1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH,CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC

52 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 622,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt nội dung báo cáo: Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là kết quả của quá trình đấu tranh và lao động của dân tộc ta, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được,

Trang 1

KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Tháng 8 năm 2009

Trang 2

BỘ MÔN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT

NGUYỄN ĐỒN ANH VŨ

ĐÁNH GIÁ CƠNG TÁC ĐĂNG KÝ, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH,CÁ

NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Giáo viên hướng dẫn: KS Võ Thành Hưng

(Địa chỉ cơ quan: Trường Đại học Nơng Lâm Tp Hồ Chí Minh)

Ký tên: ………

Tháng 8 năm 2009

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG

PHẦN MỞ ĐẦU

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN I: TỔNG QUAN 3

I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 3

I.1.1 Cơ sở khoa học 3

I.1.1.1 Một số khái niệm có liên quan: 3

I.1.1.2 Sơ lược về công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ 4

I.1.2 Cơ sở pháp lý .7

I.1.3 Cơ sở thực tiễn 8

I.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu 8

I.2.1 Điều kiện tự nhiên 8

I.2.2 Điều kiện kinh tế 10

I.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 12

I.3.1 Nội dung nghiên cứu 12

I.3.2 Phương pháp nghiên cứu 12

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14

II.1 Tình hình quản lý đất đai 14

II.1.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 14

II.1.2 Quản lý đất đai theo đối tượng sử dụng đất 15

II.1.3 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 15

II.1.4 Công tác thống kê kiểm kê đất đai 15

II.1.5 Công tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý sử dụng đất 16

II.1.6 Công tác giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các 16

II.2 Tình hình sử dụng đất năm 2008 17

II.2.1 Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Long 17

II.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 17

II.2.3 Tình hình biến động đất đai 18

II.3 Quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân .19

II.3.1 Quy trình cấp mới 19

II.3.2 Trình tự thủ tục cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ 22

II.3.3 Các trường hợp khác 23

II.3.4 So sánh quy trình đăng ký cấp đổi và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử 24

II.4 Kết quả cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất huyện Bình Long từ năm 25

Trang 4

II.4.1 Kết quả đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 25

II.4.2 Kết quả đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005 26

II.4.3 Kết quả đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 29

II.4.4 Kết quả đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 33

II.4.5 Kết quả đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008 34

II.4.6 Kết quả đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 05/2009 35

II.5 Kết quả đăng ký cấp giấy QSDĐ từ năm 2004 đến 05/2009 36

II.6 Nhận xét chung trong công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử 38

II.6.1 Thuận Lợi 38

II.6.2 Khó khăn 38

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43

III.1 Kết luận 43

III.2 Kiến nghị 44

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Con xin gởi lời tri ân sâu sắc đến cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục con nên người Cám ơn anh chị đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để

em có thể hoàn thành tốt việc học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cám ơn: KS Võ Thành Hưng cùng các anh, các chú ở Phòng

Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Long, những người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cho em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp

Ban giám hiệu, Thầy cô Khoa Quản lý đất đai và bất động sản đã tận tình giảng dạy em trong suốt quá trình học tập tại trường

Các bạn sinh viên lớp Quản lý đất đai khóa 2005-2009

Đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn Trong điều kiện hạn chế về thời gian và khả năng, đề tài không thiếu những thiếu sót Người thực hiện rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô

và bạn bè

Sinh viên thực hiện Nguyễn Đoàn Anh Vũ

Trang 6

Giáo viên hướng dẫn: KS Võ Thành Hưng, Giảng viên Khoa Quản lý đất đai

và Bất động sản, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt nội dung báo cáo:

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là kết quả của quá trình đấu tranh

và lao động của dân tộc ta, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là nền tảng để phân bố và xây dựng nền kinh tế quốc dân, là điều kiện tồn tại quan trọng của con người, nhưng nguồn tại nguyên hiện nay lại có hạn nên vấn đề quản lý nhà nước

về đất đai vô cùng cần thiết đối với công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là một trong mười ba nội dung quản lý nhà nước về đất đai, thông qua đó để xác lập hồ sơ địa chính làm cơ sở xác định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đúng theo luật đất đai hiện hành

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất, là sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và người sử dụng đất trong việc thực hiện pháp luật về đất đai Nó giúp Nhà nước quản lý được tài nguyên đất đai, giúp người sử dụng đất yên tâm đầu tư, sản xuất kinh doanh,…

Huyện Bình Long là huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Phước điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, sự am hiểu của người dân về chính sách pháp luật đất đai còn nhiều hạn chế đặc biệt những xã có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống Công tác quản lí nhà nước về đất đai còn hạn chế chưa áp dụng những công nghệ mới vào quản lí

Kết quả đạt được của đề tài:

Tìm hiểu, đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai mà đặc biệt là tập trung đánh giá tình hình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước giai đoạn 2004- 2009

Tìm hiểu quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất áp dụng tại địa phương

Rút ra nhận xét, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với tình hình của địa phương

Trang 7

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

UBND : Ủy ban nhân dân

VPĐKQSDĐ : Văn Phòng đăng ký quyền sử dụng đất HĐĐK : Hội đồng đăng ký

GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

KK ĐKĐĐ : Kê khai đăng ký đất đai

HS KKĐK : Hồ sơ kê khai đăng ký

TN& MT : Tài Nguyên và Môi Trường

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 1 : Phân bố diện tích theo đơn vị hành chính năm 2008 9

Bảng 2 : phân bố dân số theo đơn vị hành chính 11

Bảng 3:kết quả thành lập bản đồ địa chính chính quy ở huyện Bình Long 14

Bảng 4:Đối tượng được sử dụng và quản lí 15

Bảng 5 : Tình hình tranh chấp từ năm 2004– 5/2009 16

Bảng 6: Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 17

Bảng 7: Biến động đất đai năm 2008 so với năm 2007 và năm 2006 19

Bảng 8: So sánh quy trình cấp đổi và đăng ký cấp mới GCNQSDĐ 24

Bảng 9 Kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2004 25

Bảng 10 : Kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2005 26

Bảng 11 : Kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2006 29

Bảng 12: Kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn năm 2007 33

Bảng 13 : Kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn năm 2008 34

Bảng 14 : Kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn 05/ 2009 36

Bảng 15 : Kết quả cấp GCNQSDĐ qua các năm từ 2004 đến 05/2009 36

Biểu đồ 1: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất năm 2008 17

Biểu đồ 2: Tình hình biến động cấp giấy qua các năm của toàn huyện………37

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là kết quả của quá trình đấu tranh

và lao động của dân tộc ta, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là nền tảng để phân bố và xây dựng nền kinh tế quốc dân, là điều kiện tồn tại quan trọng của con người, nhưng nguồn tại nguyên hiện nay lại có hạn nên vấn đề quản lý nhà nước

về đất đai vô cùng cần thiết đối với công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai, thông qua đó để xác lập hồ sơ địa chính làm cơ sở xác định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đúng theo luật đất đai hiện hành

Luật đất đai năm 1993 và luật đất đai năm 2003 vẫn khẳng định: “Đất đai thuộc

sở hữu toàn dân do nhà nước đai diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” điều này được thể hiện rõ qua việc nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

để nhà nước thống nhất về đất đai, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất Điều này thật cần thiết trong thời kỳ đất nước đang đổi mới, mở ra nhiều cơ hội và thách thức.Nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao trong nhiều ngành,lĩnh vực, đạc biệt là lĩnh vực về nhà ở đang là đề tài nóng bổng, được nhiều sự quan tâm của người dân cùng các ban ngành, lãnh đạo quận huyện, tỉnh, thành phố

Huyện Bình Long là huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Phước điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, sự am hiểu của người dân về chính sách pháp luật đất đai còn nhiều hạn chế đặc biệt những xã có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống Công tác quản lí nhà nước về đất đai còn hạn chế chưa áp dụng những công nghệ mới vào quản lí , xuất phát từ những vấn đề nêu trên và được sự chấp thuận của nhà trường,của khoa quản lý đất đai và bất động sản cùng KS Võ Thành Hưng, tôi thực hiện đề tài

“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC”

Mục tiêu nghiên cứu:

Cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất hợp pháp

Tìm hiểu các quy định về cấp giấy chứng nhận

Tìm hiểu công tác cấp GCNQSDĐ có tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình cá nhân trên toàn Huyện

Từ đó rút ra được những thuận lợi, khó khăn trong công tác cấp giấy và đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện của địa bàn

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng kê khai đăng ký quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư

Những văn bản của Nhà Nước có liên quan đến việc đăng ký cấp GCNQSDĐ Quy trình cấp GCNQSDĐ tại địa phương

Phạm vi nghiên cứu:

Do hạn chế về mặt thời gian nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước

Trang 10

Phạm vi về thời gian: Từ năm 2004 đến tháng 5 năm 2009

Thời gian thực hiện nghiên cứu: Từ đầu tháng 03/2009 đến cuối tháng 07/2009

Trang 11

PHẦN I: TỔNG QUAN

I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

I.1.1 Cơ sở khoa học

I.1.1.1 Một số khái niệm có liên quan:

Đất đai:

Đất đai bao hàm cả các yếu tố về đất và các yếu tố tự nhiên khác có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng hay chất lượng đất đai Đất đai cần thiết cho bất kỳ hoạt động nào của con người

- GCNQSDĐ được cấp cho NSDĐ theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành

- GCNQSDĐ đựoc cấp theo từng thửa đất

+ Trường hợp đất là tài sản chung của vợ và chồng thì GCNQSDĐ phải ghi

+ Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cơ sở tôn giáo thì GCNQSDĐ được cấp cho cơ sở tôn giáo và trao cho người có trách nhiệm cao nhất của cơ sở tôn giáo đó

+ Chính phủ quy định cụ thể việc cấp GCNQSDĐ đối với nhà chung cư, nhà tập thể

- Trường hợp thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ, giấy chứng quyền sở hữu nhà

ở và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSHNƠ & GCNQSDĐƠ) đô thị thì người SDĐ không phải đổi giấy chứng nhận đó sang theo quy định Khi chuyển QSDĐ thì người nhận chuyển QSDĐ được cấp theo quy định

Trang 12

Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định

là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó

Hồ sơ địa chính: là hệ thống tài liệu số liệu, bản đồ, sổ sách…chứa đựng

những thông tin cần thiết về mặt tự nhiên, kinh tế xã hội, pháp lý của đất đai Được thiết lập trong quá trình đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu, đăng ký biến động đất đai, cấp GCNQSDĐ

- Hồ sơ địa chính bao gồm: Bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai,

sổ theo dõi biến động đất đai

- Bản đồ địa chính là bản đồ về các thửa đất được lập để mô tả các yếu tố tự nhiên cuả thửa đất và các yếu tố địa hình có liên quan đến quá trình sử dụng đất

-Sổ địa chính là sổ ghi về người sử dụng đất, các thửa đất của người đó đang sử dụng và tình trạng sử dụng đất của người đó Sổ địa chính được lập để quản lý việc sử dụng đất của người sử dụng đất và để tra cứu thông tin đất đai có liên quan đến từng người sử dụng đất

-Sổ mục kê đất đai là sổ ghi về thửa đất, về đối tượng chiếm đất nhưng không

có ranh giới khép kín trên tờ bản đồ và các thông tin có liên quan đến quá trình sử dụng đất Sổ mục kê đất đai được để quản lý thửa đất, tra cứu thông tin về thửa đất và phục vụ thống kê, kiểm kê đất đai

-Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sổ được lập để cơ quan địa chính thuộc UBND cấp có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ theo dõi, quản lý

-Sổ theo dõi biến động đất đai là sổ để ghi những biến động về sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất

I.1.1.2 Sơ lược về công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ

a) Giai đoạn trước năm 1945

Ở Việt Nam công tác đạc điền và quản lý địa điền có lịch sử khá lâu đời Tuy nhiên bộ hồ sơ địa điền củ nhất mà ngày nay còn lưu giữ lại được tại một số nơi Bắc

và Trung Bộ là hệ thống sổ Địa Bạ thời Gia Long ( năm 1806) ở Nam Bộ có hệ thống địa bạ thời Minh Mạng

Sổ địa bạ thời Gia Long được tập chung cho từng xã, phân biệt rõ đất công điền

và đất tư điền nghi rõ đất của ai, diện tích, tứ cận, đẳng hạn để tính thuế Sổ địa bạ được lập thành ba bản Hệ thống này không có bản đồ kèm theo và không dùng một đơn vị đo lường thống nhất nên việc dùng sổ rất khó khăn và không được tu chỉnh theo thời kỳ

Hệ thống “điạ bộ’’ thời Minh Mạng được thành lập tới làng, xã, và có nhiều tiến bộ so với thời Gia Long nhưng sổ được lập trên cơ sở đạc điền, có bản mô tả các thửa ruộng kèm theo sổ đị bộ, sổ địa bộ được thành lập thành ba bản

Dưới thời Pháp thuộc, do chính sách cai trị của thực dân, trên lãnh thổ nước ta tồn tại nhiều chế độ đồn địa khác nhau:

- Chế độ quản thủ địa bộ Nam Kỳ

- Chế độ bảo tồn điền trạch tại Trung Kỳ

- Chế độ bảo thủ đế ấp, áp dụng đối với bất động sản của người Pháp

Trang 13

- Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 21/07/1925 được áp dụng tại Nam Kỳ và nhượng địa Pháp quốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng

- Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 23/03/1939 áp dụng tại Bắc Kỳ

- Chế độ quản thủ địa chính được áp dụng chính thức từ năm 1930 theo nghị định 1358 của toà Khân Sứ Trung Kỳ ( lúc này gọi là bảo tồn điềm trạch) Điến năm

1939 đổi thành quản thủ địa chính theo nghị định 3138 ngày 14/10/1939 tài liệu theo chế độ này gồm; bản đồ giải thửa, sổ địa bạ, sổ điền chủ bộ và tài chủ bộ, hệ thống sổ

bộ được thành lập khá chặt chẽ, một bộ sao bản đồ, địa bạ danh sách trái quyền được

để tại huyện đường, để công khai trong hai tháng Sau đó hệ thống hệ thống này sẻ được chuyền về sở địa chính để lập sổ bộ chính thức Địa bộ chính thức kèm theo bản

đò, biên bản phân ranh được giao cho phòng quản thủ địa chính để thực hiện đăng ký chuyển dịch

b) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

Giai đoạn này đất nước ta bị chia cắt thành hai miền do chiến tranh nên có hai chế độ chính trị khác nhau

*Miền Bắc:

Trong thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, tổ chức ngành địa chính các cấp thường xuyên không ổn định Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước vấn chưa ban hành một văn bản nào làm cơ sở pháp lý nên công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa được trển khai thực hiện

Hệ thống tài liệu đất đai giai đoạn này gồm: Bản đồ giả thửa và sổ mục kê, kiểm kê, thống kê đất đai, những thông tin về chủ sử dụng đất chỉ phản ánh theo hiện trạng , không truy cứu tính đến cơ sở pháp lý và lịch sử sử dụng đất

* Miền Nam:

Đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo hai chế độ: chế độ quản thủ địa điền và tân chế độ điền địa theo sắc lệnh 21/07/1925

Hệ thống hồ sơ của tân chế độ điền địa gồm có:

- Bản đồ giải thửa chính sác

- Sổ điền thôt lập theo đơn vị bất động sản, trong đó ghi rõ diện tích, nơi toạ lạc, giáp ranh, tên chủ sở hữu, điều liên quan đến chủ sở hữu…

- Sổ mục lục lập theo tên chủ, có ghi số hiệu tất cả các thửa đất của mỗi chủ

- Hệ thống phiếu tra cứu tên chủ sở hữu

- Hệ thống sơ đồ bất động sản lập cho tứng bằng khoáng

Toàn bộ hồ sơ được lập thành hai bộ, lưu tại Ty điền địa và xã sở tại Chủ sử dụng được cấp mỗi lô đất một bằng khoáng đền thổ Nhược điểm của hệ thống này là

số lượng tài liệu nhiều, kích thước sổ sách, bằng khoáng điền thổ quá lớn, khó sử dụng

và dể hư hỏng

Chế độ quản thủ điền địa có phương pháp đo đạc đơn giản hơn để các xã tự do

vẽ lược đồ, song phải tuân theo một trình tự pháp lý chặt chẽ, hồ sơ thành lập theo chế

độ này bao gồm:

- Sổ điền bộ

- Sổ điền chủ

Trang 14

Từ sau năm 1980, công tác đăng ký đất đai mới được nhà nước bắt đầu quan tâm và tổ chức thực hiện theo Quyết định 201/CP ngày 01/07/1980 của Thủ tướng chính phủ Tổng cục quản lý ruộng đất lần đầu tiên ban hành một văn bản quy định thủ tục đăng ký, thống kê ruộng đất theo Quyết định 56/ĐKTK ngày 05/11/1981

Việc xét duyệt đăng ký phải do một Hội đồng đăng ký, thống kê của xã thực hiện Kết quả xét duyệt của xã phải được UBND Huyện xét duyệt mới được đăng ký cấp GCNQSDĐ Hệ thống hồ sơ đăng ký thể một cách đầy đủ và chi tiết (gồm 14 biểu mẫu) đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai trong thời kỳ đó

Năm 1980 Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị 99/TTg về triển khai đo đạc toàn thể trên toàn quốc, tổng hợp diện tích của bốn loại đất, định giá đất và đăng ký đất trên diện tích được giao và thành lập các bản đồ giải thửa Việc triển khai chỉ thị 299/TTg kéo dài từ năm 1981-1988 mới thực hiện được 6500 xã

Kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, các khu dân cư nông thôn hầu như còn đo bao và để dân tự khai, không xác định được vị trí cụ thể trên bản đồ, hồ sơ Việc xét quyền sử dụng hợp pháp của người kê khai, đăng ký gần như không được thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc Vì vậy hệ thống sổ sách đăng ký thiết lập giai đoạn này chỉ mang tính chất điều tra, phản ánh nguyên hiện trạng sử dụng đất Việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được thưc hiện

d) Giai đoạn từ 1988-1993

Đăng ký đất đai cấp GCNQSDĐ trở thành nhiệm vụ bắt buộc và hết sức cấp thiết làm cơ sở để tổ chức thi hành Luật Đất Đai Kế thừa và phát huy hết kết quả điều tra, đo đạc và đăng ký theo chỉ thị 299/TTg, Tổng cục địa chính đã ban hành Quyết định 201/ĐTKT ngày 14/07/1989 hướng dẫn thực hiện quyết định này, tạo sự chuyển biến lớn trong việc thực hiện đăng ký và cấp GCNQSDĐ trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên trong thực tiễn triển khai do chất lượng hệ thống hồ sơ đã thiết lập theo Chỉ thị 299/TTg có quá nhiều tồn tại nên cần hệ thống lại chính sách đất đai trong quá trình đổi mới, thực hiện chủ trương giao khoán ruộng đất theo chỉ thị 100/TW, tiếp đến là giao khoán ổn định lâu dài theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị

Bước đầu đạt được một số thắng lợi khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng

và đã được các địa phương trong cả nước hưởng ứng mạnh mẽ, tạo sự thay đổi lớn về hiện trạng đất đai Tuy nhiên, chủ trương này đến giữa năm 1993 vẫn chưa được thể chế hóa bằng chính sách pháp luật

e) Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2004

Ngày 24/07/1993 luật đất đai năm 1993 ra được Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993 Luật đất đai 1993 có những thay đổi rất lớn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Từ đây việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử

Trang 15

dụng đất của mỗi địa phương trở nên cấp bách, công tác cấp giấy chứng nhận được trển khai mạnh trên phạm vi cả nước

Theo luật đất đai năm 1993, đất ở nông thôn, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp

và đất chuyên dùng đước cấp giấy chứng nhận quỳền sử dụng đất theo mẫu do Tổng Cục quản lý ruộng đất ban hành tại quyết định 201/ĐKTK trên giấy chứng nhận thương ghi tất cả thửa đất được giao cho một chủ sử dụng Với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế này người sử dụng đất gặp nhiều khó khăn khi chủ sử dụng đất thực hiện việc thế chấp, chuyển đổi chuyển nhượng…, một hoặc một số thửa đất có trong giấy chứng nhận mặt khác nó còn gây khó khăn cho công tác cập nhật biến động mức độ nhầm lẫn sẽ tăng nhanh khi mạt độ chuyển dịch đất tăng cao

Riêng đất ở đô thị được cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà ở và giấy chứng nhận quyển sử dụng đất ở theo mẫu do bộ xây dựng ban hành tại nghị định 60/.CP Đây là yếu tố thực hiện thống nhất các thủ tục đăng ký đất đai trên toàn quốc

f) Giai đoạn từ năm 2004

Luật đất đai 2003 được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội Việt Nam tại kỳ họp thứ 4, khoá XI, thông qua ngày 26/11/2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004 luật này thay thế cho luật đất đai 1993, thể hiện quan điểm đổi mới về công tác quản lý, đặc biệt là các thủ tục hành chính về đất đai, công tác đo đạc, đăng ký đất đai, lập hồ

sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định cụ thể rõ ràng bằng các điều luật, nghị định 181 về thi hành luật quy định rất chi tiết cụ thể các vấn

đề trên

I.1.2 Cơ sở pháp lý

- Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992

- Luật đất đai năm 1993 và các luật đất đai sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001

- Thông tư 364/1998/ TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của tổng cục địa chính hướng dẫn về xử lý một số vấn đề cấp GCNQSDĐ

- Luật đất đai năm 2003 được quốc hội nước cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003

- Nghị Định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 nghị định của Chính Phủ về thi hành luật đất

- Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09/12/2004 của thủ tướng chính phủ về việc triển khai thi hành luật đất đai năm 2003

- Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/07/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Nghị Định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007của Chính Phủ quy định bổ sung

về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi và hỗ trợ về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/06/2007 của Bộ Tài Nguyên Môi Trường hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007của Chính Phủ quy định bổ xung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi và hỗ trợ về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai

Trang 16

- Thông tư 01/2005/ TT-BTNMT ngày 13/04/ 2005 của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định 181/2004/NĐ-CP

- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của chính Phủ về thu tiền sử dụng đất

- Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện nghị định số 198/2004/N Đ-CP ngày 3/12/2004 của chính Phủ về thu tiền sử dụng đất

- Thông tư số 70/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài Chính hướng dẫn sửa đổi bổ xung Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện nghị định 198/2004/N Đ-CP ngày 3/12/2004 của chính Phủ về thu tiền sử dụng đất

- Quyết định 24/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường ban hành quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Thông tư 29/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính ngày 01/11/2004

- Quyết định số 120/2005/QĐ-UBT ngày 04/04/2005 quy định về các trường hợp được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Quyết định số 80/2003/QĐ-UB ngày 23/04/2004 của UBĐ Tỉnh Bình Phước thi hành luật đất đai

I.1.3 Cơ sở thực tiễn

Mỗi nghị định, quyết định mới ra đời sẽ giải quyết được những khó khăn, đáp ứng được tình hình thực tế phát sinh trong khi thực hiện Nghị định, Nghị quyết cũ

Thị trường bất động sản đang nóng dần lên, người dân cần có một chứng thư pháp lý về nhà đất để giao dịch

Các tỉnh,huyện thường xuyên giải quyết các trường hợp tranh chấp, khiếu nại, tố cáo v.v về đất đai

I.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

I.2.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Bình Long nằm về phía Tây Nam của tỉnh Bình Phước Huyện nằm ngay trên Quốc lộ 13 đi qua trung tâm huyện từ Bắc xuống Nam về TP Hồ Chí Minh , từ Bình Long có thể đi lại, vận chuyển hàng hoá đến tất cả các vùng kinh tế trọng điểm trong

cả nước, là điều kiện cho phép đẩy nhanh quá trình khai thác sử dụng đất và mở cửa, hoà nhập với sự phát triển kinh tế bên ngoài Diện tích tự nhiên là 75773 ha

Toạ độ địa lý: - Từ 106o25’31’’ đến 106o47’11’’ kinh độ Đông

- Từ 11o 27’47’’ đến11o 46’55’’ vĩ độ Bắc

Về ranh giới hành chính:

- Phía Bắc giáp huyện Lộc Ninh

- Phía Đông giáp huyện Phước Long, Đồng Phú

- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Tây Ninh và Tỉnh Bình Dương

- Phía Nam giáp huyện Chơn Thành

Trang 17

Bảng 01: Phân bố diện tích theo đơn vị hành chính năm 2008

Đơn vị hành chính Diện tích(ha) Tỉ lệ (%) STT

d) Tài nguyên Đất

Huyện Bình Long có 5 nhóm đất chính , với 8 đơn vị đất cơ bản:

* Nhóm đất xám: Có 22,175.00 ha, chiếm 29.27 % diện tích tự nhiên

* Nhóm đất đỏ vàng: Có 46,851.00 ha, chiếm 61.83 % diện tích tự nhiên

* Nhóm đất đen trên Bazan: Đất đen có 533.59 ha, chiếm 0.73% tổng diện tích tự

nhiên Vì vậy, đất này chỉ thích hợp trồng các cây hàng năm như: bắp, đậu đỗ, bông vải…

Trang 18

* Nhóm đất dốc tụ: Đất dốc tụ có 3,457.00 ha, chiếm 4.56% DTTN, chỉ có khả năng

sử dụng cho việc trồng các cây hàng năm như lúa, hoa màu lương thực…

* Nhóm đất trơ sỏi đá: Diện tích 217 ha, chiếm 0.29% DTTN Phân bố chủ yếu ở

Tân Lợi và Phước An (khu vực Núi Gió), có khả năng sử dụng để khai thác vật liệu xây dựng hoặc khoanh nuôi bảo vệ rừng

e) Tài nguyên nước

Huyện Bình Long nằm kẹp giữa 02 con sông lớn là Sông Bé và sông Sài Gòn, thuộc

+ Ngoài ra trên địa bàn huyện Bình Long còn có hàng chục dòng suối đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, lớn nhất là suối Cầu Lê Mặt khác Bình Long còn có nhiều bưng, bàu sẵn nước, thuận lợi cho việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt

f) Tài nguyên rừng

Huyện Bình Long nói riêng và tỉnh Bình Phước nói chung là vùng có tài nguyên rừng phong phú nhất vùng Đông Nam Bộ, nhưng đến nay phần lớn diện tích đất rừng đã khai thác chuyển sang sử dụng cho mục đích nông nghiệp và các mục đích phi nông nghiệp Trong huyện có lâm trường Minh Đức 21.355 ha, nhưng đất rừng chỉ còn 5.238 ha, chiếm 24,76% diện tích lâm trường, trong đó hầu hết là rừng trồng làm nguyên liệu

h) Tài nguyên khoáng sản

Về tài nguyên khoáng sản của tỉnh Bình Phước nói chung và huyện Bình Long nói riêng còn ít được nghiên cứu thăm dò, nhưng nhìn chung trên địa bàn huyện tài nguyên khoáng sản không nhiều Theo kết quả điều tra khảo sát ban đầu trên địa bàn huyện có một số khoáng sản như: sét Cao lanh, sét gạch ngói, cuội, sỏi đá Bazan và đá vôi Tập trung ở khu vực đồi 70 (Thanh An và An Khương) và Núi Gió (Tân Lợi, Phước An, Thanh Bình)

I.2.2 Điều kiện kinh tế

a) Thực trạng phát triển kinh tế

Với lợi thế về đất đai, khí hậu và lực lượng lao động, cộng với việc tập trung làm tốt công tác khuyến nông, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất, định hướng cho nông dân, chủ trang trại sản xuất theo hướng từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, hướng vào thị trường, những năm qua, nhất là từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương V ( khoá IX ) về đẩy nhanh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Bình Long đã có những chuyển biến rất tích cực, làm thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn trên địa bàn huyện

Năm 2008, cơ cấu kinh tế ở huyện Bình Long chuyển dịch theo hướng tăng dần

tỷ trọng công nghiệp- dịch vụ với 65,84% nông – lâm nghiệp, 10,7% công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và 24,9% dịch vụ, tương ứng với năm 2007 là 66,6%, 8%, 25,4%

Trang 19

*Nghành nông nghiệp:Do chính sách đổi mới trong nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng

khu vực nông nghiệp và dịch vụ tăng khá nhanh Tổng diện tích giao trồng toàn huyện

* Công nghiệp- Tiểu thủ Công nghiệp- Giao thông Xây dựng

Tổng doanh thu toàn nghành là 38,450 tỷ đồng, trong đó công nghiệp- TTCN 32,390 tỷ đồng và vận tải 6,606 tỷ đồng

b) Thực trạng xã hội

Đặc điểm dân số : Theo thống kê dân số năm 2005, huyện Bình Long có 147.335

người, mật độ dân số phân bố không đều, thể hiện như sau:

Bảng 2: Phân bố dân số theo đơn vị hành chính

STT

Tên xã, thị trấn Diện tích

(km2)

Dân số (người)

Mật độ dân số (người/km2)

Trang 20

* Hệ thống cơ sở hạ tầng:

Giao thông: có mạng lưới giao thông khá phát triển, với tuyến quốc lộ quan

trọng là quốc lộ 13, nối Bình Long với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng Tây Nguyên và nước bạn Campuchia

Bưu điện: Hệ thống bưu điện ngày càng phát triển Các xã đều có bưu điện trung tâm

Điện: Tổng công suất nguồn điện của các trạm biến thế là 25.653 KVA, chiều

dài đường dây hạ thế 112,9 km Hiện 100% số xã, thị trấn trong huyện có điện lưới

quốc gia với 78,26% số hộ dân sử dụng điện

Giáo dục: Toàn huyện hiện có 91 trường học, trong đó Phổ thông trung học là

3 trường, trung học cơ sở là 21trường, tiểu học là 45 trường và 22 trường mẫu giáo Với tổng số 39.214 học sinh

Y Tế: Trên địa bàn huyện có 2 bệnh viện huyện, mỗi xã đều có một trung tâm y

tế riêng

c) Đánh giá chung về thực trạng kinh tế xã hội

Sự phát triển của ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chưa ổn định, có một số cơ sở phải ngưng hoạt động do không tiêu thụ được sản phẩm bởi sự cạnh tranh gây gắt của thị trường

Tình hình gây ô nhiễm môi trường của người dân như: chăn nuôi heo, hệ thống thoát nước sinh hoạt trên mương hở … rải rác trong Huyện còn một số trường hợp chưa được giải quyết dứt điểm, cần phải có kế hoạch, biện pháp chỉ đạo để thực hiện tốt hơn

I.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN

I.3.1 Nội dung nghiên cứu

Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện

+ Quản lý đất đai theo đối tượng sử dụng đất

+ Công tác lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất

+ Công tác lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất

+ Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

+ Công tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý sử dụng đất

+ Công tác giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo

Đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện

+ Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện

Trang 21

I.3.2 Phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp điều tra: Điều tra, thu thập tất cả các số liệu về tự nhiên,

kinh tế, xã hội và các số liệu có liên quan về quản lý đất đai, đặc biệt là công tác cấp giấy Ngoài ra còn thu thập các Nghị định, Quyết định, báo cáo của các ban ngành có liên quan Đây là giai đoạn sơ khởi nhằm xác định thông tin, kiểm tra tính chính xác,

đánh giá độ tin cậy của thông tin chuẩn bị cho bước phân tích đánh giá tiếp theo

b) Phương pháp thống kê:Dùng để thống kê các số liệu về diện tích, dân

số, diện tích đăng ký cấp giấy chứng nhận, các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế -

xã hội…Phương pháp này được xác định là phương pháp chính yếu trong đề tài, thông qua việc phân tích thống kê số liệu, các kết quả thu được sẽ là đầu vào quan trọng cho bước đánh giá và là cơ sở để xác định giải pháp thích hợp cho những khó khăn, tồn tại

trong công tác cấp giấy

c) Phương pháp phân tích:

Với tính chất logic, mỗi kết quả sinh ra sẽ liên quan đến những vấn đề nhất định Do đó, phân tích các kết quả cấp giấy hằng năm là cần thiết nhằm tìm đến những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, dễ nhận diện Việc phân tách thời gian đã cho ra những thông tin mang tính thời điểm, các nhận định thu được giúp chúng ta tìm ra lời giải thích chính xác cho những tồn tại chính trong công tác đăng ký cấp giấy Vậy nên, bước tổng hợp số liệu là cần thiết nhằm đặt chúng vào môi trường rộng hơn với đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng

d) Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá

dữ liệu trên toàn bộ thời gian nghiên cứu

Cùng với việc thống kê, phân tích, so sánh, phương pháp tổng hợp giúp ích trong việc tìm ra chính xác nguyên nhân trọng yếu của vấn đề, chúng có thể là những tồn tại trong quy trình hoặc những nhân tố khác, nhưng điều quan trọng là chúng ta có thể rút ra được giải pháp khả thi cho công tác cấp giấy từ phương pháp này

e) Phương pháp so sánh: So sánh các chuỗi số liệu thống kê, các số liệu về

cấp giấy qua các năm để rút ra những vướng mắc và đề ra các giải pháp khắc phục

Trang 22

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

II.1 Tình hình quản lý đất đai

II.1.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai

a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

và tổ chức thực hiện các văn bản đó

Tổ chức thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của công tác quản lý nhà nước trên địa bàn để thực hiện chương trình cải cách hành chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất, phối hợp giải quyết vấn đề môi trường…

b) Công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính

Năm 1997 huyện đã thành lập xong bản đồ địa chính cho 8 xã: thị trấn An Lộc,

xã Phước An, xã Minh Đức, xã Thanh Lương, Thanh Phú, An Phú, Thanh An, Tân Khai Hiện nay trên huyện Bình Long về cơ bản đã triển khai thành lập bản đồ địa chính cho các xã còn lại trong huyện với tổng số tờ bản đồ địa chính là 382 tờ theo tỷ

lệ 1/2000 , 1/1000 và 1/500 được thể hiện như bảng sau:

Bảng 3 :Kết quả thành lập bản đồ địa chính chính quy ở huyện Bình Long

Trang 23

II.1.2 Quản lý đất đai theo đối tượng sử dụng đất

Các đối tượng sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Long bao gồm: hộ gia đình

cá nhân, các tổ chứa kinh tế, nước ngoài và lao động, UBND xã, các đối tượng khác

Tổng quỹ đất của Huyện Bình Long đã giao cho các đối tượng sử dụng và quản

( Nguồn: Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Bình Long năm2008

II.1.3 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Năm 2005 đến nay dưới sự chỉ đạo của Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bình Phước công tác xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm được tiến hành tốt, góp phần cùng Sở Tài Nguyên và Môi Trường và UBND tỉnh trình Chính Phủ phê duyệt

kế hoạch sử dụng đất chung của Tỉnh

Công tác quy hoạch sử dụng đất: Trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đã được Chính phủ phê duyệt theo quyết định số:1106/QĐTTG ngày 20/11/2000, năm 2005 huyện đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và quy hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã

Không xây dựng được quy hoạch sử dụng đất chi tiết từng xã (có xây dựng cũng chỉ là hình thức, không sử dụng được) đây là vấn đề bức xúc hiện nay của người dân khi gặp phải những trường hợp giải quyết quyền lợi cho người dân mà bị quy hoạch treo khống chế

II.1.4 Công tác thống kê kiểm kê đất đai

Được sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn của Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Phước, công tác thống kê, kiểm kê đất đai của huyện được triển khai khá tốt Đất đai trên địa bàn huyện đã được thống kê hàng năm theo đúng quy định của ngành Hoàn thành công tác kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm theo Chỉ thị số 28/2004/CT-TTg ngày

Trang 24

15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004,

Công văn số 4630/BTNMT-ĐKTKĐĐ ngày 17/12/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi

trường

Nhìn chung chất lượng của công tác thống kê, kiểm kê đất đai đã từng bước

được nâng cao Kết quả của các công tác này là tài liệu quan trọng, phục vụ đắc lực

trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn, tuy nhiên vẫn còn có sự sai

lệch giữa số liệu, bản đồ và thực tế

II.1.5 Công tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý sử dụng đất

Công tác thanh tra, kiểm tra về tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình

Long đã được tiến hành và phát hiện 521 trường hợp với tổng diện tích 265.231,78 m2

Trong đó có 189 trường hợp sử dụng sai mục đích, 196 trường hợp lấn chiếm hành

lang lộ giới, 136 trường hợp sang nhượng trái phép Đã xử phạt 33 trường hợp.Qua

kiểm tra tình hình sử dụng đất nói lên được một số vấn đề sau:

- Việc quản lý sử dụng đất ở một số xã trong huyện còn thiếu chặt chẽ,dẫn đến

người sử dụng đất tự ý xây dựng nhà ở, sản xuất kinh doanh trên đất nông nghiệp

- Tự ý tách thửa, chuyển nhượng chưa làm thủ tục hành chính

- Lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ

II.1.6 Công tác giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các

vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai

Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và các tranh chấp về đất đai: Trong năm

2009 (tính đến tháng 5 năm 2009) huyện bình Long đã giải quyết 4 trường hợp tranh

chấp đất đai

Do đất đai ngày càng đem lại giá trị kinh tế cao đã dẫn đến tình hình tranh chấp,

khiếu nại, tố cáo diễn ra ngày càng nhiều, phức tạp và gay gắt Đất đai vốn là vấn đề

phức tạp, việc tuyên truyền phổ biến luật còn nhiều hạn chế, công tác thanh tra kiểm

tra còn nhiều bất cập, không thường xuyên, khi phát hiện sai phạm xử lý chưa kiên

quyết

Bảng 5 Tình hình tranh chấp từ năm 2004– 5/2009 Năm Số vụ Đã giải quyết Đang giải quyết

(Nguồn : Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Bình Long)

Qua bảng trên cho thấy số vụ tranh chấp đất đai diễn ra ngày càng nhiều và việc

giải quyết cũng còn hạn chế, số vụ tranh chấp chưa được giải quyết còn tồn đọng

nhiều Điều này đã gây nhiều khó khăn trong quá trình thụ lý hồ sơ xin cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất

Trang 25

II.2 Tình hình sử dụng đất năm 2008

II.2.1 Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Long

Biểu đồ 1: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất năm 2008

Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất năm 2008

89.11%

10.62% 0.27%

Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng

Năm 2008 tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 76368.85 ha trong đó: Đất nông nghiệp là 68052.40 ha, chiếm 89.11% tổng diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp là 8110.80 ha, chiếm 10.62 % tổng diện tích tự nhiên và còn lại là đất chưa sử dụng 205.65 ha, chiếm 0.27% tổng diện tích tự nhiên

II.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2008

1.1.1.1.1 Đất chuyên trồng lúa nước LUC 716.82 0.93

Trang 26

2.1.2 Đất ở nông thôn ONT 732.66 0.95

Trong đất nông nghiệp, cây lâu năm có diện tích rất lớn 44520.25 ha, chiếm 58.29 % diện tích tự nhiên và chiếm 65.42% đất NN; đất cây hàng năm 4605.20 ha, chiếm 6.77

% đất nông nghiệp; Đất trồng cây HN còn lại 2125.75 ha chiếm 3.12 % đất nông nghiệp Đất trồng lúa 2479.45 ha chiếm 3.64% đất nông nghiệp

Ngày đăng: 22/09/2018, 09:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm