, niềm tin, lòng tự trọng và tính tự chủ Chính vì thế trong hệ thống giáo dục của mỗi Quốc gia thì bậc tiểu học là một bậc học nền tảng, là cơ sở cho sự phát triển trí tuệ cũng như nhận thức của học sinh
Tuy nhiên, thực tế cho thấy giáo dục còn nặng về lí thuyết, nhẹ về thực tiễn, chưa chú trọng đúng mức giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng Năm
2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” Đó là chuyển mạnh từ quá trình giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất của người học Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo dục
xã hội với mục tiêu phát triển con người một cách toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân
Ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng, nó góp phần vào việc hình thành và phát triển tư duy, sáng tạo, phát triển nhân cách cho người học Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học không chỉ có nhiều ứng dụng trong thực tế mà nó còn là cơ sở để học tập
Trang 6các môn học khác và để học tiếp chương trình môn Toán ở các bậc cao hơn Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện tư duy, suy luận logic, giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, suy nghĩ độc lập linh hoạt sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết của con người lao động mới như: cần cù, cẩn thận, kiên trì, ý chí vượt khó, làm việc
có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học Đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về số
tự nhiên, phân số, số thập phân và các đại lượng cơ bản Môn Toán là “chìa khóa” mở cửa cho các ngành khoa học khác và là môn học không thể thiếu trong nhà trường Trong đó chủ đề số tự nhiên là cơ sở, là nền tảng để học sinh học tiếp các chủ đề tiếp theo của môn Toán Do đó để học tốt bộ môn Toán cũng như các môn học khác và có cơ sở vững chắc để học các lớp tiếp theo thì cần phải nắm vững các kiến thức cơ bản về số tự nhiên và biết vận dụng chúng một cách linh hoạt
Tuy nhiên, trong thực tiễn, nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến mục tiêu cung cấp kiến thức môn học cho học sinh mà chưa mở rộng kiến thức đến những môn liên quan, cũng như hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh biết cách vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống Vì thế học sinh chưa có thói quen vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề xung quanh Học sinh mới chỉ đơn giản là tiếp nhận kiến thức từ thầy cô để giải các bài tập được giao Đó chỉ là hoạt động học một cách khuôn mẫu, máy móc không phát huy được sự linh hoạt sáng tạo của học sinh và học sinh không hiểu được vai trò, lợi ích của các kiến thức được học Đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư hơn trong việc chuẩn bị giáo án giảng dạy, xây dựng bài tập cho học sinh là vấn đề được chú trọng phát triển trong giáo dục hiện nay
Toán ở tiểu học nói chung và Toán lớp 4 nói riêng là một môn học trừu tượng đối với học sinh vì thế trong dạy học giáo viên phải tạo các giờ học thú
Trang 7vị, kéo gần những lí thuyết khó hiểu, những phép tính phức tạp lại gần với cuộc sống của các em, từ đó gợi hứng thú học tập cho học sinh Dạy học tích hợp là một trong những quan điểm dạy học nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại và làm cho việc học trở nên ý nghĩa hơn đối với học sinh Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp học sinh sử dụng kiến thức được học trong nhà trường vào tình huống thực tiễn, nêu bật được các cách sử dụng kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội chứ không đơn thuần là cung cấp kiến thức cho học sinh Trên thực tế, trong khi giảng dạy, hầu hết các giáo viên đều chú trọng vào việc làm sao hướng dẫn học sinh xác định được dạng Toán và giải được các bài toán đó mà ít khi khai thác các nội dung giáo dục được tích hợp trong các bài toán đó Trong khi đó việc khai thác các nội dung giáo dục trong quá trình giảng dạy của giáo viên là điều kiện tốt nhất
để hình thành ở học sinh những tình cảm, đạo đức, những hiểu biết thực tế sinh động Nếu tách rời toán học với thực tiễn, thì học sinh không bao giờ nhận thức được, cảm nhận được sâu sắc ý nghĩa của vấn đề học tập
Xuất phát từ những lí do trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy môn toán cùng với sự đổi mới giáo dục theo phương pháp tích hợp Tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 4” nhằm góp phần giúp sinh viên, giáo viên tiểu học có một cái nhìn tổng quan về dạy học tích hợp để từ
đó có thể xây dựng, sử dụng bài tập tích hợp có hiệu quả trong dạy học chủ đề
số tự nhiên nói riêng và dạy học môn Toán ở tiểu học nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4 và định hướng sử dụng hệ thống bài tập này nhằm góp
Trang 8phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học chủ đề này nói riêng và dạy học môn Toán ở tiểu học nói chung
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về tích hợp và bài tập tích hợp
- Tìm hiểu thực trạng về việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp của chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4
- Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 4 và định hướng sử dụng bài tập này
thống bài tập đã xây dựng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Số tự nhiên và các bài tập tích hợp về số tự nhiên trong chương trình
Toán 4
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài:
hướng đổi mới phương pháp dạy học
5.2 Phương pháp quan sát – điều tra
- Dự giờ, quan sát việc dạy học của giáo viên và việc học của học sinh trong quá trình xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp của chủ đề số
tự nhiên cho học sinh lớp 4
Trang 9- Điều tra bằng phiếu hỏi đối với giáo viên về việc sử dụng bài tập tích hợp ở trường tiểu học
5.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng hợp ý kiến các chuyên gia: Trao đổi và thảo luận về những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức hoạt động học tập giúp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong việc học tập môn Toán Tiểu học, đặc biệt là trong việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4
5.4 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm một số bài tập đã xây dựng để chứng minh tính hiệu quả của các bài tập đó trong giảng dạy
5.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí định lượng các số liệu, kết quả của việc điều tra và quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm minh chứng cho những nhận xét, đánh giá và tính hiệu quả của đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Nếu trong dạy học chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4 giáo viên xây dựng và sử dụng được hệ thống bài tập tích hợp một cách phù hợp thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học về chủ đề số tự nhiên nói riêng, về môn toán cho học sinh lớp 4 nói chung
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương: Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học về chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 10CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Dạy học tích hợp
1.1.1 Khái niệm
Khái niệm tích hợp
Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: integration với nghĩa: xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ [21]
Theo từ điển Anh – Anh (Oxford Advanced Learer’s Dictionany), từ integrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau Theo Từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức [20], nghĩa chung của từ integration có hai khía cạnh:
- Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng
nó không mang nghĩa là phép cộng đơn giản mà nó là sự hợp nhất một cách khoa học tạo nên sự liên kết hợp lí giữa các sự vật với nhau Trong lĩnh vực giáo dục, tích hợp là sự liên kết trên phương diện ý tưởng, phương pháp, nội dung giữa các tri thức khoa học trong nội bộ môn học, giữa bộ môn này với bộ môn khác, giữa tri thức khoa học với thực tiễn cuộc sống Tích hợp là một quan niệm giáo dục toàn
Trang 11diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối, mang đến cho người học những trải nghiệm thực sự ý nghĩa, giúp học sinh hiểu sâu vấn đề, nhận ra được sự liên kết của mọi sự vật hiện tượng, qua đó tạo cho học sinh một quá trình học tập ý nghĩa, sâu sắc và có tính ứng dụng Trong dạy học các môn bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn
học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn học mới Ví dụ, môn thế giới công
nghệ là tích hợp từ môn kĩ thuật, thủ công; môn nghệ thuật tích hợp từ âm nhạc, mĩ thuật Tích hợp cũng có thể được hiểu là sự lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học trên cơ sở kiến thức liên quan giữa các
môn học Ví dụ, dạy học sinh nhận diện các hình hình học thông qua việc giải thích
một số biển báo an toàn giao thông, dạy về tỉ số gắn với việc phân tích mối tương quan giữa các lực lượng trong một trận đánh lịch sử…
Khái niệm dạy học tích hợp
Trên thế giới và tại Việt Nam, dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu
sư phạm hiện đại Dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một
cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [13] Định nghĩa của UNESCO cho
thấy dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở học sinh những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống Nói một cách khác, dạy học tích hợp là dạy cho học sinh cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình
để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triển năng lực người học Ngoài ra, dạy học tích hợp liên hệ giữa kiến thức và kĩ năng của các chuyên ngành hoặc các môn học khác nhau để bảo đảm cho học sinh phát
Trang 12huy có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình trong việc giải quyết các tình huống tích hợp cụ thể
Theo từ điển Giáo dục học: “(Dạy học) Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”[9] Trong dạy học tích hợp, các nhà giáo dục học phân chia ra tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal integration) Tích hợp dọc là “loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”, còn tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề [9]
Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp – có vấn đề nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân [19] Trong dạy học tích hợp, học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác; học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những thao tác để giải quyết một tình huống tích hợp – thường là gắn với thực tiễn Chính nhờ quá trình đó, học sinh nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển năng lực và phẩm chất cá nhân
Như vậy, có thể nói dạy học tích hợp là tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực
Trang 131.1.2 Các mức độ tích hợp
Để giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan hơn về dạy học tích hợp, cũng như các mức độ tích hợp, Bộ GD & ĐT đã tổ chức tập huấn giáo viên về dạy học tích hợp, tài liệu tập huấn dạy học tích hợp [1] đã khái quát các mức độ tích hợp theo các quan điểm sau:
- Quan điểm của Forgaty (1991) đưa ra 3 dạng và 10 cách tích hợp:
- Quan điểm của Xavier Rogier đưa ra 4 mức độ chính sau:
tức nhằm duy trì các môn học riêng rẽ
khác nhau
môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống
những kĩ năng xuyên môn, nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi
- Quan điểm của SuSan M’Drake (2007) Xây dựng chương trình tích hợp dựa trên chuẩn, các môn học này được xây dựng theo mức độ tích hợp tăng dần
Trang 14 Tích hợp đa môn: Có các chủ đề, các vấn đề chung giữa các môn học tuy rằng các môn vẫn nghiên cứu độc lập theo góc độ riêng biệt
có những chủ đề, vấn đề, chuẩn liên môn, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn là chung
với học sinh mà không xuất phát từ môn học bằng những khái niệm chung Đặc điểm khác với liên môn là: ngữ cảnh cuộc sống thực, dựa vào vấn đề, học sinh là người đưa ra vấn đề, học sinh là nhà nghiên cứu
Như vậy, có thể tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tích hợp, nhiều cách trình bày khác nhau về tích hợp Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tôi ủng hộ quan điểm của Susan M’Drake (2007) về tích hợp Dựa trên quan điểm 5 mức độ tích hợp trong dạy học của Susan M’Drake (2007) và tìm hiểu các mức độ trong “dạy học tích hợp – phát triển năng lực”[19], tôi khái quát các mức độ tích hợp như sau:
Tích hợp trong nội bộ môn học
Tích hợp được thực hiện thông qua việc loại bỏ những nội dung trùng lặp, tập hợp các kiến thức liên quan giữa các phân môn, giữa các phần trong môn học Sử dụng kiến thức của các phân môn để khắc sâu kiến thức và kĩ năng cho học sinh Tích hợp những nội dung của các phân môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định Trong môn học, tích hợp là một đơn vị học, một tiết học hay một bài tập có nhiều mảng kiến thức, kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học Thông qua kiểu tích hợp nội bộ môn học này, người học có thể đạt được hiểu biết về các mối quan hệ giữa những phân môn khác nhau và mối quan hệ giữa chúng với thế giới xung quanh
Trang 15Ví dụ, tích hợp giữa các phân môn số học, hình học, các đại lượng cơ bản tại
một số thời điểm Chẳng hạn ứng dụng số học, các đại lượng cơ bản trong hình học khi tính diện tích chu vi và đổi các đơn vị đo độ dài
Hình 1.1 Sơ đồ xương cá
Ví dụ, khi dạy về tỉ số gắn với việc phân tích mối tương quan giữa các lực
lượng trong một trận đánh lịch sử; dạy về tỉ lệ, tỉ số, tỉ số phần trăm có thể liên kết với kiến thức về tỉ lệ các chất trong không khí, so sánh tốc độ, kích thước của một
số loài vật hoặc kết hợp với những kiến thức xã hội như tỉ lệ tăng dân số, tỉ lệ giống cây trồng của một địa phương nào đó
Trang 16 Tích hợp đa môn – “cường độ yếu”
Tích hợp đa môn tập trung vào các môn học Trong tích hợp đa môn, một đề tài có thể nghiên cứu theo nhiều môn học khác nhau, các môn liên quan với nhau
có chung một định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi một môn có một chương trình riêng Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các chuẩn kiến thức của nhiều môn học xoay quanh một chủ đề/đề tài tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp những kiến thức của các môn học có liên quan
Ở đây các môn học là riêng biệt nhưng có những liên kết có chủ đích giữa các môn học và trong từng môn học bởi các chủ đề hay các đề tài chung Đây là một hình thức tích hợp phổ biến trong đó một đề tài hoặc một chủ đề được đưa qua lăng kính của vài lĩnh vực môn học khác nhau
Tích hợp đa môn có thể được sơ đồ hóa như sau:
…………
Trang 17Khi học sinh được học về một chủ đề, đề tài nào đó, các em sẽ được tiếp cận
các kiến thức từ nhiều bộ môn khác nhau Ví dụ, khi học sinh học về hình chữ nhật
trong bộ môn Toán, đồng thời các em được học cắt xé hình chữ nhật trong môn thủ công, vẽ trang trí hình chữ nhật trong môn mĩ thuật Cùng một vấn đề học sinh được dạy ở nhiều môn cùng một lúc, tạo ra những kết nối giữa các lĩnh vực bộ môn, tức là các em sẽ giải quyết vấn đề dựa trên kiến thức thu được ở nhiều bộ môn khác nhau
Học sinh tiểu học có thể trải nghiệm cách học tích hợp đa môn này ở các góc học tập của lớp Bằng cách giáo viên tổ chức giờ học theo chủ đề, và ở mỗi góc học tập có một hoạt động cho phép học sinh tìm hiểu chủ đề từ góc nhìn của một môn học: Toán, Tiếng Việt, Khoa học,… Khi đó học sinh sẽ di chuyển qua các góc học tập để hoàn thành những hoạt động để lĩnh hội các kiến thức dưới lăng kính của nhiều môn học
Tích hợp liên môn – “cường độ trung bình”
Tích hợp liên môn là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua các lớp Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và các kĩ năng liên ngành, liên môn Họ kết nối các nội dung học tập chung nằm trong các môn học để nhấn mạnh các khái niệm và kĩ năng liên môn
Ví dụ, ở tiểu học môn tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu xã hội được tích hợp thành
môn tìm hiểu tự nhiên và xã hội
Tích hợp xuyên môn – “cường độ mạnh”
Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp Trong cách tiếp cận xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề được người học quan tâm Với tích hợp xuyên môn, học sinh có thể học và hình thành kiến thức, kĩ năng ở nhiều thời điểm và thời gian khác nhau, theo sự lựa chọn của người
Trang 18dạy hoặc người học Đây là cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với học sinh mà không xuất phát từ những khái niệm, các kiến thức khoa học tương ứng với môn học, từ đó xây dựng thành các môn học mới khác với môn học truyền thống Điều quan tâm nhất ở đây là sự phù hợp đối với học sinh Điểm khác so với tích hợp liên môn đó là chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực, dựa vào vấn đề, học sinh là người đưa ra vấn đề, học sinh là người nghiên cứu
Tiến trình dạy học ở đây là tiến trình “không môn học”, nghĩa là nội dung kiến thức bài học không thuộc về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau, do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ
Qua tích hợp xuyên môn, học sinh phát triển các kĩ năng sống khi họ áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào thực tế cuộc sống Hai phương pháp thường được sử dụng trong tích hợp xuyên môn là học theo dự án và thương lượng chương trình học
Học theo dự án là phương pháp học tập trong đó giáo viên giao một “dự án” cho người học, người học cần hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau để cùng thiết kế một chương trình hoạt động, cùng hoạt động và cùng đánh giá kết quả hoạt động Học theo dự
án giúp người học làm chủ các hoạt động học tập của mình và phát triển kĩ năng lập chương trình, thực hiện hóa chương trình, tự nhận thức, thương lượng, giải quyết vấn đề,…
Thương lượng chương trình học là phương pháp học tập trong đó có sự thỏa thuận giữa người học và người học, người học có quyền lựa chọn chương trình phù hợp với trình độ và sở thích của họ, thậm chí họ có quyền tham gia vào quá trình thiết kế chương trình học Thương lượng chương trình học giúp người học tự tin và hứng thú hơn trong học tập, giúp người dạy chọn nội dung, học liệu và phương pháp giảng dạy phù hợp với người học, giúp người quản lí thấy được chất lượng và hiệu quả của hoạt động đào tạo
Trang 19Trong đề tài này, tôi tập trung vào việc xây dựng các bài tập tích hợp thuộc mức độ tích hợp trong nội bộ môn học và lồng ghép/liên hệ
1.1.3 Vai trò của dạy học tích hợp
Hầu hết các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đều khẳng định tầm quan trọng của tích hợp trong dạy học Theo TS Nguyễn Thị Kim Dung (Dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông)[6], TS Võ Văn Duyên Em (Tích hợp trong dạy học bộ môn ở trường phổ thông)[7], PGS.TS Ngô Minh Oanh, TS Trương Công Thanh (Thực trạng dạy học tích hợp, phân hóa hiện nay và đề xuất phát triển
chương trình, sách giáo khoa cho giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015) [14]
Thứ nhất, dạy học tích hợp góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
của nhà trường Do các tri thức khoa học và kinh nghiệm của xã hội luôn phát triển không ngừng, trong khi số môn học của học sinh thì giới hạn, nội dung kiến thức trong sách không mang tính cập nhật và chưa phù hợp với tất cả học sinh Do vậy, không thể đưa quá nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường, cho dù những tri thức này là rất cần thiết Chẳng hạn những kiến thức về kĩ năng sống, về an toàn giao thông, giáo dục giới tính, bảo vệ môi trường,v.v.Vì vậy, việc sử dụng tích hợp các nội dung này để dạy cho học sinh đã góp phần thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học
Thứ hai, dạy học tích hợp giúp thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ
năng và phương pháp của các môn học Dạy học tích hợp tạo mối liên hệ trong học tập bằng việc kết nối các môn học khác nhau, nhấn mạnh đến sự phụ thuộc và mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của các môn học đó Do vậy, dạy học tích hợp là phương pháp dạy học hiệu quả để kiến thức được cấu trúc một cách có tổ chức và vững chắc
Thứ ba, tích hợp trong dạy học giúp phát triển các năng lực, đặc biệt là trí
tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy linh hoạt, vận dụng thực tiễn, vì nó luôn tạo ra các tình huống để học sinh vận dụng kiến thức gần với cuộc sống Giúp học
Trang 20sinh học tập thông minh, vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng một cách toàn diện, hài hòa và hợp lí để giải quyết các tình huống mới mẻ, đa dạng trong cuộc sống hiện đại
Thứ tư, dạy học tích hợp giúp tinh giản kiến thức tránh lặp lại các nội dung ở
các môn học Tránh những kiến thức, kĩ năng trùng lặp, phân biệt được nội dung trọng tâm và nội dung ít quan trọng, các kiến thức hình thành trong bài học gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh, tạo điều kiện để hình thành và phát triển cho học sinh một cách hài hòa ở nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, dạy học tích hợp
giúp tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn đảm bảo tính tích cực, học sâu
Thứ năm, góp phần giảm tải tâm lí học tập Giúp học sinh thấu hiểu ý nghĩa
của các kiến thức cần tiếp thu, tạo cơ hội kích thích động cơ, lợi ích và sự tham gia vào các hoạt động học Làm cho người học cảm thấy thú vị vì hoạt động học nhẹ nhàng, nội dung học gần gũi với kinh nghiệm sống của bản thân.Việc học khi đó trở thành niềm vui, hứng thú của học sinh
1.1.4 Khó khăn trong dạy học tích hợp
Qua nghiên cứu, khảo sát thực trạng việc dạy học tích hợp nói chung và sử dụng bài tập tích hợp nói riêng của các giáo viên tiểu học, tôi thấy hiện đang tồn tại một số khó khăn sau:
- Do thói quen thụ động trong quá trình dạy và học Học sinh chưa quen với việc làm chủ quá trình học, tự học hay làm việc nhóm v.v Học sinh chưa có tính độc lập, còn phụ thuộc quá nhiều vào giáo viên, chưa tự giác trong học tập
- Khó khăn từ nội tại, giáo viên phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác Với tâm lý quen dạy theo chủ đề đơn môn nên khi dạy theo chủ
đề tích hợp, liên môn, các giáo viên sẽ vất vả hơn Người dạy phải xem xét, rà soát nội dung chương trình sách giáo khoa hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu, đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp Nó cũng yêu cầu cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học trong chương trình hiện hành theo định
Trang 21hướng phát triển năng lực học sinh nên không tránh khỏi làm cho giáo viên có cảm
giác ngại thay đổi
- Điều kiện cơ sở vật chất (thiết bị thông tin, truyền thông) phục vụ cho việc dạy học trong nhà trường còn nhiều hạn chế, nhất là các trường ở nông
thôn
- Đối với học sinh, dạy học tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến trung học phổ thông nên giai đoạn đầu này, đặc biệt là thế hệ học sinh hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp
1.2 Bài tập tích hợp
1.2.1 Khái niệm bài tập tích hợp
Khái niệm bài tập: Có nhiều khái niệm bài tập đã được đề cập đến:
Trong giáo dục, theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, bài tập được định nghĩa là “bài ra cho học sinh để vận dụng những điều đã học”[15]
Theo Thái Duy Tuyên “bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà là giải đáp về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra”
Theo cố GS Nguyễn Ngọc Quang “Bài tập là hệ thống thông tin xác định, bao gồm những điều kiện và những yêu cầu luôn luôn không phù hợp với nhau, dẫn tới nhu cầu phải khắc phục bằng cách biến đổi chúng”[16]
Từ những quan niệm và ý kiến trên có thể hiểu rằng “Bài tập là một hệ thống thông tin được đưa ra một cách có vấn đề, đòi hỏi học sinh phải sử dụng những kiến thức đã có bằng cách lập luận, tư duy hay tính toán để giải quyết vấn đề”
Hiện nay, các bài tập có thể phân thành các mức độ: biết – hiểu – vận dụng – sáng tạo Từ khái niệm về bài tập, theo tôi bài tập toán là những câu hỏi hay bài toán về lĩnh vự toán học được sử dụng như là các vấn đề hoặc các tình huống học tập để học sinh suy luận, tư duy dựa trên nhưng kiến thức đã học Mục tiêu là khi
Trang 22hoàn thành những câu hỏi hay bài toán này, học sinh sẽ nắm và khắc sâu được kiến thức đã học và rèn được một số kĩ năng nhất định
Khái niệm bài tập tích hợp:
Theo Phan Đồng Châu Thủy bài tập tích hợp là “dạng bài tập không chú trọng vào kĩ năng tính toán mà tập trung vào việc vận dụng các kiến thức liên môn để giải quyết giải thích các vấn đề thực tiễn cuộc sống hoặc học tập.”
Theo tôi, để phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài, tôi quan niệm: “Bài tập tích hợp là dạng bài tập không chú trọng vào kiến thức môn học mà tập trung vào sự kết hợp giữa các nội dung trong cùng một môn học hay giữa các nội dung trong nhiều môn học để giải quyết một vấn đề trong thực tiễn cuộc sống hoặc trong học tập.”
Ví dụ: Một xã có 5256 người Sau một năm số dân tăng thêm 79 người Sau
một năm nữa số dân lại tăng thêm 71 người Hỏi:
a) Sau hai năm số dân của xã đó tăng thêm bao nhiêu người?
b) Sau hai năm số dân của xã đó có bao nhiêu người? (Bài 4 – Sách giáo khoa Toán 4 trang 46)
Đây là bài toán có tích hợp vấn đề gia tăng dân số
1.2.2 Vai trò của bài tập tích hợp
- Bài tập tích hợp giúp phát triển một số năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tính toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ, giúp phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo,
tư duy khoa học thông qua việc phối hợp vận dụng các kiến thức của các môn khoa học có liên quan Điều đó góp phần phát triển tư duy, nâng cao khả năng hiểu biết thế giới của học sinh lên một tầm cao mới, giúp học sinh có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại
- Bài tập tích hợp giúp học sinh hệ thống và liên hệ các kiến thức khoa học với nhau Từ đó học sinh ghi nhớ kiến thức một cách hệ thống, sâu sắc
Trang 23- Các bài tập theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng Làm việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với học sinh, đem lại hứng thú học tập cho học sinh
- Bài tập tích hợp giúp đánh giá kết quả quá trình dạy – học của giáo viên và học sinh Đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức và trình độ phát triển tư duy của học sinh
Như vậy, hiệu quả của việc dạy học sẽ phụ thuộc vào việc khai thác và thực hiện một cách đầy đủ các chức năng khác nhau của bài tập mà người Thầy đã thiết
kế, xây dựng
1.2.3 Phương pháp chung giải bài tập tích hợp
Dựa trên nhưng tư tưởng tổng quát cùng những gợi ý chi tiết của G.Polya[8]
về cách thức giải toán chung và qua quá trình giải và hướng dẫn giải cho học sinh Tôi đưa ra phương pháp chung để giải bài tập tích hợp gồm 4 bước như sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài
- Xác định giả thiết, kết luận Phân tích đề xem bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Bài tập có những nội dung tích hợp gì? (tích hợp kiến thức thực tiễn? hay tích hợp môn học khác?)
- Chuyển từ bài tập tích hợp về bài tập toán học thuần túy
- Có thể dùng công thức, kí hiệu, hình vẽ để hỗ trợ cho việc diễn tả đề bài
Ví dụ: Một tấm kính hình chữ nhật có chiều rộng 30 cm, chiều dài gấp đôi
chiều rộng Tính diện tích của tấm kính đó (Bài 4 – Sách giáo khoa Toán 4 – trang 62)
Phân tích đề bài:
- Bài tập tích hợp nội dung thực tiễn: Tính diện tích một tấm kính
- Chuyển về bài tập toán học:
Hãy tính : diện tích hình chữ nhật, biết
Chiều rộng: 30 cm
Trang 24Chiều dài : gấp đôi chiều rộng
Bước 2: Tìm cách giải bài tập toán học
Để tìm được một hướng giải, ta hãy đặt các câu hỏi mang tính tìm tòi, dự đoán như:
- Ta đã gặp bài toán tương tự chưa? Đây là dạng bài toán nào?
- Từ giả thiết thì ta được kết quả gì khác? Những giả thiết đó có gợi cho ta đến một định lí hay một bài toán liên quan nào không?
Ví dụ: (Tiếp tục phân tích ví dụ ở bước 1.)
- Đây là dạng toán tính diện tích hình chữ nhật
- Từ giả thiết ta tìm được chiều dài của hình chữ nhật, và sử dụng công thức tính diện tích hình chữ nhật để tìm ra kết quả bài toán
Bước 3: Trình bày lời giải
- Trước khi trình bài lời giải cần chuyển ngôn ngữ toán học về ngôn ngữ bài toán tích hợp Sau đó trình bày lời giải hoàn chỉnh
Ví dụ: “Diện tích hình chữ nhật” chuyển về “Diện tích tấm kính”
“Chiều rộng hình chữ nhật” chuyển về “chiều rộng tấm kính”
“Chiều dài hình chữ nhật” chuyển về “chiều dài tấm kính”
Bài giải Chiều dài của tấm kính là:
30 x 2 = 60 (cm) Diện tích của tấm kính hình chữ nhật là:
Bước 4: Nghiên cứu lời giải sâu
- Bài tập tích hợp đã giúp ta củng cố và khắc sâu những kiến thức nào?
- Nghiên cứu giải bằng nhiều cách khác
Trang 25- Nghiên cứu khả năng ứng dụng kết quả của lời giải (bạn có thể áp dụng bài toán này để giải các bài toán tương tự, các bài toán khái quát,…)
Ví dụ: Bài tập tích hợp trên đã củng cố lại cách tính diện tích hình chữ nhật,
gấp một số lên nhiều lần, nhân với số có số tận cùng là chữ số 0 Bên cạnh đó còn giúp ta biết cách vận dụng toán học vào thực tiễn (tính diện tích các đồ vật)
1.3 Thực trạng dạy học các bài tập tích hợp về số tự nhiên ở khối lớp 4
1.3.1 Khái quát về khảo sát thực trạng
Mục đích khảo sát:
- Tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp trong giảng dạy chủ đề số tự nhiên nói riêng, trong giảng dạy môn Toán 4 ở tiểu học nói chung
Đối tượng khảo sát: Các giáo viên giảng dạy ở trường tiểu học Đồng Xuân, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Thời gian khảo sát: Từ tháng 3/2018 đến tháng 4/2018
Phương pháp khảo sát: Tôi sử dụng phương pháp điều tra và tổng kết kinh nghiệm Ngoài việc trao đổi trực tiếp với giáo viên tiểu học, tôi còn sử dụng phiếu điều tra Cụ thể như sau:
- Xây dựng phiếu điều tra (phụ lục 1) nhằm đánh giá thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên
- Phát phiếu tới từng giáo viên
- Thu lại phiếu sau đó tổng hợp và xử lí thông tin về thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên trên cơ sở phần trả lời phiếu của giáo viên
- Đánh giá thực trạng
Nội dung khảo sát:
Khảo sát về tình trạng sử dụng hệ thống bài tập tích hợp cho học sinh lớp 4 bao gồm những vấn đề sau:
Trang 26- Hiểu biết về bài tập tích hợp
- Tính thường xuyên trong việc xây dựng và sử dụng các bài tập cơ bản hay các bài tập tích hợp
- Hệ thống bài tập về chủ đề số tự nhiên mà giáo viên thường xuyên sử dụng
1.3.2 Kết quả điều tra
Số phiếu phát ra và thu vào là 20
Bảng 1: Hiểu biết của giáo viên về bài tập tích hợp
Bài tập có nội dung liên quan đến các vấn đề phức
Bảng 2: Ý kiến của giáo viên về những điểm khác biệt của bài tập tích hợp so
với bài tập thông thường
Trang 27Từ bảng 1 và bảng 2 tôi thấy giáo viên đã có một cách nhìn đúng đắn về bài tập tích hợp Bài tập tích hợp là sự kết hợp giữa các nội dung trong cùng một môn học hay giữa các nội dung trong nhiều môn học để giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống hoặc trong học tập Đây là dạng bài tập có tính vấn đề cao, tích lũy nhiều kiến thức, nó đòi hỏi khả năng huy động mọi nguồn lực của bản thân và khả năng vận dụng linh hoạt, vì thế nó có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, giúp phát huy tối đa các kĩ năng phân tích, suy luận
Bảng 3: Ý kiến của giáo viên về việc sử dụng bài tập tích hợp trong quá
Từ bảng 3 và bảng 4 tôi thấy đa số giáo viên đều nhận thấy sự cần thiết của bài tập tích hợp trong dạy học về số tự nhiên Tuy nhiên, việc sử dụng bài tập tích hợp của giáo viên chỉ đạt mức độ ít khi
Trang 28Bảng 5: Các nguồn tài liệu về bài tập tích hợp mà giáo viên thường sử dụng
Từ bảng 5, bảng 6, tôi thấy giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc xây dựng
và sử dụng bài tập do gặp phải nhiều khó khăn như: xác định chủ đề tích hợp, thiếu nguồn tài liệu tham khảo, khó lồng ghép vào nội dung bài học, tốn nhiều thời gian
và công sức và khó kiểm tra đánh giá
Trang 29Bảng 7: Quan điểm của giáo viên về vai trò của bài tập tích hợp
Không quan trọng
Phương tiện để kiểm tra
kiến thức, kĩ năng của
Phối hợp hợp lí các bài tập tích hợp với
Trang 30Từ bảng 7 và bảng 8, tôi thấy giáo viên đã hiểu rõ về các vai trò của bài tập tích hợp cũng như các biện pháp để nâng cao hiệu quả của bài tập khi sử dụng Vì đây là dạng bài tập khá mới mẻ nên giáo viên cần phối hợp hợp lí với các bài tập truyền thống và cần hướng dẫn các em phân tích các kiến thức liên môn để giải bài tập Cùng với đó, giáo viên cần sử dụng các bài tập hướng đến vấn đề mà học sinh quan tâm, đổi mới các phương pháp dạy học cho phù hợp Tuy nhiên, để dạy học được thuận lợi rất cần sự đổi mới về nội dung kiểm tra đánh giá và sự không ngừng học hỏi nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên
Bảng 9: Thái độ của học sinh khi làm các bài tập tích hợp
lượng
Phần trăm
Trang 31Từ bảng 9 tôi thấy đa số học sinh tiếp nhận các bài tập tích hợp rất tốt, có thái độ tích cực trong học tập, thích thú giải toán Tuy nhiên vẫn còn tình trạng học sinh chán nản, không hiểu hay không giải được bài tập Theo tôi, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh phân tích đề kĩ hơn và lựa chọn các bài tập gắn với những vấn
đề mà học sinh quan tâm để tạo hứng thú cho học sinh
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến từ giáo viên
về việc sử dụng bài tập tích hợp cho học sinh một cách hiệu quả hơn như sau:
- Về giáo viên:
+ Giáo viên phải luôn học hỏi, mở rộng hiểu biết, cập nhật thông tin
+ Giáo viên phải được đào tạo tập huấn về dạy học tích hợp
+ Giáo viên cần khéo léo khai thác các mâu thuẫn trong các tình huống có vấn đề sao cho phù hợp với trình độ của từng học sinh
- Về bài tập:
+ Sử dụng bài tập có liên quan đến cuộc sống gần gũi, có tính thời sự từ đó cho học sinh thấy ý nghĩa của việc học tập
+ Cần tăng cường sử dụng bài tập tích hợp trong các bài kiểm tra
+ Sử dụng bài tập với mức độ khó vừa phải và phù hợp với năng lực, khả năng tư duy của học sinh
Trang 32học sinh Bên cạch đó, tôi cũng nắm được những khó khăn mà giáo viên thường gặp phải khi xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp Cơ sở thực tiễn này giúp tôi định hướng xây dựng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4 với mong muốn mang lại hiệu quả tốt trong quá trình dạy học chủ đề số tự nhiên ở lớp 4 và là cơ sở để các thầy cô tham khảo xây dựng các bài tập tích hợp cho học sinh
Trang 33Kết luận chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của
đề tài Để tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài, chúng tôi đã nghiên cứu các tài liệu, các
đề tài có cùng hướng nghiên cứu
Tôi đã trình bày một số vấn đề vầ dạy học tích hợp như khái niệm tích hợp, dạy học tích hợp, các mức độ tích hợp, các ưu điểm và hạn chế của dạy học tích hợp
Tiếp đó, tôi nghiên cứu về bài tập tích hợp, đưa ra các khái niệm về bài tập, bài tập toán, bài tập tích hợp; vai trò và phương pháp chung để giải bài tập tích hợp
Để tìm hiểu cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng về việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4 Từ đó tôi rút ra một số nhận xét quan trọng: việc sử dụng bài tập tích hợp cho học sinh hiện nay là rất cần thiết, tuy nhiên giáo viên ít khi sử dụng loại bài tập này trong dạy học; việc giải bài tập tích hợp chưa tạo được hứng thú cho học sinh, học sinh chưa biết cách vận dụng những kiến thức đã học vào những tình huống mới, tính huống mang tính thực tiễn
Tất cả những vấn đề trên là nền tảng cơ sở cho phép tôi khẳng định sự cần thiết phải thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học chủ đề số tự nhiên nói riêng, về môn Toán 4 ở tiểu học nói chung
Trang 34CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC
CHỦ ĐỀ SỐ TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH LỚP 4 2.1 Mục tiêu dạy học số tự nhiên ở lớp 4
* Kiến thức:
- Học sinh biết được khái niệm lớp tỉ
- Học sinh nắm được các quy tắc thực hiện phép nhân, chia số có nhiều chữ
số với số có không quá 3 chữ số
- Học sinh nắm được các dấu hiệu chia hết cho 2,3,5,9
- Có kiến thức về các biểu thức chứa chữ
* Kĩ năng:
- Học sinh biết đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên
- Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên
- Biết cộng trừ không nhớ trong phạm vi lớp triệu
- Biết nhân số tự nhiên với số tự nhiên có tích không quá 6 chữ số
- Biết chia số tự nhiên có 6 chữ số cho số tự nhiên có 3 chữ số
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính khi biết kết quả của phép tính và thành phần kia
- Biết tính giá trị của biểu thức số có 3 dấu phép tính (có hoặc không có dấu ngoặc) và biểu thức có chứa một, hai, ba chữ dạng đơn giản
- Biết vận dụng tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng và phép nhân, tích chất nhân một tổng với một số để tính bằng cách thuận tiện nhất
- Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân với 10, 100, 1000,…; chia cho 10, 100, 1000,…; nhân số có hai chữ số với 11
- Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2,5,3,9
* Thái độ:
- Học sinh có thái độ tích cực và yêu thích môn học
Trang 352.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4
2.2.1 Khái quát một số vấn đề về số tự nhiên trước lớp 4
Số tự nhiên đƣợc dạy học từ lớp 1 đến hết học kì I của lớp 4 theo kiểu “đồng tâm và mở rộng dần” (tức là theo hình xoắn ốc) với các vòng số nhƣ: các số đến
10, đến 100, đến 1000, đến 10 000, đến 100 000, đến các số có nhiều chữ số có nhiều chữ số[12]
Ở vòng số nào cũng dạy học về đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số và ngầm giới thiệu một số đặc điểm của dãy số tự nhiên, hệ thập phân qua các ví dụ cụ thể
Ở vòng các số càng lớn thì mức độ trừu tƣợng, khái quát của các kiến thức nêu trên càng cao hơn[12]
2.2.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4
Về số tự nhiên:
- Củng cố về đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 100 000 (tức là các số có năm chữ số)
- Đọc, viết các số có đến sáu chữ số, các số thuộc lớp triệu; giới thiệu về tỉ, đọc, viết các số tròn tỉ
- So sánh các số có đến sáu chữ số, xếp thứ tự các số tự nhiên
- Giới thiệu dãy số tự nhiên và một số đặc điểm của dãy số tự nhiên
- Giới thiệu về viết số tự nhiên trong hệ thập phân
- Dấu hiệu chia hết cho 2; 5; 9; 3 Số chẵn, số lẻ
Về các phép tính với số tự nhiên:
- Phép cộng và phép trừ các số có đến sáu chữ số
- Tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép cộng
- Phép nhân số có đến sáu chữ số với số có một, hai, ba chữ số, tích có không quá sáu chữ số
- Tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của phép nhân; tính chất nhân một số với một tổng
Trang 36- Phép chia số có đến sáu chữ số cho số có một, hai, ba chữ số (chia hết và chia
có dư)
- Tính giá trị biểu thức có đến ba dấu phép tính (có hoặc không có ngoặc)
Tính giá trị biểu thức chứa một, hai, ba chữ (dạng đơn giản)
- Tìm một thành phần chưa biết của phép tính Tìm x, biết x < a hoặc
a < x < b với a, b là các số tự nhiên thích hợp
2.3 Nguyên tắc của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp
TS.Phan Đồng Châu Thủy [18] , TS Dương Minh Thành [17] , PGS.TS
Ngô Minh Oanh [14] đã đưa ra những nguyên tắc để xây dựng các bài tập tích hợp
phù hợp với chương trình, phù hợp với học sinh và phù hợp với giảng dạy Tổng
hợp các nguyên tắc đó cùng với việc trực tiếp xây dựng các bài tập tích hợp, tôi
đưa ra các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng
của các môn liên quan Nghĩa là bài tập tích hợp phải xây dựng hướng đến mục
tiêu môn học, mục tiêu kiến thức của các môn khoa học liên quan Các bài tập tích
hợp cần có nội dung sát với chương trình mà học sinh được học Nếu bài tập tích
hợp có nội dung hoàn toàn mới sẽ gây khó khăn cho học sinh và không tạo được
động lực cho học sinh để giải bài tập đó
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực hiện, tính vừa sức, phù hợp với trình độ
nhận thức của học sinh Mỗi học sinh đều có nhu cầu, trình độ nhận thức khác
nhau Vì thế giáo viên phải đưa ra bài tập phù hợp với các em, tránh tình trạng bài
tập quá khó gây ra sự sợ hãi, chán nản hay bài tập quá dễ dẫn đến học sinh chủ
quan Giáo viên có thể phân loại học sinh trong lớp để cho các nhóm bài tập phù
hợp đến các em
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn Bài tập đưa ra
cần chứa đựng vấn đề liên quan đến cuộc sống hoặc học tập của học sinh Nếu bài
tập có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm đời sống và môi trường
Trang 37xung quanh học sinh thì sẽ tạo cho họ động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi tiếp nhận
và giải quyết vấn đề
- Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác và khoa học Trong một bài tập tích hợp, bên cạnh nội dung toán học, còn có những dữ liệu thực tiễn và nội dung các môn học khác Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác, không tùy tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán
- Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức phổ thông trong chương trình học nên khi xây dựng bài tập tích hợp có tích hợp yếu tố thực tiễn cần phải có bước xử lí sư phạm để làm đơn giản tình huống thực tiễn cho phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh
2.4 Cách thiết kế bài tập tích hợp
Cách 1: Tham khảo các bài tập trong sách giáo khoa, sách tham khảo Chọn
một bài tập, giữ nguyên nội dung bài tập hoặc dạng bài tập, thay đổi số liệu và một
- Bài tập tôi thiết kế dựa trên bài tập trên như sau:
Năm 2018, kỉ niệm 1050 năm thành lập Nhà nước Đại Cồ Việt Như vậy, Nhà nước Đại Cồ Việt được thành lập năm bao nhiêu, thuộc thế kỉ bao nhiêu?
Cách 2: Tham khảo các bài tập trong sách giáo khoa, sách tham khảo Chọn
một bài tập, nghịch đảo giữa giả thiết (cái đã cho) và kết quả (cái cần tìm)
Ví dụ:
- Xuất phát từ bài tập 4 (sách giáo khoa Toán 4 – trang 39):
Trang 38Một huyện trồng 325 164 cây lấy gỗ và 60830 cây ăn quả Hỏi huyện đó trồng được tất cả bao nhiêu cây?
- Bài tập tôi thiết kế dựa trên bài tập trên như sau:
Một huyện trồng tất cả 385 994 cây, trong đó có 325 164 cây lấy gỗ, còn lại
là cây ăn quả Hỏi huyện đó trồng được bao nhiêu cây ăn quả?
Cách 3: Từ một bài toán hay phép tính đơn thuần, đưa thêm yếu tố thực tiễn
hoặc liên môn vào
Ví dụ 1:
- Xuất phát từ bài toán:
Một hình chữ nhật có chiều dài 80 dm, chiều rộng bằng nửa chiều dài Tính chu vi hình chữ nhật đó
- Bài tập tôi thiết kế dựa trên bài tập trên như sau:
Một mảnh vườn hình chữ nhật có chiều dài là 80 m, chiều rộng bằng nửa chiều dài Hỏi cần bao nhiêu chiếc cọc để rào xung quanh mảnh vườn? (biết rằng mỗi chiếc cọc cách nhau 1m)
Ví dụ 2:
- Xuất phát từ phép tính: 203 650 – 78 704=124 946
- Bài tập tôi thiết kế dựa trên phép tính trên như sau:
Trong phong trào “Tết trồng cây”, năm nay học sinh của một tỉnh trồng được
203 650 cây, năm ngoái trồng được ít hơn năm nay 78 704 cây Hỏi cả hai năm học sinh của tỉnh đó trồng được bao nhiêu cây?
Cách 4: Xuất phát từ các vấn đề thực tiễn, các vấn đề của các môn học khác
cần toán học xử lí (cần tính toán, so sánh, đo lường,….)
Trang 39Một ô tô cứ đi 15 km thì tiêu hao hết 1l xăng, giá tiền 1l xăng là 12 000
đồng Tính số tiền phải mua xăng để ô tô đó đi được quãng đường 150 km
Ví dụ 2:
- Xuất phát từ vấn đề của môn học khác: Trong môn địa lí 4 cần so sánh chiều cao của các dãy núi
- Bài tập tôi thiết kế dựa trên vấn đề trên như sau:
Viết số thích hợp vào chỗ chấm và trả lời câu hỏi
Đỉnh núi Phan – xi – păng (Việt Nam) cao 3143m, hay … km… m
Đỉnh núi Kinabalu (Malaysia) cao 4095m, hay ….km… m
Hỏi đỉnh núi nào cao hơn và cao hơn bao nhiêu m?
2.5 Quy trình xây dựng bài tập tích hợp
Sau khi tham khảo các bước xây dựng bài tập tích hợp của TS Phan Đồng Châu Thủy [18], và nghiên cứu tài liệu “Một số ý tưởng tích hợp trong dạy học Toán ở tiểu học” – Dương Minh Thành và Trương Thị Thúy Ngân [17] cùng với quá trình thực tế xây dựng bài tập tích hợp, tôi xin đề xuất quy trình gồm các bước sau:
Khi thiết kế mục tiêu cho bài tập tích hợp, giáo viên cần lưu ý:
- Không nên đưa quá nhiều mục tiêu về kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau mà cần chọn lọc những mục tiêu trọng tâm nhất
Trang 40- Nên thể hiện rành mạch nội dung đặc thù của bài tập “ chính” và mục tiêu tích hợp
Trong đề tài này tôi xây dựng hệ thống bài tập tích hợp về chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4 với mục tiêu chủ yếu sau:
quan, để giải quyết các bài toán trong chủ đề khác
- Vận dụng được các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, nhằm phát triển năng lực, kĩ năng xã hội cho học sinh
đề số tự nhiên với các đại lượng đo lường, các nội dung hình học
Việt, Đạo đức, Tiếng Anh
Bước 2: Xác định dạng bài tập trong chủ đề số tự nhiên
Giáo viên cần xác định các dạng bài tập trong chủ đề số tự nhiên hoặc các dạng mức độ tích hợp để xây dựng các bài tập theo từng dạng
Giáo viên cần thực hiện rà soát, đối chiếu chuẩn kiến thức, kĩ năng, chương trình của các môn học để tìm kiếm và chọn lọc các nội dung kiến thức có liên quan, từ đó đưa vào xây dựng thành bài tập tích hợp
Ngoài ra, không chỉ tìm nội dung tích hợp từ những môn học khác mà có thể tích hợp các tri thức khoa học với các kiến thức thực tiễn xung quanh học sinh, hay các kiến thức trong hệ thống của một môn học