Các công cụ kinh tế gồm:- Các loại thuế - Phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.Các công
Trang 1Từ nhiều thập kỷ qua, con người đã nhận thức rằng môi trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn
hoá-xã hội của đất nước Bởi vì môi trường không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyên đầu vào cho sản xuất, tiện nghi sinh hoạt cho con người mà còn là nơi chứa và hấp thụ chất thải do chính sản xuất và con người tạo ra
“Kinh nghiệm phát triển trên thế giới cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế bao giờ cũng làm tăng sức ép và gây ra nguy cơ huỷ hoại môi trường” Vì vậy mà môi trường hiên nay đang là vấn đề nóng bỏng của mọi quốc gia dù đó là quốc gia phát triển hay đang phát triển như Việt Nam Sự ô nhiễm môi trường, suy thoái và những sự cố môi trường diễn ra ngày càng ở mức độ cao, đang đặt con người trước sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức xã hội để bảo vệ môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường
Trong những biện pháp, chính sách mà Nhà nước ta sử dụng cũng như nhiều nước trên thế giới, Nhà nước ta đã áp dụng các công cụ hữu hiệu của mình trong đó công cụ kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá cũng như hội nhập nền kinh tế thế giới ở nước ta diễn ra mạnh mẽ và kéo theo hàng loạt những thách thức về môi trường Như vậy các vấn
đề về môi trường sẽ ngày càng trở nên gay gắt và phức tạp Việc giải quyết, tổ chức sẽ không tránh khỏi những xung đột với phát triển kinh tế- xã hội áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường góp phần giải quyết những xung đột đó
Mở đầu
Trang 2Các công cụ kinh tế gồm:
- Các loại thuế
- Phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh
Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tạo
ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường
CHƯƠNG I HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MTĐT & KCN Ở
VIỆT NAM.
1. Hiện trạng sử dụng cô cụ kinh tế trong quản lý môi trường ĐT & KCN ở Việt Nam:
- Tính đén hết tháng 6/2015, cả nước có hơn 3000 đề án cải tạo, phục hồi môi trường được phê duyệt với tổng số tiền ký quỷ gần 3800 tỷ đồng; 40/63 tỉnh thành đã lập các Quỷ Bảo vệ môi trường để tiếp nhận và quản lí tiền ký quỷ (Bộ TNMT, 2015a)
- Hiện nay, giao thông công cộng đô thị nước ta chủ yếu là xe buýt Cả nước có khoảng
10000 phương tiện xe buýt; gần 500 tuyến xe buýt; vận hành 31000 lượt xe/ ngày; trong đó Hà Nội có 91 tuyến, 1480 phương tiện, 11500 lượt/ ngày, 2015 đạt 535 triệu lượt hành khách; TPHCM có 138 tuyến, 2800 phương tiện, 17000 lượt/ngày, 2015 đạt
368 triệu lựơt hành khách… (Bộ TNMT,2017) Tuy có cải thiện về số lượng và chất lượng nhưng hiện chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của các thành phố Nhiều dự án giao thông công cộng có sức chở lớn chạy trên làn đường dành riêng đã và đang được xây dựng ở các thành phố lớn
- Thủ tướng CP đã phê duyệt danh mục Dự án hổ trợ kĩ thuật cho chương trình Phát triển giao thông xanh TPHCM do WB tài trợ
- TPHCM tổ chức không gian công cộng điển hình, được xây dựng dọc hành lang nhằm tang tính thu hút của hệ thống BRT và việc phát triển đô thị xung quanh trạm dừng BRT
- Như chúng ta đã biết với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì các quan hệ kinh tế là rất đa dạng, đặc biệt từ khi chúng ta mở cửa nền kinh tế thì các doanh nghiệp, chính phủ nước ngoài đã ồ ạt đầu tư vào Việt Nam với những hình thức đầu tư khác nhau, phương thức sản xuất khác nhau Điều đó đòi hỏi không thể chỉ áp dụng một loại công cụ trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường mà nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, chen lẫn nhau giữa các loại công cụ mà đặc biệt là các công cụ kinh tế
Trang 3- Các công cụ kinh tế bao gồm rất nhiều loại, kinh nghiệm của các nước đã chỉ ra rằng không thể chỉ áp dụng một loại biện pháp, một loại công cụ giản đơn hoặc một vài biện pháp, một vài công cụ đơn lẻ nào đó là có thể điều chỉnh được sự đa dạng về chủ thể cũng như phương thức sản xuất nhằm quản lý và bảo vệ môi trường Rõ ràng phải có
sự tiếp cận được chính sách đồng bộ các loại công cụ kinh tế ở đây do thời gian có hạn nên em chỉ nêu ra một số loại công cụ cơ bản để phân biệt ranh giới giữa các loại công cụ kinh tế và các phương tiện khác của phương tiện chính sách
2. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm:
Thuế và phí môi trường, Giấy phép khai thác tài nguyên, Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay “ Cota gây ô nhiễm”, Ký quỹ môi trường, Trợ cấp môi trường, Nhãn sinh thái
3. Khái niệm công cụ kinh tế:
"Công cụ kinh tế là một trong những phương tiện chính sách được áp dụng để đạt tới mục tiêu môi trường thành công" Công cụ kinh tế là việc Nhà nước áp dụng các chính sách dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế của doanh nghiệp nhằm khuyến khích các hành vi thân thiện với môi trường
4. Các đặc trưng cơ bản của công cụ kinh tế:
- Một là: Công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giá của các hoạt
động làm tổn hại đến môi trường lên hoặc hạ giá của các hành động bảo vệ môi trường
xuống - Hai là: Công cụ kinh tế tạo khả năng lựa chọn cho các tổ chức và cá nhân
hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ
5. Các công cụ kinh tế:
5.1. Thuế và phí môi trường
5.1.1. Thuế tài nguyên: là các loại thuế do nhà nước quy định: thuế sử dụng đất, thuế sử
dụng nước, thuế rừng….nhằm hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên, hạn chế tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng, tạo nguồn thu cho ngân sách và điều hòa quyền lợi các tầng lớp dân cư về sử dụng tài nguyên Cụ thể như Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 9/9/2016
Đánh giá:
Ưu điểm:
- Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng ô nhiễm thải ra môi trường
- Khuyến khích người sản xuất thay đổi công nghệ, sản phẩm, quy trình sản xuất để giảm mức thuế phải đóng
- Thuế dựa trên nguyên tắc càng gây ô nhiễm nhiều thì càng phải trả nhiều tiền, do đó kích thích nhà sản xuất giảm ô nhiễm đến mức tối đa để giảm số thuế phải nộp
Nhược điểm:
- Làm tăng chi phí đầu vào, giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp
Trang 4- Ảnh hưởng tới phân phối thu nhập: nhóm đối tượng có thu nhập thấp sẽ bị ảnh hưởng lớn hơn so với nhóm đối tượng có thu nhập cao
- Đầu tư hệ thống thiết bị và hệ thống quản lý giám sát, kiểm soát việc đánh thuế vào các hành vi gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí lớn
5.1.2. Thuế /phí môi trường: là công cụ kinh tế nhằm đưa ra chi phí môi trường vào giá sản
phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền
Có thể chia làm 3 loại :
+ Thuế/phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm: môi trường nước(như BOD, COD, TSS, kim loại nặng ) khí quyển(như SO2, carbon Nox, ) đất ( rác thải, phân bón )
+ Thuế/ phí đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm: kim loại nặng, PVC, xăng pha chì, pin ắc quy có chứa chì, thủy ngân,
+ Phí đánh vào người sử dụng: phí vệ sinh thành phố, phí thu gom, phí sử dụng nước sạch, phí sử dụng đường bãi đổ xe…
Theo Trương Hoàng Đan và Bùi Trường Thọ (2011) phân biệt giữa thuế, phí và lệ phí môi trường như sau:
• Thuế môi trường là khoản thu vào ngân sách nhà nước nhằm điều tiết các hoạt động
BVMT quốc gia, bù đắp chi phí xã hội phải bỏ ra để giải quyết các vấn đề môi trường như phục hồi môi trường, xử lý ô nhiễm… gồm 2 loại: thuế gián thu và thuế thu trực tiếp
• Phí môi trường là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp 1 phần chi phí thường xuyên
và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức quản lý hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp thuế Ví dụ: phí xử lí nước thải, khi thải…
• Lệ phí môi trường là khoản thu có tổ chức, bắt buột đối với cá nhân, tổ chức được
hưởng 1 lợi ích hay sử dụng 1 dịch vụ môi trường nào đó do nhà nước cung cấp hoặc
tổ chức cung cấp dịch vụ được nhà nước cấp phép: lê phí môi trường, thu gom rác…
Đánh giá:
Ưu điểm: Áp dụng thuế tài nguyên có tác dụng lớn trong việc bổ sung cho
nguồn Ngân sách quốc gia, đồng thời thông qua việc đóng thuế tài nguyên Nhà nước theo dõi và giám sát được việc khai thác và sử dụng tài nguyên trong thực tế
Nhược điểm: Đối với các tài nguyên không có khả năng tái tạo, cách tính thuế
theo giá bán sản phẩm chưa phù hợp, không khuyến khích được doanh nghiệp giảm sản lượng tài nguyên khai thác Đồng thời điều kiện địa chất khác nhau ở mỗi vùng do
đó hiệu quả khai thác khác nhau, nếu tính cùng một mức thuế như nhau giữa các vùng
là không công bằng đối với chủ khai thác
Trang 55.2. Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay “ Cota gây ô nhiễm”
Giấy phép môi trường có thể chuyển nhượng (hay còn gọi là quota ô nhiễm) là loại giấy phép xả thải mà người được cấp có quyền chuyển nhượng số lượng, chất lượng xả thải của cơ sở mình cho người khác
Giả dụ ta muốn giảm thực sự các mức thải nhưng do có điều bất chắc nên ta không thể hoàn toàn dựa vào một phí phát thải Đồng thời ta cũng muốn tránh áp đặt những chi phí cao cho những xí nghiệp giảm được mức thải nhiều nhất
Trong trường hợp này ta phải đưa ra các giấy phép thải có thể chuyển nhượng, nghĩa
là mỗi doanh nghiệp phải có một giấy phép với các mức thải nhất định Bên nhận chuyển nhượng cũng chỉ nhận chuyển nhượng mức thải sao cho đúng số lượng, chất lượng mức thải đã ghi trong giấy phép
Mục đích của giấy phép chuyển nhượng là khuyến khích doanh nghiệp giảm lượng chất thải Về mặt kinh tế thì loại công cụ này không có tính chất thu ngân sách nhà nước cũng như quỹ bảo vệ môi trường mà nó là công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường bằng việc khuyến khích các doanh nghiệp giảm lượng chất thải ở một số quốc gia phát triển thì giấy phép chuyển nhượng có tính ưu điểm hơn thuế ở chỗ nó ràng buộc các nhà sản xuất trước khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh phải tìm cách ngăn ngừa ô nhiễm, hoặc giảm ô nhiễm xuống mức thấp nhất
5.3. Ký quỹ môi trường
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây ra ô nhiễm
môi trường Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp gây ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường
Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cơ sở có các biện pháp chủ động khắc phục, không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như cam kết, thì
số tiền ký quỹ sẽ được hoàn trả lại cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản, số tiền trên sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa doanh nghiệp
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích, đối với nhà nước không phải đầu tư kinh phí khắc phục môi trường từ ngân sách, khuyến khích xí nghiệp hoạt động bảo vệ môi trường Xí nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại vốn khi không xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường
Trang 6Đánh giá:
Ưu điểm:
- Nhà nước không cần bỏ chi phí từ ngân sách để khắc phục hậu quả môi trường
- Công cụ có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp tích cực bảo vệ môi trường để nhận lại khoản vốn đã ký quỹ trước đó
Nhược điểm:
Mức ký quỹ rất khó xác định chính xác để phù hợp với mỗi doanh nghiệp Nếu khoản tiền
ký quỹ nhỏ hơn chi phí thực tế bảo vệ môi trường thì doanh nghiệp có xu hướng từ bỏ việc nhận lại số tiền ký quỹ và không thực hiện cam kết
5.4. Trợ cấp môi trường: Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng
ở rất nhiều nước châu Âu thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Trợ cấp không hoàn lại
Trợ cấp môi trường gồm các dạng sau:
- Các khoản cho vay ưu đãi
- Cho phép khấu hao nhanh
- Ưu đãi thuế
Chức năng chính của trợ cấp là giúp đỡ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện, khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc phải xử lý ô nhiễm môi trường Trợ cấp này chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài có thể dẫn đến phi hiệu quả kinh tế, vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
5.5. Nhãn sinh thái: Nhãn sinh thái là một danh hiệu của nhà nước cấp cho các sản phẩm
không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình
sử dụng các sản phẩm đó
Ðược dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất Vì thế các sản phẩm có nhãn sinh thái thường có sức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản phẩm cùng loại Như vậy, nhãn sinh thái là công cụ kinh tế tác động vào nhà sản xuất thông qua phản ứng và tâm lý của khách hàng Do đó, rất nhiều nhà sản xuất đang đầu tư để sản phẩm của mình được công nhận là "sản phẩm xanh", được dán "nhãn sinh thái" và điều kiện để được dán nhãn sinh thái ngày càng khắt khe hơn Nhãn sinh thái thường được xem xét và dán cho các sản phẩm tái chế từ phế thải (nhựa, cao su, ), các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm tác động xấu đến môi trường, các sản phẩm có tác động tích cực đến môi trường hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó ảnh hưởng tốt đến môi trường
Trang 75.6. Bộ tiêu chuẩn ISO 14000.
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 do tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế ban hành năm 1993 bao gồm năm nội dung chính: Hệ thống quản lý môi trường; kiểm tra đánh giá môi trường; đánh giá kết quả hoạt động của môi trường; ghi nhãn môi trường; đánh giá chu trình sống của sản phẩm Ngoài những nội dung trên đăng ký ISO 14000 là thêm một phương thức chỉ ra cho khách hàng biết rằng công ty từ trước đến nay vẫn được công nhận là hoàn thành tốt các
kế hoạch môi trường
Các khía cạnh môi trường trong tiêu chuẩn của sản phẩm ISO 14000 là tiêu chuẩn quản lý môi trường và cũng là một công cụ quản lý môi trường của doanh nghiệp Khi áp dụng Bộ tiêu chuẩn ISO 14000, doanh nghiệp phải cam kết mọi quy định của pháp luật hiện hành và khi đạt yêu cầu của tiêu chuẩn thì sẽ được cấp chứng chỉ đạt ISO 14001, tiêu chuẩn tự quản lý môi trường trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000 Như vậy bộ tiêu chuẩn bảo đảm việc thực thi pháp luật môi trường của doanh nghiệp và trong chừng mực nào đó môi trường sẽ được bảo vệ tốt hơn Rõ ràng bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là công cụ kinh tế rất hữu hiệu, nó thúc đẩy hoạt động bảo vệ môi trường vì lợi ích kinh tế
5.7. Hệ thống đặt cọc- hoàn trả (ký quỹ hoàn trả):
Hệ thống đặt cọc hoàn trả là hệ thống áp đặt sự đặt tiền trước ở vào lúc hàng hoá được mua và số tiền đó sẽ được trả lại khi hàng hoá đã được quay vòng sử dụng
Khi có các hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới môi trường, chủ doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phải đặt cọc một khoản tiền nhằm bảo đảm việc thực hiện các biện pháp khôi phục môi trường Có như vậy thì vấn đề bảo vệ môi trường mới được đảm bảo, tránh tình trạng môi trường không được khôi phục Hơn nữa công cụ kinh tế này
áp dụng sẽ nâng cao trách nhiệm cũng như xử lý vi phạm được dễ dàng hơn Khi chủ doanh nghiệp không khôi phục môi trường thì nhà nước sẽ sử dụng số tiền này để thuê các
tổ chức, cá nhân khác tiến hành khôi phục môi trường
Mặc dù hệ thống này thường đựơc áp dụng mang tính truyền thống đối với các đồ uống (như đồ uống giải khát) nhưng nội dung của nó đã được giảm bớt đối với những thứ
ít có giá trị để nhường chỗ cho những thứ có giá trị hơn Bởi vì khi nhưng sản phẩm này
có giá trị nhỏ, thậm chí là rất nhỏ nên khi áp dụng hệ thống đặt cọc- hoàn trả rất khó kiểm tra việc có gây ô nhiễm môi trường hay không và thường là bỏ qua Hệ thống đặt cọc hoàn trả có thể được áp dụng cho bất kỳ sản phẩm nào, mà chúng đòi hỏi một sự tập trung cao
để tái sử dụng, tái quay vòng, nhằm đảm bảo an toàn cho việc đặt cọc và hạn chế bớt những hàng hoá ít có giá trị mà lại có thể gây ra mức ô nhiễm nhiều hơn Ví dụ như: những chuyến tầu thuỷ vận chuyển xe ô tô; những container thuốc trừ sâu; dầu hoả và những hàng hoá trang thiết bị khác dễ xảy ra tai nạn bất thường
Như vậy “đặt cọc hoàn trả là việc người tiêu dùng phải đặt cọc một số tiền nhằm cam kết việc trả lại bao bì đóng gói cho cơ sở tái chế hoặc người sử dụng lại, hoặc người trung
Trang 8gian”(1) Chẳng hạn người tiêu dùng vật liệu xây dựng là xi măng thì khi sử dụng hết xi măng, người tiêu dùng có thể trả lại bao bì xi măng để nhận lại một khoản tiền nhất định Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam công cụ kinh tế này chưa được giải thích một cách rõ ràng
và vô hình chung nhà sản xuất đã tính cả vào giá thành sản phẩm, tất nhiên nguồn tài chính đó sẽ phải đóng góp cho việc bảo vệ, quản lý môi trường
5.8. Đô thị sinh thái
“Eco” viết tắt của từ sinh thái trong cụm từ đô thị sinh thái “Ecocity”, vốn đọc chệch
từ “Oikos” của tiếng Hy lạp cổ nghĩa là “gia đình” (“hộ gia đình”) trong đó mọi người cùng làm việc để tạo ra một đơn vị chức năng nào đó Tương tự như vậy, các đô thị sinh thái “ecocities” muốn nhấn mạnh mối quan hệ lành mạnh giữa các phần của thành phố với chức năng của chúng hơn là đơn thuần nói đến hàng loạt các chỉ số đo độ xanh, sạch đẹp của đô thị
Đối với đô thị sinh thái, “gần gũi” là điều có ý nghĩa quyết định Nếu như có một chỉ
số đơn lẻ để xác định đô thị sinh thái, đó chính là khả năng dân cư có thể và ưa thích việc tiếp cận hầu hết dịch vụ cơ bản bằng cách đi bộ, đi xe đạp và vận chuyển bằng các phương tiện giao thông công cộng
Tiêu chuẩn quốc tế về đô thị sinh thái (International Ecocity Standard – IES) được tập
hợp từ nhóm các nhà xây dựng đô thị sinh thái (Ecocity Builders), tập hợp các thành viên của các tổ chức từ khắp nới trên thế giới IES đánh giá hiện trạng và quá trình phát triển mới của các đô thị trong việc hướng tới để trở thành đô thị sinh thái IES đánh giá mức độ đạt được trên các quy mô khác nhau từ các khu vực nhỏ đến toàn bộ vùng, dựa trên nguyên tắc của các hệ thống và các thiết kế sức khỏe sinh thái
Các tiêu chí quy hoạch đô thị sinh thái có thể được khái quát trên các phương tiện sau: Kiến trúc công trình, Sự đa dạng sinh học, Công nghiệp và kinh tế đô thị
5.9. Làng sinh thái: Làng sinh thái là một mô hình phát triển kinh tế hài hòa với tài
nguyên thiên nhiên và môi trường gắn với duy trì văn hóa truyền thống bản địa.Làng sinh thái là một mô hình phát triển kinh tế hài hòa với tài nguyên thiên nhiên và môi trường gắn với duy trì văn hóa truyền thống bản địa
5.10. KCN Sinh thái
KCN Kalundborg, Đan Mạch được coi là KCN điển hình đầu tiên trên thế giới ứng dụng những nghiên cứu của STHCN vào việc phát triển một hệ thống cộng sinh công nghiệp thông qua sự trao đổi năng lượng và nguyên vật liệu giữa các công ty Trong vòng
15 năm từ 1982-1997, lượng tiêu thụ tài nguyên của KCN này giảm được 19.000 tấn dầu, 30.000 tấn than, 600.000m3 nước, và giảm 130.000 tấn các-bon dioxide thải ra Mô hình hoạt động KCN này là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống lý luận STHCN và các KCNST trên thế giới
Trang 9Với sự nghiên cứu ngày càng sâu về STHCN và với các tiến bộ vượt bậc của khoa học
kỹ thuật và công nghệ, KCNST đã trở thành một mô hình mới cho việc phát triển công nghiệp, kinh tế và xã hội phù hợp với tiến trình phát triển bền vững toàn cầu Đến nay, KCNST được hiểu là một “cộng đồng” các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có mối liên
hệ mật thiết trên cùng một lợi ích: hướng tới một hoạt động mang tính xã hội, kinh tế và môi trường chất lượng cao, thông qua sự hợp tác trong việc quản lý các vấn đề về môi trường và nguồn tài nguyên Bằng các hoạt động hợp tác chặt chẽ với nhau, “cộng đồng” KCNST sẽ đạt được một hiệu quả tổng thể lớn hơn nhiều so với tổng các hiệu quả mà từng doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ gộp lại
Một KCNST thực sự cần phải là:
- Một mạng lưới hay một nhóm các doanh nghiệp sử dụng các bán thành phẩm, phế phẩm hay phụ phẩm của nhau
- Một tập hợp các doanh nghiệp tái chế
- Một tập hợp các công ty có công nghệ sản xuất bảo vệ môi trường
- Một tập hợp các công ty sản xuất sản phẩm “sạch”
- Một KCN được thiết kế theo một chủ đề môi trường nhất định (ví dụ KCNST năng lượng tái sinh, KCNST tái tạo tài nguyên)
- Một KCN với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và công trình xây dựng bảo vệ môi trường
- Một khu vực phát triển hỗn hợp và đồng bộ (công nghiệp, thương mại, dịch vụ hay ở) Hiện nay, trên thế giới có khoảng 30 KCNST, phần lớn nằm ở nước Mỹ và châu Âu Tại châu Á, mạng lưới công nghiệp sinh thái với một số các KCNST đã được thành lập và phát triển ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác Mỗi một KCNST có một chủ đề (đặc trưng) riêng về môi trường hay hệ sinh thái công nghiệp trong đó Dựa vào đó, người ta chia KCNST thành năm loại chính: KCNST nông nghiệp; KCNST tái tạo tài nguyên; KCNST năng lượng tái sinh; KCNST nhà máy điện và KCNST lọc hóa dầu hay hóa chất
5.11. Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dụcmôi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và cá giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cưc đến
Trang 10môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế- xã hội cho cộng đồng địa phương
Việt Nam với lợi thế có chiều dài bờ biển, rừng núi hoang sơ với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và nhiều rừng cấm, đó là những di sản thiên nhiên của quốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái như Vịnh Hạ Long, hồ Ba
Bể, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên, vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long.v.v đặc biệt là đã có tới 8 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp ba miền
CHƯƠNG II