Ngoài việc dùng hình thái để nhận biết các loài, họ, chi thì việc nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu một lần nữa khẳng định giá trị của công trình là có cơ sở, mở rộng hiểu biết của con ngư
Trang 3Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS Đỗ Thị Lan Hương người đã tận tình
hướng dẫn chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Em cũng xin chân thành cảm ơn:
- Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Tổ Thực vật - Vi sinh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo đã góp nhiều ý kiến, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ trong việc hoàn thành khóa luận
Tác giả
Nguyễn Thị Hảo
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, tất cả các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với các nội dung trong khóa luận của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Hảo
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
5 Đóng góp mới 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của Hoa hồng 3
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng các giống Hoa hồng ở thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 4
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 7
2.1.1.1.Một số đặc điểm tự nhiên của thị trấn Sapa 7
2.1.1.2 Một số đặc điểm tự nhiên của Hà Nội 8
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 10
2.2 Nội dung nghiên cứu 10
2.3 Phương pháp nghiên cứu 10
2.3.1 Nghiên cứu ngoài thực địa 10
2.3.2 Phương pháp ngâm mẫu tươi 12
2.3.3 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 12
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
3.1 Rễ 14
3.1.1 Đặc điểm hình thái của rễ 14
Trang 63.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của thân 18
3.2.1 Đặc điểm hình thái của thân 18
3.2.2 Cấu tạo giải phẫu thân cây 19
3.3 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của lá 22
3.3.1 Đặc điểm hình thái của lá 22
3.3.2 Cấu tạo giải phẫu của lá 23
3.3.2.1.Cuống lá 23
3.3.2.2 Phiến lá 26
3.3.2.3 Hệ thống dẫn 29
3.4 Đặc điểm hình thái của hoa 29
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 7
STT Kí hiệu Nội dung
Trang 8Ảnh 1: Hình thái rễ cây hoa Hồng (Nguồn: sưu tầm) 14
Ảnh 2: Cắt ngang rễ Hoa hồng cổ sapa trồng tại Sapa (Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 16
Ảnh 3: Cắt ngang rễ Hoa hồng cổ sapa trồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 16
Ảnh 4: Phần vỏ Hoa hồng cổ sapa trồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 16
Ảnh 5: Phần vỏ Hoa hồng cổ sapa trồng tại Sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 16
Ảnh 6 Một phần thân cây trồng tại Sapa (Khoảng cách giữa hai mấu)(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 18
Ảnh 7 Một phần thân cây trồng tại Sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 18
Ảnh 8: Một phần thân Hoa hồng cổ sapa trồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 19
Ảnh 9: Một phần thân Hoa hồng cổ trồng tại Sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 19
Ảnh 10: Một phần lát cắt ngang thân thứ cấp giống hồng cổ sapa trồng tại Sapa 21 Ảnh 11: Một phần lát cắt ngang thân thứ cấp giống hồng cổ sapa trồng tại Hà Nội21 Ảnh 12: Gai Hoa hồng cổ sapa trồng tại Sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo)21 Ảnh 13: Gai Hoa hồng cổ sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 21
Ảnh 14: Mặt sau lá hồng cổ sapa trồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo)23 Ảnh 15: Mặt sau lá hồng cổ sapa trồng tại Sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 23
Ảnh 16: Mặt trước lá kép hồng cổ(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 23
Ảnh 17: Mặt sau lá képhồng cổ sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 23
Ảnh 18 : Cuống lá cây trồng tại Sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 24
Ảnh 19: Cuống lá cây trồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 24
Ảnh 20: Cuống lá chét cây trồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 25 Ảnh 21: Cuống lá chét cây trồng tại Sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 26
Trang 9Ảnh 23 Cấu tạo phiến lá hồng cổ(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 26Ảnh 24 Gân chính lá hồng cổtrồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 27Ảnh 25 Cấu tạo phiến lá hồng cổtrồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 27Ảnh 26: Cấu tạo lỗ khí cây trồng tại Hà Nội(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 28Ảnh 27: Hoa hồng cổ sapa(Nguồn: ĐTL.Hương, NT.Hảo) 30Ảnh 28: Quả Hoa hồng (Nguồn: sưu tầm) 31
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: So sánh kích thước các phần của thân cây các loài nghiên cứu 22Bảng 2: So sánh kích thước các phần của lá cây của giống nghiên cứu 27
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên sự hiểu biết của con người về thực vật chưa được nhiều Đã có nhiều tài liệu, các công trình khoa học nghiên cứu về thực vật, nhưng chỉ phản ánh được một phần rất nhỏ
Thực vật có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó là nền tảng của đa dạng sinh học, đa dạng nông nghiệp, bảo đảm cho phát triển bền vững Vì thế nhận biết
và bảo tồn các loài thực vật ngày càng trở nên quan trọng hơn cũng như việc học tập nghiên cứu về thực vật ngày càng giữ một vị thế quan trọng trong sự phát triển của khoa học
Hình thái và giải phẫu thực vật được coi là một phần quan trọng trong việc nghiên cứu về thực vật Ngoài việc dùng hình thái để nhận biết các loài,
họ, chi thì việc nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu một lần nữa khẳng định giá trị của công trình là có cơ sở, mở rộng hiểu biết của con người về sự đặc biệt của thực vật, ngoài ra còn đóng góp phần quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen của thực vật thông qua dẫn liệu về hình thái và giải phẫu
Hoa hồng nói chung được xem là chúa tể của các loài hoa và đặc biệt loài Hoa hồng cổ đang được người tiêu dùng ưa chuộng nhất Với ưu điểm về kiểu dáng sang trọng, đa dạng về màu sắc, hương thơm, cũng như có thể trồng
và thu hoạch quanh năm ở nhiều vùng khí hậu và sinh thái khác nhau, nên thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm không những cho lao động chính mà cho cả lao động phụ (người già, trẻ em)
Nhận thấy đây là cây có giá trị về kinh tế và ý nghĩa với y học, chúng tôi muốn tìm hiểu thêm đặc điểm thích nghi của loài Hoa hồng cổ sapa khi trồng chúng ở các điều kiện khí hậu khác nhau, nhằm đóng góp thêm một số dẫn liệu về loài hoa này
Trang 11Hoa hồng cổ sapa được nhân giống và trồng ở nhiều vùng đất khác nhau của Việt Nam, vậy hình thái và giải phẫu của nó có thay đổi không để
phù hợp với môi trường sống sẽ được tôi nghiên cứu trong đề tài: “Nghiên
cứu hình thái và giải phẫu thích nghi của giống Hoa hồng cổ sapa trong điều kiện trồng ở Sapa và Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu giống Hoa hồng cổ sapa trong điều kiện trồng tại Sapa và Hà Nội nhằm tìm hiểu đặc điểm thích nghi đa dạng của thực vật Trên cơ sở đó có thể đưa ra những lời khuyên cho việc trồng, khai thác, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và làm kinh tế
Kết quả nghiên cứu bổ sung thêm dẫn liệu về hình thái và giải phẫu
thích nghi của giống Hoa hồng cổ sapa (Rosa gallica), làm tư liệu giảng dạy
và nghiên cứu sau này
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để trồng, chăm sóc và bảo tồn loài hoa quý vì nó có giá trị cả về kinh tế lẫn làm đẹp Ngoài ra, có thể trồng để xuất khẩu hoặc làm cảnh
5 Đóng góp mới
Cung cấp một số dẫn liệu về hình thái, giải phẫu thích nghi của giống
Hoa hồng cổ sapa tại khu vực nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của Hoa hồng
Khoảng 5000 năm trước đây Hoa hồng đã được trồng ở Trung Quốc, Tây Á và Bắc Phi Sau đó, Hoa hồng đã di thực đi khắp nơi trên thế giới Gudin Serge (2000) cho rằng có 8 nhóm Hoa hồng cổ xưa, từ chúng hình thành nên nhiều giống Hoa hồng phổ biến trên thế giới sau này Nhóm có
nguồn gốc từ Trung Quốc Rosa bracteata (1675), Rosa bracteata (1675), Rosa sericeaptericantha (1890) và Rosa wichuraiana variegata (1890) Nhóm có nguồn gốc từ Nhật Bản Rosa rugosa Nhóm có nguồn gốc từ Bắc
Mỹ Rosa foliolosa(1880) và nhóm phát sinh từ cực Bắc bán cầu Rosa nutkana
[14]
Hoa hồng được tìm thấy ở nhiều khu vực, từ những nơi khí hậu khắc nghiệt nhất như vùng ôn đới, hàn đới đến cận nhiệt đới, trong đó tập trung nhiều nhất ở một số nước như: Mỹ, Irap, Ethiopia và Trung Quốc Nhiều nhà khoa học đã chia Hoa hồng thành 10 nhóm lớn, với 115 loài phân bố ở 8 vùng chủ yếu trên thế giới [14]
Do nhu cầu sử dụng hoa của con người rất lớn, cho nên các loài trong chi Rosa được lai tạo nhiều để tạo ra các loài và các giống lai có nhiều đặc tính quý, đáp ứng thị hiếu của con người Loài được lai nhiều nhất là Hồng
thơm hay còn gọi là Hồng trà (Rosax odorata) có nguồn gốc từ Châu Âu,
được nhập trồng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam
Các giống Hoa hồng nổi tiếng nhất trên thế giới như:Rosax odorata cv Old Blush, Rosa x odorata cv Hume’s Blush, Rosa xodorata cv Fortune’s Double Yellow,… đều thuộc loại này, nhưng nhiều khi được trích dẫn là Rosa chinensis Từ Rosa x odorata lại lai tiếp các giống hoặc loài khác để tạo ra các giống mới, ví dụ: Hồng nhung (Red velvet rose), Hồng pháp (Gallic rose),…[14]
Trang 131.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng các giống Hoa hồng ở thế giới và Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Năm 1989 tác giả Datta đã tạo ra được các đột biến thấp cây và đột biến soma về màu hoa ở hầu hết các giống hoa Hồng mà ông thử nghiệm Các đột biến thể khảm về màu sắc và hình dạng hoa xảy ra ở 21 giống Từ 1 vạch nhỏ trên cánh hoa đến biến màu cả cánh hoa [14]
Bugaenko (1989) đã nghiên cứu 12 giống bố mẹ và 659 con lai từ 15 cặp lai giữa chúng Các con lai thể hiện ưu thế lai cao về hàm lượng tinh dầu
so với bố mẹ Các cặp lai cho hàm lượng tinh dầu cao là: Belaya x Raduga; Koopera x Raduga và Festivalnaya [14]
Trong những năm gần đây, nhân giống invitro được áp dụng nhiều trong nhân giống Hoa hồng Những đặc điểm nổi bật của nhân giống invitro
là hệ số nhân giống lớn trong một thời gian ngắn, dễ dàng sản xuất cây sạch bệnh, khỏe mạnh và có khả năng tái sinh mầm chỉ trong 1 năm
Ở Pháp Meynet (1994) đã sử dụng phương pháp sinh sản đơn tính có chiếu xạ hạt phấn và cứu phôi invitro để tạo cây con khỏe mạnh, có khả năng kháng sâu bệnh và mang những ưu điểm từ cây mẹ Cây con thu được đã ra hoa và cho phấn, trong đó một số hạt phấn được kiểm tra có sức sống [14]
Năm 2001, tác giả Aldulber nước Cộng hoà liên bang Nga, đã làm thí
nghiệm và thu được các giống lai từ hồng chè Trung Quốc Newjorker và giống Stullengold thích ứng tốt cho các vùng nam Cộng hòa liên bang Nga [14]
Ở Nhật, năm 2003 đã công bố những thể đột biến trên Hoa hồng được tạo ra nhờ chiếu xạ chùm tia ion Hai chùm tia ion carbon và helli được chiếu lên chồi nách của cây Hoa hồng để tạo đột biến và thu được kết quả tốt Cây phát triển rất nhiều chồi Các đột biến không chỉ xuất hiện ở liều chiếu cao mà còn ở cả liều chiếu thấp, bên cạnh đó những biến đổi sinh lý gây ra bởi chiếu
xạ cũng được theo dõi chặt chẽ Cả 2 chùm tia này đều gây ra đột biến về số
Trang 14lượng cánh hoa, kích thước, hình dạng, màu sắc hoa trong mỗi giống Những nghiên cứu về chọn tạo giống hoa bằng phương pháp gây đột biến gen đã tạo
ra những đột biến có lợi như màu sắc hoa đẹp, độc đáo, năng suất hoa cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt,…là những tính trạng mà các nhà chọn tạo giống mong muốn [3]
Malcolm M Manners (2005) nghiên cứu về độ ẩm, ánh sáng, đất, giá thể ảnh hưởng đến ghép Hoa hồng cho thấy: cần điều chỉnh ánh sáng hợp lý dưới tán cây hoặc trong nhà kính, nhà lưới là phù hợp; nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp cũng dẫn đến mắt rơi vào trạng thái ngủ và làm khô, xém bề mặt cắt [14]
Smulders (2006) khi thu thập và đánh giá tập đoàn Hoa hồng ở châu Âu
đã tiến hành lai giữa loài Hoa hồng dại với các giống Hoa hồng tứ bội đang trồng Kết quả cho thấy những tổ hợp lai có bố mẹ tứ bội cho số hạt lai/quả cao hơn khi chọn loài hoang dại lưỡng bội làm bố mẹ Thế hệ F1 của con lai chọn bố mẹ là loài hoang dại đã không hình thành hoa trong suốt năm đầu tiên nhưng cây lai có khả năng sinh trưởng phát triển tốt [14]
Trên thế giới có một số nước trồng và sản xuất Hoa hồng lớn như: Hà Lan, Mỹ, Bungari, Pháp,… Thị trường châu Âu là nơi có sản lượng nhập khẩu Hoa hồng lớn nhất thế giới, ví dụ Hà Lan, Đức, Đan Mạch,…
Trung Quốc bắt đầu sản xuất hoa Hồng từ thế kỷ XX Hiện nay tổng diện tích trồng Hoa hồng lên tới hơn 10 nghìn ha Sản xuất hoa công nghệ cao được Trung Quốc rất chú trọng và áp dụng
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Hoa hồng được coi là 1 trong 10 loài hoa quý phái, sang trọng góp phần phát triển kinh tế Nhưng cho đến nay, những công trình nghiên cứu về cây Hoa hồng không nhiều, những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu
Kết quả nghiên cứu về chọn, tạo giống Hoa hồng đã được thực hiện ở một số cơ sở Tuy nhiên, công tác chọn giống chủ yếu đi theo hướng nhập nội nguồn gen và chọn, tạo Hướng chọn giống này có nhiều ưu điểm là dựa trên
Trang 15nguồn vật liệu có sẵn chọn ra những giống có khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái Việt Nam
Mặc dù có lượng đất tự nhiên nhiều, song diện tích để trồng Hoa hồng không nhiều (0,02%/tổng số diện tích đất đai)
Phong trào trồng Hoa hồng cổ ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay đang nở rộ và phát triển mạnh Lợi nhuận thu được từ việc trồng hoa cao hơn
10 -15 lần so với trồng lúa Tuy nhiên hầu hết các loài hoa trồng chủ yếu phục
vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước
Như vậy, công tác nghiên cứu, thu thập đánh giá, chọn, tạo giống hoa ở Việt Nam bước đầu đã được nghiên cứu Tuy nhiên, những giống mới có tiềm năng năng suất cao, phẩm chất tốt thực sự thích hợp với điều kiện trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất đã ảnh hưởng rất lớn đến việc mở rộng sản xuất và thúc đẩy sản xuất phát triển Nghiên cứu hình thái, giải phẫu thích nghi của thực vật bước đầu cũng được tiến hành nhưng trên đối tượng là Hoa hồng thì chúng tôi chưa tìm thấy nhiều
Do đó, Việt Nam cần coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu để tạo ra nhiều giống mới phù hợp, có khả năng thích nghi, cho năng suất và chất lượng cao làm phong phú thêm bộ giống Hoa hồng cho các vùng sinh thái
khác nhau
Trang 16CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống Hoa hồng cổ sapa(Rosa gallica)
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại thị trấn Sapa (Lào Cai) và Tây Mỗ (Hà Nội)
2.1.1.1.Một số đặc điểm tự nhiên của thị trấn SaPa
Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sapa ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển Địa hình cao và gần chí tuyến nên Sapa có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, ôn đới, không khí mát mẻ quanh năm Vào mùa hè, thời tiết ở thị trấn một ngày như là có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ, có nắng, không khí dịu mát, buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là cái rét của mùa đông Nhiệt độ không khí trung bình năm của Sapa là 15°C Mùa hè, thị trấn không phải chịu cái nắng gay gắt như vùng đồng bằng ven biển, khoảng 13°C – 15°C vào ban đêm và 20°C – 25°C vào ban ngày Mùa đông thường
có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ có lúc xuống dưới 0°C và có tuyết rơi Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây khoảng từ 1.800 đến 2.200 mm, tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 5 tới tháng 8
+ Địa hình Sapa - PhanSiPan được chia thành 6 bậc chính: bậc thấp nhất là thung lũng Mường Hoa (950 - 1000m), bậc cao nhất là những đỉnh cao trên 2900m (PhanSiPan) (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [17]
+ Khí hậu: Sapa mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, ít mưa Hướng núi của dãy Hoàng Liên chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Khí hậu SaPa rất mát, ẩm, không có thời kỳ khô hạn Mùa hè ẩm ướt từ tháng 5 - 9, mùa đông từ tháng 10 - 4
Trang 17+ Lượng mưa ở đây không chỉ biến động theo mùa mà còn biến động theo không gian Mưa nhiều vào mùa hè (nhiều nhất vào tháng 7 - 8 có trị số
từ 370 - 680mm/tháng), mưa ít vào mùa đông (ít nhất vào tháng 12 - 1 có trị
số từ 20 - 60mm), trung bình 2833 - 3552mm Độ ẩm 87 - 90% Lượng nước bốc hơi cao vào tháng 4 - 5 (80 - 90mm/tháng), nhưng đến 12 - 1 trị số chỉ đo được 30 - 40mm/tháng (Vũ Tự Lập) [13]
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm phổ biến từ 13 - 21oC, cao nhất vào tháng 6 - 7 (16 - 25oC), thấp nhất tháng 12 - 1 (xuống dưới 5oC), càng lên cao khí hậu càng có xu hướng giảm nhiệt
+ Đất: Sapa được cấu tạo từ các loại đá có nguồn gốc mắc-ma như: granit, amphibolit, filit, đá vôi, trong đó đá granit là phổ biến nhất (Vũ Tự Lập, 2010) [13] Đất ở Sapa phân bố theo độ cao và được chia ra thành 8 loại đất chính: Đất mùn thô than bùn màu xám trên núi cao phân bố từ 1600 - 2800m, đất mùn alit màu vàng nhạt trên núi cao phân bố từ 1600 - 2800m, đất feralit màu vàng đỏ núi cao phát triển trên đá biến chất 600 - 1600m, đất feralit màu vàng đỏ núi cao phát triển trên đá axit 600 - 1600m, đất feralit vàng đỏ vùng núi phát triển trên đá axit từ 300 - 600m, đất feralit vàng đỏ núi cao phát triển trên đá biến chất từ 300 - 600m, đất feralit biến đổi do trồng lúa, đất dốc tụ trồng lúa (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [17]
2.1.1.2 Một số đặc điểm tự nhiên của Hà Nội
Hà Nội với diện tích tự nhiên 920,97 km2, kéo dài theo chiều Bắc - Nam 53 km và thay đổi theo chiều Đông Tây từ gần 10km (phía Bắc huyện Sóc Sơn) đến trên 30km (từ xã Tây Tựu, Từ Liêm đến xã Lệ Chi, Gia Lâm)
Hà Nội nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, các mạch núi Tây Bắc và Đông Bắc đã hội tụ về đây, có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không
và đường sông tỏa đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế
Trang 18+ Địa hình:
Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng Trong đó phần lớn diện tích của thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng
Khu vực nội thành và phụ cận là vùng trũng thấp trên nền đất yếu, mực nước sông Hồng về mùa lũ cao hơn mặt bằng thành phố trung bình 4 - 5m Hà Nội có nhiều hồ, đầm thuận lợi cho phát triển Thủy sản và du lịch, nhưng do thấp trũng nên khó khăn trong việc tiêu thoát nước nhanh, gây úng ngập cục
bộ thường xuyên vào mùa mưa Vùng đồi núi thấp và trung bình ở phía Bắc
Hà Nội thuận lợi cho xây dựng, phát triển công nghiệp, lâm nghiệp và tổ chức nhiều loại hình du lịch
+ Khí hậu:
Hà Nội nằm trong vùng mưa mùa nhiệt đới, một năm có 4 mùa rõ ràng, mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nóng nhiều mưa Lượng bức xạ tổng cộng năm dưới 160 kcal/cm2 Hàng năm, chịu ảnh hưởng của các đợt gió màu đông bắc Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC [10]
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa đông ít mưa, mưa phùn kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 12 hoặc tháng 01 có lượng mưa ít nhất
So với các khu vực khác ở phía nam, Hà Nội có mùa đông lạnh rõ rệt, tần số front lạnh cao hơn, số ngày nhiệt độ thấp và rét đậm nhiều, mùa lạnh kéo dài hơn và mưa phùn cũng nhiều hơn, trời nồm
+ Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội khoảng 92.097 ha, trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 47,4%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 8,6%, đất ở chiếm 19,26% Phần lớn diện tích đất đai ở nội thành Hà Nội được đánh giá là không thuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt lún, nứt đất, sạt lở, trôi trượt dọc sông, cấu tạo nền đất yếu [10]
Trang 19+ Tài nguyên sinh vật:
Hệ sinh thái đặc trưng của Hà Nội là hệ sinh thái vùng gò đồi ở Sóc Sơn và hệ sinh thái hồ, điển hình là hồ Tây, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái đô thị, Trong đó, hệ sinh thái rừng vùng gò đồi và hồ có tính đa dạng sinh học cao hơn cả
Thực vật, động vật của Hà Nội khá phong phú và đa dạng Cho đến nay, đã thống kê và xác định có 655 loài thực vật bậc cao, 569 loài nấm lớn (thực vật bậc thấp), 595 loài côn trùng, 61 loài động vật đất, 33 loài lưỡng cư,
103 loài chim, 40 loài thú, 476 loài thực vật nổi, 125 loài động vật Thủy sinh,
118 loài cá, 48 loài cá cảnh nhập nội Trong số các loài sinh vật, nhiều loài có giá trị kinh tế, một số loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam [2]
Hà Nội có các làng hoa và cây cảnh nổi tiếng như Nghi Tàm, Ngọc Hà, Quảng Bá, Láng, Nhật Tân làm cho tài nguyên sinh vật của Hà Nội ngày càng
đa dạng và phong phú
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dưỡng của giống Hoa hồng cổ sapa
- So sánh hình thái và cấu tạo giải phẫu giống Hoa hồng cổ sapa trồng ở hai địa điểm nghiên cứu
- Tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của loài nghiên cứu với điều kiện môi trường sống
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu ngoài thực địa
* Quan sát hình thái ngoài của giống cần nghiên cứu, sau đó tiến hành: -Mô tả hình thái bên ngoài
- Chụp ảnh mẫu
Trang 20* Phương pháp thu hái mẫu (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) [17]
Cách lấy mẫu: thân cắt cách gốc khoảng 20-30cm; lá bánh tẻ; mẫu rễ với các kích thước khác nhau
Đánh số hiệu; cố định mẫu trong dung dịch đã chuẩn bị sẵn (cồn
30 - 40%)
Trang 212.3.2 Phương pháp ngâm mẫu tươi
Ngâm mẫu tươi trong hỗn hợp dung dịch: 400ml rượu etylic 96%, 80ml formol, 40ml axit axetic 40%, 280ml nước cất (theo phương pháp của Pauseva, 1974) (dẫn theo Hoàng Thị Sản và CS., 1980) Dung dịch này giữ cho mẫu thực vật tươi lâu, để giữ mẫu tươi lâu cần thay dung dịch 4 tháng 1 lần [15]
2.3.3 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Làm tiêu bản giải phẫu tươi bằng dao lam cắt tay để quan sát cấu trúc cơ quan cần nghiên cứu theo phương pháp của R.M Klein và D.T Klein (1979) [9,10]
Lát cắt được nhuộm kép với xanhmetylen và cacmin Các bước tiến hành:
- Mẫu vi phẫu sau khi cắt được ngâm ngay vào nước Javen 15 – 30 phút để loại hết nội chất của tế bào
- Rửa sạch Javen bằng nước cất rồi ngâm mẫu vào nước có pha axit axetic trong 5 phút để loại hết nước Javen còn dính lại
- Rửa hết axít axetic bằng nước cất
- Nhuộm màu trong dung dịch cacmin khoảng 30 phút
- Rửa lại trong nước cất
- Nhuộm mẫu trong dung dịch xanh metylen
- Lấy vi mẫu ra, rửa sạch bằng nước cất rồi đưa lên kính quan sát với nước hoặc dung dịch glyxerin (với nước sẽ quan sát mẫu tươi, còn với dung dịch glyxerin quan sát tươi nhưng có thể để được trong thời gian vài ngày)
Bóc biểu bì lá để quan sát cấu tạo hiển vi: Đun mẫu lá 1 - 2 phút trong
trên bề mặt lá thì dừng lại Lấy mẫu ra rửa sạch bằng nước cất, tách biểu bì trên và biểu bì dưới Đặt mẫu lên lam kính rồi dùng bút lông đánh nhẹ để thịt
lá trôi đi rồi quan sát
Ghi lại hình ảnh quan sát được bằng máy ảnh kỹ thuật số nối với kính hiển vi quang học OLIMPIA