1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện

75 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu một khâu trong bốn hành động đọc hiểu với đề tài: “rèn luyện kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình dạy

Trang 1

\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU

PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT CHO

HỌC SINH LỚP 5 TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Trang 2

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân đã dành tình cảm, cổ vũ, động viên giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “ Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện” là kết quả mà tôi tôi đã trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tôi

có sử dụng một số tài liệu của một số tác giả để tham khảo Đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra được những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Tôi xin cam đoan đây là kết quả của cá nhân tôi, hoàn toàn không trùng khớp với kết quả của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Trang 4

KÍ HIỆU

Kí hiệu Giải thích

GV Giáo viên

HS Học sinh TV5 Tiếng Việt 5

NXB Nhà xuất bản

SL Số lƣợng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.1.1 Kĩ năng 6

1.1.1.2 Văn bản 7

1.1.1.3 Văn bản truyện 8

1.1.1.4 Một số mô hình đọc hiểu văn bản truyện 8

1.1.1.5 Phương thức biểu đạt 10

1.1.1.5.1 Các phương thức biểu đạt 10

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ 14

1.1.2.1 Lí luận về ngôn ngữ học cấu trúc và văn bản truyện nhìn từ ngôn ngữ học cấu trúc 14

1.1.2.2 Lí luận về ngữ dụng học và văn bản truyện nhìn từ ngữ dụng học 16

1.1.2.2.1 Lí luận về ngữ dụng học 16

1.1.2.2.2 Văn bản truyện nhìn từ ngữ dụng học 17

1.1.3 Cơ sở văn học 18

1.1.3.1 Đọc hiểu văn bản truyện theo lí thuyết tiếp nhận văn học 18

Trang 6

1.1.3.2 Đọc hiểu văn bản truyện theo lí thuyết ứng đáp 19

1.1.4 Cơ sở giáo dục 19

1.1.4.1 Đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phát triển cá tính và khai thác tiềm năng trong mỗi người học 19

1.1.4.2 Dạy học theo lí thuyết kiến tạo 22

1.1.4.2.1 Khái niệm 22

1.1.4.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học theo Lý thuyết kiến tạo 22

1.1.4.2.3 Hoạt động của giáo viên trong dạy học theo lí thuyết kiến tạo 24

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 5 25

1.2.2 Quy trình dạy Tập đọc lớp 5 26

1.2.3 Thực trạng việc dạy học đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình đọc hiểu văn bản truyện 29

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT CHO HỌC SINH LỚP 5 TRONG QUÁ TRÌNH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN 33

2.1 Biện pháp rèn kĩ năng nhận biết cái hay cái đẹp trong nghệ thuật biểu đạt qua nhân vật, quan hệ giữa các nhân vật trong văn bản truyện Xác định nhân vật chính Nhận ra vẻ ngoài của nhân vật, lời nói, ý nghĩ, hành động của nhân vật 33

2.1.1 Biện pháp củng cố kiến thức nền về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn bản truyện cho học sinh trong các giờ tập đọc 33

2.1.2 Biện pháp sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập để hướng dẫn học sinh phân tích nhân vật 35

2.1.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi 36

2.1.2.2 Xây dựng bài tập đóng vai 37 2.2 Biện pháp rèn kĩ năng nhận ra cái hay cái đẹp trong biểu đạt diễn biến của câu chuyện (cốt truyện) Kể tóm tắt diễn biến câu chuyện Cảm nhận được bước đầu về câu chuyện (hay/không hay; thích/ không thích; thích nhất chi tiết nào, đoạn nào) 38

Trang 7

2.2.1 Đọc văn bản và tóm tắt văn bản ngắn gọn ( Giải pháp này thường dành cho

học sinh khá , giỏi) 39

2.2.1.1.Yêu cầu chung 39

2.2.1.2 Cách tiến hành 39

2.2.2 Cho dữ kiện sẵn ( Nhân vật, nội dung chính, sự việc cơ bản) sau đó yêu cầu học sinh tóm tắt ( Áp dụng với học sinh trung bình, yếu) 40

2.2.2.1 Yêu cầu chung: 40

2.2.2.2 Cách tiến hành: 40

2.2.3 Giáo viên giới thiệu tranh ảnh ( dùng bảng phụ hoặc máy chiếu) để học sinh dựa vào đó tóm tắt 41

2.2.3.1 Yêu cầu chung: 41

2.2.3.2 Cách tiến hành 42

2.3 Biện pháp rèn luyện kĩ năng nhận ra cái hay cái đẹp của biện pháp tu từ và giá trị biểu đạt của biện pháp tu từ trong văn bản truyện 42

2.3.1 Phép tu từ so sánh 42

2.3.1.1 Cách nhận biết 42

2.3.1.2 Cách tìm giá trị biểu đạt 43

2.3.2 Phép tu từ ẩn dụ: 45

2.3.3 Phép tu từ nhân hóa 46

2.4 Biện pháp rèn kĩ năng nhận ra giá trị của các phương thức biểu đạt trên văn bản: đoạn kể, đoạn tả, đoạn biểu cảm, đoạn lập luận, đoạn đối thoại, đoạn độc thoại Đọc diễn cảm để thể hiện sự khác biệt của các phương thức biểu đạt 48

2.4.1 Rèn kĩ năng phân tích văn bản, tác phẩm: 49

2.4.2 Rèn kĩ năng tìm ngữ điệu 50

2.4.3 Rèn kĩ năng thể hiện giọng đọc 51

Tiểu kết 53

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54

3.1 Mục đích thực nghiệm 54

Trang 8

3.2 Địa điểm, đối tƣợng thực nghiệm 54

3.3 Nội dung thực nghiệm 54

3.4 Kết quả thực nghiệm 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 9

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài

- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa

Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học Đây

là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc - một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên - bậc Tiểu học Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản, giúp họ giao tiếp được với thế giới bên ngoài, với người khác; thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, các em không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn

Năng lực đọc của học sinh được tạo nên từ bốn kỹ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc trôi chảy, đọc có ý thức (đọc hiểu)

và đọc diễn cảm Trong bốn kỹ năng đó, kỹ năng đọc hiểu được coi là một kỹ năng cực kỳ quan trọng, nó là “bậc thang cuối cùng” để giúp cho học sinh đạt được yêu cầu và chất lượng cao nhất của việc đọc - đọc diễn cảm Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu sâu sắc, thấu đáo các văn bản được đọc thì học sinh mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh

Trang 10

hội những tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản, có công cụ để lĩnh hội tri thức khi học các môn học khác trong nhà trường Chính nhờ biết cách đọc hiểu văn bản mà học sinh dần dần có khả năng đọc để tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về cuộc sống, từ đó hình thành thói quen, hứng thú với việc đọc sách, với việc tự học thường xuyên

- Theo dự thảo đề xuất Chương trình Tiếng Việt tiểu học sau 2015, đọc hiểu

văn bản văn học gồm bốn hành động:

1/ Đọc hiểu ngôn từ Nhận diện ngôn từ trong văn bản Hiểu nghĩa từ ngữ

trong văn bản Nhận biết chi tiết quan trọng trong truyện: thời gian, không gian, nhân vật, sự việc chính

2/ Đọc hiểu quan hệ liên nhân Nhận xét nhân vật trong truyện Nhận xét

người phát ngôn trong văn bản Tác giả muốn người đọc có nhận thức gì, hành động

gì, thái độ tình cảm gì

3/ Đọc hiểu phương thức biểu đạt Nhận biết cái hay cái đẹp trong nhân vật,

chi tiết, biện pháp tu từ, cốt truyện, tình huống có xung đột, các phương thức biểu đạt trong văn bản (tả, kể, biểu cảm, thuyết minh, lập luận, đối thoại)

4/ Liên hệ so sánh ngoài văn bản Nêu những điều cần học, cần tránh qua

nhân vật Nêu những tác động làm thay đổi nhận thức, tình cảm, hành vi của bản thân

và người xung quanh do truyện, kịch, thơ, bài miêu tả mang lại

Bốn hành động này liên quan với nhau, tác động vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo ra hiệu quả đọc hiểu

Trong khi đó, ở trường tiểu học việc dạy đọc hiểu bên cạnh những thành công còn nhiều hạn chế Học sinh của chúng ta chưa đọc được như mong muốn Học sinh đọc mà không nắm được điều gì là cốt lõi trong văn bản Kết quả đọc của học sinh chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành một kỹ năng giao tiếp quan trọng Một số giáo viên cũng còn lúng túng khi dạy kỹ năng đọc hiểu: Làm thế nào để các em hiểu một cách chân thực và sâu sắc văn bản được đọc, để những gì đọc được tác động vào chính cuộc sống của các em? Vận dụng những phương pháp

Trang 11

dạy học nào để nâng cao chất lượng kỹ năng đọc hiểu? Dạy với thời lượng bao lâu

là phù hợp? Đó là những băn khoăn, trăn trở của giáo viên trong mỗi giờ dạy Tập đọc

Bên cạnh đó, các tài liệu hướng dẫn, sách giáo viên môn Tiếng Việt ở tiểu học đã cung cấp những hiểu biết chung, nội dung hiểu của từng văn bản cũng như các định hướng gợi mở cho giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu Tuy nhiên, khi dạy, cả giáo viên và học sinh đều lúng túng và gặp nhiều khó khăn, học sinh sau khi học xong chưa có khả năng đọc hiểu các văn bản cùng loại ngoài chương trình

Chính vì thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu một khâu trong bốn hành động

đọc hiểu với đề tài: “rèn luyện kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu dạy đọc hiểu trong hoạt động dạy Tập đọc nói chung đã có một

số tác giả với một số công trình đã được công bố như sau:

“Dạy văn cho học sinh Tiểu học” (1997), NXB Giáo Dục, Hà Nội của tác giả Hoàng Hòa Bình

“Dạy học Tập đọc ở Tiểu học” (2001) NXB Giáo dục của Lê Phương Nga

“Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học” (2001) NXB Giáo dục của tác giả Lê Hữu Tỉnh và Trần Mạnh Hướng

“Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học” (2002) NXB ĐHQG Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Hạnh

“Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới” (2002) NXB Giáo dục của tác giả Nguyễn Trí

“Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2” (2004) Lê Phương Nga – Nguyễn Trí “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” NXB ĐHSP – NXB Giáo dục – Bộ GD&ĐT – dự án phát triển giáo viên Tiểu học

Trang 12

“Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ tiểu học” của tác giả Hoàng Hòa Bình và Nguyễn Minh Thuyết, NXB GD Việt Nam

Tất cả các công trình trên đã làm rõ được lí luận về đọc hiểu và cũng đề xuất những bước đi trong dạy học đọc hiểu nhưng chưa có định hướng để phát triển năng lực học sinh từ kỹ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt trong văn bản truyện Đây là khoảng trống mà khóa luận chúng tôi đi sâu xem xét

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng các biện pháp để học sinh lớp 5 có khả năngnhận biết, phân tích cái hay cái đẹp trong các phương tiện biểu đạt của truyện gồm nhân vật, chi tiết, biện pháp tu từ, cốt truyện, tình huống có xung đột và các phương thức biểu đạt trong văn bản góp phần nâng cao chất lượng giờ tập đọc theo định hướng phát triển năng lực học sinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quá trình dạy học đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh trong dạy học tập đọc văn bản truyện

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động khảo sát thực tiễn và thực nghiệm được giới hạn trong phạm vi học sinh lớp 5 trường tiểu học Tiến Thịnh B

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn vấn đề dạy học đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện

- Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn để tìm ra các biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình dạy học tập đọc văn bản truyện

- Dạy thực nghiệm một số giờ dạy tập đọc trong đó tập trung vào nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu

- Phương pháp tổng hợp các vấn đề lí thuyết

- Phương pháp điều tra khảo sát

Trang 13

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của khóa luận gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu kĩ năng đọc hiểu

phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện

Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt cho

học sinh lớp 5 trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Kĩ năng

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của từng người Nổi bật lên trong các nghiên cứu là hai dòng quan niệm: một, coi KN là mặt kĩ thuật của thao tác, hành động hay hoạt động, hai là coi KN còn là biểu hiện mặt năng lực

của con người

Ở dòng quan điểm thứ nhất, coi KN là mặt kĩ thuật của thao tác, hành động hay

hoạt động, nổi bật lên là các tác giả V.A.Krutretxki (Nga) cho rằng: “KN là thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những kĩ thuật, những phương thức đúng đắn” Theo L Đ Lêvitôv nhà tâm lí học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất dịnh” Theo ông, người có kĩ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động và phải vận dụng vào thực tế

Ở dòng quan điểm thứ hai, coi KN không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành

động mà nó còn là biểu hiện mặt năng lực của con người Theo cách hiểu này, KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính sáng tạo và tính mục đích

Theo tác giả Vũ Dung thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức

về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”

Trang 15

Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kì một kĩ năng nào đều nhằm vào mục đích nhất định

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kĩ năng một cách chung nhất: kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để thực hiện mục đích đề ra

1.1.1.2 Văn bản

Có rất nhiều ý kiến cho rằng văn bản bao hàm cả dạng nói và dạng viết Theo tác giả Mai Thanh Thắng, văn bản được quan niệm như sau: “ Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó là một thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức” Đây là một quan niệm chính xác và đầy đủ vì

nó đã bao quát tất cả các dạng của sản phẩm hoạt động giao tiếp ngôn ngữ

Về tác phẩm, có quan niệm cho rằng “ tác phẩm văn học là một hệ thống ngôn ngữ hoàn chỉnh chứa đựng một phần hiện thực cùng với lời nói của nhà văn” Như vậy, văn bản là hình thức ẩn giấu sau nó tiềm tàng nội dung thông tin lượng ý nghĩa vô cùng vô tận Văn bản là cái vỏ trong đó chứa đựng dung lượng nghĩa và ý nghĩa lớn lao.Muốn đọc văn bản, hiểu nghĩa phong phú chứa trong văn bản, người đọc phải có khả năng nhận biết các yếu tố cấu trúc nên văn bản Khi biết văn bản là

hệ thống liên kết chặt chẽ của từ, câu, đoạn, bài thì sẽ có cơ sở để tìm nghĩa từ, nghĩa câu, nghĩa đoạn, nghĩa bài Khi biết văn bản bao giờ cũng được cấu trúc theo đặc trưng thể loại, vừa có một phương thức biểu đạt chính như truyện thì phương thức biểu đạt chính là kể, là tự sự, vừa có sự phối hợp của nhiều phương thức biểu đạt, kể phối hợp với tả, biểu cảm, thuyết minh thì sẽ có cơ sở để tìm nghĩa từ các phương thức biểu đạt Văn bản nhìn từ đặc trưng thể loại còn có thể thấy những phương tiện biểu đạt của nghệ thuật như kết cấu, chi tiết, hình ảnh, nhân vật, các biện pháp tu từ Khi biết văn bản là sản phẩm của giao tiếp, thể hiện quá trình giao

Trang 16

tiếp giữa người phát ngôn trong văn bản với người đọc thì sẽ có cơ sở để xác lập lại

5 nhân tố giao tiếp từ văn bản

Tóm lại, văn bản là một hệ thống ngôn từ chứa đựng trong nó nội dung tác phẩm Muốn hiểu được tác phẩm – cái tôi của nhà văn, nội dung thông báo thì phải đọc văn bản Tác phẩm ẩn sau ngôn từ của văn bản

1.1.1.3 Văn bản truyện

Thuật ngữ “truyện” có nhiều nghĩa Với nguồn gốc chữ Hán “truyện” ban đầu có nghĩa là giải thích kinh nghĩa Ví dụ Xuân Thu Tả truyện ( ông họ Tả giải thích Kinh Xuân Thu) Nghĩa thứ hai là bài văn xuôi ghi chép sự tích một đời của một người nào đó Đây là thể loại của sử học Sách Lĩnh Nam chích quái có tên đầy

đủ là “ Lĩnh Nam chích quái liệt truyện”, ghi các sự tích như Hồng Bàng, Bánh chưng, Trầu cau, Ngư tinh, Hồ Tinh, Mở rộng ra trong tiếng Việt, thuật ngữ

“truyện” chỉ tác phẩm văn học là một bản kể có miêu tả nhân vật, diễn biến, sự kiện, cốt truyện thú vị , như truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện cười, truyện truyền

kì, truyện Nôm, truyện thơ, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn,

1.1.1.4 Một số mô hình đọc hiểu văn bản truyện

Theo Nguyễn Thị Hạnh(Dạy học đọc hiểu ở tiểu học 2002, NXB ĐHQG, HN), đọc hiểu gồm 3 hành động:

1/ Hành động nhận diện ngôn ngữ của văn bản, tức là nhận đủ các tín hiệu ngôn ngữ mà người viết dùng để tạo ra văn bản

2/ Hành động làm rõ nghĩa của chuỗi các tín hiệu ấy (nội dung của văn bản và

ý đồ tác động đến người đọc của người viết)

3/ Hành động hồi đáp lại ý kiến của người viết

-Theo Hoàng Hòa Bình(Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ tiểu học,

NXB Giáo dục, 2012), dạy văn bản nghệ thuật theo phương pháp đọc hiểu là mô phỏng con đường tiếp nhận tác phẩm văn chương nói chung, được thực hiện trong khuôn khổ học đường, dưới sự hướng dẫn của thầy cô và sự cộng tác của các bạn Hoạt động đọc hiểu diễn ra như một lao động sáng tạo mang tính thẩm mỹ HS giải

Trang 17

mã tín hiệu thẩm mỹ của tác phẩm, nhập thân vào tác phẩm, sống và cảm xúc cùng nhân vật trong tác phẩm, bộc lộ sự thông hiểu, cảm thụ về tác phẩm và chia sẻ ý kiến với bạn bè thầy cô để hoàn thiện cách cảm thụ của mình Có thể khái quát quá trình đọc hiểu văn bản nghệ thuật thành 4 bước sau:

1/ Đọc hiểu ngôn từ- cấp độ tri giác ban đầu trong tiếp cận tác phẩm

2/ Tái tạo hình tượng nghệ thuật của tác phẩm (tưởng tượng những hình ảnh, cảnh tượng, nhân vật, hoàn cảnh được miêu tả trong tác phẩm)

3/ Khám phá ý nghĩa (chân lý đời sống) của tác phẩm, tư tưởng, tình cảm, thái

độ của tác giả ẩn chứa sau các hình tượng nghệ thuật

4/ Phát hiện các chi tiết đặc sắc thể hiện thi pháp của tác phẩm, tài nghệ và phong cách của tác giả.(bước này chỉ đặt ra với THPT)

-Theo Nguyễn Thanh Hùng (Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường,

NXB Giáo dục 2008 Tr 28-30), đọc hiểu theo cấu trúc tác phẩm gồm

1/ Đọc hiểu cấu trúc ngôn từ,

2/ Đọc hiểu cấu trúc hình tượng nghệ thuật,

3/ Đọc hiểu cấu trúc tư tưởng thẩm mỹ

và ba dạng đọc 1/ Đọc kỹ, 2/ Đọc sâu, 3/ Đọc sáng tạo

-Theo dự thảo đề xuất Chương trình Tiếng Việt tiểu học sau 2015, đọc hiểu

văn bản văn học gồm bốn hành động:

1/ Đọc hiểu ngôn từ Hiểu nghĩa từ ngữ trong văn bản, nhận biết chi tiết quan

trọng trong truyện: thời gian, không gian, nhân vật, sự việc chính

2/ Đọc hiểu quan hệ liên nhân Nhận xét nhân vật trong truyện, người phát

ngôn trong văn bản Tác giả muốn người đọc có nhận thức gì, hành động gì, thái độ tình cảm gì

3/ Đọc hiểu phương thức biểu đạt Nhận biết cái hay cái đẹp trong nhân vật,

chi tiết, biện pháp tu từ, cốt truyện, tình huống có xung đột, các phương thức biểu đạt trong văn bản (tả, kể, thuyết minh, biểu cảm, lập luận)

Trang 18

4/ Liên hệ, so sánh ngoài văn bản Nêu những điều cần học, cần tránh qua

nhân vật Nêu những tác động làm thay đổi nhận thức, tình cảm, hành vi của bản thân

và người xung quanh do truyện, kịch, thơ, bài miêu tả mang lại

Theo chỉ đạo của Bộ(Thôngtưsố 22/2016/TT-BGDĐT), có thể xây dựng 4 hành động đọc hiểu văn bản truyện cho HS tiểu học như sau

1/ Nhận biết văn bản Đọc hiểu khái quát VB truyện Xác định các thông tin

từ văn bản như thông tin về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nhận biết ngôn từ văn bản, tiêu đề văn bản truyện Dựa vào người phát ngôn trong văn bản để nhận biết: Ai đang

kể trong văn bản; kể về việc gì; việc đó xảy ra ở đâu, khi nào; việc đó liên quan đến những ai; thuật lại diễn biến của sự việc cho đến kết thúc

2/ Hiểu văn bản Đọc hiểu chi tiết VB truyện Phân tích, kết nối thông tin

trong văn bản Phân tích bối cảnh diễn ra sự việc Phân tích, đánh giá nhân vật Phân tích đánh giá cốt truyện và lời kể trong văn bản truỵện

3/ Phản hồi, đánh giá Đọc hiểu sâu VB truyện Đọc được thông điệp, lời

nhắn gửi, bài học, lời khuyên từ người kể chuyện Phản hồi, ứng đáp của người nghe, người đọc về câu chuyện, về các nhân vật trong truyện, về giá trị nội dung, nghệ thuật kể chuyện, về ý nghĩa câu chuyện, về tình cảm, quan điểm của nhà văn Đọc diễn cảm

4/ Vận dụng Vận dụng các thông tin trong văn bản để giải quyết các vấn đề

đặt ra từ cuộc sống Biết khái quát quá trình đọc hiểu thành cách thức, phương pháp đọc hiểu văn bản truyện Có khả năng tự đọc hiểu một câu chuyện ngoài SGK

1.1.1.5 Phương thức biểu đạt

1.1.1.5.1 Các phương thức biểu đạt

Thực ra, trong mỗi văn bản thường sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt Việc vận dụng tổng hợp nhiều phương thức là đòi hỏi của chính cuộc đời, nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Tuy nhiên, trong một văn bản cụ thể, các phương thức ấy sẽ không có vị trí ngang nhau; tuỳ thuộc vào mục đích cần đạt tới, người viết sẽ xác định phương thức nào là chủ đạo

Trang 19

Có 6 phương thức biểu đạt, cụ thể như sau:

- Tự sự: là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng đi đến một kết thúc Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến

kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống

- Miêu tả: là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người

- Biểu cảm: là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế

sống luôn có những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều người khác Phương tiện biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh

- Thuyết minh: là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự

vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết

- Nghị luận: là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình

- Hành chính – công vụ: là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với

nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp lí [thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…]

1.1.1.5.2 Kĩ năng đọc hiểu phương thức biểu đạt trong văn bản:

- Xác định đặc điểm, thể loại, nội dung văn bản

- Các thao tác, phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản

- Các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản: Chữ viết, ngữ âm;

từ ngữ; cú pháp; các biện pháp tu từ; bố cục

Dưới đây là bảng đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh khi dạy học đọc hiểu:

Trang 20

Nhận biết Thông hiểu

- Hiểu, lý giải ý nghĩa nhan đề

- Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm để viết đoạn văn giới thiệu về tác giả, tác phẩm

- So sánh các phương diện nội dung nghệ thuật giữa các tác phẩm cùng

đề tài, hoặc thể loại, phong cách tác giả

- Nhận diện được

ngôi kể, trình tự kể

- Phân tích giọng kể, ngôi kể đối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm

- Khái quát được đặc điểm phong cách của tác giả từ tác phẩm

- Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản

- Khái quát các đặc điểm của thể loại từ tác phẩm

- Biết tự đọc

và khám phá các giá trị của một văn bản mới cùng thể loại

- Liệt kê/chỉ ra/gọi

tên hệ thống nhân vật

(xác định nhân vật trung

- Giải thích, phân tích đặc điểm, ngoại hình, tính cách, số phận

- Trình bày cảm nhận về tác phẩm

- Vận dụng tri thức đọc – hiểu văn bản

Trang 21

tâm, nhân vật chính, phụ) nhân vật

- Đánh giá khái quát

về nhân vật

để tạo lập văn bản theo yêu cầu

- Đƣa ra những ý kiến quan điểm riêng về tác phẩm, vận dụng vào tình huống, bối cảnh thực để nâng cao giá trị sống cho bản thân

- Chuyển thể văn bản (vẽ tranh, đóng kịch )

- Nghiên cứu khoa học, dự

Trang 22

- Trắc nghiệm khách quan

- Câu tự luận trả lời ngắn (lý giải, nhận xét, phát

hiện, đánh giá )

- Bài nghị luận (trình bày suy nghĩ, cảm nhận,

kiến giải riêng của cá nhân )

- Phiếu quan sát làm việc nhóm, tao đổi, thảo

luận về các giá trị của tác phẩm

- Trình bày miệng, thuyết trình

- So sánh tác phẩm, nhân vật theo chủ đề

- Đọc diễn cảm, kể chuyện sáng tạo, trao đổi thảo luận

- Nghiên cứu khoa học

Chúng ta biết rằng ngôn ngữ là một hệ thống vì nó bao gồm nhiều yếu tố được kết cấu và hoạt động tuân theo những quy tắc nhất định trong chỉnh thể có mối quan

hệ chặt chẽ , tức là được hình thành do những yếu tố ( hay đơn vị ) đồng nhất với nhau về chức năng về quan hệ ( nằm trong một cấu trúc đồng nhất Như vậy, có thể nhận thấy các đơn vị ngôn ngữ tạo thành một hệ thống mà các yếu tố ngôn ngữ được chia thành các cấp độ khác nhau có quan hệ với nhau Ví dụ : câu bao gồm các từ, từ bao gồm các hình vị, hình vị bao gồm các âm vị Ngược lại, âm vị nằm trong hình vị, hình vị nằm trong từ, từ nằm trong câu

Như đã nhắc ở trên, trong hệ thống các cấp độ ngôn ngữ thì câu được coi là đơn vị ngôn ngữ có giá trị thông báo , luôn mang đặc trưng của chủ thể phát ngôn : nhân xưng, điểm nhìn, ngữ điệu và giọng điệu Và trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, người ta phải sử dụng những ngôn ngữ lớn hơn câu để thực hiện trọn vẹn

Trang 23

chức năng tư duy và giao tiếp

Trong ngữ pháp văn học, sự liên kết của câu và các cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu trong văn bản tạo nên tính liên kết của văn bản Giữa các câu trong văn bản luôn luôn có những sợi dây liên hệ chặt chẽ với nhau, nhờ có mối liên hệ này mà các câu gắn bó được với nhau và tạo nên văn bản Sự liên kết các câu được xem xét ở hai phương diện là sự liên kết về nội dung và sự liên kết về hình thức Về mặt nội dung, các câu trong văn bản có mối quan hệ ý nghĩa với nhau Quan hệ này được nảy sinh trên cơ sở các câu đều quy tụ về cùng một chủ đề - chủ đề của văn bản Chủ đề đó chính là ý nghĩa, nội dung khái quát nhất của văn bản , còn các câu trong một văn bản luôn góp phần phát triển chủ đề chung của văn bản Có thể minh họa sự liên kết các câu trong một văn bản qua ví dụ sau đây :

“ Nhà Út Vịnh ở ngay bên đường sắt Mấy năm nay, đoạn đường này thường

có sự cố Lúc thì đá tảng nằm chềnh ềnh trên đường tàu chạy, lúc thì ai đó tháo cả ốc gắn các thanh ray Lắm khi, trẻ chăn trâu còn ném đá lên tàu ”

( Út Vịnh – TV5, tập 2 )

Ở ví dụ này có bốn câu, các câu văn có mối liên kết chặt chẽ về nội dung : Câu thứ nhất đã giới thiệu vị trí nhà Út Vịnh Câu thứ hai nêu vấn đề thường xảy ra Câu văn thứ ba và thứ tư, tác giả liệt kê lại các sự cố thường xảy ra Như thế, bốn câu văn

đã tạo nên một tập hợp hoàn chỉnh góp phần tả được vị trí nhà Út Vịnh và các sự cố xảy ra

Về mặt hình thức, các câu văn trong văn bản liên kết với nhau nhờ phương tiện ngữ âm ( vần, nhịp, tiết tấu,…) , các phương tiện từ vựng hoặc các phương tiện ngữ pháp Trong truyện “Một vụ đắm tàu”, tác giả A-Mi-Xi có viết : “ Cơn bão dữ dội bất ngờ nổi lên Những đợt sóng khủng khiếp phá thủng thân tàu, nước phun vào khoang như vòi rồng Hai tiếng đồng hồ trôi qua…Con tàu chìm dần, nước ngập các bao lơn Quang cảnh thật hỗn loạn.” Tác giả đã rất tinh tế trong việc miêu tả sự dữ dội của cơn bão qua các từ ngữ diễn tả sự tàn phá của cơn bão đối với con tàu như :

“đợt sóng khủng khiếp” , “vòi rồng”, “chìm dần”,…

Trang 24

Giống như mọi văn bản , văn bản truyện có mở đầu , diễn biễn và kết thúc Nhưng văn bản truyện cũng có những điểm khác biệt Thứ nhất , tuy tác giả chỉ là môt người nhưng người kể chuyện có thể là một hay nhiều người Hai là, văn bản văn học nói chung hay văn bản truyện nói riêng không chỉ trực tiếp biểu hiện bằng lời mà còn thể hiện thông qua các hình tượng, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật, biện pháp tu từ Chính vì thế, khi đọc một văn bản văn học người đọc cần đặt mình vào thế giới trong tác phẩm , tưởng tượng tới một không gian khác với thực tại Ba là, việc người đọc nhập thân vào những cảnh tưởng tượng sẽ giúp họ liên hệ tới những điều triết lí hơn, sâu xa hơn

1.1.2.2 Lí luận về ngữ dụng học và văn bản truyện nhìn từ ngữ dụng học 1.1.2.2.1 Lí luận về ngữ dụng học

Ngữ dụng học ( pragmatics) là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học và tín hiệu học nghiên cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa Ngữ dụng học bao hàm

cả lí thuyết hành vi ngôn ngữ, hội thoại, tương tác lời nói và cả các cách tiếp cận khác tới hành vi ngôn ngữ trong triết học, xã hội học, và nhân học Nói cách khác, ngữ dụng học là một bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể, trong giao tiếp giữa người nói, người nghe để đạt được những mục đích cụ thể (giao tiếp) Ngữ dụng học quan niệm “trong thực tế thì bất cứ lời nói nào cũng là do một người nào đó nói (hoặc viết) cho một người nào đó, nhưng khi đã nằm trong ngữ liệu thì nó dường như mất hết quan hệ với người nói, người nghe” Văn bản nào cũng là sản phẩm của giao tiếp, thể hiện quá trình giao tiếp đang diễn ra giữa người phát ngôn với người tiếp nhận Về ngữ nghĩa, “ngữ dụng học nghiên cứu nghĩa với tư cách là cái được thông báo bởi người nói (người viết)

và là cái được giải thích bởi người nghe (người đọc) Do đó nó phải chú ý phân tích cái mà người ta muốn nói qua phát ngôn của họ hơn là cái mà tự thân ý nghĩa các

từ và các cú đoạn trong phát ngôn có thể có” [24; Tr15] Đọc hiểu văn bản phải dựa vào người phát ngôn trong văn bản để liên kết thông tin, xác định nội dung phát ngôn, cách phát ngôn và đích của phát ngôn

Trang 25

1.1.2.2.2 Văn bản truyện nhìn từ ngữ dụng học

Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa người với người, ở đó diễn ra sự trao đổi thông tin, trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm, và bày tỏ sự ứng xử, thái độ của người với người trước những vấn đề giao tiếp

Bàn về các nhân tố giao tiếp, giáo sư ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu chia thành hai nhóm chính: Thứ nhất là nhóm trong giao tiếp có ngôn bản và thứ hai là ngữ cảnh của cuộc giao tiếp Ở nhóm trong giao tiếp có ngôn bản, ngôn bản vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của giao tiếp Nói đến ngôn bản người ta thường nói đến dạng nói và dạng viết Chúng ta thường dùng khái niệm văn bản để nói về ngôn bản dạng viết Dạng nói thì gọi là ngôn bản Như vậy, văn bản là một dạng của ngôn bản ( hiểu theo nghĩa rộng) Theo quan niêm này, văn bản truyện là lời phát ngôn của người kể chuyện Người kể chuyện có thể là một nhân vật của truyện đang kể lại câu chuyện của mình, có thể là một người biết câu chuyện, nay kể lại Người đọc văn bản truyện phải vừa đọc chữ, vừa biết lắng nghe người kể chuyện đang kể, tả, bình phẩm, bày tỏ thái độ Người đọc truyện phải có cảm giác như đang theo chân người kể chuyện, gặp gỡ các nhân vật, chứng kiến mọi sự việc, trải nghiệm mọi cảnh vật Người đọc có thể nói to với người khác rằng mình đã nhìn thấy gì, nghe thấy gì, cảm thấy gì từ thế giới nghê thuậttrong văn bản truyện Hiện thực được nói tới trong văn học, có thể là hiện thực khách quan hay thế giới nội tâm Khi đi vào tác phẩm, hiện thực khách quan và thế giới nội tâm được gọi là thế giới được phản ánh, thế giới phát ngôn

Một nhân tố nữa trong nhóm thứ hai là hoàn cảnh giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm điều kiện xã hội, văn hóa, lịch sử mà trong đó cuộc giao tiếp diễn ra

Do vậy, muốn hiểu được một bài thơ, một tác phẩm văn học cần phải biết nó được viết trong hoàn cảnh nào

Sẽ thiếu sót nếu xét các nhân tố giao tiếp trong văn học mà bỏ qua hệ thống tín hiệu Hệ thống tín hiệu được nhà văn, nhà thơ dùng để tạo nên hình thức cho tác

Trang 26

phẩm của mình Với văn học, mã là ngôn ngữ Ngôn ngữ đích thực của văn học là tín hiệu thẩm mỹ

Ngoài các nhân tố giao tiếp, hội thoại văn học còn chịu sự chi phối của một loạt quy tắc như thương lượng hội thoại, phương châm hội thoại

1.1.3 Cơ sở văn học

1.1.3.1 Đọc hiểu văn bản truyện theo lí thuyết tiếp nhận văn học

Tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của lí luận văn học Nếu xem hoạt động của văn học bao gồm hai lĩnh vực lớn là sáng tác và tiếp nhận thì bản thân tác phẩm văn học được sáng tác ra nhằm để thưởng thức, tiếp nhận Nếu lịch sử sáng tác tác phẩm chỉ tính bằng năm, chục năm thì lịch sử tiếp nhận phải tính đến thế kỉ hoặc lâu hơn nữa , thậm chí là suốt thời gian tồn tại của loài người Và dĩ nhiên, bản thân tác phẩm văn học không tự sống được mà chính nhu cầu của người đọc, khả năng phát hiện , sáng tạo của người đọc đã làm cho tác phẩm nghệ thuật trở nên bất tử.Việc tiếp nhận tác phẩm là sự cụ thể hóa , hiện thực hóa, tác phẩm trong trí tưởng tượng, là

sự đối thoại liên tục với tác giả trên mọi lĩnh vực, là quá trình chờ đợi, thắc mắc, giải đáp Trong tiếp nhận, người đọc có thể gặp gỡ với tác giả, có cùng cái nhìn với tác giả nhưng cũng có thể cách xa, thậm chí là có cách đón nhận khác hẳn so với tác giả

Vì vậy, việc đón nhận một tác phẩm văn học phụ thuộc vào tầm đón nhận của người đọc, thế hệ người đọc

Như vậy việc đọc hiểu văn bản truyện cần phải gắn liền với lí thuyết tiếp nhận văn học Người đọc ngoài việc đọc được một văn bản truyện thì còn cần tự mình tìm thấy cách hiểu, cách tiếp nhận văn bản đó Người đọc có thể tiếp nhận hết điều tác giả muốn nói qua các hình tượng , nghĩa là người đọc tìm thấy “ dụng ý ” , “ tấm lòng ”,

“tâm sự ” của tác giả Người đọc cũng có thể tiếp nhận văn bản truyện theo trí tưởng tượng, theo đặc trưng của thời đại.Tác phẩm văn học luôn luôn động chứ không phải tĩnh Điều này là do độc giả thay đổi từ thế hệ này qua thế hệ khác Mỗi một độc giả

“sáng tạo” lại tác phẩm theo cách riêng của mình Như vậy, trong tác phẩm văn học,

Trang 27

tác giả và độc giả đều tham gia vào sự hình thành tác phẩm- thông điệp của cuộc giao tiếp

1.1.3.2 Đọc hiểu văn bản truyện theo lí thuyết ứng đáp

Theo từ điển tiếng Việt và tiếng Anh, ứng đáp (response ) là sự phản ứng lại , đối đáp lại, hồi âm, đáp ứng, hưởng ứng một yêu cầu, một lời nói, một hành động nào đó; Ứng đáp của người đọc ( reader’s response ) là sự phản ứng, đối đáp, hưởng ứng, của người đọc đối với văn bản mà họ đọc dựa trên vốn tri thức, cảm xúc, sự trải nghiệm, niềm tin và hệ giá trị của họ

Từ góc độ nhà trường, lí thuyết ứng đáp đã mở ra một hướng tiếp cận mới đối với vấn đề dạy văn Trong một thời gian dài ở nhà trường Mĩ và Anh lí thuyết dạy Văn chú trọng vào phương pháp đọc sát gần để hiểu văn bản nhưng nay đã được mở rộng, bổ sung bằng phương pháp tiếp cận ứng đáp của người học Ở một số tiểu bang

Mĩ , ở Thụy Điển, Hà Lan, … mục tiêu , nội dung chương trình và chuẩn kiến thức,

kĩ năng đầu ra môn Văn luôn khuyến khích HS “ phát triển hứng thú, các nhu cầu tinh thần và các trải nghiệm cá nhân phong phú qua việc đọc để tạo nên những giá trị

tư tưởng riêng, thái độ và cách ứng xử của họ ” Bên cạnh các thao tác, kĩ năng như là hiểu, cắt nghĩa, phân tích, dánh đánh giá thì ứng đáp cũng là một thao tác, kĩ năng đọc văn cơ bản

Theo Cooper : “ Lí thuyết ứng đáp của người đọc đã làm thay đổi trọng tâm nhấn mạnh, từ uy quyền của sự phân tích văn bản với cách hiểu đã được thừa nhận rộng rãi sang sự khảo sát, đánh giá các ứng đáp của HS và sự làm trọng tài phân xử các ứng đáp trong cộng đồng lớp học ” Theo lý thuyết ứng đáp, người đọc học sinh được tôn trọng Người đọc học sinh có thể đặt mình vào vai của các nhân vật, tham gia vào các sự việc, vào vai của người kể chuyện, vào vai của nhà văn để thể nghiệm

và nói ra nhận xét, đánh giá, phản ứng, đề đạt của mình

1.1.4 Cơ sở giáo dục

1.1.4.1 Đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phát triển

cá tính và khai thác tiềm năng trong mỗi người học

Trang 28

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này

Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy

Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải

Trang 29

đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự

tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

Việc sử dụng phương pháp dạy học phải gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

Trang 30

Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót

1.1.4.2 Dạy học theo lí thuyết kiến tạo

1.1.4.2.1 Khái niệm

Phương pháp dạy học dựa trên Lý thuyết kiến tạo là một trong những phương pháp dạy học tích cực Phương pháp này coi trọng vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập, người học chủ động tự xây dựng hiểu biết cho bản thân; tự kết nối thông tin mới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa hơn và tạo nên các thông tin mới khác Việc học tập không phải diễn ra nhờ quá trình chuyển thông tin từ giáo viên hay giáo trình đến bộ não của học sinh; thay vào đó, mỗi người học tự xây dựng hiểu biết hợp lý mang tính cá nhân của riêng họ

1.1.4.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học theo Lý thuyết kiến tạo

Thuyết kiến tạo được xây dựng dựa trên cơ sở nhận thức luận duy vật: nhận thức là quá trình hoạt động thu nhận tri thức; bản chất của ý thức là tích cực, tự giác, sáng tạo theo nhu cầu biến đổi khách thể Từ cơ sở triết học đó, dạy học tiếp cận lý thuyết kiến tạo có các quan điểm cơ bản sau

a Học trong hoạt động

Học là một hoạt động đặc thù của con người, trong đó người học vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động Cách học tốt nhất là học trong hoạt động và thông qua hành động

Việc học sẽ hiệu quả nhất khi người học được nhập cuộc, được tiếp xúc với thực tế công việc, được chủ động làm ra những đồ vật hữu hình trong thế giới thực Giáo viên cần tổ chức được các tình huống để đưa người học vào hoạt động, qua đó người học kiến tạo được kiến thức, phát triển trí tuệ và nhân cách Chủ trương tăng cường các môn học thực hành, kết hợp hài hòa giữa các tiết dạy lý thuyết và các tiết

Trang 31

dạy thực hành; hình thành các phân xưởng chế tạo, các nhà máy sản xuất trong trường học… là một trong những cách tiếp cận với lý thuyết kiến tạo trong dạy học

b Học là sự vượt qua khó khăn

Những khó khăn trong cuộc sống, trong hành động tự bản chất như một quy luật tự nhiên để phát triển và thăng tiến cuộc sống Khó khăn trong học tập đòi hỏi người học phải vượt qua để thể hiện sứ mạng, trách nhiệm và bổn phận của mình một cách tốt nhất có thể Khó khăn là yếu tố hình thành nhân cách, là cơ hội làm lớn mạnh và là điều kiện để tiến hóa tinh thần Trong quá trình tìm kiếm kiến thức, tư duy người học sẽ được thúc giục

Người học cần phải hoạt động liên tục để tiến sát tới các mục tiêu đã định Điều này trong hầu hết các trường hợp gây nhiều căng thẳng và mệt mỏi cho người học; giáo viên cần biết cách nhắc nhở, động viên, giúp đỡ họ thông qua việc đánh giá chính xác những hiểu biết và nỗ lực của họ Tuy nhiên trong mọi trường hợp giáo viên rất cần hiểu rằng mọi sự thông cảm hay cử chỉ nhân ái không đúng lúc đều

có thể để lại một hậu quả không mong đợi; giống như việc giúp một con bướm ra khỏi cái kén của nó

Trong thực tế, không ít giáo viên vì "thương" người học, "thông cảm" cho khó khăn của người học mà bỏ qua khâu này khâu khác, không dám tiếp cận với các nguyên tắc mới trong dạy học, thậm chí đảo lộn logic của một quy trình giảng dạy

c Học trong sự tương tác

Theo lý thuyết kiến tạo, việc người học tiếp nhận được thông tin không phải diễn ra nhờ quá trình chuyển thông tin từ giáo viên đến bộ não của người học mà thông qua sự tương tác trong quá trình học, người học sẽ tự xác lập nên kiến thức của mình Tổ chức đàm thoại trong dạy học là nền tảng cơ bản để giáo viên xây

dựng những bài giảng tích cực theo lý thuyết này

Có hai dạng đàm thoại chính có thể thực hiện: Đàm thoại tái hiện, thích hợp dùng để ôn tập, củng cố kiến thức và đàm thoại gợi mở hay vấn đáp tìm tòi Giáo viên cần đầu tư nâng cao chất lượng của các câu hỏi, nhất là các câu hỏi gợi mở,

Trang 32

vấn đáp tìm tòi, các câu hỏi hiệu quả cao Cần có kế hoạch tăng dần các câu hỏi có yêu cầu cao về mặt nhận thức, có sự thông hiểu và sáng tạo trong vận dụng kiến

thức, hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức

d Học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề

Đặc trưng học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề nhấn mạnh quan điểm cho rằng học sinh phải là người tự lực, tích cực hành động tìm tòi, khám phá đối tượng học tập để hình thành cho mình các nguyên tắc, các ý tưởng cơ bản từ các tình huống học tập cụ thể Dạy học thông qua giải quyết vấn đề, giáo viên cần cung cấp nhiều tình huống để người học có thể đặt câu hỏi, khám phá và thực nghiệm cho đến tìm ra được các nguyên tắc, các ý tưởng, mối liên hệ cơ bản trong cấu trúc môn học

Cần tổ chức cho người học tiến hành các hành động học tập tương ứng với các hình thức biểu hiện của cấu trúc (hành động thực tiễn, hành động mô hình hóa, hành động kí hiệu hóa), theo phương pháp chung là suy luận quy nạp, từ các hành động trên các vật liệu cụ thể để rút ra các nguyên tắc chung Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho người học Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có người học sẽ xem xét, đánh

giá, thấy được vấn đề cần giải quyết

1.1.4.2.3 Hoạt động của giáo viên trong dạy học theo lí thuyết kiến tạo

Sứ mệnh của giáo viên là giúp người học khám phá tri thức, tạo dựng cho họ năng lực kiến tạo kiến thức; tạo dựng được môi trường và những nhu cầu, những động lực thật sự để người học có điều kiện vật lộn với những vấn đề mà họ quyết định lựa chọn hoặc bắt gặp trong quá trình khám phá Một cách tổng quát, các hoạt động chủ đạo của giáo viên trong tiết giảng theo thuyết kiến tạo không phải là "trình

bày" là "thuyết giảng", là viết bảng mà phải là:

- Tạo không khí học tập Mục đích của người học và những vấn đề làm người học thực sự hứng thú là ưu tiên trước nhất của giáo viên Kiến thức là tùy biến, đột

hiện, không phải là sao chép hay phỏng theo nguyên mẫu

Trang 33

- Tạo điều kiện để người học bộc lộ quan niệm riêng; tổ chức cho người học tranh luận về những quan niệm của mình Giáo viên và học sinh cùng đàm luận, nhưng chỉ với ý tưởng và thao tác Giáo viên chỉ xuất hiện khi người học kiến tạo tri thức Tri thức là quyền lực, vai trò của giáo viên là trao đổi, thương lượng, tương

tác để xác lập quyền lực ấy

- Trọng tài trong những trường hợp ý kiến tranh luận không ngã ngũ Người học chỉ có thể và phải làm việc hợp tác với nhau Học tập là tương tác, vận dụng kinh nghiệm của nhau để thực hành những trải nghiệm cá nhân - Tạo điều kiện và giúp người học nhận ra các quan niệm sai lầm của mình và tự giác khắc phục chúng

- Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm khoa học

- Tổ chức cho người học kiểm tra và vận dụng kiến thức thu nhận

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 5

- Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5, có 30 văn bản truyện Cụ thể:

 Lòng dân

 Những con sếu bằng giấy

 Một chuyên gia máy xúc

 Buôn Chư Lênh đón cô giáo

 Thầy thuốc như mẹ hiền

Trang 34

 Thầy cúng đi bệnh viện

1 Kiểm tra bài cũ: GV kiểm tra 2, 3 học sinh đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng một đoạn của bài tập đọc trước đó GV đặt câu hỏi cho học sinh trả lời về nội dung đoạn vừa đọc

2 Bài mới: Giới thiệu bài cần ngắn gọn, gây hứng thú cho học sinh trước khi tiếp xúc với văn bản sẽ đọc Riêng đối với bài tập đọc đầu tuần thuộc chủ điểm mới,

GV giới thiệu vài nét chính về nội dung chủ điểm sắp học

Trang 35

+ Học sinh khá, giỏi đọc toàn bài - lớp đọc thầm và chia đoạn (nếu nội dung bài có phân đoạn rành mạch)

+ GV chia đoạn cho học sinh đọc

* Đọc vòng 1: Luyện phát âm đúng

Học sinh đọc nối tiếp nhau từng đoạn của bài Trong lúc học sinh đọc, GV lắng nghe và ghi lại những từ học sinh phát âm sai phổ biến lên bảng ở phần luyện đọc đúng, gạch dưới điểm sai trong các từ ngữ đó Sau khi học sinh hoàn thành xong việc đọc nối tiếp, GV lưu ý cách phát âm đúng , đọc mẫu và cho HS cả lớp luyện đọc

* Đọc vòng 2: Luyện ngắt nghỉ đúng kết hợp giải nghĩa từ

Học sinh đọc nối tiếp từng đoạn của bài, GV lắng nghe phát hiện những điểm sai của học sinh Sau khi HS hoàn thành phần đọc nối tiếp, GV nhận xét, lưu ý HS

về ngắt nghỉ, chọn câu dài, khó để xác định điểm ngắt (đặc biệt ở những câu mà việc ngắt nghỉ không dựa vào dấu câu mà ngắt theo cụm từ rõ nghĩa) ( Lưu ý: ở vòng 2, nếu vẫn có trường hợp HS phát âm sai thì GV cần tiếp tục sửa lỗi cho cá nhân HS.Thống nhất sửa ngay sau phần đọc của HS đó) Hướng dẫn giải nghĩa từ bao gồm từ ngữ trong phần chú giải, các từ khó hiểu, từ trọng tâm, từ chủ đề,…( Một số từ ngữ cần phải gắn với ngữ cảnh mới giải nghĩa được thì có thể đem xuống phần tìm hiểu bài để giải nghĩa)

* Đọc vòng 3: học sinh đọc theo cặp, sau đó có thể gọi 1-2 nhóm đọc với mục đích kiểm tra kết quả đọc của nhóm Yêu cầu HS nhận xét bài đọc của bạn

* GV đọc diễn cảm toàn bài (cần định hướng để HS lắng nghe, chú ý về giọng đọc, cách nhấn giọng, ngắt nghỉ…)

b Hoạt động 2 : Tìm hiểu bài GV hướng dẫn học sinh luyện đọc hiểu: Đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc lướt theo đoạn) và trả lời câu hỏi trong SGK theo các hình thức thích hợp ( cá nhân, nhóm nhỏ) GV sơ kết ngắn gọn, nhấn mạnh ý chính và có thể ghi bảng những từ ngữ hình ảnh chi tiết nổi bật cẩn nhớ của đọan văn, của khổ thơ

Trang 36

c Hoạt động 3: Luyện đọc diễn cảm(đối với văn bản nghệ thuật), hoặc luyện đọc lại(đối với văn bản phi nghệ thuật)

*Hướng dẫn chung toàn bài về giọng đọc, cách nhấn giọng, cao độ, trường độ Cụ thể:

Gọi HS khá giỏi đọc nối tiếp, lớp nhận xét để tìm giọng đọc hay

* Luyện đọc diễn cảm đoạn:

+ GV giới thiệu đoạn cần luyện đọc đã ghi sẵn các kí hiệu ngắt nghỉ (lưu ý chỉ ghi kí hiệu ngắt nghỉ ở những điểm không có dấu câu)

+ Yêu cầu HS nhắc lại những từ cần nhấn giọng, GV gạch chân từ trên bảng + GV đọc mẫu đoạn, 2 - 3 HS đọc lại

+ Luyện đọc theo nhóm

+ Thi đọc diễn cảm

+ HS nhận xét bạn đọc, GV chấm điểm khuyến khích

3.Củng cố dặn dò

+ Gợi ý để học sinh nêu nội dung chính của bài (2-3 em nêu)

+ GV kết luận ghi bảng, 1, 2 học sinh nhắc lại Nhận xét tiết học Dặn dò về yêu cầu luyện tập và chuẩn bị bài sau * Lưu ý: Đầu năm học, ở những tiết đầu tiên của phân môn Tập đọc, GV cần rèn cho HS cách nhận xét bạn đọc, bạn trả lơi câu hỏi

*, Nhận xét Quy trình dạy Tập đọc lớp 5

Thuận lợi:

- Học sinh được luyện đọc nhiều: Đọc cá nhân, đọc nối tiếp, đọc trong nhóm, thi đọc, nghe cô đọc, nghe bạn đọc

Trang 37

- Quy trình dạy Tập đọc trên rất ưu việt để dạy đọc và hiểu, truyền thụ tri thức về bài đọc cho học sinh

- Thuận lợi cho giáo viên trong việc dạy, chỉ cần làm đủ, làm đúng theo quy trình, các bước sẽ hoàn thành bài dạy

- Quy trình trên chưa tạo ra nhiều cơ hội để học sinh được thể hiện bản thân, liên hệ thực tiễn và thực hành giao tiếp

- Thời gian phân bố chưa hợp lí: Thời gian luyện đọc nhiều hơn thời gian tìm hiểu bài và luyện đọc lạị

1.2.3 Thực trạng việc dạy học đọc hiểu phương thức biểu đạt cho học sinh lớp 5 trong quá trình đọc hiểu văn bản truyện

Để tìm hiểu thực trạng việc dạy học đọc hiểu ở các trường tiểu học, chúng tôi

đã trao đổi kinh nghiệm giảng dạy cùng với quan sát dự giờ giờ dạy Tập đọc của một số giáo viên khối 5 ở Trường Tiểu học Tiến Thịnh B Dưới đây, tôi xin đưa ra những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến việc dạy và học đọc hiểu nói chung và đọc hiểu phương thức biểu đạt nói riêng

Về phía giáo viên:

- Nhìn chung, giáo viên giàu lòng nhiệt tình, say mê công việc và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao Sau mỗi giờ dạy Tập đọc, mỗi một giáo viên đều có băn khoăn, trăn trở chung là làm thế nào để chất lượng đọc của học sinh ngày càng được nâng cao

- Đa số giáo viên có chất giọng tốt, kiến thức vững vàng, có khả năng biểu đạt tình cảm qua giọng đọc

Ngày đăng: 24/09/2018, 13:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w