Theo tính toán, nhiệt điện than có thời gian và chi phí đầu tư hợp lý, quy trình vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa cũng dễ dàng hơn các nguồn điện như năng lượng tái tạo hay điện hạt nhân. Nhiệt điện than đặc biệt phù hợp với mô hình phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển như ở Việt Nam. “Giảm tỷ lệ nhiệt điện than không hề đơn giản vì rất khó tìm nguồn thay thế, trong khi các dự án thủy điện vừa và lớn đã khai thác gần hết, nguồn khí tự nhiên khai thác cũng đã đến giới hạn và triển vọng nhập khí hóa lỏng sẽ diễn ra sau 2025
Trang 1II TÁC ĐỘNG CỦA NHIỆT ĐIỆN ĐẾN MÔI TRƯỜNG 5
1 Tác động đến môi trường nước 5
1.2 Giai đoạn thi công 5
1.3 Giai đoạn hoạt động của nhà máy 6
2 Tác động đến môi trường không khí 6
2.1 Giai đoạn thi công: 7
2.2 Giai đoạn vận hành 7
3 Tác động đến môi trường đất 9
4 Chất thải rắn 9
4.1 Giai đoạn xây dựng 9
5 Ô nhiễm nhiệt 10
6 Tác động đến môi trường sinh thái 11
III TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH TẾ – XÃ HỘI 12
1 Tác động đến chất lượng cuộc sống con người 12
1.1 Sức khoẻ cộng đồng 12
1.2 Kinh tế xã hội 13
2 Tác động đến tài nguyên và môi trường do con người sử dụng 14
2.1 Cấp thoát nước 14
2.2 Giao thông vận tải 17
2.3 Công trình văn hoá lịch sử 17
IV NGÀNH NHIỆT ĐIỆN THAN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 17
1 Tích cực 18
2 Tiêu cực 20
2.1 Nhiệt điện gây tổn hại môi trường 20
2.2 Gia tăng nguy cơ mưa axit 21
2.3 Nên giải xong “bài toán” cũ 22
2.4 Hàng triệu tấn tro bay 23
2.5 Nguy cơ “bùn xám” 24
Trang 22.6 Hàng loạt các nhà máy nhiệt điện than được xây dựng sát khu dân cư gây ảnh
hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống 25
2.7 Ảnh hưởng đến đời sống con người 26
2.8 Nhiệt điện than kẻ giết người hàng loạt? 27
2.9 Những lớp sương mù độc hại từ điện than 28
2.10 Cái giá phải trả không rẻ! 29
V GIẢI PHÁP 30
1 Các giải pháp hạn chế ô nhiễm ngành nhiệt điện 31
1.1 Sử dụng xúc tác CC-88 có thể tiết kiệm lượng than tiêu tốn 31
1.2 Sử dụng xúc tác CC-88 giảm thiểu ô nhiễm môi trường 31
1.3 Sử dụng xúc tác CC-88 làm tăng chất lượng tro thải 31
1.4 Sử dụng xúc tác CC-88 làm giảm chi phí vận hành 31
1.5 Kết luận 32
1.6 Giải pháp xử lí chất thải của nhà máy nhiệt điện 33
2 Giải pháp phát triển ngành nhiệt điện bền vững 34
2.1 Công nghệ mới giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường 34
2.2 Tái chế chất thải nhiệt điện than thành vật liệu xây dựng 35
2.3 Cần chiến lược phát triển bền vững ngành Than 36
2.4 Thay đổi ngành nhiệt điện bằng các ngành năng lượng khác 36
2.4.1 Khí nén tự nhiên 36
2.4.2 Năng lượng sinh khối 38
2.4.3 Năng lượng địa nhiệt 39
3.4.4 Năng lượng bức xạ 40
3.4.5 Pin nhiên liệu 41
3.4.6 Năng lượng từ đại dương 42
3.4.7 Năng lượng gió 43
3.4.8 Dầu thực vật phế thải dùng để chạy xe 44
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 3I GIỚI THIỆU CHUNG
Ngày 19/5/1961, nhà máy Nhiệt điện Uông Bí với công suất 48 MW được khởi công xây dựng Năm 1963 khánh thành và đi vào hoạt động Đây là nhà máy nhiệt điện có công suất lớn nhất miền Bắc trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Đánh dấu bước ngoặc trong ngành công nghiệp năng lượng của nước ta
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước năng lượng điện năng có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người nói chung cũng như sự phát triển kinh tế của một quốc gia nói riêng Điện năng là một sản phẩm không thể nào thiếu trong cuộc sống của chúng ta hiện nay cũng như tương lai sau này
Hiện nay, năng lượng điện được sản xuất từ hai nguồn chính là thủy điện và nhiệt điện Các nhà máy thủy điện như Hòa Bình, Thác Bà, Trị An,… vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng
Vì vậy hệ thống điện Việt Nam thường xảy ra tình trạng thiếu điện vào các tháng mùa khô và thiếu công suất vào các tháng đầu lũ Còn với các nhà máy nhiệt điện, chúng có
ưu điểm là chi phí đầu tư xây dựng thấp, thời gian xây dựng ngắn, khi vận hành không phụ thuộc nhiều về điều kiện của thiên nhiên nên các nhà máy nhiệt điện được xây dựng nhiều tại nước ta và trên thế giới
Điện năng do các nhà máy nhiệt điện sản xuất ra vẫn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống điện Việt Nam Việt Nam là một nước công nghiệp đang phát triển, nhu cầu tiêu thụ điện năng ngày càng tăng EVN dự báo, trong 5 năm tới nhu cầu tiêu thụ điện năng tăng khoảng 15% hàng năm, tỉ lệ với tốc độ tăng trưởng GDP
Trang 4Theo kịch bản của Bộ Công thương, nhu cầu điện sản xuất ở Việt Nam theo phương án
cơ sở là 294 tỉ kWh vào năm 2020 và 526 tỉ kWh vào năm 2030
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, ngành nhiệt điện nói chung và nhiệt điện than nói riêng ra đời đã có những tác động không đáng kể đến môi trường, con người và hệ sinh thái nói chung
Để có những kiến thức rõ hơn về vấn đề này, chúng em đã nghiên cứu đề tài “Nhiệt điện và tác động của nó đến môi trường”
Có cần phải giảm nhiệt điện?
Nhằm đạt được các mục tiêu quan trọng về khí hậu, chúng ta cần tiến hành song song hai hoạt động dừng xây dựng các nhà máy điện than mới và đóng cửa các nhà máy đang vận hành
Để thực hiện được kế hoạch đó, ba yếu tố quan trọng gồm: (1) các công trình hiện đang dừng ở Trung Quốc và Ấn Độ không được tiếp tục trong tương lai, (2) tiếp tục giảm phát triển điện than trên toàn thế giới, nhu cầu điện được đáp ứng bởi năng lượng sạch nhiều nhất có thể, (3) các nước OECD kiên quyết thay thế các nhà máy điện than lâu năm bằng năng lượng sạch
Trang 5Giảm các nhà máy điện than trong quy hoạch sẽ tăng tính khả thi của cam kết giữ mức nóng lên toàn cầu dưới 2oC so với thời kỳ tiền công nghiệp
Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu (giữ cho mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu ở dưới mức dưới 2oC và nỗ lực giới hạn ở mức 1,5oC) vẫn có khả năng thực hiện được nhưng sẽ đòi hỏi nỗ lực đẩy nhanh hơn nữa tốc độ cắt giảm công suất của các nhà máy điện than đang vận hành, đặc biệt là tại các quốc gia phát thải lớn
II TÁC ĐỘNG CỦA NHIỆT ĐIỆN ĐẾN MÔI TRƯỜNG
1 Tác động đến môi trường nước
1.2 Giai đoạn thi công
Nguồn gây ô nhiễm nước trong giai đoạn này chủ yếu là nước thải sinh hoạt của công nhân và nước mưa chảy tràn trên bề mặt công trường xây dựng
Do tập trung nhiều công nhân xây dựng nên lượng nước thải sinh hoạt (bình quân 60 –
80 lít/người/ngày đêm) thường lớn, song cũng thay đổi theo thời gian và mùa trong năm Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất cặn bã, chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng và vi sinh vật
Trang 6Nước mưa chảy tràn có lưu lượng phụ thuộc vào chế độ khí hậu khu vực và thường có hàm lượng chất lơ lửng là bùn đất cao, ngoài ra còn có nhiều tạp chất khác
1.3 Giai đoạn hoạt động của nhà máy
Nước thải sinh ra trong giai đoạn này của dự án chủ yếu là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
Nước thải công nghiệp gồm nước làm nguội, nước từ các thiết bị lọc bụi, từ bãi thải xỉ,
từ các xưởng cơ khí, các khu vực sản xuất khác và nước thải từ việc làm vệ sinh thiết
bị máy móc
Nước thải từ quá trình làm nguội thiết bị có lưu lượng lớn Loại nước thải này ít bị ô nhiễm và thường chỉ được làm nguội và cho chảy thẳng ra nguồn nước mặt khu vực Tuy nhiên nước xả từ lò hơi lại có nhiệt độ, độ pH cao và có chứa một lượng nhỏ dầu
mỡ, cặn lò không hoà tan, chất vô cơ Do vậy cần phải tách ra khỏi loại nước làm nguội khác để xử lý
Nước thải từ các thiết bị lọc bụi và bãi thải xỉ có lưu lượng và hàm lượng cặn lơ lửng (bụi than) rất lớn Nước thải từ các khu vực sản xuất, xưởng cơ khí có mức độ nhiễm dầu thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ và khả năng vận hành, quản lý Lượng nước này thường không lớn và không thường xuyên
Nước thải từ quá trình rửa thiết bị thường có chứa dầu, mỡ, cặn và trong trường hợp rửa lò hơi có thể chứa cả axit, kiềm Do vậy nhìn chung nước thải từ công đoạn này có giá trị pH rất khác nhau (axit hoặc kiềm) và chứa các chất rắn lơ lửng, một số ion kim loại với tổng lượng lên tới vài trăm m3/ngày
Ðặc điểm, tính chất nêu trên của nước thải nhà máy nhiệt điện sẽ làm ô nhiễm nước mặt ở những ao, hồ, sông cũng như nước ngầm trong khu vực Do vậy trên cơ sở lấy mẫu phân tích hoặc thực hiện theo phương pháp đánh giá nhanh của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phần nội dung này cần thiết phải làm rõ, xác định và tính được:
- Tổng lượng nước thải sinh hoạt, sản xuất (các loại) sinh ra trong ngày, tháng, năm
- Thành phần, nồng độ chất ô nhiễm, tải lượng ô nhiễm trong nước thải
- Vị trí và khả năng tiếp nhận nước thải của các điểm nước mặt trong khu vực
- Ðánh giá khả năng lan truyền và mức độ gây ô nhiễm môi trường nước (nhiệt độ cao, chất ô nhiễm) có thể xảy ra
2 Tác động đến môi trường không khí
Trang 72.1 Giai đoạn thi công:
- Trong giai đoạn thi công công trình, chất gây ô nhiễm không khí chủ yếu là bụi sinh
ra từ quá trình san ủi đất, bốc dỡ vật liệu xây dựng và khói hàn có chứa bụi, CO, SOx, NOx, hydrocacrbon, khí thải của các phương tiện vận chuyển Tác động lên môi trường không khí ở giai đoạn này có mức độ không lớn và chỉ mang tính tạm thời, nhưng cũng cần phải đánh giá để có biện pháp giảm thiểu thích hợp
- Tiếng ồn phát sinh ở giai đoạn này chủ yếu là từ các máy móc san ủi và các phương tiện vận chuyển
2.2 Giai đoạn vận hành
Khí thải của nhà máy Nhiệt điện chủ yếu từ khu vực lò hơi có chứa nhiều chất ô nhiễm đặc biệt là khí SO2, CO, NOx và bụi sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khoẻ con người Cụ thể, bụi khi vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng
sơ hoá phổi, bệnh hô hấp Khí SOx lượng khí thải này là rất lớn lên tới hàng nghìn
m3/phút Ngoài ra còn có các khí độc khác (NO, THC, hơi Pb) hợp chất hữu cơ do rò
rỉ NOx là các chất khí gây kích thích niêm mạc hô hấp
Ngoài ra, khí SOx, NOx khi bị oxy hoá trong không khí và kết hợp với nước mưa sẽ tạo nên mưa axit gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của cây trồng, các thảm thực vật, vật liệu và các công trình xây dựng kiến trúc…
Một lượng lớn khí CO2 là khí tạo hiệu ứng nhà kính, làm tăng nhiệt độ không khí bán cầu, được sinh ra trong quá trình đốt nhiên liệu Các hợp chất hữu cơ bay hơi do sự rò
Trang 8rỉ trong quá trình rót, nạp, xuất, nhiên liệu, vận chuyển bằng bơm, đường ống, băng chuyền, van và khí chứa trong các bể chứa Khí thải từ các phương tiện giao thông vận tải chứa các chất ô nhiễm như bụi than, SO2, NOx, CO, CO2, VOC và hơi chì Mùi hôi của amoniac, hyđrazin và dầu mỡ từ khu vực các bình chứa
Bảng thống kê hiện trạng tỷ lệ các chất gây ô nhiễm không khí từ nhiệt điện than
Theo: cvdViệt Nam.net
Trong các chất gây ô nhiễm, hạt mịn PM2.5 là loại bụi không thể nhìn bằng mắt thường nhưng lại có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe lớn nhất Mức độ ô nhiễm PM2.5 do nhiệt
điện than gây ra được cảnh báo ở mức độ nghiêm trọng vào năm 2030
Nồng độ PM 2.5 từ các nhà máy nhiệt điện than hiện tại và trong tương lai
Theo: cvdvn.net
Tiếng ồn: đặc trưng của ngành nhiệt điện là sử dụng các máy móc, thiết bị có công suất lớn nên thường phát sinh tiếng ồn có cường độ cao: như tuabin hơi nước, máy phát điện, từ các van xả hơi nước, băng tải chuyền than, máy nghiền than xỉ…
Trang 93 Tác động đến môi trường đất
Việc xây dựng nhà máy nhiệt điện sẽ tác động tới môi trường đất trong khu vực Ðất bị
tác động chính do công việc đào lắp và bị xói mòn Việc đào đắp ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, cảnh quan môi trường Xói mòn sẽ tạo ra độ
lắng sông ngòi, cống rãnh thoát nước và có thể gây úng ngập, giảm chất lượng nước
mặt, ảnh hưởng đến hệ sinh thái dưới nước Ngoài ra do ảnh hưởng của khí thải, nước
thải của nhà máy cũng gây nên ô nhiễm đất và cây trồng
Vì vậy, cần phải đánh giá chính xác mức độ tác động của việc đào đất, đắp đất và xói
mòn đối với tài nguyên và hệ sinh thái nhất là trong giai đoạn thi công của dự án Cần
đề xuất các giải pháp phòng ngừa và kiểm soát các tác động xấu này
4 Chất thải rắn
4.1 Giai đoạn xây dựng
Chất thải rắn chủ yếu trong giai đoạn này là các loại nguyên vật liệu xây dựng phế
thải, rơi vãi như gạch ngói, xi măng, sắt thép vụn… Lượng chất thải này là tuỳ thuộc
vào quy mô của từng công trình và trình độ quản lý của dự án, ngoài ra còn một số
lượng nhỏ rác thải sinh hoạt
Trang 10ô nhiễm nhiệt đối với sức khoẻ của người công nhân để có biện pháp xử lý, giảm thiểu thích hợp
Trang 116 Tác động đến môi trường sinh thái
Các tác động này chủ yếu liên quan đến việc thải các chất ô nhiễm nước, khí, các chất thải rắn vượt quá mức cho phép vào môi trường tiếp nhận gây nên những biến đổi cơ bản về hệ sinh thái Tuỳ theo dạng chất thải và môi trường tiếp nhận mà các hệ sinh thái có thể bị tác động:
- Hệ sinh thái dưới nước: Các tác động đối với hệ sinh thái dưới nước bắt nguồn từ ô nhiễm nguồn nước do các loại nước thải của nhà máy Nhiệt điện gây nên độ đục của nước tăng ngăn cản độ xuyên của ánh sáng, gây độ pH trong thuỷ vực bị thay đổi Tuỳ theo đặc điểm hệ sinh thái của vùng dự án mà số loài bị tác động có thể nhiều hay ít
- Hệ sinh thái trên cạn: Chất thải rắn và khí của nhà máy nhiệt điện sẽ có những ảnh hưởng nhất định Nhìn chung, các động vật nuôi cũng như các loài động vật hoang dã đều rất nhạy cảm với sự ô nhiễm môi trường Hầu hết các chất ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước thải đều có tác động xấu đến thực vật và động vật Các chất gây ô nhiễm trong môi trường không khí như SO2, NO2 Cl2, Aldehyde và bụi than, ngay cả ở nồng độ thấp cũng làm chậm quá trình sinh trưởng của cây trồng, ở nồng độ cao làm vàng lá, hoa quả bị lép, bị nứt, và ở mức độ cao hơn cây sẽ bị chết
Trang 12Với đặc điểm nêu trên cần thiết phải có những tính toán, dự báo về mức độ tác động này
III TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH TẾ – XÃ HỘI
1 Tác động đến chất lượng cuộc sống con người
1.1 Sức khoẻ cộng đồng
Ðối với nhà máy nhiệt điện, tất cả các nguồn gây ô nhiễm trong quá trình hoạt động đều có thể gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của con người trong vùng chịu ảnh hưởng của dự án Tuỳ thuộc vào nồng độ và thời gian tác dụng của các chất ô nhiễm mà mức độ tác hại của chúng đối với sức khoẻ cộng đồng sẽ khác nhau
Trang 13Những vấn đề ô nhiễm môi trường do nhiệt điện than gây ra tác động trực tiếp tới sức khỏe con người
Ô nhiễm không khí là nguyên nhân hàng đầu gây ra các bệnh không lây nhiễm như đột quỵ, bệnh tim do thiếu máu cục bộ, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, viêm đường hô hấp dưới và ung thư phổi Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất là trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai và người cao tuổi
Tỷ lệ người dân được hỏi cho biết nhiệt điện than ảnh hưởng sức khỏe của họ
Theo: cvdn.net
Theo một nghiên cứu của đại học Harvard (2015), nhiệt điện than gây ra 4.300 ca chết yểu ở Việt Nam vào năm 2011và dự báo con số này sẽ tăng lên 21.100 vào năm 2030 nếu tất cả các nhà máy nhiệt điện than trong QHĐ VII được xây dựng.Phần lớn người dân sống gần các nhà máy nhiệt điện khẳng định nhiệt điện than có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe
1.2 Kinh tế xã hội
Quá trình hình thành và sự hoạt động của một dự án công nghiệp như nhà máy nhiệt điện có một ý nghĩa kinh tế xã hội rất to lớn cho khu vực nói riêng và cho đất nước nói chung Trước tiên là việc góp phần tạo ra công ăn việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng Việc đưa dự án vào hoạt động sẽ là nguồn thu hút lao động lớn
và giải quyết việc làm không chỉ cho người dân địa phương, tạo nên cảnh quan mới với tiến trình đô thị hoá nhanh hơn Ðiều này cũng góp phần làm tăng dân trí và ý thức văn minh đô thị cho nhân dân trong khu vực
Góp phần tăng hiệu quả kinh tế xã hội như
- Thuế doanh nghiệp
- Tạo công ăn việc làm
Trang 14- Nâng cao trình độ tay nghề, khả năng quản lý, điều hành, nhận thức thực tế về thị trường trong và ngoài nước…
- Tạo sản phẩm cho xã hội…
2 Tác động đến tài nguyên và môi trường do con người sử dụng
2.1 Cấp thoát nước
Nhà máy nhiệt điện than cần một lượng nước lớn cho hệ thống làm mát Trung bình cứ mỗi 3,5 phút một nhà máy nhiệt điện than 500MW sẽ hút lên một lượng nước đủ để chứa trong một bể bơi tiêu chuẩn Olympic (2.500 m3) Sau quá trình làm mát nước được xả trở lại hồ, sông hoặc biển với nhiệt độ cao hơn nước đầu vào từ 5,6 – 11oC, phá hủy môi trường sống của cá và các loài thủy sinh
Việc hút nước vào hệ thống làm mát giết chết rất nhiều cá, cá bị nghiền nát và luộc chín trong các màng lọc hệ thống Ở Mỹ, nhà máy điện than Bayshore tại bang Ohio giết 60 triệu tấn cá lớn mỗi năm, nhà máy Huntley ở New York làm kẹt 96 triệu tấn cá mỗi năm trong hệ thống làm mát của họ
Vì nhu cầu sử dụng nước của nhà máy Nhiệt điện thường lớn nên đều phải khoan giếng hoặc đào giếng để khai thác nước ngầm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhà máy Việc khai thác nước ngầm có nguy cơ gây nên sự cạn kiệt nguồn nước ngầm vào mùa khô, dân cư trong khu vực sẽ không đủ nước dùng và từ đó kéo theo hàng loạt các tác động tiêu cực khác
Một điều ít được nhắc đến là nhiệt điện than dự phần rất lớn vào việc hủy hoại môi trường biển Vì nhiệt điện than cần một lượng nước rất lớn cho hệ thống làm mát nên các nhà máy có xu hướng đặt ven biển Bên cạnh đó, các nhà máy đặt gần biển để thuận lợi cho việc nhập khẩu than
Ðối với vấn đề thoát nước, hoạt động của dự án có thể làm gia tăng mức chịu tải của
hệ thống thoát nước tập trung hoặc làm gia tăng lưu lượng và dòng chảy, làm ô nhiễm các sông tiếp nhận nước thải Vì vậy cần phải xem xét và đánh giá thực tế về khả năng tiêu thoát nước của khu vực dự án, khả năng xảy ra tình trạng ngập lụt…
Trang 16Vị trí các nhà máy nhiệt điện than và các khu bảo tồn biển
Theo: cvdvn.net
Trang 172.2 Giao thông vận tải
Sự hình thành và hoạt động của dự án sẽ góp phần cùng với các hoạt động khác trong khu vực làm cho tình trạng vệ sinh đường phố, bụi tăng lên do các phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu Mật độ giao thông trong khu vực tăng lên làm ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại của nhân dân Tuy vậy, chính sự phát triển của dự án cũng sẽ góp phần cải thiện hệ thống đường cũng như thúc đẩy quá trình đô thị hoá trong khu vực
2.3 Công trình văn hoá lịch sử
Các công trình văn hoá lịch sử trong khu vực thực hiện dự án có thể bị tác động cần được mô tả và đánh giá cụ thể về các mặt: địa điểm, loại công trình, niên đại và giá trị tinh thần cũng như vật chất của công trình Việc đánh giá tác động của dự án đối với các công trình văn hoá lịch sử và khảo cổ phải đề cập tới các tác động gây nứt nẻ, lún sụt công trình và đồng thời kiến nghị kế hoạch và biện pháp bảo vệ các công trình văn hoá lịch sử trong khu vực dự án
IV NGÀNH NHIỆT ĐIỆN THAN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MÔI
TRƯỜNG VIỆT NAM
Trang 181 Tích cực
Theo tính toán, nhiệt điện than có thời gian và chi phí đầu tư hợp lý, quy trình vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa cũng dễ dàng hơn các nguồn điện như năng lượng tái tạo hay điện hạt nhân Nhiệt điện than đặc biệt phù hợp với mô hình phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển như ở Việt Nam “Giảm tỷ lệ nhiệt điện than không hề đơn giản vì rất khó tìm nguồn thay thế, trong khi các dự án thủy điện vừa và lớn đã khai thác gần hết, nguồn khí tự nhiên khai thác cũng đã đến giới hạn và triển vọng nhập khí hóa lỏng sẽ diễn ra sau 2025”
Xu hướng chung, các nước đều dùng nhiệt điện than để đáp ứng nhu cầu điện năng trong phát triển kinh tế sau khi đã khai thác triệt để các nguồn thủy điện (giá thành nhiệt điện than rẻ hơn, chỉ sau thủy điện, trung bình khoảng 7 cent/kWh) Trong khi
đó, Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển mạnh về kinh tế cho nên nhu cầu điện năng rất cao “Khi đất nước đã trở nên giàu có mới nghĩ đến phát triển các dạng năng lượng khác như năng lượng tái tạo và bắt đầu hạn chế dần phát triển nhiệt điện than Nếu làm điện hạt nhân, Việt Nam cũng phải phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu các thanh nhiên liệu từ nước ngoài Làm nhiệt điện than trong tương lai cũng sẽ phải nhập khẩu than, nhưng việc nhập khẩu than dễ dàng hơn nhiều
Hiện nay, tiềm năng về năng lượng sơ cấp trong nước cho sản xuất điện bao gồm các nguồn chính là thủy điện, nhiệt điện than, khí và năng lượng tái tạo Trong đó, đối với nguồn thủy điện: về cơ bản thủy điện vừa và lớn đã được khai thác hết, tổng công suất đưa vào cân đối khoảng 20.000 MW, điện sản xuất trên 70 tỷ kWh
Trang 19Nhiệt điện than đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020 tổng công suất nhiệt điện than khoảng 26.000 MW chiếm 49,3% điện SX; năm 2025 đạt khoảng 47.600 MW, chiếm 55% điện sản xuất; năm 2030 đạt 55.300MW chiếm 53,2% điện sản xuất
Theo số liệu thống kê mới nhất do Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) công bố năm
2017, bức tranh toàn cảnh về tình hình năng lượng thế giới, ASEAN và Việt Nam gần
đây có thể so sánh tóm tắt như sau: (xem bảng 1)
GDP tính theo sức mua và $ năm 2010 (tỷ $) 105035 6409,5 509,3 Sản xuất năng lượng, triệu TOE (tấn qui dầu) 13790 742,1 70,4
Tổng cung nguồn năng lượng sơ cấp (triệu TOE) 13647 627,5 73,8
Tiêu dùng năng lượng sơ cấp b/q đầu người
Tiêu dùng điện bình quân đầu người (kWh/người) 3052 1313 1534
Tiêu hao năng lượng sơ cấp cho 1000$ GDP tính theo
Tiêu hao năng lượng sơ cấp cho 1000$ GDP tính theo
Trang 20Phát thải khí CO2 tính cho 1 toe năng lượng sơ cấp
Qua bảng trên cho thấy:
Thứ nhất: Mức tiêu dùng năng lượng của nền kinh tế Việt Nam còn quá thấp Cụ thể,
về năng lượng sơ cấp chỉ bằng 43% của thế giới và 80% của ASEAN, về điện chỉ bằng 50,26% của thế giới và 116% của ASEAN
Thứ hai: Hiệu quả sử dụng năng lượng của nền kinh tế Việt Nam cũng rất thấp (mức tiêu hao năng lượng sơ cấp để làm ra 1$ GDP cao gấp 3,7 lần so với thế giới và 1,92 lần so với ASEAN)
Thứ ba: Mức phát thải khí CO2 tính theo đầu người của Việt Nam chỉ bằng 41,6% so với mức bình quân của thế giới và 90% so với ASEAN
Các so sánh trên cho thấy: (i) Nhu cầu phát triển ngành năng lượng của Việt Nam còn rất cao; và (ii) Dư địa về phát thải khí CO2 của Việt Nam còn lớn
“Trích: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM”
2 Tiêu cực
2.1 Nhiệt điện gây tổn hại môi trường
Các cơ quan chuyên môn trong nước đã nghiên cứu và đưa ra nhiều cảnh báo về khả năng phát thải khí nhà kính rất cao từ các nhà máy nhiệt điện Việt Nam đã tham gia công ước khung Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu với mục tiêu cắt giảm khí nhà kính
và giữ nhiệt độ Trái đất không tăng quá 20oC trong thập kỷ tới Vì thế, những vấn đề liên quan đến đầu tư xây dựng các nhà máy nhiệt điện cần phải được bàn thảo kỹ hơn Theo phân tích và đánh giá của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong quá trình xây dựng lẫn vận hành, các nhà máy nhiệt điện đều gây ra những tác động nghiêm trọng đến môi trường
Trang 212.2 Gia tăng nguy cơ mưa axit
Trong quá trình vận hành, các nhà máy nhiệt điện sản sinh khí thải lò hơi, khí thải từ các phương tiện vận chuyển, ô nhiễm không khí từ quá trình bốc xếp nguyên vật liệu
và từ các nguồn khác Khí thải của nhà máy nhiệt điện có chứa các chất ô nhiễm có nồng độ cao như bụi (có thể gây kích thích hô hấp, xơ hóa phổi, ung thư phổi, tổn thương da, giác mạc mắt, bệnh ở đường tiêu hóa), SO2 (có thể nhiễm độc qua da, giảm
dự trữ lượng kiềm trong máu; tạo mưa axít, gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển thảm thực vật và cây trồng; tăng cường quá trình ăn mòn kim loại, phá hủy vật liệu bê tông
và các công trình nhà cửa; ảnh hưởng xấu đến khí hậu, hệ sinh thái và tầng ozon), CO (làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu đến các tổ chức, tế bào do CO kết hợp với hemoglobin và biến thành cacboxyhemoglobin), CO2 (gây rối loạn hô hấp phổi, hiệu ứng nhà kính, tác hại đến hệ sinh thái), tổng hydrocarbon (có thể gây nhiễm độc cấp tính như suy nhược, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giác quan và có khi gây tử vong)… Qua đó cho thấy, việc phát tán khí thải sẽ góp phần làm gia tăng mức độ ô nhiễm không khí tại khu vực dự án, đặc biệt ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các
hệ sinh thái
Tiếng ồn và độ rung cũng là nguồn gây ô nhiễm không khí khá nghiêm trọng, trước hết ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động trực tiếp, sau đó tới khu vực lân cận Theo cảnh báo của Tổng cục Môi trường, tiếng ồn làm giảm năng suất lao động, giảm thính lực, dẫn tới bệnh điếc nghề nghiệp Độ rung ảnh hưởng quan trọng tới năng lực
và độ chính xác trong tác nghiệp lao động, giảm thị lực và thính giác, dễ gây ra sự cố tai nạn lao động Trong quá trình hoạt động của nhà máy nhiệt điện, tiếng ồn, rung động phát sinh từ quá trình va chạm hoặc chấn động, chuyển động qua lại do sự ma sát của các thiết bị như hệ thống máy bơm và mô tơ điện, các phương tiện giao thông vận tải …
Bên cạnh đó, nhà máy nhiệt điện sử dụng khối lượng lớn nước làm mát Sau khi sử dụng, nhiệt độ nước sẽ tăng lên nên khi thải ra môi trường sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng nước, giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng đến tốc độ phân hủy các hợp chất hữu cơ trong nước Nước thải từ quá trình xử lý khí thải chứa lưu huỳnh bị ô nhiễm kiềm, chất rắn lơ lửng (MgSO3, MgSO4) và có nhiệt độ cao Nồng độ chất rắn
lơ lửng trong nước thải này khoảng 3.000mg/l, nhu cầu oxy sinh hóa (COD) khoảng 1.600mg/l Đặc biệt, nước thải từ quá trình tái sinh các hạt nhựa trao đổi ion có chứa axít hoặc xút Loại nước thải này nếu không được xử lý sẽ làm thay đổi tính chất hóa
lý của vùng nước tiếp nhận và gây ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh vật tại khu vực thải
Do các chất gây ô nhiễm phát thải ra môi trường với nồng độ cao nên hệ sinh thái cũng chịu nhiều tác động khác nhau Đối với hệ sinh thái dưới nước, các nguồn nước thải từ nhà máy nhiệt điện làm chất lượng nguồn nước xấu đi, ảnh hưởng tới sự sống của hầu
Trang 22hết các loài thủy sinh và thậm chí gây cạn kiệt một số loài có giá trị kinh tế, chẳng hạn tôm, cá
Đối với hệ sinh thái trên cạn, hầu hết các chất ô nhiễm chứa trong khí thải, nước thải, chất thải rắn và các chất thải nguy hại đều có tác động xấu đến đời sống của động, thực vật như làm cho cây trồng chậm phát triển; đặc biệt các khí axít gây tác hại đến các loại rau, đậu, lúa, bắp; các loại cây ăn trái và cây cảnh Các chất ô nhiễm không khí như bụi than, SO2, NO2, CO, tổng hydrocarbon và Aldehyt, ngay cả ở nồng độ thấp cũng làm chậm quá trình sinh trưởng của cây trồng; ở nồng độ cao làm vàng lá, hoa quả bị lép, nứt và ở mức độ cao hơn cây sẽ bị chết Với những tác động bất lợi như vậy, các chủ đầu tư cần thiết phải có những tính toán, dự báo thật chính xác và đầy đủ
về mức độ tác động, để từ đó đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động một cách hiệu quả, thiết thực
2.3 Nên giải xong “bài toán” cũ