1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng mô hình chuỗi thời gian phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà

77 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 895,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay, vốn là nhân tố quan trọng cho mọi hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề cấp bách. Đầu tư và tăng trưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trưởng kinh tế, để thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở nước ta cần đến một lượng vốn lớn. Vốn cho phát triển kinh tế - xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách trong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nước ta. Đương nhiên để duy trì những thành quả đã đạt được của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới vừa qua, giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi vào tình trạng “tụt hậu” so với nhiều nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới. Trong giai đoạn hiện nay nước ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi nguồn vốn trong nước từ bản thân nhân dân và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốc doanh, nguồn vốn nước ngoài từ ODA, NGO và từ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Tuy nhiên cần thấy rõ nguồn vốn trong nước là chủ yếu, được xem là quyết định cho sự phát triển bền vững và độc lập của nền kinh tế. Và để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển Nhà nước đề ra chính sách tăng cường huy động vốn thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại, phát triển đa dạng hóa các công cụ huy động vốn,.. vì vậy hoạt động huy động vốn của ngân hàng không chỉ quan trọng đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với cả thị trường vốn của đất nước. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Hoạt động chính của ngân hàng là hoạt động tín dụng, tức là cho vay vốn để thu lợi nhuận, vì thế đây là một hoạt động vô cùng quan trọng của ngân hàng, quyết định đến sự tồn tại và hiệu quả của ngân hàng. Để cho vay được thì ngân hàng cần có một lượng vốn lớn. Ngoài nguồn vốn tự có, ngân hàng cần phải huy động từ các nguồn khác nhau thì mới có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ khác của ngân hàng. Phân tích nguồn vốn huy động của ngân hàng là cần thiết, trên cơ sở đó có thể đưa ra các giải pháp để thu hút nguồn vốn từ khách hàng. Vấn đề đặt ra là ngân hàng phải làm gì để nguồn vốn huy động từ khách hàng tăng lên để có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình một cách dễ dàng mà không gặp khó khăn, vướng mắc về vốn. Điều này dẫn đến phải xem xét những yếu tố nào tác động đến nguồn vốn huy động của ngân hàng, yếu tố nào quan trọng nhất, tác động mạnh nhất đến nguồn vốn huy động của ngân hàng từ đó đưa ra được phương pháp thu hút nguồn vốn từ khách hàng, dự báo được nguồn vốn trong những kỳ tiếp theo xây dựng kế hoạch kinh doanh trong thời gian tới. Từ những lý do trên mà em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Sử dụng mô hình chuỗi thời gian phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà ”. Khóa luận của em gồm 3 chương như sau: Chương 1: Tổng quan về ngân hàng thương mại, ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn và công tác huy động vốn của ngân hàng. Chương 2: Cơ sở lý thuyết của mô hình. Chương 3: Phân tích chuỗi vốn huy động bằng một số mô hình kinh tế lượng.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA TOÁN KINH TẾ

O0O

-CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT

NGHIỆP

Đề tài:

SỬ DỤNG MÔ HÌNH CHUỖI THỜI GIAN PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HỒNG HÀ

Giáo viên hướng dẫn : THS HOÀNG BÍCH PHƯƠNG

: TS NGUYỄN THỊ MINH Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ TRANG

Hà Nội - 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG 3

1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) 3

1.1 Khái niệm NHTM 3

1.2 Vai trò, chức năng NHTM 4

2 GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 7

3 VỐN TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 9

3.1 Khái niệm, vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng 9

3.2 Kết cấu vốn của NHTM 10

3.2.1 Vốn chủ sở hữu (vốn tự có) 10

3.2.2 Vốn huy động 11

3.2.3 Vốn đi vay 13

3.2.4 Vốn tài trợ ủy thác đầu tư 13

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động 14

3.3.1 Nhân tố chủ quan 15

3.3.1.1 Uy tín và chiến lược kinh doanh của ngân hàng 15

3.3.1.2 Chính sách lãi suất cạnh tranh 15

3.3.1.3 Chính sách khách hàng 16

3.3.1.4 Các hình thức, sản phẩm huy động vốn của ngân hàng và dịch vụ do ngân hàng cung ứng 16

3.3.1.5 Một số nhân tố chủ quan khác 16

3.3.2 Nhân tố khách quan 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG 18

1 LÝ THUYẾT MÔ HÌNH TOÁN KINH TẾ 18

2 LÝ THUYẾT KINH TẾ LƯỢNG 20

2.1 Mô hình hồi quy 21

Trang 3

2.2 Chuỗi thời gian, làm trơn và ngoại suy chuỗi thời gian 21

2.3 Chuỗi thời gian dừng và không dừng 24

2.4 Mô hình ARIMA và VAR 26

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CHUỖI VỐN HUY ĐỘNG BẰNG MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG 28

1 NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG 28

1.1 Phân tích nguồn vốn huy động theo các thống kê đặc trưng 28

1.2 Phân tích nguồn vốn huy động theo mùa vụ 30

1.3 So sánh các thống kê đặc trưng của NV và NVSM 32

1.4 Phân tích chuỗi nguồn vốn huy động 33

1.5 Mô hình tự hồi quy của nguồn vốn huy động 36

1.6 Phân tích nguồn vốn huy động theo các kỳ hạn huy động 39

2 LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN 41

3 TỶ GIÁ ĐỒNG NGOẠI TỆ 43

3.1 Tỷ giá đồng đô la Mỹ (E_USD) 43

3.2 Tỷ giá EUR (E_EUR) 45

4 ƯỚC LƯỢNG VÀ PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 47

4.1 Mô hình từng biến 47

4.1.1 Tác động của yếu tố lãi suất tới NVSM 48

4.1.2 Tác động của yếu tố tỷ giá đến nguồn vốn huy động 54

4.2 Mô hình nhiều biến 57

5 Kiểm định khuyết tật trong mô hình 59

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 65

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 3.1 Các thống kê đặc trưng của nguồn vốn huy động 29

Hình 3.1: Đồ thị nguồn vốn huy động theo thời gian 30

Bảng 3.2 Kết quả san mũ bằng phương pháp Holt – Winters 31

Bảng 3.3 Các thống kê đặc trưng của NV và NVSM 32

Hình 3.2 Đồ thị của NV và NVSM theo thời gian 33

Bảng 3.4 Lược đồ tương quan của chuỗi NV 34

Bảng 3.5 Kiểm định tính dừng của chuỗi NV 35

Bảng 3.6 Mô hình ước lượng NVt theo NVt-1 (mô hình 1) 36

Bảng 3.7 Mô hình hồi quy NV theo NV(-1) và thời gian T (mô hình 2) 37

Bảng 3.8 Lược đồ tương quan của chuỗi NVSM 39

Bảng 3.9 Kiểm định tính dừng của chuỗi NVSM 39

Bảng 3.10 Các thống kê đặc trưng của NV1 và NV12 40

Hình 3.3 Đồ thị nguồn vốn và các nguồn vốn theo thời gian 40

Bảng 3.11 Các thông kê đặc trưng của R1 và R2 42

Hình 3.4 Đồ thị của lãi suất R1 và R2 theo thời gian 43

Bảng 3.12 Các thống kê đặc trưng của tỷ giá USD 44

Hình 3.5 Đồ thị của tỷ giá USD theo thời gian 44

Bảng 3.13 Các thống kê đặc trưng của tỷ giá EUR 45

Hình 3.6 Đồ thị tỷ giá EUR theo thời gian 46

Hình 3.7 Đồ thị của tỷ giá USD và EUR 47

Bảng 3.15 49

Bảng 3.16 50

Bảng 3.17 51

Bảng 3.18 52

Bảng 3.19 53

Bảng 3.20 54

Bảng 3.21 55

Bảng 3.22 56

Bảng 3.23 57

Bảng 3.24 (mô hình 3) 58

Bảng 3.25 (mô hình 4) 59

Bảng 3.26 Kiểm định tự tương quan 60

Trang 5

Bảng 3.27 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 60

Bảng 1: Bảng số liệu về nguồn vốn huy động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà 65

Bảng 2: Bảng số liệu về tỷ giá đồng USD, EUR và lãi suất tiền gửi tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà 66

Bảng 3: Bảng số liệu nguồn vốn huy động đã được san để loại bỏ yếu tố mùa vụ 67

Bảng 3.29 Kết quả san mũ bằng phương pháp Holt – Winters 68

Bảng 3.29 69

Bảng 3.30 70

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, vốn là nhân tố quan trọng cho mọi hoạt động củanền kinh tế Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề cấp bách Đầu tư và tăngtrưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trưởng kinh tế, để thực hiện chiến lượcphát triển nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở nước ta cần đến một lượng vốn lớn

Vốn cho phát triển kinh tế - xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp báchtrong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nước ta Đương nhiên để duy trì nhữngthành quả đã đạt được của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới vừa qua, giữvững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi vào tình trạng “tụthậu” so với nhiều nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới Trong giai đoạnhiện nay nước ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi nguồn vốn trong nước từ bản thânnhân dân và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốc doanh,nguồn vốn nước ngoài từ ODA, NGO và từ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Tuynhiên cần thấy rõ nguồn vốn trong nước là chủ yếu, được xem là quyết định cho sựphát triển bền vững và độc lập của nền kinh tế Và để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu

tư phát triển Nhà nước đề ra chính sách tăng cường huy động vốn thông qua hệthống Ngân hàng thương mại, phát triển đa dạng hóa các công cụ huy động vốn, vìvậy hoạt động huy động vốn của ngân hàng không chỉ quan trọng đối với bản thânngân hàng mà còn đối với cả thị trường vốn của đất nước

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hoạt động chính của ngân hàng là hoạt động tín dụng, tức là cho vay vốn đểthu lợi nhuận, vì thế đây là một hoạt động vô cùng quan trọng của ngân hàng, quyếtđịnh đến sự tồn tại và hiệu quả của ngân hàng Để cho vay được thì ngân hàng cần

có một lượng vốn lớn Ngoài nguồn vốn tự có, ngân hàng cần phải huy động từ cácnguồn khác nhau thì mới có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tíndụng và các dịch vụ khác của ngân hàng Phân tích nguồn vốn huy động của ngânhàng là cần thiết, trên cơ sở đó có thể đưa ra các giải pháp để thu hút nguồn vốn từkhách hàng

Vấn đề đặt ra là ngân hàng phải làm gì để nguồn vốn huy động từ kháchhàng tăng lên để có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình một cách dễdàng mà không gặp khó khăn, vướng mắc về vốn Điều này dẫn đến phải xem xétnhững yếu tố nào tác động đến nguồn vốn huy động của ngân hàng, yếu tố nào quantrọng nhất, tác động mạnh nhất đến nguồn vốn huy động của ngân hàng từ đó đưa rađược phương pháp thu hút nguồn vốn từ khách hàng, dự báo được nguồn vốn trongnhững kỳ tiếp theo xây dựng kế hoạch kinh doanh trong thời gian tới

Trang 7

Từ những lý do trên mà em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Sử dụng mô hình

chuỗi thời gian phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà ”.

Khóa luận của em gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về ngân hàng thương mại, ngân hàng nông nghiệp &phát triển nông thôn và công tác huy động vốn của ngân hàng

Chương 2: Cơ sở lý thuyết của mô hình

Chương 3: Phân tích chuỗi vốn huy động bằng một số mô hình kinh tế lượng

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG

dễ dàng Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại

Theo WB định nghĩa: NHTM là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dướidạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn gọn ( tiền gửikhông kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm)

Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp cácdịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vị tài chính Ở Pháp: ngân hàngthương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của côngchúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính

họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính

Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước ViệtNam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat độngchủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả

và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phươngtiện thanh toán

Từ các đĩnh nghĩa trên có thể rút ra: Như vậy ngân hàng là một trong nhữngđịnh chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, vớinghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thoanh toán

Trang 9

cũng như nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụcủa xã hội.

1.2 Vai trò, chức năng NHTM

Tại Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì

nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông

và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường cònnon yếu Hệ thống ngân hàng thương mại VN đã chính thức ra đời từ 1990 và đếnnay đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn điều lệ không ngừng gia tăng, mạnglưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh Hệ thốngngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế, ướctính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% vốn đầu tư toàn xã hội.Tăng trưởng tín dụng liên tục tăng trong các năm và năm 2006 ước tăng khoảng24%, cao hơn mức 19% năm 2005

a Vai trò NHTM

Vai trò thực thi chính sách tiền tệ:

Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về NHTU, còn để thực thi chính sách

đó phải sử dụng các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng… CácNHTM là chủ thể chịu tác động trực tiếp của các chính sách đó và đồng thời đóngvai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các chính sách tiền tệ đến các khu vực phingân hàng và đến nền kinh tế Ngược lại, thông qua các NHTM và các định chế tàichính trung gian khác, mọi tình hình của nền kinh tế như: sản lượng, nhu cầu tiềnmặt, lãi suất, tỷ giá… sẽ được phản hồi về NHTU để Chính phủ và NHTU có chínhsách điều tiết thích hợp

Với các chính sách của NHTU, việc các NHTM thu hút hay bơm tiền vào lưuthông một cách hợp lý sẽ đảm bảo cho nền kinh tế thường xuyên có một khối lượngtiền mặt cần thiết và cân đối, phục vụ cho hoạt động kinh doanh và các hoạt độngkhác trong từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế phát triển bình thường.Như vậy với vai trò là người thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết kinh tế vi môthông qua các nghiệp vụ tín dụng, tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt, cácdịch vụ tài chính trung gian… các NHTM đã xâm nhập vào các hoạt động sản xuấtkinh doanh của mọi chủ thể trong nền kinh tế, tạo điều kiện để các doanh nghiệpphát triển, đồng thời bản thân các ngân hàng cũng phát triển hơn

Góp phần điều tiết vĩ mô thông qua chức năng tạo tiền của NHTU:

NHTU thể hiện chức năng điều tiết vĩ mô thông qua việc tham gia xây dựngchiến lược phát triển kinh tế xã hội và soạn thảo chính sách tiền tệ Chính sách tiền

Trang 10

tệ là loại công cụ của chính sách can thiệp bằng kinh tế, dựa trên bản thân cơ chế thịtrường và các quy luật vận động của nó Nhưng NHTU không trực tiếp giao dịchvới công chúng, do đó phải dựa vào thông tin phản hồi từ các định chế tài chínhtrong đó có NHTM để làm căn cứ soạn thảo chính sách tiền tệ.

Chính sách tiền tệ được thiết kế bởi NHTU nhưng nó lại được thực thi trong mọingóc nghách của nền kinh tế thông qua hoạt động của các ngân hàng trung gian vàcác định chế tài chính.Vì vậy chỉ có hoạt động của các NHTM và các định chế tàichính thì chính sách tiền tệ mới được thực hiện trong nền kinh tế của toàn xã hội.Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng luôn được dử dụng như một công cụquan trọng để Nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế Chẳng hạn nhưkhi Nhà nước muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế nào đó, cùng vớiviệc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích, các NHTM luôn được sử dụngbằng cách Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách ưu đãitrong đầu tư sử dụng vốn như: giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiệnvay vốn hoặc thông qua hệ thống NHTM Nhà nước cấp ưu đãi cho các lĩnh vựcnhất định Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức, Nhà nước thông qua NHTU thựcthi chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm khả năng tạo tiền, từ

đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế để kinh tế phát triển ổn định, vữngchắc

b Chức năng NHTM

Chức năng trung gian tài chính:

Thực hiện chức năng này, một mặt NHTM huy động và tập trung các nguồn vốntiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nên nguồn vốn cho vay; mặtkhác trên cơ sở số vốn đã huy động được, NHTM cho vay để đáp ứng nhu cầu vốnsản xuất, kinh doanh, tiêu dùng… của các chủ thể kinh tế, góp phần điều hòa vốn vàđảm bảo sự liên tục của guồng máy kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậyNHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay Nói cách khác, nghiệp vụ tíndụng của ngân hàng là đi vay để cho vay – đó chính là vai trò trung gian củaNHTM Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thôngtin nhiêu chiều, hoạt động ngày càng phong phú, có sự chuyên môn hóa trong từnglĩnh vực, NHTM đã thực sự giải quyết được những hạn chế của thị trường tài chínhtrực tiếp, góp phần nâng cao hiệu quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường

Chức năng cung tiền:

Chức năng này được thể hiện thông qua quá trình ngân hàng cấp tín dụng chonền kinh tế và hoạt động đầu tư của NHTM, trong mối quan hệ với NHTU, đặc biệt

là trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia do tín dụng ngân hàng thực

Trang 11

hiện vai trò của nó như là một kênh dẫn để thông qua đó tiền cung ứng được tănglên hay giảm xuống phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế.

Muốn phát huy được chức năng cung tiền, một ngân hàng đơn độc khó có khảnăng cung tiền, hoặc việc cung tiền diễn ra ở một NHTM chỉ là tạm thời trong mộtlúc nào đó Một dây chuyền hoàn chỉnh của quá trình cung tiền phải gắn với một hệthống NHTM cùng với sự trợ lực của NHTU NHTU sẽ bằng cách sử dụng cáccông cụ chính sách tiền tệ để gia tăng hay khống chế khả năng cung tiền của cácNHTM theo ý đồ của mình để đạt được hiệu quả mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặtra

Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán

Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng ngân hàng là thủ quỹ củacác doanh nghiệp, tức là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trảtiền theo lệnh của chủ tài khoản Khi thực hiện chức năng này, các NHTM cung cấpcho khách hàng của mình nhiều phương tiện thanh toán phong phú như: séc chuyểntiền, séc chuyển khoản, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi…

Sự xuất hiện các phương tiện thanh toán này giúp cho các khách hàng của ngânhàng không phải tới tận nơi chi trả cho nhau bằng tiền mặt rất tốn kém mà chỉ cần ralệnh cho ngân hàng thông qua các phương tiện thanh toán Do đó đã tiết kiệm cho

xã hội rất nhiều chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quátrình lưu thông hàng hóa

Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác

Ngoài các dịch vụ truyền thống là huy động và cho vay, NHTM ngày nay còncung cấp một danh mục dịch vụ khá đa dạng và phong phú: dịch vụ thanh toán, dịch

vụ môi giới, tư vấn cho khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, dịch vụ

ủy thác, dịch vụ bảo quản an toàn các tài sản có, dịch vụ kinh doanh ngoại hối…Cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, các loại dịch vụ ngân hàng cũng pháttriển và mang nhiều tiện ích cho khách hàng Đây cũng là một trong những chỉ tiêuđánh giá chất lượng hoạt động của một NHTM Bởi lẽ ngày nay trong điều kiệncạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng, việc đưa ra các dịch vụ mới làm tăng tiệních cho khách hàng là một yếu tố để cạnh tranh Chính vì vậy mà các ngân hànghiện nay rất tích cực đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ tin học,khoa học kỹ thuật vào hoạt động của mình Nếu các NHTM có thể đáp ứng tốt nhucầu của khách hàng về dịch vụ, tạo được uy tín với khách hàng thì đây cũng là mộtbiện pháp, yếu tố để tăng khả năng huy động vốn của ngân hàng

Trang 12

2 GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

AGRIBANK là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ

CBNV, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Đến tháng 3/2007, vị thế dẫnđầu của AGRIBANK vẫn được khẳng định với trên nhiều phương diện: Tổngnguồn vốn đạt gần 267.000 tỷ đồng, vốn tự có gần 15.000 tỷ đồng; Tổng dư nợ đạtgần 239.000 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu theo chuẩn mực mới, phù hợp với tiêu chuẩnquốc tế là 1,9% AGRIBANK hiện có hơn 2200 chi nhánh và điểm giao dịch được

bố chí rộng khắp trên toàn quốc với gần 30.000 cán bộ nhân viên

Năm 1988: Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo

Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triểnNông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngânhàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụngNông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tíndụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thươngnghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị

Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính

phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thaythế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp là Ngânhàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,

là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạtđộng của mình trước pháp luật

Ngày 01/03/1991 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số

18/NH-QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ ChíMinh và ngày 24/6/1994, Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận choNgân hàng nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố QuyNhơn - tỉnh Bình Định

Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số

603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thànhphố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại

Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giaodịch 3 tại Văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh,

Trang 13

thành phố Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chinhánh.

Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàngNhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệpViệt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóabằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngânhàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh.Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam vàcũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam sau này

Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ , Ngânhàng Nông Nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước với

cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bộ máy giúp việc baogồm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toánphụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý vàchức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc

Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàngNông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn ViệtNam

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hìnhTổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các

tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đốivới khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phầnthực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nôngthôn

Trang 14

3 VỐN TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG

3.1 Khái niệm, vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Khái niệm về vốn

Vốn của các NHTM là toàn bộ các giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động và tạolập để đầu tư cho vay và đáp ứng nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh củangân hàng

Thực chất nguồn vốn của các NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thờinhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng mà khách hàng gửi vào ngânhàng với các mục đích khác nhau Nói cách khác khách hàng chuyển quyền dử dụngtiền tệ cho ngân hàng và ngân hàng trả cho khách hàng một khoản lãi Như vậyngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối làm tăng nhanh quá trình luânchuyển vốn trong nền kinh tế, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế pháttriển, đồng thời chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng

Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Trước hết nguồn vốn ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng thông quadanh mục tài sản mà nó tài trợ về cả quy mô và cơ cấu Trên cơ sở nguồn vốn tạolập, ngân hàng sử dụng để cho vay, đầu tư vào chứng khoán, mua sắm tài sản cốđịnh và thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả năng thanh toán

Quy mô, cơ cấu của các nhóm tài sản này được xác định một phần căn cứ vào quy

mô, cơ cấu nguồn vốn Một ngân hàng không thể tham gia cho vay các dự án lớn nếunguồn vốn có hạn và cũng không thể cho vay quá nhiều những khoản vay dài hạn hứahẹn doanh lợi cao nếu nguồn vốn của nó là ngắn hạn

Thêm vào đó, tính ổn định, chi phí và thời hạn của nguồn vốn quy định số tiềnphải dự trữ, là cơ sở để cân nhắc đầu tư bao nhiêu, nên cho vay với thời hạn nào, lãisuất bao nhiêu để phù hợp với nguồn vốn

Như vậy, nguồn vốn có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định danhmục tài sản đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM Để tăng thu nhập từlãi, các NHTM thường tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp, tăng quy mô nguồnvốn, tối đa các tài sản sinh lời, đồng thời còn có thể tăng thu nhập khi cung cấp cácdịch vụ thông qua phí dịch vụ Đó chính là lợi thế kèm theo của hoạt động huy độngvốn

Nguồn vốn với quy mô và kết cấu của nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sự an nguyhoạt động của ngân hàng Sự không phù hợp giữa nguồn vốn với cơ cấu sử dụngvốn về thời hạn, độ nhạy cảm với lãi suất, quy mô các loại tiền có thể dẫn tới những

Trang 15

rủi ro về thanh toán, lãi suất, tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu Đó là nhữngrủi ro khi chi phí mà ngân hàng phải trả lãi tăng nhanh hơn thu nhập từ lãi khiến chothu nhập từ lãi của ngân hàng bị thu hẹp lại, thậm chí có thể âm Hoặc khi nhiềungười gửi tiền rút tiền đột ngột mà ngân hàng lại không đủ khả năng chi trả haykhi ngân hàng có nguồn vốn với chi phí gia tăng do phải đi vay để bù đắp khoảntiền gửi bị rút ra và do đó không thể cung cấp các khoản tín dụng với lãi suất cạnhtranh cho những khách hàng, những dự án tin cậy hơn.

3.2 Kết cấu vốn của NHTM

3.2.1 Vốn chủ sở hữu (vốn tự có)

Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, được tạo ra bằng cách bán

cổ phần hoặc từ lợi nhuận giữ lại Nó cũng có thể bao gồm loại vốn mà ngân hàngđược phép sử dụng lâu dài theo pháp luật riêng của từng nước

Đối với NHTM thuộc sở hữu Nhà nước thì vốn tự có là vốn pháp định do ngânsách Nhà nước cấp, tức là chỉ có một cổ đông duy nhất đó là Nhà nước

Cơ cấu vốn tự có: Vốn tự có của ngân hàng bao gồm hai phần đó là vốn tự

có cơ bản và vốn tự có bổ sung

- Vốn tự có cơ bản: Gồm có phần thưởng, thặng dư vốn, lợi tức không chia,

cổ phần ưu đãi vĩnh viễn, khoản dự trữ thiệt hại cho vay

Bất kể ngân hàng nào khi thành lập đều phải có một mức vốn tự có cơ bản ítnhất là ngang bằng với mức vốn pháp định ( theo luật công ty đó là mức vốn tốithiểu cho mỗi loại hình công ty mới thành lập theo từng ngành nghề riêng biệt ) thìkhi đó ngân hàng đó mới được cấp giấy phép hoạt động

Thặng dư vốn là chênh lệch tăng lên do xác định giá trị tài sản cố định của ngânhàng so với khi mua sắm ban đầu

Lợi tức không chia: là phần lợi tức hàng năm theo quyết định của đại cổ đônggiữ lại để bổ sung thêm vốn tự có của ngân hàng

Cổ phần ưu đãi vĩnh viễn: là loại chứng khoán có lãi suất cố định cho người sởhữu, người giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết hoạt động ngân hàng vàngân hàng phải trả lợi tức cho cổ phiếu từ lợi nhuận sau thuế

Khoản dự trữ thiệt hại cho vay: xuất phát từ cho vay bao giờ cũng xảy ra rủi ro

và mất mát, do vậy các ngân hàng đều duy trì dự trữ cho các khoản tổn thất CácNHTM được phép trích lập quỹ đặc biệt này từ các khoản thu nhập trước thuế haysau thuế là do từng quốc gia quy định theo một tỷ lệ nhất định nào đó

- Vốn tự có bổ sung: Là cổ phần ưu đãi thời hạn Cổ phần ưu đãi có thời hạn

là loại chứng khoán như đã trình bày ở trên nhưng có thời hạn ít nhất là 7 năm

Trang 16

Tính chất vốn tự có: Đây là nguồn vốn có tính chất vững chắc, ổn

định bởi nó xuất phát từ đóng góp của các cổ đông để nắm quyền quản lý, sở hữungân hàng, nó không có thời gian đáo hạn Bộ phận vốn tự có bổ sung thì có thờigian đáo hạn song thời gian đáo hạn của nó là trên 7 năm và nó chỉ chiếm tỷ trọngnhỏ so với tổng mức vốn tự có nên cũng ít gây ra ảnh hưởng cho hoạt động ngânhàng

Về mặt pháp lý, tổ chức tín dụng có đầy đủ quyền đối với số vồn này, bao gồmquyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt Ba quyền năng trên đã phânđịnh sự khác biệt của vốn tự có so với nguồn vốn khác ( vốn huy động tổ chức tíndụng chỉ có một quyền duy nhất đó là quyền sử dụng )

3.2.2 Vốn huy động

Có nhiều cách phân loại kết cấu vốn huy động, ở đây em xin chỉ đưa ra 2 cáchphân loại kết cấu vốn huy động

Kết cấu vốn huy động phân theo hình thức huy động:

Tiền gửi (hay còn gọi là tiền ký thác) là số tiền của khách hàng (tổ chức và dâncư) gửi vào ngân hàng dưới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn (còn gọi là tiềngửi thanh toán), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm…nhằm mục đích hưởng lãicũng như các tiện ích khác mà ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng thông quacác dịch vụ ngân hàng

- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là loại tiền do khách hàng gửi vào ngân hàngnhằm mục đích giao dịch với nhau Tiền gửi này không có sự thỏa thuận về thờigian, khách hàng có thể sử dụng tiền vào bất cứ lúc nào khi họ có nhu cầu Tiền gửikhông kỳ hạn thường không được trả lãi hoặc trả lãi rất thấp Đối với ngân hàng đây

là nguồn vốn huy động có chi phí thấp nhất nên các ngân hàng luôn không ngừngđưa ra các sản phẩm dịch vụ ngày càng hoàn thiện hơn, đa dạng hơn và tiện ích chokhách hàng hơn nhằm tăng trưởng nguồn vốn này Tuy nhiên đây cũng là khoản nợ

mà nhân hàng luôn phải chuẩn bị để chi trả cho khách hàng vào bất kỳ lúc nào

- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi được xác định cụ thể thời gian đáo hạn.Khách hàng gửi tiền có kỳ hạn với mục đích thu lãi, vừa để dành chi dùng, mua sắmtài sản về sau, hoặc cho nhu cầu chi tiêu dự định trong tương lai Người gửi tiềnđược hưởng lãi suất nhất định khi tới hạn rút tiền Về nguyên tắc tiền gửi có kỳ hạnkhông được rút ra trước kỳ hạn Tuy vậy trên thực tế để cạnh tranh các NHTMthường chấp nhận việc khách hàng có nhu cầu rút tiền trước kỳ hạn bằng cách chohưởng lãi suất của kỳ hạn ngắn hơn hoặc lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn Ngàynay, các ngân hàng đã và đang đưa ra nhiều loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau, lãi

Trang 17

suất rất linh hoạt cũng như nhiều chính sách khách hàng khác để thu hút tối đanguồn vốn này.

- Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm thường là tiền gửi của dân cư do chưa

có nhu cầu sử dụng ngay, gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi hoặc tiếtkiệm cho chi tiêu trong tương lai, hoặc vì lí do an toàn bí mật…Ngân hàng thườngtrả lãi cho tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi của tài khoản tiền gửi, người gửi tiền sẽđược ngân hàng cấp cho một sổ tiết kiệm phục vụ cho việc ghi chép gửi và rút tiền

Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm gồm có gửi tiết kiệm không kỳ hạn và gửi tiết kiệm

có kỳ hạn: tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có xác định thời gian đáo hạn Khiđáo hạn người gửi sẽ được rút cả gốc và lãi, nếu hạn mà người gửi không rút thìngân hàng sẽ tự động nhập gốc vào lãi và tiếp tục được hưởng lãi kỳ tiếp theo Còntài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được gửi và lĩnh ra bất cứ lúc nào nhưnglãi suất thấp hơn lãi suất của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Kết cấu vốn huy động phân theo thời gian:

Kết cấu vốn huy động phân theo thời gian chia vốn huy động thành vốn huyđộng ngắn hạn và vốn huy động trung, dài hạn Mục đích của sự phân chia nàynhằm kế hoạch hóa cho công tác đầu tư, cho vay, đồng thời cũng giúp cho ngânhàng tính toán thời gian gửi rút tiền để chuẩn bị khả năng thanh toán một cách chủđộng

- Vốn huy động ngắn hạn: bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn và cáctài khoản tiền gửi có kỳ hạn dưới một năm NHTM dùng các khoản vốn huy độngngắn hạn chủ yếu cho vay ngắn hạn Nếu có sử dụng vốn ngắn hạn và đầu tư trung,dài hạn cũng chỉ sử dụng một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn ngắn hạn bởi việc dùngvốn ngắn hạn đầu tư trung, dài hạn rất nguy hiểm khi có những dòng tiền rút ra Nếungân hàng không lo đủ chi trả sẽ bị vỡ nợ; để cố gắng lo đủ khả năng chi trả,NHTM cũng sẽ gặp rủi ro lớn do phải bán chứng khoán ngắn hạn đã đầu tư, vayngân hàng Nhà nước hoặc bán lại các khoản nợ… Chắc chắn sẽ gây thiệt hại về tàichính và uy tín của ngân hàng

- Vốn huy động trung, dài hạn là những khoản tiền gửi có kỳ hạn từ 1 nămtrở nên Ngân hàng thường phải trả lãi cho người gửi tiền trung, dài hạn cao hơn sovới tiền gửi vốn ngắn hạn nhưng tính chất tương đối ổn định hơn, thời gian đáo hạndài hơn và kế hoạch trả nợ chính xác hơn Ngân hàng có thể sử dụng vốn này chovay trung, dài hạn với lãi suất cao hơn, giúp doanh nghiệp có vốn mở rộng kinhdoanh, cải tiến kỹ thuật đầu tư mới…

Trang 18

Tính chất nguồn vốn huy động

Nguồn vốn huy động là nguồn vốn có tính chất giao thông và luôn biến đổi Nóphụ thuộc vào mức thu nhập của dân chúng, tâm lý muốn giữ tiền hay tài sản hiệnvật của công chúng, phụ thuộc vào lãi suất thị trường, đặc biệt là lãi suất do cácNHTM đưa ra trong việc cạnh tranh nguồn tiền gửi Loại tiền gửi không kỳ hạnthường biến động nhiều nhất, do vậy khó có thể kế hoạch và sử dụng được nguồntiền này để cho vay dài hạn, NHTM thường chỉ sử dụng vào việc lập các dự trữ sơcấp để bổ sung cho dự trữ ngân quỹ hoặc cho vay ngắn hạn Loại tiền gửi có kỳ hạn

là loại nguồn vốn ngân hàng có thể kế hoạch việc sử dụng Loại nguồn vốn có kỳhạn dài 1 năm trở lên có thể được sử dụng để cho vay trung, dài hạn

3.2.3 Vốn đi vay

Vay từ ngân hàng Nhà nước dưới hình thức chiết khấu

NHTM có thể vay của NHTU dưới hình thức chiết khấu hay tái cấp vốn để bùđắp dự thiếu hụt tạm thời Thường các NHTM vay chiết khấu từ NHTU phải sửdụng các công cụ vay mượn như: Thương phiếu, chứng khoán của Chính Phủ…Những chứng khoán được NHNN chấp nhận thế chấp tiền vay thường phải là cácloại có chất lượng cao, thời gian đáo hạn ngắn, được giao dịch ở Sở chứng khoán.Mức lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào chính sách quản lý vĩ mô về cung ứng tiền tệcủa NHNN Trong những giai đoạn thắt chặt tiền tệ thì việc cho vay chiết khấu từNHNN là cực kỳ khó khăn, lãi suất chiết khấu cao, thậm chí có thể bị từ chối khôngđược vay

Vay từ các nguồn khác

Khi điều kiện tài chính khó khăn nhất thời, các NHTM cũng có thể đi vay từ cácNHTM khác dưới hình thức thế chấp, hoặn tín chấp ngắn hạn ( một ngày, một vàituần…) với lãi suất thỏa thuận giữa hai NHTM Những món vay này thường là bổsung dự trữ bắt buộc hoặc thiếu hụt thanh toán Tính chất của nó là có kỳ hạn nhấtđịnh, thông thường là thời gian ngắn, đây có thể được coi như các biện pháp bổsung thiếu hụt tài chính tạm thời cho NHTM có tính chất thời điểm

Ngoài việc vay vốn lẫn nhau giữa các NHTM, các NHTM còn có thể vay củacác tổ chức trong nước và ngoài nước theo thời hạn và lãi suất thỏa thuận hay có thểtín chấp

3.2.4 Vốn tài trợ ủy thác đầu tư

Nguồn vốn này thông thường xuất hiện ở các nước đang phát triển, do các tổchức tài chính – tín dụng nước ngoài cung cấp, thông qua các hiệp định Nhà nước

Trang 19

ký với tổ chức này Có những trường hợp NHTM được Chính phủ cũng như các tổchức tài chính trong nước và quốc tế ủy thác theo các chương trình, các dự án cómục tiêu riêng Chẳng hạn các tổ chức quốc tế: Ngân hàng thế giới (World bank),Ngân hàng phát triển Châu Á (Asia development), quỹ tài chính của Chính phủPháp (CFD) đã từng ủy thác cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôncho vay theo các dự án thuộc kinh tế nông nghiệp, nông thôn như: Dự án phục hồi

và phát triển nông thôn, tín dụng nông thôn,

Về tính chất: Nguồn vốn tài trợ ủy thác đầu tư là nguồn vốn có thời hạn dài, trợgiúp cho các nguồn vốn trong nước trong một thời kỳ nào đó thường gắn với cácđối tượng cho vay nhất định nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tóm lại: NHTM thường có 4 nguồn vốn cơ bản: Vốn tự có, vốn huy động, vốn

đi vay, vốn tài trợ ủy thác đầu tư Mỗi nguồn vốn có tính chất riêng biệt, do vậytừng loại vốn có vai trò nhất định khác nhau trong cấu trúc tài sản nợ của NHTM.Tùy từng trường hợp mà ngân hàng sẽ chọn một tỷ lệ họ cho là thích hợp giữacác nguồn vốn tự có, huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hay bổ sung ngân quỹ dựtrữ với mục đích là đảm bảo sự vững chắc tài chính hay mục đích lợi nhuận củangân hàng trong từng thời kỳ Tuy nhiên vẫn phải nói rằng các NHTM tạo lậpnguồn vốn chủ yếu là bằng phương pháp huy động vốn để khai thác nguồn vốnnhàn rỗi của khách hàng, trường hợp mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn cóthể vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoặc dưới hình thức chiết khấu củaNHTU và có thể nhận vốn ủy thác đầu tư cùng với số vốn chủ sở hữu để có nguồnvốn với quy mô nhất định đủ tài trợ cho danh mục tài sản

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động

Trong quá trình hoạt động của mình, NHTM luôn có mối quan hệ mật thiết vớicác chủ thể trong nền kinh tế Các tổ chức và các cá nhân trong nền kinh tế chính lànguồn “ Năng lượng sống “ nuôi dưỡng, duy trì hoạt động của các NHTM Tất cảcác nghiệp vụ của NHTM mà trong đó có nghiệp vụ huy động vốn đều được thựchiện thông qua mối quan hệ đó Chính vì vậy, việc huy động vốn của ngân hàng cóthuận tiện, có dễ dàng hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có thể kểđến nhóm yếu tố cơ bản ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động huy động vốn của ngânhàng, đó là nhóm nhân tố chủ quan (thuộc về bản thân ngân hàng) và nhóm nhân tốkhách quan (nhân tố bên ngoài ngân hàng)

Trang 20

3.3.1 Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về chính bản thân ngân hàng Đối vớicác ngân hàng hoạt động kinh doanh trong cùng một môi trường thì nhân tố có sứcảnh hưởng lớn và gây tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của ngân hàngphải là các nhân tố nội tại về bản thân chính ngân hàng đó

3.3.1.1 Uy tín và chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Do sự hiểu biết của khách hàng về hoạt động ngân hàng còn nhiều hạn chế,người có tiền thường chọn những ngân hàng nào có uy tín để gửi tiền hoặc đầu tư…Chỉ đơn giản là họ muốn số tiền của mình được an toàn khi có rủi ro xảy ra Bởimột lẽ, những ngân hàng có uy tín thường là những ngân hàng có thâm niên hoạtđộng tương đối lâu dài, có tiềm lực tài chính vững mạnh, hoạt động kinh doanh antoàn và hiệu quả, có trụ sở hoạt động bề thế, kiên cố… tức là ngân hàng đó đã cómột quá trình nỗ lực lớn trong vấn đề tạo dựng uy tín cho bản thân

Đồng thời với việc nỗ lực tạo dựng uy tín với khách hàng, các NHTM cũng phảichú ý để dự đoán thay đổi của môi trường, từ đó xây dựng cho mình một chiến lượckinh doanh phù hợp Trong chiến lược kinh doanh ngân hàng phải quyết định sẽ mởrộng hoặc thu hẹp quy mô huy động vốn, thay đổi tỷ trọng các nguồn vốn trongtổng nguồn vốn, lãi suất huy động Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn, ngân hàng

sẽ khai thác được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao

3.3.1.2 Chính sách lãi suất cạnh tranh

Lãi là khoản thu nhập mà khách hàng sẽ có khi cho ngân hàng sử dụng vốn củamình, nhưng đối với ngân hàng đây lại là một phần chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra

để được dử dụng số vốn đó Lãi suất tiền gửi càng cao sẽ càng thu hút được nhiềuvốn hơn Cho dù một sự khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất trong thời điểm khókhăn như hiện nay cũng sẽ thúc đẩy những người tiết kiệm và đầu tư chuyển vốn từcông cụ mà họ đang có sang tiết kiệm và đầu tư hoặc từ một tổ chức tiết kiệm nàysang tổ chức tiết kiệm khác Chính vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng có lãi, các ngân hàng thường rất thận trọng trong việc tính toán giữalãi suất huy động và cho vay bảo đảm một cách hợp lý – mức lãi suất vừa có đểcạnh tranh, vừa huy động được vốn mà vẫn không ảnh hưởng đến các hoạt độngkhác của ngân hàng

Trang 21

3.3.1.3 Chính sách khách hàng

Giờ đây khách hàng đã có nhiều cơ hội lựa chọn ngân hàng mà theo họ là thuậntiện hơn chứ không chỉ đơn thuần là nơi cất trữ tiền tệ và kiếm lời từ lãi suất Do đócác ngân hàng nhận thấy cần có chiến lược khách hàng đúng đắn trong hoạt độngnói chung và trong huy động vốn nói riêng

Trước tiên ngân hàng cần hiểu được động cơ, thói quen và những mong muốncủa người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng gửi tiền thông qua phân tíchlợi ích của khách hàng Mục đích gửi tiền của doanh nghiệp thường là nhờ ngânhàng quản lý, hoặc nhờ chi trả trong thanh toán trong khi các cá nhân gửi tiết kiệm

có mục đích là hưởng lãi Trong công tác khách hàng, NHTM thường chia kháchhàng ra làm nhiều nhóm để có cách phục vụ phù hợp Với những khách hàng lâunăm, giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngânhàng thì ngân hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất…

3.3.1.4 Các hình thức, sản phẩm huy động vốn của ngân hàng và dịch vụ

do ngân hàng cung ứng

Đây cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy độngvốn của ngân hàng Tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà áp dụng cáchình thức huy động khác nhau, hoặc các ngân hàng có thể đa dạng hóa các hìnhthức huy động qua việc tạo ra các sản phẩm huy động mới, cung cấp nhiều tiện ích,đem lại sự thỏa mãn cho khách hàng hoặc một nhóm khách hàng nhằm tối đa hóanguồn vốn huy động Bởi không phải mọi khách hàng đều có nhu cầu giống nhau vàmột sản phẩm không thể đáp ứng được nhu cầu của tất cả khách hàng Vì lẽ đó sảnphẩm huy động càng phong phú, linh hoạt bao nhiêu khách hàng càng có nhiều lựachọn điều này đồng nghĩa với khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn baonhiêu do được huy động từ nhiều hướng khác nhau

Bên cạnh đó, các dịch vụ do ngân hàng cung ứng sẽ đem lại cho khách hàngnhững lợi ích nhất định, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và

vì thế ngân hàng sẽ thu hút được một lượng lớn khách hàng đến với mình nếu ngânhàng đó cung cấp được cho khách hàng nhiều dịch vụ tiện ích

3.3.1.5 Một số nhân tố chủ quan khác

Bên cạnh những nhân tố đã nêu trên, một số những nhân tố chủ quan khác cũng

có ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng như: Công nghệ của ngânhàng đó hiện đại tới đâu, trình độ, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng, chính

Trang 22

sách phục vụ quảng cáo và tuyên truyền để nhiều người biết đến ngân hàng đó vàcác sản phẩm dịch vụ mà nó cung cấp.

3.3.2 Nhân tố khách quan

Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến khả năng thunhập, chi tiêu, thanh toán và nhu cầu về vốn cũng như nhu cầu gửi tiền của tổ chức,dân cư và do đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng.Việc huy động và sử dụng vốn của ngân hàng bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độtăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lên lạm phát, thấtnghiệp,… tác động một cách rõ rệt, bởi nó ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và tiếtkiệm của dân cư, qua đó ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn của NHTM

có sự giám sát chặt chẽ

Môi trường xã hội

Môi trường văn hóa xã hội, phong tục tập quán cũng ảnh hưởng không nhỏ tớiviệc huy động vốn của ngân hàng nhất là ở Việt Nam Tâm lý của người dân trongviệc chi tiêu thu nhập của mình cũng quyết định họ sẽ gửi tiền vào ngân hàng nhiềuhay ít Ở nước ta người dân có tâm lý giữ tiền hơn là đem gửi vào các ngân hàng, họthường giữ tiền hoặc tích lũy tiền dưới các hình thức khác Việc gửi tiền tiết kiệmtại ngân hàng chưa trở thành thói quen và chiếm được lòng tin cao của người dân.Điều này làm cho việc thu hút nguồn vốn từ tiền tiết kiệm của người dân bị hạn chế

và đòi hỏi ngân hàng phải có chính sách hấp dẫn để thu hút vốn từ người dân

Trang 23

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG

Phương pháp luận dùng trong việc phân tích chuỗi nguồn vốn huy động và mộtvài yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi nguồn vốn huy động là phương pháp mô hình toánkinh tế kết hợp với kinh tế lượng Đây là hai môn học cơ bản của khoa toán kinh tế

và cũng là hai môn học quan trọng bởi những đóng góp của nó trong việc phân tíchnhững vấn đề kinh tế Hai phương pháp này kết hợp với nhau làm cho việc phântích được chính xác và đồng thời khắc phục những mặt hạn chế của từng phươngpháp

1 LÝ THUYẾT MÔ HÌNH TOÁN KINH TẾ

Hiện thực kinh tế liên quan đến vấn đề nghiên cứu thường phức tạp Có rấtnhiều hiện tượng và vô số mối quan hệ đan xen, chồng chéo giữa chúng vì vậy nếuchỉ quan sát thì chắc chắn chúng ta không thể nắm bắt được bản chất và do đó rấtkhó tìm ra quy luật chi phối các mối quan hệ Vì thế để nghiên cứu các vấn đề kinh

tế chúng ta phải sử dụng phương pháp mô hình Mô hình toán kinh tế là mô hìnhkinh tế được trình bày bằng ngôn ngữ toán học Nó giúp chúng ta nghiên cứu, phântích các vấn đề kinh tế không chỉ về mặt định tính mà còn về mặt định lượng Việc

sử dụng mô hình toán kinh tế trong việc phân tích các vấn đề kinh tế là điều có ýnghĩa lớn và rất cần thiết Đặc biệt là trong vấn đề phân tích nguồn vốn huy độngcủa ngân hàng mà em đang thực hiện Các yếu tố tác động đến nguồn vốn huy động

là rất nhiều và ta không thể đưa tất cả các yếu tố đó vào để phân tích được Vì vậy,

ta cần mô hình hóa các yếu tố đó và chỉ đưa vào mô hình yếu tố nào tác động nhiềunhất và rõ rệt nhất đến nguồn vốn huy động Việc đưa một số yếu tố cần thiết vào

mô hình không có nghĩa là ta xem xét các yếu tố khác không có tác động đến nguồnvốn huy động mà ta giữ nguyên các yếu tố đó và coi như yếu tố đó là không đổi.Tác động của các yếu tố đó được thể hiện gộp trong hệ số chặn (ký hiệu là C).Khi xây dựng mô hình toán kinh tế ta phải mô hình hóa các yếu tố phân tíchthành các biến số Như vậy việc quan trọng là chúng ta phải xác định được chínhxác những yếu tố nào được đưa vào làm biến số và những yếu tố nào coi như khôngđổi trong giai đoạn phân tích Đối với mỗi đối tượng, mỗi vấn đề cần nghiên cứu,bao giờ cũng có số ít chi tiết quan trọng và số lớn chi tiết có thể bỏ qua Những chitiết quan trọng sẽ mô tả các đặc điểm cơ bản của đối tượng, thể hiện bản chất củađối tượng liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu Việc xác định những chi tiết nào và

bỏ qua những chi tiết nào của đối tượng tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, trình độ

Trang 24

của người nghiên cứu và thông tin có sẵn về đối tượng Sau khi xác định được cácbiến số: biến nội sinh, biến ngoại sinh, tham số ta sẽ xây dựng được mô hình vàphân tích mô hình Thông thường, mô hình được biểu diễn dưới dạng hàm số nhưsau:

Y = f(x1, x2,…, xn)

Y : Biến được phân tích hay biến phụ thuộc

x1, x2,…, xn là biến có tác động đến biến phân tích hay được gọi là biến giải thích(biến độc lập)

Các hàm dùng trong phân tích được chia làm hai loại chính là hàm kinh tế dạnghiện và hàm kinh tế dạng ẩn Trong phân tích thì hàm kinh tế dạng hiện sẽ là dạnghàm được sử dụng phổ biến hơn

- Hàm tựa lồi, hàm tựa lõm:

Hàm y = F(X ; α) với X Є DRn, D là tập lồi gọi là hàm tựa lồi (tựa lõm) nếu: F(λXX1 + (1- λX)X2; α) ≤ ( ≥ ) max (min) [ F(X1), F(X2)]

 

Lớp hàm này phản ánh quan hệ tỷ lệ không đổi giữa các biến Đây là lớp hàmđơn giản nhất nếu xét về cấu trúc toán học

1

r n

y i i x i

Nếu r = 0, r = 1 ta có hàm thuần nhất bậc không, hàm thuần nhất bậc nhất Đây

là hai dạng hàm cũng hay được sử dụng trong kinh tế

Trang 25

Hàm z = G (X) gọi là hàm đồng điệu (hàm vị tự) nếu nó là phép biến đổi đơn điệu dương của một hàm thuần nhất Hàm thuần nhất sẽ là hàm đồng điệu nhưng ngược lại thì không đúng.

y = γ x1α1x2α2… xnαn

Lớp hàm phi tuyến này đơn giản về cấu trúc do có thể “tuyến tính hóa” bằng cách chuyển dạng loga và nó khá phù hợp với nhiều mối quan hệ trong thực tiễn thông qua các giả thiết nhất định đối với các tham số của hàm

y = F(x1, x2,…, xn; α1, α2,…, αk)

Hoặc: yi = Fi(x1, x2,…, xn; α1, α2,…, αk) với i = 1 ÷ m

trong đó F hoặc Fi dùng để chỉ quan hệ hàm ẩn

Trong khóa luận này chỉ sử dụng mô hình dạng hiện, tuyến tính và có sử dụngthêm mô hình logarit để phân tích nguồn vốn huy động

2 LÝ THUYẾT KINH TẾ LƯỢNG

Kinh tế lượng là sự phân tích về lượng các vấn đề kinh tế hiện thời dựa trên việcvận dụng đồng thời lý thuyết và thực tế được thực hiện bằng các phương pháp suyđoán thích hợp Kinh tế lượng sử dụng các công cụ của lý thuyết kinh tế, toán học

và suy đoán thống kê được áp dụng để phân tích các vấn đề kinh tế

Trong đề tài này ta sẽ đi sâu vào phân tích chuỗi nguồn vốn huy động của mộtngân hàng Chuỗi nguồn vốn huy động này ngoài việc biến động phụ thuộc vàochính bản thân sự vận động của nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác Vì vậy,trong phần này cần nêu qua về lý thuyết mô hình hồi quy Đây là mô hình sẽ sửdụng nhiều ở chương 3 để phân tích chuỗi nguồn vốn huy động

Trang 26

2.1 Mô hình hồi quy

Hồi quy là một công cụ cơ bản của đo lường kinh tế, nghiên cứu mối liên hệ phụthuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một haynhiều biến khác (được gọi là (các) biến độc lập hay giải thích)

Các ký hiệu: Y – biến phụ thuộc (hay biến được giải thích)

Xi - biến độc lập (hay biến giải thích) thứ i

Trong đó, biến phụ thuộc Y là đại lượng ngẫu nhiên, có quy luật phân bố xácsuất, các biến độc lập Xi không phải là biến ngẫu nhiên, giá trị của chúng đã được

Trong đó ei được gọi là phần dư hay chính là ước lượng của Ui Sự tồn tại của ei

được giải thích như sự tồn tại của Ui

2.2 Chuỗi thời gian, làm trơn và ngoại suy chuỗi thời gian

Số liệu nguồn vốn huy động và các số liệu khác là số liệu được thu thập theothời gian hay còn gọi là chuỗi thời gian Vì vậy, ta cần phân tích chuỗi thời gian đểxem xét chuỗi nguồn vốn huy động có yếu tố xu thế và yếu tố mùa vụ hay không đểphân tích chuỗi số liệu được chuẩn xác và không gặp phải những sai lầm khôngđáng có

Chuỗi thời gian là một biến số được quan sát theo trình tự thời gian nào đó Yt làgiá trị quan sát của chuỗi ở thời kỳ (hoặc thời điểm) t Để nghiên cứu quy luật thayđổi của Yt chúng ta cần mô hình hóa chuỗi này Phân tích chuỗi thời gian là mộtphương pháp ngoại suy phức tạp

Trang 27

Mô hình ngoại suy giản đơn:

Trong mô hình giản đơn này không đưa vào yếu tố ngẫu nhiên và vì vậy là môhình tất định Ta ký hiệu Yt là chuỗi này với t = 1,…, n Ta cần phải dự báo Yt trongcác thời kỳ n+1, n+2,…, n+i Ta ký hiệu các giá trị dự báo là Ŷn+i

Một trong các tính chất của Yt là tăng trưởng dài hạn Khi đó có thể xây dựng

mô hình giản đơn mô tả xu thế của Y và có thể dùng để dự báo về bản thân Y Cómột số dạng hàm sau đây:

Các phương pháp san chuỗi giản đơn:

Trong nhiều chuỗi thời gian yếu tố ngẫu nhiên có thể rất lớn, làm lu mờ các yếu

tố khác Rất khó khăn khi chúng ta nhận biết xu thế, quy luật biến đổi của chuỗi

Trang 28

bằng đồ thị Trong trường hợp này người ta làm trơn số liệu để có bức tranh rõ rànghơn Làm trơn số liệu được thực hiện bằng phương pháp trung bình trượt

- Trung bình trượt:

Nếu Yt , t = 1, 2,…, n là các quan sát của chuỗi thời gian, Y*

t là trung bình trượt2m + 1 điểm trung tâm giản đơn, Y*

t được xác định bằng công thức sau:

t bị mất m thành phần đầu và m thành phần cuối

- San mũ giản đơn:

Phương pháp san mũ giản đơn không chỉ giúp chúng ta loại bỏ yếu tố ngẫunhiên mà còn giúp dự báo giá trị trong tương lai của chuỗi Phương pháp san mũgiản đơn thích hợp đối với chuỗi không có yếu tố thời vụ và không có xu thế tănghoặc giảm

Phương pháp san mũ giản đơn dựa trên trung bình trượt có trọng số Các giá trị

Y càng gần hiện tại trọng số càng lớn Ta có công thức đệ quy sau:

Ŷt = α Yt + (1 – α) Ŷt-1

Với α là hằng số san (0 < α < 1) Nếu α càng gần 1 thì Ŷt ≈ Yt α càng nhỏ thì vaitrò của chuỗi được trọng số hóa càng quan trọng

Mô hình dự báo san mũ Holt – Winters:

Việc xem xét chuỗi nguồn vốn huy động đặt ra một vấn đề là nếu chuỗi nguồnvốn huy động có tính xu thế và tính mùa vụ thì làm thế nào để có thể phân tích đượctác động của những yếu tố khác đến chuỗi nguồn vốn huy động được chính xác?Điều này làm cho ta phải đặt ra phương hướng giải quyết là phải loại bỏ tính xu thế

và tính mùa vụ ra khỏi chuỗi vì khi có các yếu tố này trong chuỗi thì có thể các yếu

tố này sẽ làm lu mờ đi tác động của các yếu tố mà ta cần phân tích tác động củachúng đến nguồn vốn huy động Phương pháp Holt – Winters cho phép san chuỗi có

cả yếu tố xu thế và yếu tố thời vụ Từ đây việc phân tích chuỗi nguồn vốn huy độngđược chính xác hơn

- Dự báo chuỗi thời gian có yếu tố xu thế:

Phần xu thế ở thời kỳ t được hiểu là chênh lệch giữa hai giá trị Yt và Yt-1

Ta ký hiệu Tt là ước lượng của phần xu thế ở thởi kỳ t Khi đó ước lượng của Y

ở t-1 bao gồm hai phần: ước lượng của phần hệ thống Ŷt-1 và ước lượng của xu thế

Tt-1 Do đó ước lượng của Y tại thời điểm t-1 là:

Ŷt-1 + Tt-1

Do đó: Ŷt = α Yt + (1- α)( Ŷt-1 + Tt-1)

Trang 29

Vì T cũng là một chuỗi thời gian, nên theo phương pháp san mũ giản đơn tacũng có công thức đệ quy của T và hai hằng số san mũ α và β sau đây:

- Dự báo chuỗi thời gian có yếu tố xu thế và yếu tố thời vụ:

Chúng ta ký hiệu Yt, Ŷt, Tt tương ứng là giá trị quan sát, giá trị ước lượng và xuthế của chuỗi ở thời kỳ t Ft là yếu tố thời vụ Nếu chuỗi có s thời kỳ trong một nămthì yếu tố thời vụ ở năm trước sẽ là Ft-s Yếu tố thời vụ tỷ lệ với trung bình của chuỗi

ở mỗi thời kỳ Do đó mô hình của Holt – Winters được cải tiến như sau:

Chuỗi số liệu mà ta phân tích có thể là chuỗi số liệu thời gian không dừng Nếuchúng ta ước lượng một mô hình với chuỗi thời gian trong đó có biến độc lập khôngdừng, khi đó giả thiết của OLS bị vi phạm và phân tích sẽ gặp phải những sai sót.Chuỗi thời gian Yt được gọi là chuỗi dừng nếu:

E(Yt) = μ với mọi t

Var(Yt) = E(Yt – μ)2 = σ2 với mọi t

γk = Cov(Yt, Yt+k) = E[(Yt – μ)( Yt+k – μ)] với mọi t

Có hai phương pháp cơ bản để kiểm định tính dừng của một chuỗi thời gian đó

là kiểm định tính dừng dựa trên lược đồ tương quan và kiểm định nghiêm đơn vị

- Kiểm định tính dừng dựa trên lược đồ tương quan:

Để kiểm định tính dừng thì một trong những kiểm định đơn giản là kiểm địnhdựa trên hàm tự tương quan ρk:

Trang 30

k k

n y

y y t t k

yt t

Mức độ kết hợp giữa hai biến Yt và Yt-k có thể còn do một số biến khác gây ra

ρkk là hệ số tự tương quan riêng của Yt và Yt-k, ρkk được tính theo công thức đệ quycủa Durbin:

 1

1

1 1

1 1

k k j k j kk

k j j

k j

- Kiểm định nghiệm đơn vị:

Xét mô hình sau đây:

Trang 31

Yt = ρYt-1 + ut, ut là nhiễu trắng.

Nếu như ρ = 1, khi đó Yt là một bước ngẫu nhiên và không dừng

Giả thiết: H0 : ρ = 1, chuỗi là không dừng

H1 : ρ ≠ 1

Ta có: ∆ Yt = Yt - Yt-1 = (ρ - 1) Yt-1 + ut

∆ Yt = δ Yt-1 + ut

Giả thiết là: H0 : δ = 0, chuỗi là không dừng (hay có nghiệm đơn vị)

Dickey – Fuller (DF) đưa ra tiêu chuẩn kiểm định như sau:

Giả thiết H0 : ρ = 1 (chuỗi là không dừng)

H1 : ρ < 1 (chuỗi là dừng)

Ta ước lượng mô hình Yt = ρYt-1 + ut, ut là nhiễu trắng

τ = / ( )se  có phân bố DF Nếu | τ | > | τα | thì bác bỏ H0 Trongtrường hợp này thì chuỗi là dừng

Tiêu chuẩn DF được áp dụng cho một số mô hình sau đây:

2.4 Mô hình ARIMA và VAR

- Mô hình trung bình trượt đồng liên kết, tự hồi quy ARIMA

Nếu chuỗi số liệu cần phân tích là chuỗi thời gian không dừng thì ta cần phải sửdụng kỹ thuật để đưa các chuỗi này thành các chuỗi dừng Một trong các kỹ thuật

đó là phương pháp ARIMA Đây là phương pháp không dựa trên một hoặc nhiềuphương trình mà dựa trên phân tích tính chất ngẫu nhiên của một chuỗi thời gian.Chuỗi thời gian có thể giải thích bằng hành vi ở hiện tại, trong quá khứ, các trễ vàcác yếu tố ngẫu nhiên

Trong luận văn này, mô hình phân tích chuỗi nguồn vốn huy động là biến phụthuộc của mô hình và biến độc lập trong xây dựng mô hình kinh tế là những yếu tốnhư lãi suất, tỷ giá đồng đô la Mỹ, tỷ giá đồng Euro… Để đưa đến mô hình tốt nhấttrong phân tích phải xem xét lần lượt tính xu thế, tính mùa vụ và tính dừng của

Trang 32

chuỗi nguồn vốn huy động, sau đó xây dựng những mô hình kinh tế lượng phân tíchtác động của các yếu tố khác đến chuỗi này.

Phương pháp Var ước lượng mô hình như sau:

+ Mô hình Var là một hệ phương trình đồng thời, trong đó tất cả các biến là cácbiến nội sinh

+ Biến độc lập là các biến nội sinh ở các thời kỳ trễ

+ Nếu các phương trình đều chứa cùng một số biến, tức là độ dài trễ của cácbiến trong các phương trình đều giống nhau, thì dùng OLS để ước lượng, không cầndùng tới các phương pháp ước lượng hệ phương trình

Như vậy chúng ta có nhiều phương pháp dự báo khác nhau Không có mộtphương pháp nào lại phù hợp trong mọi hoàn cảnh Việc chọn phương pháp này hayphương pháp khác hoàn toàn tùy thuộc vào nó có phù hợp hay kết quả có tin cậyđược không

Trang 33

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH CHUỖI VỐN HUY ĐỘNG BẰNG MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH

TẾ LƯỢNG

Nguồn vốn đối với ngân hàng là một vấn đề quan trọng và cấp thiết Nguồn vốnhuy động là điều kiện cần có để ngân hàng hoạt động Không những thế nguồn vốnhuy động còn thể hiện khả năng tài chính, tính thanh khoản, khả năng cho vay vàhuy động của một ngân hàng Nói chung nó có vai trò hết sức quan trọng trong hiệuquả hoạt động của ngân hàng Chính vì thế mà việc phân tích sự biến động củachuỗi nguồn vốn huy động, đánh giá dự đoán trong các giai đoạn tiếp theo và phântích các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn là việc làm cần thiết đối với tất cảcác ngân hàng thương mại

1 NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG

Nguồn vốn huy động của ngân hàng dùng để phân tích là một chuỗi số liệu theothời gian vì vậy sẽ có những thay đổi do các yếu tố ngẫu nhiên không giải thíchđược như: thói quen của khách hàng, độ tín nhiệm của ngân hàng đối với kháchhàng, những thay đổi mang tính chu kỳ… Điều này làm cho việc phân tích nguồnvốn huy động trở nên khó khăn và có thể không phân tích được Vì vậy, chuỗi sốliệu theo thời gian cần được xem xét để có thể loại khỏi chuỗi những yếu tố ngẫunhiên ảnh hưởng đến việc giải thích chuỗi

1.1 Phân tích nguồn vốn huy động theo các thống kê đặc trưng

Sử dụng bộ số liệu nguồn vốn của ngân hàng NNo & PTNT chi nhánh Hồng Hà

từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 12 năm 2009, bộ số liệu này có 36 quan sát Chuỗi

số liệu sẽ được phân tích dưới sự trợ giúp phần mềm Eviews

Trước hết ta cần xem xét các thống kê đặc trưng của chuỗi nguồn vốn huy động

để phân tích sự biến động của chuỗi như thế nào? Chuỗi có phân phối chuẩn haykhông? Ta cần kiểm định xem chuỗi có phân phối chuẩn hay không với giả thiết:

Ho : chuỗi nguồn vốn huy động phân phối chuẩn

H1 : chuỗi nguồn vốn huy động không phân phối chuẩn

Ký hiệu chuỗi nguồn vốn huy động là: NV

Trang 34

Bảng kết quả các thống kê đặc trưng thu được từ phần mềm Eviews:

Bảng 3.1 Các thống kê đặc trưng của nguồn vốn huy động

có cơ sở bác bỏ giả thiết Ho Vậy có thể coi chuỗi nguồn vốn là phân phối chuẩn

Trang 35

Hình 3.1: Đồ thị nguồn vốn huy động theo thời gian

Dựa vào đồ thị ta thấy nguồn vốn huy động nhìn chung có xu hướng tăng lêntheo thời gian nhưng cũng có những giao động lớn Đặc biệt từ tháng 2 năm 2009nguồn vốn huy động tăng lên nhanh chóng, vượt bậc so với các tháng trước và lênđến đỉnh điểm là vào tháng 6 năm 2009, sau đó cũng giảm mạnh đến tháng 9 năm

2009 thì lại tăng với tốc độ bình thường Điều này là do giai đoạn này ngân hàngthực hiện nhiều chính sách hấp dẫn thu hút nguồn vốn và thực tế giai đoạn này nềnkinh tế đang bắt đầu phục hồi sau ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới vừaqua Cần xem xét chuỗi nguồn vốn huy động có yếu tố xu thế và yếu tố mùa vụ haykhông Nếu có yếu tố xu thế và yếu tố mùa vụ thì cần loại bỏ ảnh hưởng của cácyếu tố này ra khỏi chuỗi Nhưng nguồn vốn huy động tăng không đều, trong quátrinh tăng thì lại có những yếu tố làm nguồn vốn huy động giảm xuống Đây có thể

do nhiều nguyên nhân khác nhau bởi nguồn vốn huy động chịu ảnh hưởng đồngthời của nhiều nhân tố khác nhau

1.2 Phân tích nguồn vốn huy động theo mùa vụ

Nguồn vốn huy động có tăng theo thời gian nhưng tăng không liên tục, trongquá trình tăng thì có những biến động làm nguồn vốn huy động giảm xuống Vì vậynguồn vốn huy động cần được xem xét có tính mùa vụ hay không? Nếu nguồn vốnhuy động có tính mùa vụ thì phải san chuỗi để loại bỏ tác động của yếu tố mùa vụ rakhỏi chuỗi Như vậy, việc phân tích tác động của các nhân tố đến nguồn vốn huyđộng mới được chính xác

Trang 36

Bảng 3.2 Kết quả san mũ bằng phương pháp Holt – Winters

Mô hình Holt – Winters dạng cộng sẽ được trình bày thêm ở phần phụ lục.Dựa vào bảng 3.2 ta thấy chuỗi nguồn vốn huy động có tính chất mùa vụ vì các

hệ số mùa vụ khác nhau rõ rệt giữa các tháng, chỉ số mùa vụ ở tháng 3 đến tháng 7

là tương đối cao so với các tháng khác và chỉ số mùa vụ tháng 3 là lớn nhất bằng1.183580 Chỉ số mùa vụ ở các tháng 1, 2, 8, 9 ,10, 11, 12 thì thấp hơn và chỉ sốmùa vụ tháng 11 là thấp nhất bằng 0.840607 Ngoài ra bảng kết quả san chuỗi còncho thấy sau một tháng nguồn vốn huy động sẽ tăng lên 70770.76 (triệu đồng) điềunày cho thấy chuỗi nguồn vốn huy động có yếu tố xu thế Do chuỗi nguồn vốn huyđộng có tính chất mùa vụ nên ta sẽ san chuỗi nguồn vốn huy động bằng phươngpháp Holt – Winters để loại bỏ tính mùa vụ của chuỗi Chuỗi số liệu đã được san đểloại bỏ tính mùa vụ được ký hiệu là NVSM và chuỗi NVSM sẽ được dùng để phântích xem xét tác động của các yếu tố khác tới nó

Trang 37

Áp dụng mô hình để dự báo cho nguồn vốn huy động của ngân hàng vào tháng 4năm 2010:

Số liệu chuỗi nguồn vốn huy động là bộ số liệu theo tháng nên s = 12, và k = 4

= 6049266.486

Giá trị dự bào này dựa vào việc phân tích sự biến động của chính bản thânchuỗi, nên độ chính xác của dự báo không cao bởi chuỗi nguồn vốn chịu tác độngcủa nhiều yếu tố khác Ta cần phân tích ảnh hưởng của các yếu tố khác tới nguồnvốn huy động như thế nào để có thể đưa ra dự báo chính xác về nguồn vốn huyđộng của ngân hàng trong thời kỳ tới và có những biện pháp thu hút, nâng caonguồn vốn huy động một cách hiệu quả nhất

1.3 So sánh các thống kê đặc trưng của NV và NVSM

Bảng 3.3 Các thống kê đặc trưng của NV và NVSM

Bảng thống kê đặc trưng của NV và NVSM cho thấy giá trị trung bình của NVSM lớn hơn giá trị trung bình của NV Độ giao động tương đối của NVSM là 22.181% nhỏ hơn độ giao động tương đối của NV là 22.867% Ngoài ra độ lệnh chuẩn của NVSM là 888417.8 cũng nhỏ hơn độ lệch chẩn của NV là 914064.7 cho

Trang 38

thấy chuỗi NVSM dùng để phân tích sẽ tốt hơn chuỗi NV Chuỗi NV có thống kê

cả hai đều có phân phối chuẩn

Để thấy rõ hơn sự khác biệt của hai chuỗi này ta sẽ vẽ sự phụ thuộc của hai chuỗi theo thời gian trên cùng một đồ thị để dễ dàng nhận xét hơn

Hình 3.2 Đồ thị của NV và NVSM theo thời gian

Đồ thị cho thấy chuỗi NV sau khi được san thành chuỗi NVSM có những thayđổi rõ rệt so với chuỗi NV Hai đường biểu diễn của NV và NVSM rất rõ ràngkhông bị trùng nhau chứng tỏ lại lần nữa là chuỗi NV có tính mùa vụ Vì vậy saukhi loại bỏ tính mùa vụ ra khỏi chuỗi thì phân tích sẽ được chính xác hơn và sẽ xácđịnh được ảnh hưởng của các nhân tố khác tác động đến nguồn vốn huy động được

rõ ràng hơn

1.4 Phân tích chuỗi nguồn vốn huy động

Để phân tích xem nguồn vốn huy động có phụ thuộc vào nguồn vốn huy động

kỳ trước không ta sử dụng lược đồ tương quan của nguồn vốn để xem xét Ta cầnxem xét chuỗi nguồn vốn có phân phối chuẩn hay không Để kiểm tra điều này tadựa vào lược đồ tương quan và kiểm định ADF

Ký hiệu NVt: nguồn vốn huy động ở thời kỳ t

NV : nguồn vốn huy động ở thời kỳ t-1

Ngày đăng: 23/09/2018, 16:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w