Ở Việt Nam, với hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa XHCN thì CSC là công cụ tiền đề, không thể thay thế và chi phối các cô
Trang 1TIỂU LUẬN Môn học: LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG
Đề tài: TRÌNH BÀY CHỨC NĂNG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG LIÊN HỆ VIỆC THỰC HIỆN TRONG
KHU VỰC CÔNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
TP.HCM - năm 2017
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đời sống kinh tế - xã hội thay đổi ngày một nhanh chóng Bên cạnh đó, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa cũng như cuộc khủng hoảng tài chính khu vực
và thế giới đã tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ dân trí ngày càng cao đã đặt ra đòi hỏi ngày càng lớn đối với Nhà nước Đồng thời, các biến động lớn về môi trường, tài nguyên, dân số…đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng và ban hành các Chính sách công để giải quyết Các chính sách được nhà nước ban hành trong thời gian qua đã tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội, giải quyết nhiều vấn đề bức thiết, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Tuy nhiên, quá trình hoạch định và thực thi chính sách vẫn còn nhiều bất cập
Trong nền hành chính nhà nước, Chính sách công (CSC) là bộ phận nền tảng, trọng yếu của thể chế hành chính, là cơ sở và chi phối các yếu tố cấu thành khác của nền hành chính như: bộ máy hành chính; đội ngũ cán bộ -công chức; tài chính -công Ở Việt Nam, với hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì CSC là công cụ tiền đề, không thể thay thế và chi phối các công
cụ quản lý khác như pháp luật, kế hoạch, phân cấp - phân quyền… Điều đó giải thích vì sao trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao vai trò của CSC như là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói riêng và đẩy mạnh chất lượng của sự nghiệp đổi mới nói chung Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao và phức tạp của quản lý nhà nước thì hoạt động hoạch định và thực thi CSC ở nước ta đang ở trong bối cảnh nào và đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết?
Trang 3Bài tiểu luận này sẽ tập trung giải quyết các nội dung:
1. Lý luận về chức năng hoạch định chính sách
2. Thực tiễn về hoạch định CSC trong khu vực công ở nước ta hiện nay
3. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạch định CSC trong khu vực công ở nước ta hiện nay
Trang 5NỘI DUNG
I LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
1 Khái niệm, ý nghĩa của chức năng
Ở nước ta, chính sách đã được Hiến pháp quy định tại Điều 26 Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001: “Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách…” Như vậy, CSC là một trong những công cụ cơ bản được nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ quản lý nhà nước Tuy nhiên vẫn đang tồn tại cụm từ “chính sách của Đảng và Nhà nước”, nhưng trên thực tế ở nước ta, Đảng lãnh đạo nhà nước và
xã hội thông qua việc đề ra các cương lĩnh, chủ trương, đường lối,… Đây chính là những căn cứ chính để nhà nước cụ thể hóa, ban hành các CSC Vì vậy, CSC là do Nhà nước ban hành, là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng
CSC ở Việt Nam thường được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành, song nó bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển Đối với một chu trình chính sách chung thường được bắt đầu
từ việc hoạch định chính sách, tiếp theo là thực thi chính sách và sau một khoảng thời gian thực hiện cần phải tiến hành đánh giá chính sách để điều chỉnh, bổ sung chính sách…
1.1 Khái niệm
Hoạch định chính sách là quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành
đầy đủ một chính sách Giá trị pháp lý của một chính sách được thể hiện ở thể
thức, nội dung và thẩm quyền ban hành của các cơ quan quản lý nhà nước Hoạch định chính sách tức là viết văn kiện chính sách thể hiện những gì
mà chính sách mong muốn đạt được cũng như những điều kiện cần thiết để đạt được các mong muốn đó Hay nói khác, hoạch định chính sách là làm rõ hơn việc giải quyết vấn đề chính sách
Trang 6Hoạch định CSC là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một CSC Sau khi ban hành, CSC sẽ có hiệu lực thực thi với mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội Giá trị pháp lý của CSC được thể hiện ở thể thức, nội dung và thẩm quyền ban hành của cơ quan nhà nước
Hoạch định CSC có vai trò đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách Hoạch định CSC là điểm khởi đầu trong tiến trình chính sách nhằm cho
ra đời một CSC có tác dụng tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội
1.2 Ý nghĩa
Một CSC tốt sẽ có những ý nghĩa sau đây:
- Hoạch định chính sách mở đường cho cả tiến trình chính sách Chu trình chính sách là một vòng xoáy ốc theo hướng ngày càng hoàn thiện, trong
đó hoạch định chính sách được xem là bước chuyển lên bậc cao hơn trong mỗi chu trình Những vấn đề được đúc kết trong suốt tiến trình chính sách được coi là nền tảng để củng cố việc xây dựng chính sách cho chu kỳ sau Như vậy, hoạch định chính sách luôn là điểm khởi đầu cho chu trình chính sách
- Hoạch định CSC khởi xướng vấn đề mà xã hội cần giải quyết bằng chính sách Vấn đề trong đời sống xã hội rất phong phú và đa dạng và vận động không ngừng theo các quy luật khách quan Mỗi loại vần đề có liên quan đến một hay nhiều quá trình kinh tế - xã hội và được giải quyết bằng các công
cụ và cách thức khác nhau, trong đó có việc ban hành các chính sách
- Hoạch định CSC củng cố niềm tin của dân chúng vào nhà nước Hoạch định CSC là khởi xướng những vấn đề chính sách, đó là những nhu cầu bức xúc cần được giải quyết để duy trì các hoạt động xã hội theo định hướng Những chính sách đưa ra giải quyết được những mong mỏi của dân chúng sẽ làm cho họ tin tưởng vào sự điều hành của nhà nước, yên tâm đi theo nhà nước
- Hoạch định CSC tập hợp được toàn bộ hệ thống quản lý vào các hoạt
động theo định hướng Khi hoạch định chính sách các hoạt động cụ thể của
Trang 7toàn bộ hệ thống quản lý sẽ được định hướng về cả mục tiêu và biện pháp Mặc dù mỗi cơ quan quản lý nhà nước đều phải thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình một cách độc lập, song nếu chính sách được ban hành thì các cơ quan này sẽ phải phối hợp với nhau để thực hiện các mục tiêu quản lý chung theo quy định
- Hoạch định CSC truyền đạt cơ chế quản lý của nhà nước đến nền kinh
tế Cơ chế quản lý của nhà nước tồn tại theo các quy luật phù hợp với từng điều kiện không gian và thời gian Nếu cơ chế quản lý phù hợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển sẽ thức đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển và ngược lại (Quy luật phù hợp của kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạn tầng) Nhận thức đầy đủ về vai trò của CSC sẽ giúp chúng ta có ý thức hơn khi nghiên cứu xây dựng các chính sách
2 Quy trình hoạch định chính sách công
Quy trình hoạch định CSC bao gồm các giai đoạn khác nhau có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau từ giai đoạn xác định mục tiêu đến giai đoạn ban hành chính sách
Bước 1: Xác định mục tiêu hoạch định chính sách công
Muốn ban hành một chính sách, trước tiên phải thuyết phục được chủ thể ban hành chính sách về sự cần thiết phải giải quyết vấn đề bằng công cụ chính sách và qua chủ thể ban hành chính sách thuyết phục các đối tượng thực thi chính sách về lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường của chính sách sẽ ban hành Toàn bộ nội dung thuyết phục đó được coi là mục tiêu hoạch định chính sách, bao gồm việc xác định các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể Trong thực
tế, khi nêu mục tiêu hoạch định CSC người ta thường quan tâm đến một số vấn đề sau:
- Tính bức xúc của vấn đề chính sách đối với đời sống xã hội;
- Tính phức tạp của vấn đề chính sách;
- Tính thời cơ của ban hành chính sách;
- Khả năng giải quyết vấn đề bằng chính sách của nhà nước;
Trang 8- Khả năng tồn tại của chính sách;
- Hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách
Bước 2: Xây dựng dự thảo các phương án chính sách công
Xây dựng dự thảo các phương án chính sách công nhằm cho ra đời những dự kiến chính sách để nhà nước có thể sử dụng cho quá trình quản lý
xã hội Do hoạt động kinh tế - xã hội chịu tác động của nhiều quy luật khách quan nên người ta có thể giải quyết vấn đề phát sinh bằng nhiều cách khác nhau Việc dự thảo các phương án chính sách của nhà nước là một tất yếu khách quan, xây dựng các phương án khác nhau để có điều kiện lựa chọn phương án giải quyết tối ưu, hoặc kết hợp các phương án giải quyết mang lại hiệu quả
Ở nước ta, cơ quan xây dựng dự thảo các phương án CSC thường là các
Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Bước 3: Lựa chọn phương án dự thảo tốt nhất
Lựa chọn phương án chính sách là bước tiếp theo của hoạch định CSC, nhằm xác định được dự thảo chính sách tốt nhất trong các phương án dự thảo Khi lựa chọn phương án chính sách cần căn cứ vào các tiêu chuẩn của một chính sách tốt, bao gồm:
- Chính sách phải hướng mạnh vào mục tiêu;
- Phải tạo ra động lực mạnh để kinh tế - xã hội phát triển;
- Phải phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện để thực hiện;
- Phải có tính khả thi cao;
- Phải đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý;
- Phải đảm bảo hiệu quả kinh tế gắn với hiệu quả xã hội
Việc xem xét, lựa chọn phương án có thể sử dụng phương pháp so sánh, SWOT, cho điểm Để lựa chọn phương án tối ưu, không chỉ dừng lại ở cấp hoạch định chính sách, mà cần mở rộng đến các đối tượng thực thi chính sách để đảm bảo tính khách quan, tạo được sự đồng thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý
Trang 9Bước 4: Hoàn thiện phương án lựa chọn
Phương án lựa chọn mới chỉ đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của một chính sách, còn cần phải bổ sung, hoàn thiện về nội dung theo các yêu cầu của chủ thể và đối tượng chính sách Để hoàn thiện phương án lựa chọn cần gửi phương án đến các đối tượng thực thi để xin ý kiến đóng góp Các ý kiến đóng góp phải được Ban dự thảo nghiên cứu sử dụng để bổ sung, hoàn thiện
dự thảo Hoàn thiện phương án lựa chọn cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính chính trị: chính sách đó phải phục vụ cho mục tiêu của giai cấp cầm quyền Một chính sách đưa ra càng ít sự chống đối càng tốt
- Đảm bảo tính hợp pháp của chính sách: Không trái với Hiến pháp và pháp luật của nhà nước
- Kết hợp hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt Ví dụ, Chính sách phát
triển nông thôn mới; chính sách xóa đói, giảm nghèo
- Phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ dân trí, văn hóa Ví dụ: Xây
dựng đường tàu cao tốc Bắc – Nam; Chương trình tổng thể cải cách hành chính 2001-2010
- Tính tới tác động trước mắt, tác động lâu dài (xuất khẩu than; cho thuê rừng)
- Phù hợp với xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá Chính sách phải phù hợp với chính sách của các nước trong khu vực và thế giới, nhất là khi Việt Nam đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), ASEAN, AFTA, TPP
Bước 5: Thẩm định phương án chính sách công
Sau bước hoàn thiện phương án lựa chọn, dự thảo phương án chính sách mới chỉ là một dự thảo chính sách tối ưu về mặt lý thuyết, nó vẫn có khoảng cách so với thực tế Vì thế cần phải thẩm định dự thảo chính sách để nó thật
sự phù hợp với thực tế, đảm bảo tính khả thi khi chính sách được ban hành Thẩm định phương án chính sách là những hoạt động thử nghiệm các tính năng của chính sách trong những điều kiện nhất định
Trang 10Bước 6: Quyết nghị ban hành chính sách công
Sau khi thực hiện các bước từ xác định mục tiêu chính sách đến thẩm định phương án chính sách, chúng ta đã có đầy đủ căn cứ để kết luận tính hiệu lực, hiệu quả và tính khả thi cỉa chính sách Những kết luận đó cho phép chúng ta quyết định có đưa chính sách vào thực thi trong đời sống hay không Quyết nghị chính sách là hình thức pháp lý hoá chính sách trước khi đưa vào thực hiện, để chính sách thực sự có tính pháp lý, thu hút được sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước và của mọi tầng lớp nhân dân
3 Một số vấn đề cần quan tâm khi hoạch định CSC
- Cần có chiến lược trong xây dựng chính sách, tránh tư duy theo nhiệm kỳ;
- Chính sách cần tương đối ổn định Hiện tượng phổ biến hiện nay, nhất là ở các cơ quan hành chính nhà nước là “Tân quan tân chính sách”;
- Tìm mọi biện pháp để có được những thông tin cần thiết liên quan đến chính sách;
- Xem xét các nguồn lực cần thiết cho việc tổ chức thực hiện chính sách
- Xây dựng chính sách cần có sự tham gia của tất cả các bên liên quan: Quốc hội, Chính phủ, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, người dân, các nhà khoa học, chuyên gia
II THỰC TIỄN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG TRONG KHU VỰC CÔNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1 Kết quả đạt được
Quy trình hoạch định chính sách ở nước ta được thực hiện tuần tự các bước như sau: Nêu lý do hoạch định chính sách, xây dựng dự thảo các phương án chính sách, lựa chọn phương án dự thảo tốt nhất, hoàn thiện phương án lựa chọn, thẩm định phương án chính sách, quyết nghị ban hành chính sách, công bố chính sách
Thời gian qua, việc hoạch định CSC ở nước ta đã cho ra đời nhiều chính sách phù hợp với thực tế, thực thi đem lại hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là đã
Trang 11góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước ta trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới
Trong thời gian qua, hoạt động hoạch định CSC đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ cả về số lượng và chất lượng trên các lĩnh vực trọng yếu, cấp bách về kinh tế, chính trị (tổ chức bộ máy nhà nước, an sinh xã hội, quân
sự, ngoại giao…) Một số CSC quan trọng đã được luận chứng khoa học hơn, bám sát thực tiễn đất nước, địa phương và ngành Nhờ đó, bước đầu đã tạo lập
và hoàn thiện được một hệ thống CSC khá phù hợp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quản lý hành chính nhà nước, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong lĩnh vực kinh tế, một số chính sách mới được ban hành đã đáp ứng được về cơ bản yêu cầu phát triển và hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt, có tính ứng phó khá tốt với tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như: chính sách kích cầu, chính sách điều chỉnh tiền lương cơ bản, chính sách hạ thấp lãi suất cho vay của ngân hàng, lãi suất tối đa cho tiền gửi bằng đồng Việt Nam, chính sách mang ngoại tệ, tiền Việt Nam của cá nhân khi xuất nhập cảnh, chính sách điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân, chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, … Theo đó, nhiều chính sách
đã phát huy được tác dụng trong kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định giá cả thị trường và mức độ tăng trưởng của nền kinh tế trong điều kiện khủng hoảng kinh tế Điều đó được đánh giá như những phản ứng kịp thời của nhà nước trước những biến động lớn của kinh tế toàn cầu và khu vực Bên cạnh
đó, một số chính sách đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, giảm đầu tư từ ngân sách nhà nước như: phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước,
2 Hạn chế, khó khăn
Trang 12Quy trình hoạch định CSC tuy đã được nghiên cứu cải tiến theo hướng hiện đại, tiện lợi, dân chủ nhưng nhìn tổng thể vẫn theo cách "có một không hai" - theo dẫn chứng của Giáo sư Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản Theo đó, có thể chỉ ra những bất cập chủ yếu như:
Thứ nhất, các kiến nghị hoạch định chính sách chủ yếu xuất phát từ các
cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước Việc dự thảo chính sách thường là do các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan đặc biệt của Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện
Như vậy, CSC được ban hành dựa trên suy xét, phân tích tình hình thực
tế và trên cơ sở những mong muốn quản lý của từng cơ quan nhà nước Sự tham gia đề xuất ý tưởng hoạch định chính sách, hoặc đóng góp vào xây dựng các phương án, biện pháp chính sách của các đối tượng bị ảnh hưởng bởi chính sách là rất hạn chế
Rất ít các CSC được ban hành xuất phát từ ý tưởng của những đối tượng
bị chính sách chi phối, ảnh hưởng và các biện pháp thực hiện chính sách do những nhà quản lý xây dựng nên Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho một số chính sách tính khả thi thấp, hoặc khi thực thi không đem hiệu quả như nhà quản lý mong muốn
Thứ hai, các ý tưởng hoạch định chính sách được đề xuất, và dự thảo
chính sách chủ yếu do cơ quan nhà nước (chủ yếu là do các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố thực hiện) thì dễ nảy sinh tình trạng cục bộ, bản vị; đề xuất dựa trên mong muốn, mục đích quản lý của ngành, địa phương do mình quản
lý mà không tính tới tổng thể chung
Thứ ba, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và căn cứ vào tình
hình quản lý, các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố để đề xuất dự thảo chính sách trong lĩnh vực quản lý được giao và cũng chính là cơ quan dự thảo, do
đó thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành nên chính sách thiếu tính khách quan, toàn diện