Trong các nghiên cứu gần đây, như Treisman 2000, Alicia Adsera 2003, Carles Boix 2003, Mark Payne 2003, dân chủ đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa quy mô của chính phủ và tha
Trang 1KHỔNG MINH ĐẠT
TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHỦ ĐẾN THAM NHŨNG: VAI TRÒ CỦA NỀN DÂN CHỦ TRƯỜNG HỢP TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+6
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2KHỔNG MINH ĐẠT
TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHỦ ĐẾN THAM NHŨNG: VAI TRÒ CỦA NỀN DÂN CHỦ TRƯỜNG HỢP TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+6
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS B I TH MAI HOÀI
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3-Δ -
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ với đề tài “Tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ, trường hợp tại các quốc gia Asean+6” là
công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực,
có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng, cụ thể và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TP HCM, ngày tháng 4 năm 2018
Tác giả
Khổng Minh Đạt
Trang 4-Δ -
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục bảng biểu CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp nghiên cứu 3
4.2 Dữ liệu nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề tài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÙNG CHỦ ĐỀ 5
2.1 Các khái niệm liên quan 5
2.1.1 Quy mô chính phủ 5
2.1.2 Nền dân chủ 7
2.1.3 Tham nhũng 12
2.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng và vai trò của nền dân chủ đối với tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng 17
2.2.1 Tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng 17
2.2.2 Vai trò của nền dân chủ đối với tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng 20
Trang 5CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Mô hình nghiên cứu 29
3.1.1 Mô hình nghiên cứu 29
3.1.2 Mô tả các biến kiểm soát 33
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 36
3.3 Phương pháp nghiên cứu 36
3.3.1 Thực hiện thống kê mô tả và xét tính tương quan giữa các biến 36
3.3.2 Tính dừng của dữ liệu bảng 37
3.3.3 Mối quan hệ đồng liên kết 38
3.3.4 Lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Thống kê mô tả các biến 41
4.2 Kiểm định tính dừng của các biến 43
4.3 Kiểm định mối quan hệ dài hạn của các biến 43
4.3.1 Kết quả kiểm định theo phương pháp Pedroni 44
4.3.2 Kết quả kiểm định theo phương pháp Kao 45
4.3.3 Kết quả kiểm định theo phương pháp Fisher/Johansen 46
4.4 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng 47
4.4.1 Tương quan giữa các biến 47
4.4.2 Kết quả hồi quy theo phương pháp Pooled, FEM và REM 49
4.4.3 Lựa chọn mô hình phù hợp phân tích 52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
5.3 Hạn chế của đề tài 62
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6-Δ - RCEP: Regional Comprehensive Economic Partnership (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực)
ASEAN: Association of South East Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á) UNDP: United Nations Development Program (Chương trình Phát triển Liên hợp quốc) WDI: World Development Indicators (Chỉ số Phát triển Thế giới)
WGI: World Governance Index (Chỉ số quản trị toàn cầu)
GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa)
WTO: World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới)
FEM: Fixed Effect Model (Mô hình hiệu ứng cố định)
REM: Random Effect Model (Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên)
GMM: Generalized Method of Moments (Phương pháp ước lượng tổng quát hóa dựa trên moment)
D-GMM: difference GMM (GMM sai phân)
ARDL: AutoRegressive Distributed Lag (Mô hình phân phối trễ tự hồi quy)
VAR: Vector Auto-regressive (Mô hình vector tự hồi quy)
ECM: Error correction model (Mô hình hiệu chỉnh sai số)
VECM: Vector error correction model (Mô hình tự hồi quy vector)
PMG: Pooled mean group (Phương pháp trung bình nhóm gộp)
ICRG: The International Country Risk Guide (Tổ chức Hướng dẫn Quốc tế về Rủi ro Quốc gia)
COC: Control of Corruption (Chỉ số kiểm soát tham nhũng)
CPI: Corruption Perceptions Index (Chỉ số cảm nhận tham nhũng)
Trang 7ODA: Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)
3SLS: Three-stage least squares (Phương pháp bình phương nhỏ nhất ba giai đoạn)
Trang 8-Δ -
Chương 4 Kết quả nghiên cứu Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 41
Bảng 4.2: Kiểm định tính dừng của các biến 43
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Pedroni 44
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Kao 45
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Fisher/Johansen 46
Bảng 4.6: Kết quả tương quan giữa các biến 47
Bảng 4.7: Kết quả tương quan và kỳ vọng 48
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy giữa các biến 49
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy REM 53
Bảng 4.10: Kiểm định tồn tại các biến thừa 54
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Ở chương này, tác giả luận giải chi tiết lý do chọn đề tài “Tác động của quy
mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ, trường hợp tại các quốc gia Asean+6” Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu rõ mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn nghiên cứu và bố cục nghiên cứu của để tài để người đọc hình dung sơ lược về nội dung nghiên cứu của tác giả
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (RCEP) giữa các nước thành viên ASEAN
và Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand và Australia gọi tắt là ASEAN + 6 Hiện tại, 16 quốc gia tham gia hiệp định này đang chiếm khoảng một phần ba tổng lượng thương mại và thu nhập toàn cầu Dự tính RCEP sẽ trở thành khu vực tự do mậu dịch lớn nhất thế giới, bên cạnh tổ chức thương mại thế giới (WTO) Tuy nhiên, theo Srirak Plipat, giám đốc tổ chức minh bạch quốc tế khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương cho rằng: “tham nhũng là cái bóng của hoạt động hội
nhập kinh tế nên nó cũng sẽ to lên khi hoạt động kinh tế phát triển” Hiểu rộng hơn,
hội nhập kinh tế hứa hẹn đem lại lợi ích tài chính cho các nước thành viên, nhưng cũng mang theo mối đe dọa trừ phi giải quyết triệt để được nạn tham nhũng Khi hợp tác phát triển, các dự án hạ tầng khổng lồ sẽ được triển khai sẽ dẫn đến dòng tiền lớn chảy vào các nước thành viên được đầu tư làm tăng quy mô chính phủ, đây
là cơ hội thất thoát do tham nhũng càng cao, nếu không kiểm soát được điều đó thì
sẽ gặp phản ứng không thuận lợi từ công chúng Nếu tình trạng tham nhũng dai dẳng và chủ nghĩa thân hữu khiến lợi ích của việc hội nhập kinh tế của khu vực chui hết vào tay lợi ích nhóm và khiến tình trạng bất bình đẳng thu nhập tệ hại hơn, thì hội nhập kinh tế khu vực cũng sẽ giảm đi do không được ủng hộ của công chúng Thực tế cho thấy tham nhũng tiếp tục là vấn nạn đối với hầu hết các quốc gia thanh viên ASEAN+6 Theo chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) 2016, 10 quốc gia trong khu vực có điểm số trung bình dưới 50 điểm (trong đó 100 là rất trong sạch và
0 đồng nghĩa với tham nhũng nghiêm trọng) Vì vậy nếu tăng quy mô chính phủ không được xây dựng trên một nền tảng vững chắc về tính minh bạch, trách nhiệm
Trang 10giải trình và tính toàn vẹn thì tầm nhìn của cộng đồng ASEAN +6 có thể bị hủy hoại Trong các nghiên cứu gần đây, như Treisman (2000), Alicia Adsera (2003), Carles Boix (2003), Mark Payne (2003), dân chủ đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa quy mô của chính phủ và tham nhũng bởi nếu một quốc gia có nền dân chủ tốt sẽ có các các cơ chế giám sát đa diện như: bầu cử tự do và công bằng, sự tự
do báo chí sẽ được thực hiện tốt
Trong giai đoạn gần đây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề tham nhũng, đặc biệt các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tham nhũng Các nghiên cứu này bao gồm: nghiên cứu của Billger và Goel (2009), Del Monte và Papagni (2007), Glaeser và Saks (2006), Goel và Nelson (1998), La Porta và các cộng sự (1999), Saha và các cộng sự (2009), Treisman (2000)… Mặc dù có một vài sự đồng thuận về một số yếu tố tác động đến tham nhũng Tuy nhiên, mức độ và chiều tác động của các yếu tố này thì chưa có sự nhất quán và có nhiều sự tranh cãi (Serra, 2006) Bên cạnh quy mô chính phủ, kết quả nghiên cứu của Treisman (2000) và Adsera và các cộng sự (2003) cho thấy rằng dân chủ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tham nhũng Mức độ dân chủ có thể thay đổi mức độ ảnh hưởng của quy mô chính phủ đến tham nhũng Mặc dù các nghiên cứu về tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng và vai trò của dân chủ đến mối quan hệ này
đã được thực hiện tương đối nhiều, tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào phân tích
cụ thể cho các nước ASEAN +6
Từ lý do thực tiễn và lỗ hổng nghiên cứu nêu trên, tác giả chọn đề tài “Tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ, trường hợp tại các quốc gia Asean+6” làm luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Phân tích tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng ở các
quốc gia Asean+6 trong giai đoạn 1997 – 2016
Mục tiêu 2: Phân tích vai trò của dân chủ trong mối quan hệ giữa quy mô
chính phủ đến tham nhũng ở các quốc gia Asean+6 trong giai đoạn 1997 – 2016
Trang 11Mục tiêu 3: Phân tích tác động dài hạn về vai trò của dân chủ trong mối quan
hệ giữa quy mô chính phủ đến tham nhũng ở các quốc gia Asean+6 trong giai đoạn
1997 – 2016
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung
3 nhóm chính:
(i) Tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng
(ii) Vai trò của dân chủ trong mối quan hệ giữa quy mô chính phủ đến tham nhũng
(iii) Tác động dài hạn về vai trò của dân chủ trong mối quan hệ giữa quy mô chính phủ đến tham nhũng
Phạm vi nghiên cứu: 16 quốc gia Asean+6 trong giai đoạn 1997 – 2016
Luận văn chọn giai đoạn 1997 – 2016 là do thuận tiện trong công tác thu thập dữ liệu
4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng để hỗ trợ nghiên cứu bao gồm các bước:
Bước 1: Thực hiện thống kê mô tả và xét tính tương quan giữa các biến
Bước 2: Kiểm tra tính dừng của dữ liệu bảng thông qua công cụ Panel Unit
root test trên Eview với các kiểm định được xây dựng bởi Levin, Lin và Chu (2002), Breitung (2000), Im, Pesaran và Shin (2003), cũng như các loại kiểm định loại Fisher như kiểm định ADF và PP, Maddala và Wu (1999), Choi (2001), và Hadri (2000)
Bước 3: Sử dụng kiểm định Pedroni Granger Based), Kao
(Engle-Granger Based) và Combined Individual Tests (Fisher/Johansen) để kiếm tra sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết
Bước 4: Lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp:
Trang 12Dựa trên kết quả kiểm tra tính dừng và mối quan hệ đồng liên kết của các biến trong dữ liệu nghiên cứu tác giả sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp như sau:
- Trong trường hợp mô hình không tồn tại các mối quan hệ đồng kết hợp giữa các biến thì sử dụng các mô hình hồi quy như Pooled, FEM, REM và GMM để ước lượng
- Trong trường hợp mô hình tồn tại các mối quan hệ đồng kết hợp giữa các biến thì mô hình vector tự hồi quy (VAR) cho dữ liệu bảng sẽ không nhất quán Khi
đó, một mô hình sẽ bổ sung thêm thành phần điều chỉnh sai số (ECM) Mô hình biến đổi này được gọi là mô hình VECM cho dữ liệu bảng Mô hình VECM cho dữ liệu bảng cũng có đầy đủ các ưu điểm của VAR, tuy nhiên, VECM còn tính toán thêm các tác động trong dài hạn Trong trường hợp này, kết quả ước lượng của phương pháp GMM sẽ không nhất quán Phương pháp phù hợp được sử dụng thay thế đó là PMG được đề xuất bởi các tác giả như: Pesaran và cộng sự (1995), Pesaran (1997) và Pesaran và các cộng sự (1999)
Bước 5: Chạy mô hình trên phần mêm EVIEW 10;
Bước 6: Thực hiện các kiểm định để kiểm tra sự tin cậy của mô hình ước
lượng
Bước 7: Kết luận
4.2 Dữ liệu nghiên cứu: Tác giả thu thập dữ liệu 14 quốc gia (tác giả chưa thu thập
được dữ liệu của 2 nước Lào và Myanmar) trong giai đoạn 1997 – 2016 từ bộ dữ liệu World Development Indicator (WDI), Worldwide Governance Indicators
(WGI) do Ngân hàng Thế giới cung cấp, tổ chức Freedom House và United Nations Development Programs (UNDP)
5 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khảo lược các nghiên cứu cùng chủ đề
Chương 3: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận, một số kiến nghị và hạn chế của bài nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢO LƯỢC CÁC
NGHIÊN CỨU CÙNG CHỦ ĐỀ
Trong chương này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu các khái niệm liên quan đến quy mô chính phủ, tham nhũng, dân chủ cũng như viện dẫn các lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa chúng Ngoài ra trong chương này, tác giả cũng giới thiệu một số nghiên cứu trên thế giới phân tích tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ Cuối cùng, tác giả tiến hành xây dựng mô hình lý thuyết trên cơ sở các giả thuyết về kỳ vọng dấu được rút ra từ khung lý thuyết nền
đã xây dựng để phân tích tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ Mô hình lý thuyết nghiên cứu ở chương này là cơ sở để tác giả xây dựng mô hình thực nghiệm ở chương 3
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Quy mô chính phủ
Quy mô của chính phủ vẫn là một khái niệm có nhiều tranh cãi, đề cập đến số lượng các chức năng hiện có của chính phủ, số cơ quan nhà nước và công chức, hoặc quy mô ngân sách của chính phủ (Buchanan, 1980) Thuật ngữ "quy mô" rất hữu ích để khám phá sự tương tác giữa các thay đổi trong quy mô của chính phủ và
đo lường hiệu suất của chính phủ Trong lý thuyết hiện có, thường sử dụng hai chỉ tiêu để đô lường quy mô của chính phủ là tỷ lệ phần trăm nhân viên công quyền làm việc cho chính phủ so với dân số và tổng chi tiêu của chính phủ trên GDP (xem Afonso và Furceri, 2010; Altunc và Aydın, 2013; Dar và Amir Khalkhali, (2002)
Tỷ lệ chi tiêu của chính phủ/tổng thu nhập quốc gia rõ ràng là cao hơn tỷ lệ công chức làm việc cho chính phủ so với toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế, bởi trên thực tế, phần lớn các chi tiêu của chính phủ là chi cho hàng hoá, dịch vụ và thiết bị hơn là để trả lương cho công chức Mặc dù có rất nhiều sự tương đồng giữa hai yếu tố này (và vị trí xếp hạng của các quốc gia theo tỷ lệ công chức làm việc cho chính phủ cũng rất sít sao với vị trí xếp hạng theo tỷ lệ chi tiêu của chính phủ), nhưng chi tiêu của chính phủ là chỉ số có nhiều ý nghĩa trực giác hơn về “quy mô” của chính phủ
Trang 14Ngoài ra, chi tiêu công bao gồm các hoạt động của chính phủ, liên quan đến các dịch vụ công và quan chức Trong những năm 1980, lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho thấy một số cơ chế thông qua đó các hoạt động của chính phủ là rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn Ví dụ, thông qua các chính sách tài khóa và chính sách công, các chính phủ có thể kích thích các quá trình tích lũy vốn con người và đổi mới góp phần tăng năng suất (Barro, 1990; Lucas, 1988, Rebelo, 1991; Romer, 1986) Tuy nhiên, theo quan điểm của North và Thomas (1973), sự tích lũy vốn và đổi mới công nghệ chỉ được coi là những nguyên nhân chính của tăng trưởng; chi tiêu của chính phủ có thể không hiệu quả và ngăn cản tăng trưởng kinh
tế do sự phân bổ sai nguồn lực (Strauss, 2001) Theo lý thuyết lựa chọn công, chính phủ có hai tác động trái ngược nhau trên thị trường và có thể tạo ra lợi ích và chi phí (Facchini và Melki, 2013, Ferris và Voia, 2015) Liên quan đến vai trò có lợi của
nó, chính phủ thiết lập các khuôn khổ pháp lý cho việc điều chỉnh thị trường, chẳng hạn như quyền sở hữu, thực thi hợp đồng, giá và quy định về kinh doanh và thực tiễn lao động, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả kinh tế xã hội (Gwartney and Stroup, 2014) Theo cơ chế quy tắc đa số, chính phủ phải cung cấp hàng hoá công dựa trên sở thích của công chúng để đáp ứng nhu cầu tối ưu của xã hội (Meltzer và Richard, 1981) Do đó, quy mô của chi tiêu công được xem là cung cấp một mức độ
cơ bản của hàng hoá công để tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra suôn sẻ Tuy nhiên, Chính phủ chịu các loại chi phí khác nhau Chi phí sản xuất liên quan đến việc tổn thất vô ích do thuế, hành vi trục lợi, tối đa hoá ngân sách và các vấn đề của Leviathan, và tham nhũng (Munger, 2015) Trong bối cảnh các tác động đối lập, cần phải xác định quy mô chi tiêu công tối ưu để tối đa hóa phúc lợi xã hội Quy mô chi tiêu công là trọng tâm của mối quan tâm học thuật trong những năm gần đây vì nhiều nghiên cứu đã được tiến hành về những thay đổi trong phạm vi khu vực công tác động đến hiệu quả kinh tế xã hội (Afonso và Furceri, 2010; Altunc
và Aydın, 2013; Chen và Lee, 2005; Dar và AmirKhalkhali, 2002; Germmell và
Au, 2012; Su và Bui, năm 2015) Chi tiêu công cũng cho thấy thúc đẩy hiệu quả
Trang 15tăng trưởng kinh tế, nhưng vượt qua ngưỡng tối ưu là bất lợi cho tăng trưởng kinh
tế
Phụ thuộc vào phương pháp, mục đích của nghiên cứu sẽ có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô chính phủ Cụ thể theo nghiên cứu của Vedder, R.K., & Gallaway, L.E., (1998) thì quy mô chính phủ được đo lường bằng 5 chỉ tiêu: tổng chi tiêu/GDP, chi chăm sóc sức khỏe/GDP, chi tiêu bảo đảm thu nhập/GDP, chi quốc phòng/GDP, chi đầu tư ròng/GDP Nghiên cứu của Frank Michael Hage (2003) đo lường quy mô chính phủ theo các chỉ tiêu sau: tỷ lệ chi tiêu chính phủ/GDP, tỷ lệ lao động của chính phủ/tổng số lao động, tỷ lệ chi tiêu dùng của chính phủ/GDP Nghiên cứu Sheng-Tung Chen, Chien-Chiang Lee (2005) sử dụng
3 chỉ tiêu để đo lường quy mô chính phủ: tổng chi tiêu của chính phủ/GDP, chi đầu
tư của chính phủ/GDP, chi tiêu dùng của chính phủ/GDP Các tác giả Javier Andres, Rafael Domenech, Antonio Fatas (2008), Dimitar Chobanov, Adriana Mladenova (2009) sử dụng chỉ tiêu: Chi tiêu chính phủ/GDP để đo lường quy mô chính phủ Nghiên cứu của Ioannis Bournakis, Christopher Tsoukis (2016) lại sử dụng tổng số thu thuế/GDP để đo lường Nghiên cứu của Thanh Dinh Su and Thi Mai Hoai Bui (2017) sử dụng chỉ tiêu: chi tiêu ngân sách cấp tỉnh/tổng sản phẩm trong tỉnh (GPP)
để xác định quy mô của chính phủ
Nói tóm lại, có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô chính phủ Tuy nhiên, chỉ tiêu Chi tiêu chính phủ/GDP được tác giả ưu tiên sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường cho biến quy mô chính phủ
2.1.2 Nền dân chủ
2.1.2.1 Khái niệm nền dân chủ
Theo Dr Muneera Alshurman (2015): Từ dân chủ có thể là quen thuộc với hầu hết mọi người Tuy nhiên, khái niệm về dân chủ vẫn chưa được hiểu rõ và thường bị lạm dụng bởi các chế độ độc đảng, các nhà lãnh đạo quân sự hay các nhà độc tài để
có được sự ủng hộ to lớn của người dân, giúp họ có vị thế chính trị vững chắc (Biesta, 2007) Tuy nhiên, sức mạnh của nền dân chủ đã thành công để tồn tại một lịch sử lâu dài Bất kể những thách thức, chính phủ dân chủ ở nhiều nước vẫn tiếp
Trang 16tục tăng trưởng và phát triển Từ dân chủ được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là
“demos” có nghĩa là dân, nhân dân Dân chủ được định nghĩa: “là sự tồn tại của
chính phủ là do người dân lựa chọn” Trong một số xã hội, dân chủ có thể được
trực tiếp thực hiện bởi công dân Mặt khác, các quốc gia dân chủ với dân số lớn được thực hiện bởi những người được công chúng lựa chọn (Parker, 2003) Theo
Tổng thống Abraham Lincoln, dân chủ là "chính quyền của dân, do dân và vì dân"
Thường thì từ dân chủ và tự do được sử dụng thay thế cho nhau; tuy nhiên, những
từ này không đồng nghĩa Dân chủ chắc chắn là một tập hợp các nguyên tắc và khái niệm về tự do Nói cách khác, dân chủ là thể chế hoá tự do Ngoài ra, nền dân chủ cũng bao gồm các quy trình và thực tiễn đã được chuyển đổi trong suốt một lịch sử lâu dài và hỗn loạn Nó là điều cần thiết cho những người đang sống trong một môi trường dân chủ để trở thành người giám hộ quyết định sự tự do của họ
Khái niệm về dân chủ được Hồ CHí Minh biểu đạt qua qua hai mệnh đề ngắn gọn nhue sau: “Dân là chủ” và “Dân làm chủ” Dân là chủ, nghĩa là đề cập đến vị thế của nhân dân; còn dân làm chủ, nghĩa là đề cập đến năng lực và trách nhiệm của nhân dân – thể hiện vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của nhân dân Quan niệm trên của Hồ Chí Minh phản ánh tương đối chính xác nội dung bản chất của dân chủ Quyền hành và lực lượng đều thuộc về nhân dân và xã hội nào bảo đảm cho điều đó được thực thi thì đó là một xã hội thực sự dân chủ
Theo định nghĩa của chủ nghĩa xã hội khoa học, dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực
Theo Schumpeter (2012) cho rằng: “Nền dân chủ là một hệ thống chính trị để
người dân lựa chọn, thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng”
Điều này đã phát triển thành một đặc điểm của dân chủ là hình thức trách nhiệm giải trình của chính phủ bao gồm hai loại là: trách nhiệm giải trình theo chiều dọc
và trách nhiệm giải trình theo chiều ngang: trách nhiệm giải trình theo chiều dọc biểu thị trách nhiệm của chính phủ đối với mọi người thông qua hình thức bầu cử; trách nhiệm giải trình theo chiều ngang dùng để kiểm tra, kiểm soát và tạo sự công
Trang 17bằng trong chính phủ Kant (2003) cho rằng: bầu cử tự do làm tăng khả năng các quan chức chính phủ tham nhũng sẽ bị trừng phạt và việc kiểm tra, kiểm soát tính hiệu quả và sự cân bằng trong chính phủ có thể hạn chế hoạt động tham nhũng của các quan chức nêu trên
Theo từ điển Oxford định nghĩa: “Nền dân chủ là một hình thức nhà nước,
trong đó mọi thành viên đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình, thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện trong quốc hội hoặc thể chế tương tự” Một số đinh nghĩa khác về dân chủ như "chính quyền của nhân dân,
đặc biệt là: sự thống trị của số đông" hay "một chính phủ trong đó quyền lực tối cao được trao cho người dân và thực hiện bởi họ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một
hệ thống đại diện thường liên quan đến việc tổ chức định kỳ các cuộc bầu cử tự do" Theo Larry Diamond (2004), một nhà khoa học về chính trị, ông cho rằng: chế
độ dân chủ bao gồm bốn yếu tố chính:
- Có sự tham gia tích cực của nhân dân trong đời sông chính trị và đời sống xã hội
- Việc lựa chọn đề bạt hay thay thế các vi trí trong hệ thông chíh trị phải thông qua bầu cử và công bằng
- Quyền con người của nhan dân được bảo vệ
- Luật được áp dụng cho tất cả mọi người và không có trường hợp ngoại lệ Tùy vào phương pháp, mục đích của nghiên cứu thì các chỉ tiêu về dân chủ sẽ được lựa chọn cho thích hợp Cụ thể như các nghiên cứu của Kian-Ming Ong, Yuko Kasuya, Kota Mori (2017), Sirianne Dahlum, Carl Henrik Knutsen (2017), Nikoloski, Zlatko (2015), George E Halkos, Epameinondas Α Paizanos (2013), Havard Hegre, Carl Henrik Knutsen và Espen Geelmuyden (2012) thì dân chủ được
đo lường bằng chỉ số chính trị lấy từ Polity IV Nghiên cứu của Shrabani Saha, Shrabani Saha, Jen-Je Su (2009) và Poe, Steven, Tate, Neal (1994) bằng cách lấy chỉ số quyền chính trị và tự do dân sự thu thập từ Nhà tự do để đo lường dân chủ Trong khi đó các nghiên cứu của Klaus Grundler, Tommy Krieger (2016), Frédéric Docquier, Elisabetta Lodigiani, Hillel Rapoport, Maurice Schiff (2015), Elizabeth
Trang 18Asiedu, Donald Lien (2011) sử dụng cả 2 chỉ tiêu để đo lường dân chủ là: chỉ số quyền chính trị và tự do dân chủ thu thập từ Nhà tự do và chỉ số chính trị lấy từ Polity IV Ngoài ra, nghiên cứu của Elizabeth Asiedu, Donald Lien (2011) còn đo lường dân chủ bằng chỉ số dân chủ lấy từ Tổ chức Hướng dẫn Quốc tế về Rủi ro Quốc gia (ICRG) phản ánh mức độ mà các cuộc bầu cử được tự do và công bằng và mức độ mà chính phủ phải chịu trách nhiệm với cử tri của mình
Do đó, có nhiều cách khác nhau để đo lường dân chủ Trong bài nghiên cứu này, tác giả ưu tiên chọn chỉ số quyền chính trị và tự do dân sự thu thập từ Nhà tự
do để đo lường cho biến dân chủ
2.1.2.2 Hiệu quả bộ máy nhà nước trong nền dân chủ
Điều kiện thiết yếu để đạt nền dân chủ ổn định là phải có bộ máy quản lý nhà nước hiệu quả Nếu bỏ sót điều kiện này thì nền dân chủ khó thể tự tạo ra bộ máy quản lý nhà nước hiệu quả Nền dân chủ thực sự cần một bộ máy quản lý nhà nước hiệu quả hơn bất cứ chế độ chính trị nào khác bởi vì nó cho phép nhiều thành phần
xã hội tham gia cạnh tranh chính trị Một chế độ độc tài có thể tồn tại không cần đến
bộ máy quản lý nhà nước hiệu quả nhưng một nền dân chủ chỉ có thể tồn tại khi có một nhà nước hiệu quả Cuối cùng chế độ dân chủ buông lỏng việc kiểm soát xã hội
do đó có thể dẫn đến sự ly khai, sự thiếu tôn trọng hoặc mong đợi quá mức của dân chúng đối với chính phủ hoặc dẫn đến tình trạng vô tổ chức, vô chính phủ Thêm
vào đó, Shaoguang Wang (2003) cho rằng: “mong muốn đòi quyền bình đẳng lớn
hơn sẽ tạo điều kiện cho các sắc tộc, tôn giáo, cộng đồng, khu vực, tầng lớp vốn
dĩ mờ nhạt nhưng có động lực để phản kháng”
Theo Pedro C Magalhaes (2013): “trong nền dân chủ, nhà nước có khả năng
hoạch định và thực hiện chính sách càng cao thì mức độ dân chủ càng cao Những nước có bộ máy quản lý nhà nước có khả năng đồng hóa, điều chỉnh và điều khiển
xã hội cao hơn sẽ có mức độ dân chủ cao hơn” Điều này không liên quan đến
những yếu tố như địa lý và kinh tế Khả năng thu ngân sách và tái phân phối thu nhập không liên quan đến mức độ dân chủ nhưng là điều kiện cơ bản quyết định mức độ tham gia của công chúng vào nền dân chủ Trong nền dân chủ mà có bộ
Trang 19máy quản lý nhà nước hiệu quả có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cơ bản tốt hơn những nền dân chủ có bộ máy nhà nước thiếu năng lực so với những quốc gia không dân chủ Nghĩa là khả năng phục vụ xã hội phụ thuộc hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước hơn là hình thức nhà nước (Michelle D’Arcy & Marina Nistotskaya, 2015)
2.1.2.3 Vai trò nền dân chủ
Ổn định tình hình chính trị: Vì nền dân chủ cho phép công chúng có quyền
tước bỏ giới cầm quyền mà không cần thay đổi căn bản luật pháp của thể chế, nó làm cho nhân dân tin rằng họ có thể bất đồng với chính sách hiện thời, nhưng sẽ luôn có cơ hội thay đổi giới cầm quyền, hoặc thay đổi chính sách Điều này có thể giảm bớt những bất trắc và bất an chính trị hơn là thay đổi chính trị bằng bạo động
Nhóm các nhà nghiên cứu dân chủ cho rằng: “càng nhiều dân chủ thì càng ít bạo
động nội bộ và diệt chủng” Điều này thường được các nhà nghiên cứu gọi là đạo
luật Rummel, dân chúng càng ít có quyền tự do thì càng dễ bị giai cấp thống trị giết chết
Tác động đến nền giáo dục: Theo kết quả nghiên cứu của Matthew và các
cộng sự (2003) kết luận: “dân chủ không có tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh
tế nhưng làm tăng tuổi thọ ở các nước nghèo và tăng giáo dục trung học ở những nhóm nước không nghèo”
Tác động đến nền kinh tế: Những nước có thu nhập bình quân đầu người
và chỉ số phát triển con người càng cao hoặc các nước có thu nhập càng thấp thì thường có nền dân chủ Nhà kinh tế hoạc nổi tiếng Amartya Sen ghi nhận là chưa
có một chế độ dân chủ thực sự phải đối mặt với nạn đói lớn, kể cả những nước dân chủ vốn không giàu có trong chiều dài lịch sử như: Ấn Độ Tuy nhiên, một số quốc gia khác như Liên Xô (thời Stalin), Trung Quốc, Hàn Quốc (thời Park Chung Hee), Đài Loan (thời Tưởng Giới Thạch) đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế thần kỳ dưới sự bảo trợ của các nhà nước phương Tây, các nước nay bị xem là thiếu dân chủ trong khi đó nhiều quốc gia có nền dân chủ thì chưa bao giờ đạt mức tăng
Trang 20trưởng cao trong thời gian dài để trở thành cường quốc kinh tế như Hàn Quốc và Đài Loan
Tác động đến tham nhũng: Các nước đang trong quá trình xây dựng nền
dân chủ sẽ bùng nổ tình trạng tham nhũng, tuy nhiên những nước có nền dân chủ vững chắc thường lại ít tham nhũng Hung-En Sung, (2004) cho rằng: những điều kiện chính trị ban đầu và thành tựu dân chủ đạt được sẽ quyết định tỉ lệ tham nhũng
ở một quốc gia Frederic Boehm, (2015) cho rằng: nước có nền dân chủ càng cao thì càng ít tham nhũng, nhưng tiềm năng chống tham nhũng của nền dân chủ phụ thuộc nhiều điều kiện khác nhau chứ không đơn thuần là sự tồn tại của cạnh tranh chính trị thông qua hệ thống bầu cử đã đủ để làm giảm tham nhũng
2.1.3 Tham nhũng
2.1.3.1 Khái niệm
Tham nhũng là một vấn đề trọng điểm và đang được đề cập rộng rãi tại các quốc gia trên toàn thế giới Do sự ảnh hưởng đa dạng của nó đến xã hội, từ lâu tham nhũng đã trở thành chủ đề nghiên cứu trọng tâm trong lĩnh vực khoa học chính trị và kinh tế học
Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International ) định nghĩa: “Tham
nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công Tham nhũng và tham ô là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế - xã hội lỏng lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực, hiện tượng tham nhũng và các tệ nạn
có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế Tham nhũng và tham ô làm chậm sự phát triển kinh tế - xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất
ổn định chính trị, kinh tế - xã hội”
Theo tài liệu bồi dưỡng của Thanh tra Chính phủ Việt Nam thì “tham nhũng
được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để
vụ lợi”
Trang 21Theo Từ điển Tiếng Việt: “tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng
nhiễu nhân dân lấy của” Còn thèo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc
đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (1969) định nghĩa: “tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”
Theo luật phòng, chống tham nhũng (2005): “Tham nhũng là hành vi của
người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Người có chức vụ, quyền hạn được giới hạn là những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính phủ; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu”
Theo Vito Tanzi (1998): Tham nhũng đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách đều thiếu một số khía cạnh Câu hỏi về định nghĩa tiêu tốn một lượng lớn thời gian dành cho các cuộc thảo luận về tham nhũng tại các hội nghị và các cuộc họp Tuy nhiên, giống như một con voi, mặc dù nó có thể khó mô tả, nhưng nhìn chung nó không khó nhận ra khi quan sát được Trong hầu hết các trường hợp, mặc dù không phải tất cả, các nhà quan sát khác nhau sẽ đồng ý về một hành vi cụ thể có liên quan đến tham nhũng hay không Thật không may, hành vi này thường rất khó để quan sát trực tiếp bởi vì hành vi tham nhũng không diễn ra trong ánh sáng ban ngày
Định nghĩa phổ biến và đơn giản nhất của tham nhũng là: “lạm dụng quyền
lực công để tư lợi” Đây là định nghĩa được Ngân hàng Thế giới sử dụng Từ định
nghĩa này, không nên kết luận rằng tham nhũng không thể tồn tại trong các hoạt động của khu vực tư nhân Đặc biệt trong các doanh nghiệp tư nhân lớn, hiện tượng này rõ ràng tồn tại, ví dụ như trong mua sắm hoặc ngay cả trong việc tuyển dụng
Nó cũng tồn tại trong các hoạt động tư nhân do chính phủ quy định Trong nhiều trường hợp tham nhũng, việc lạm dụng quyền lực công không nhất thiết là vì lợi ích
Trang 22cá nhân của một người nhưng có thể vì lợi ích của một đảng, giai cấp, bộ lạc, bạn
bè, gia đình,… Trên thực tế, ở nhiều quốc gia, một số khoản tiền thu được từ tham nhũng được tài trợ cho các đảng chính trị
Không phải tất cả các hành vi tham nhũng đều dẫn đến việc nhận hối lộ Ví
dụ, một nhân viên công quyền tuyên bố bị bệnh nhưng đi du lịch là lạm dụng vị trí công của mình để sử dụng cá nhân Vì vậy, ông đang tham gia vào một hành vi tham nhũng mặc dù không nhận hối lộ Hoặc tổng thống của một quốc gia có sân bay được xây dựng ở quê hương nhỏ của mình cũng tham gia vào một hành vi tham nhũng mà không liên quan đến việc nhận hối lộ
Điều quan trọng là phân biệt hối lộ từ quà tặng Trong nhiều trường hợp, hối
lộ có thể được ngụy trang như quà tặng Một khoản hối lộ ngụ ý có đi có lại trong khi một món quà không phải vậy Tuy nhiên, mặc dù sự phân biệt là căn bản, đôi khi rất khó thực hiện Vào thời điểm nào một món quà trở thành một khoản hối lộ?
Sự phân biệt này có phụ thuộc vào độ lớn của món quà không? Còn những khác biệt về văn hoá có thể giải thích được độ lớn khác nhau của quà tặng? Điều gì sẽ xảy ra nếu một món quà lớn không được trao cho người cung cấp sự ưu đãi cho người thân của người đó? Sự phân biệt này có phụ thuộc vào việc món quà được đưa ra vào ban ngày, để mọi người nhìn thấy hay là riêng tư? Trong bất kỳ trường hợp nào, điều này cho thấy việc xác định hối lộ có thể không phải lúc nào cũng đơn giản
Hành vi tham nhũng có thể được phân loại theo các loại khác nhau Một số trong các loại này được đề cập dưới đây mà không có bình luận cụ thể về chúng hoặc thậm chí định nghĩa chúng Do đó, tham nhũng có thể là:
(1) Quan liêu hoặc chính trị Ví dụ tham nhũng bởi bộ máy quan liêu hoặc bởi sự lãnh đạo chính trị
(2) Giảm chi phí (đối với người hối lộ) hoặc tăng lợi ích
(3) Khởi đầu của người hối lộ hoặc của người nhận hối lộ
(4) Cưỡng chế hoặc thông đồng
(3) Tập trung hoặc phân cấp
Trang 23(6) Có thể đoán trước hoặc tùy ý
(7) Liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt hay không
Phụ thuộc vào mục đích, phương pháp của nghiên cứu sẽ có nhiều cách khác nhau để đo lường tham nhũng Cụ thể theo nghiên cứu của Sherrilyn M Billger, Rajeev K Goel (2009), Shyamal K Chowdhury (2004), K Goel, Michael A Nelson (2010), Michael Jetter, Alejandra Montoya Agudelo and Andres RamiRez Hassan (2015), Shrabani Saha, Rukmani Gounder, Jen-Je Su (2009) sử dụng chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) để đo lường tham nhũng Nghiên cứu của các tác giả Ichiro Iwasaki, Taku Suzuki (2012), Alessandro Pellegata (2009) đo lường tham nhũng bằng cách sử dụng chỉ số kiểm soát tham nhũng (COC) Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả Kotera, G., Okada, K., & Samreth, S.(2012), Ivar Kolstad, Arne Wiig (2011), Shrabani Saha (2008), Patrick M Emerson (2006) sử dụng đồng thời cả 02 chỉ số để đo lường tham nhũng là: chỉ số kiểm soát tham nhũng (COC) và chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) Ngoài ra, tác giả Serra, D (2006) đo lường tham nhũng bằng 02 chỉ số: chỉ số cảm nhận tham nhũng CPI từ TI
và chỉ số Graft từ các tác giả Kaufmann, Kraay and Loido-Zobaton (1999a) Ngược lại, nghiên cứu của Gabriella R Montinola and Robert W Jackman (2002) đo lường tham nhũng bằng chỉ số tham nhũng của BI (Bussiness International)
Như vậy, có nhiều cách khác nhau để đo lường tham nhũng nhưng phổ biến
là chỉ số kiểm soát tham nhũng (COC) và chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) Trong bài nghiên cứu, tác giả ưu tiên sử dụng chỉ số kiểm soát tham nhũng (COC) để đo lường cho biến tham nhũng
cụ thể và lộ liễu hơn của nó là hối lộ các quan chức để họ “ưu tiên” giải quyết vấn
đề gì đó nhưng hoàn toàn hợp pháp Nói cách khác, các nhân viên chính phủ nhận
Trang 24được lợi ích mới thực hiện công việc của họ hoặc làm công việc đó nhanh hơn so với quy định, thay vì không làm Tần suất xuất hiện loại tham nhũng này là một minh chứng rõ ràng thể hiện năng lực và mức độ hiệu quả trong bộ máy quản lý hành chính của nhà nước Nói cách khác, nó chỉ rõ năng lực quản lý yếu kém hoặc chất lượng phục vụ tồi trong các cơ quan chính phủ
Hai là thực thi pháp luật mang nặng tính thiên vị, nghiệm trọng hơn là vi phạm các quy định của pháp luật Đây là tham nhũng trong bộ máy công quyền và
là loại tham nhũng được quan tâm nhiều nhất – đại đa số những đóng góp về lý thuyết trong lĩnh vực này đều bàn về tham nhũng trong bộ máy công quyền
Cuối cùng, đó là “bẻ cong pháp luật” – đây là hình thức tham nhũng nhằm mục đích thay đổi các quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho quyền lợi của đối tượng tham nhũng Khái niệm này được đề xuất bởi Ngân hàng Thế giới nhằm lý giải thực trạng đời sống chính trị ở các nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi Giả định chính ở đây là các đạo luật và chính sách quản lý của nhà nước chịu sự chi phối của một nhóm lợi ích dữ chức vụ cao trong chính quyền – những doanh nhân rất có thế lực – đã hối lộ các đại biểu quốc hội nhằm vận động hàng lang Nói cách khác, các chính sách của nhà nước chắc chắn được ban hành để phục vụ cho các nhóm lợi ích này chứ không phải nhân dân Vấn đề cốt yếu cần phân tích trong khái niệm “bẻ cong pháp luật” là phân định rạch ròi giữa vận động chính trị hợp pháp và
“bẻ cong pháp luật” do hiện tượng tham nhũng gây ra Pháp luật và các chính sách của nhà nước có thể bị bẻ cong trước tình trạng vận động hành lang ồ ạt và tham nhũng
2.1.3.3 Hậu quả của tham nhũng
Bản chất của hối lộ là phân phối lại thu nhập Nói cách khác, bản thân tham nhũng không phải là làm mất đi phúc lợi mà chỉ phân phối lại, bởi quy mô phúc lợi xã hội vẫn không đổi Mặc dù xét một cách chi tiết thì điều này là đúng, song nếu chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh phân phối thu nhập của tham nhũng thì đó lại là một trong những kiểu ngụy biện nguy hiểm nhất trong nghiên cứu về tham nhũng bởi:
Trang 25- Thứ nhất, chi phí giao dịch phát sinh trong tham nhũng rất lớn và có thực bởi đây là các chi phí cơ hội của việc sử dụng các nguồn lực trong các hoạt động giao dịch Tham nhũng là hình thức bù đắp thêm thu nhập cho những công chức
có mức lương thấp nhận hối lộ Do vậy không cần phải tăng lương và không cần phải tăng thuế Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, gánh nặng tham nhũng bản thân nó đã là một “gánh nặng thuế”, do đó nó sẽ cho giúp giảm một số lượng thuế nhất định Tuy nhiên, việc đánh thuế công minh (cùng với việc quản lý thuế một cách hiệu quả) sẽ giảm chi phí giao dịch và tính bất ổn Do đó, “đánh thuế” bằng tham nhũng là hạ sách nếu xét về hiệu quả kinh tế
- Baumol (2002) đã nêu, óc kinh doanh là một nguồn lực có thể được lựa chọn phân bổ cho các hoạt động sản xuất hoặc các hoạt động phi sản xuất và có tính phá hoại Nguồn lực này sẽ chảy tới những hoạt động cho phép nhà kinh doanh được hưởng lợi nhuận cao nhất từ các hoạt động đầu tư của mình Tham nhũng được xem là một hoạt động phi sản xuất và thậm chí đôi khi còn mang tính phá hoại Nếu tham nhũng xảy ra lan tràn, tức là nếu có khả năng kiếm lời cao nhất từ hoạt động tham nhũng thì các nhà kinh doanh thay vì chú trọng tới các hoạt động sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế sẽ tập trung vào tham nhũng, các hoạt động phân phối lại nhu nhập và dồn trí tuệ của họ vào những việc như vậy Hậu quả là những nguồn lực khác cũng sẽ được dùng cho các hoạt động phân phối lại thu nhập Sự đổi mới vốn là kết quả của óc kinh doanh sẽ lại dồn sang các hoạt động tái phân phối thu nhập và các hoạt động tham nhũng Người ta
sẽ nghiên cứu ra các biện pháp tham nhũng mới chứ không phải các sản phẩm mới
và phương pháp sản xuất mới
2.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng và vai trò của nền dân chủ đối với tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng 2.2.1 Tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng
Theo Becker và công sự (1974) hay Klitgaard (1988) đều kết luận rằng: các nghiên cứu định tính phân tích nguyên nhân dẫn đến hành vi tham nhũng thường xoay quanh vấn đề về mối quan hệ đại diện giữa nhân viên chính phủ và các đại
Trang 26diện kinh tế Bởi vì hoạt động tham nhũng bao gồm hai chủ thể là bên đưa (đại diện khu vực tư nhân) và bên nhận (giới công quyền) các khoản tiền bất hợp pháp Như vậy, nếu một quốc gia không tồn tại chính phủ, có nền kinh tế thị trường tự do hoàn toàn, thì không xuất hiện các quy định pháp luật, không có các đại diện thừa quyền
và khi đó cũng khó để tồn tại tham nhũng Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường trong quá trình vận hành luôn tồn tại những khiếm khuyết của nó mà ở đó có hai vấn đề không thể tự giải quyết khi không có chính phủ đó là: sự thất bại của thị trường và mất đối xứng về thu nhập Khi đó, lý thuyết về sự lựa chọn công ra đời khi lý thuyết
về hiệu quả tuyệt đối của nền kinh tế thị trường không hoàn toàn đúng Nói cách khác, lý thuyết lựa chọn công ủng hộ cho sự tồn tại của chính phủ để giải quyết các thất bại của thị trường Khi nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục các khiếm khuyết của chính mình thì tất yếu phải có sự can thiệp của bàn tay bên ngoài và rõ ràng là không ai có thể làm tốt được vai trò đó hơn là chính phủ
Mặc dù chính phủ cung cấp các dịch vụ công tối thiểu, chẳng hạn như bảo hiểm, cung cấp cơ sở hạ tầng, và việc hợp nhất hệ thống pháp luật là cần thiết và quan trọng trong một quốc gia, điều đáng chú ý là một chính phủ có quy mô lớn gây
ra sự thiếu hiệu quả Nếu quy mô của chính phủ được xem là sự can thiệp của chính phủ trong việc khắc phục sự thất bại của thị trường, sự can thiệp quá mức có thể cản trở cạnh tranh trên thị trường, nghĩa là thất bại của chính phủ
Nghiên cứu của Lal (1985) đã chỉ ra sự phân bổ sai lệch các nguồn lực của chính phủ, và nhà khoa học xã hội như Mills (1986) lập luận rằng thất bại của chính phủ là trầm trọng hơn là thất bại của thị trường Quy mô của chính phủ cũng có thể được xem như số lượng các quan chức và/hoặc các chi phí của họ, chẳng hạn như tiền lương và tiền công Niskanen (1971) định nghĩa các quan chức chính phủ là các đại lý nhằm tối đa hóa quy mô ngân sách của họ và chỉ ra rằng họ không có động cơ
để có hiệu quả Acemoglu và Verdier (2000) cho thấy những thất bại của chính phủ, như tham nhũng, là những hậu quả của sự can thiệp của chính phủ Để giảm tham nhũng, mức lương cao hơn là cần thiết để ngăn chặn các quan chức từ tham nhũng
Trang 27Theo cách này, mối quan hệ giữa quy mô của chính phủ và sự kém hiệu quả của nó, bao gồm tham nhũng, là một chủ đề quan trọng trong kinh tế
Chính xác hơn, có hai quan điểm khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa tham nhũng và quy mô của chính phủ, vốn đang gây tranh cãi Thứ nhất, sự gia tăng quy mô của chính phủ tạo nhiều cơ hội hơn cho hành vi trục lợi (rent-seeking), dẫn đến các chính trị gia và quan chức trở nên tham nhũng hơn (ví dụ như Rose-Ackerman, 1978, 1999) Quan điểm này được đề xuất bởi mô hình "tội phạm và hình phạt" của Becker (1968) Nói cách khác, các chính phủ lớn hơn làm tăng lợi nhuận dự kiến cho các hoạt động bất hợp pháp, và kết quả là khuyến khích các hoạt động bất hợp pháp hơn, chẳng hạn như tham nhũng Tương tự với quan điểm này, Alesina và Angeletos (2005) đề xuất một mô hình lý thuyết trong đó các chính phủ lớn hơn làm tăng khả năng tham nhũng Họ cho rằng khi bất bình đẳng về thu nhập,
và bất công được tạo ra bởi tham nhũng, người nghèo ủng hộ chính sách tái phân phối nhằm điều chỉnh bất bình đẳng và bất công, và người giàu cũng ủng hộ điều này, bởi vì họ có thể trục lợi thêm từ sự gia tăng quy mô của chính phủ Kết quả là, hiệu quả tái phân phối trở nên nhỏ, và tham nhũng lớn vẫn còn Goel và Nelson (1998) đã minh họa một cách thực nghiệm rằng quy mô của nhà nước và chính quyền địa phương ở Hoa Kỳ có ảnh hưởng tích cực mạnh mẽ đến tham nhũng Thứ hai, ngược lại với quan điểm trên, một số nghiên cứu nổi bật cho thấy rằng vì một chính phủ lớn hơn thúc đẩy một hệ thống kiểm tra và cân bằng và tăng cường trách nhiệm giải trình, một sự gia tăng quy mô của chính phủ sẽ làm giảm tham nhũng Quan điểm này được suy ra từ thực tế là các nước phát triển thường
có chính phủ lớn hơn và ít tham nhũng hơn các nước đang phát triển Cụ thể, đối với các nước Scandinavia, quy mô của chính phủ lớn hơn các nước phát triển khác, nhưng chúng ít bị tham nhũng nhất La Porta et al (1999) và Billger và Goel (2009) cung cấp bằng chứng ủng hộ quan điểm này Cụ thể hơn, Billger và Goel (2009), sử dụng hồi quy định lượng, cho thấy sự gia tăng quy mô của chính phủ dẫn đến giảm tham nhũng ở hầu hết các mức độ tham nhũng
Trang 28Sự tác động tích cực hay tiêu cực của quy mô chính phủ đến tham nhũng hiện còn nhiều tranh luận của các nhà nghiên cứu, tuy nhiên tác giả cho rằng việc
mở rộng quy mô chính phủ sẽ tác động tích cực đến tham nhũng Tuy nhiên, nếu
có sự kết hợp giữa quy mô chính phủ lớn hơn với một mức độ dân chủ ở mức cao
sẽ thúc đẩy một hệ thống kiểm tra và cân bằng và tăng cường trách nhiệm giải trình điều này sẽ làm hạn chế tham nhũng Do đó giả thuyết H1 tác giả xây dựng là:
H1: Với các yếu tố khác không đổi, quy mô chính phủ tác động cùng chiều đến tham nhũng
2.2.2 Vai trò của nền dân chủ đối với tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng
Ngoài quy mô chính phủ, dân chủ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tham nhũng (ví dụ như trong nghiên cứu của Treisman, 2000, Alicia Adsera, Carles Boix, Mark Payne, 2003) và dân chủ đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa quy mô của chính phủ và tham nhũng Cụ thể hơn, một quốc gia có nền dân chủ tốt, các cơ chế giám sát đa diện, chẳng hạn như bầu cử tự do và công bằng và tự
do báo chí ở một quốc gia sẽ thực hiện tốt chức năng chống tham nhũng Sự phát triển của một nền dân chủ có thể được coi là một sự tăng cường kiểm tra và cân bằng
Ở các quốc gia phi dân chủ hoặc quốc gia chuyển đổi, tăng quy mô của chính phủ có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tham nhũng, vì việc giám sát của chính phủ rất yếu kém Ngược lại, khi một nền dân chủ được củng cố một cách đầy đủ, quy mô của chính phủ lớn hơn dẫn đến giảm tham nhũng vì cơ chế giám sát hoạt động tốt và có thể kiềm chế tham nhũng do các chính trị gia và các quan chức thực hiện
Một số nghiên cứu thực nghiệm gần đầy cũng chỉ ra vai trò quan trọng của dân chủ trong hạn chế tham nhũng như:
- Alicia Adsera, Carles Boix, Mark Payne (2003): sử dụng dữ liệu của 110
quốc gia, giai đoạn 1980-1995 Trong đó, tác giả hồi quy với biến: tham nhũng, chất
Trang 29lượng hành chính, quy định của pháp luật, rủi ro tước đoạt tài sản (chất lượng chính phủ) làm biến phụ thuộc, các biến độc lập như: dân chủ, cơ chế thông tin cùng với các biến kiểm soát: phát triển kinh tế, giá trị văn hóa, khung thể chế, cấu trúc kinh
tế, dân số và vùng địa lý của quốc gia Kết quả cho rằng dân chủ làm tăng cơ hội có
được một chính phủ trong sạch bằng 0.49 điểm - một tác động tương đối trong một thang đo từ 0 đến 1 Điều này cho thấy dân chủ có mối quan hệ ngược chiều với tham nhũng
- Shyamal K Chowdhury (2004): sử dụng phương pháp hồi quy OLS với biến
phụ thuộc tham nhũng là chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI), biến độc lập gồm 02 biến: dân chủ (chỉ số dân chủ của Vanhanen), tự do báo chí; trong đó, xem xét mối quan hệ giữa dân chủ, tự do báo chí đến tham nhũng Kết quả chỉ ra rằng nền dân chủ và tự do báo chí có ảnh hưởng lớn đến tham nhũng và sự hiện diện của nền dân chủ và tự do báo chí có thể làm giảm đáng kể mức độ tham nhũng Do đó thấy được vai trò của các thể chế dân chủ lành mạnh, bao gồm một cơ quan tư pháp độc lập và một phương tiện truyền thông độc lập là rất quan trọng để chống tham nhũng Tương tự những kết quả trên, nền dân chủ cho thấy vai trò trong việc kiểm soát tham nhũng
- Serra, D (2006): sử dụng dữ liệu chéo của 62 quốc gia trong giai đoạn 1990
– 1998, bằng phương pháp hồi quy OLS, với biến phụ thuộc tham nhũng gồm 2 chỉ
số cảm nhận tham nhũng (CPI) và chỉ số Graft từ nghiên cứu của các tác giả Kaufmann, Kraay and Loido-Zobaton (1999a), biến độc lập (16 biến) gồm: 04 biến
số kinh tế (phát triển kinh tế, mở cửa thương mại quốc tế, can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, tài nguyên thiên nhiên), 05 biến số xã hội (hệ thống pháp luật Anh,
di sản thuộc địa Anh, đạo Tin Lành, ngôn ngữ dân tộc, giáo dục) và 07 biến số chính trị (các quyền chính trị cơ bản, nền dân chủ, tự do thông tin, truyền thông đại chúng, liên bang, hệ thống bầu cử, sự bất ổn chính trị) Kết quả cho thấy dân chủ liên tục có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giảm tham nhũng
- Shrabani Saha (2008): kết hợp các phương pháp hồi quy với kỹ thuật PLS,
hiệu ứng cố định hai chiều và hiệu ứng cố định thời gian với các biến giả khu vực,
Trang 30sử dụng dữ liệu bảng của 100 quốc gia, giai đoạn 1995-2004, trong đó biến phụ thuộc tham nhũng đo lường bằng 02 chỉ số: cảm nhận tham nhũng (CPI), kiểm soát tham nhũng (COC), biến độc lập: chỉ số dân chủ (giá trị trung bình quyền chính trị,
tự do dân sự và tự do báo chí) cùng với các biến kiểm soát: tổng sản phẩm quốc nội thực trên đầu người, tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số gini về bất bình đẳng và tỷ lệ người lớn biết chữ, chỉ số tự do kinh tế Kết quả cho thấy "một nền dân chủ bầu cử", được đại diện bởi "quyền chính trị" không tạo ra việc kiểm tra đầy đủ để chống lại tham nhũng Nghiên cứu này cũng nhận thấy rằng các quyền chính trị không đóng vai trò đáng kể trong việc kiềm chế tham nhũng Hơn nữa, các quyền chính trị được uốn nắn theo chế độ dân chủ hẹp làm tăng tham nhũng ở các quốc gia chuyển đổi Tuy nhiên, một nền dân chủ hoàn thiện, tiên tiến, nơi xác suất bị bắt là cao nếu có hành động tham nhũng, là rất quan trọng để chống tham nhũng Các hệ số của hồi quy phi tuyến tính cho thấy rằng nền dân chủ làm tăng tham nhũng trong giai đoạn đầu của cải cách dân chủ, một khi vượt qua ngưỡng, mức tham nhũng giảm đáng kể trong
một nền dân chủ hoàn thiện
- Shrabani Saha, Rukmani Gounder, Jen-Je Su (2009): sử dụng dữ liệu bảng
của 100 quốc gia, giai đoạn 1995-2004, biến phụ thuộc: tham nhũng (CPI), biến độc lập: chỉ số dân chủ (giá trị trung bình của quyền chính trị, tự do dân sự, tự do báo chí) thu thập từ Nhà Hạnh phúc, chỉ số tự do kinh tế thu thập từ Viện Di sản cùng với các biến kiểm soát: tổng sản phẩm quốc nội thực trên đầu người, tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số gini và tỷ lệ người lớn biết chữ Kết quả tương tác cho thấy tự do kinh tế và dân chủ làm giảm tham nhũng đáng kể
- Alessandro Pellegata (2009): sử dụng phương pháp hồi quy với kỹ thuật
OLS chọn “Tập dữ liệu của 191 quốc gia về dân chủ" được phát triển bởi giáo sư Pippa Norris đến từ Đại học Harvard trong giai đoạn từ 1996 – 2007, trong đó: biến phụ thuộc tham nhũng được đại diện bằng chỉ số kiểm soát tham nhũng (COC), biến độc lập: chỉ số dân chủ đo lường bằng 03 chỉ số (chỉ số về sự hiện diện của một hệ thống dân chủ, chỉ số Polity V, chỉ số dân chủ của Vanhanen) cùng với các biến kiểm soát: loại chính phủ, loại hệ thống bầu cử, sự hiện diện của cấu trúc liên bang,
Trang 31dân số, GDP bình quân đầu người, sức khỏe, biến giả công dân biểu tình, biến giả thuộc địa của Anh và phân loại dân tộc học Kết quả cũng ủng hộ cho quá trình dân chủ hóa có những tác động tích cực đến khả năng của các quốc gia trong việc hạn chế vấn nạn tham nhũng
- Ivar Kolstad, Arne Wiig (2011): sử dụng dữ liệu của 59 quốc gia trong giai
đoạn 1946-2009, với phương pháp hồi quy bằng kỹ thuật OLS, trong đó biến phụ thuộc tham nhũng sử dụng 02 chỉ số là: chỉ số kiểm soát tham nhũng (COC) và chỉ
số cảm nhận tham nhũng (CPI), biến độc lập (dân chủ) sử dụng 02 chỉ số là: chỉ số dân chủ Polity IV và chỉ số quyền chính trị lấy từ Nhà Tự do, GDP bình quân đầu người, xung đột, nguồn gốc pháp luật, nguồn gốc thuộc địa, tỷ lệ tham gia lao động,
tỷ lệ người công giáo Kết quả cho thấy chế độ dân chủ có hiệu quả hơn trong việc giảm tham nhũng hơn so với những ước lượng không tính đến tính nội sinh của dân chủ
- Ichiro Iwasaki, Taku Suzuki (2012): sử dụng dữ liệu bảng của 32 quốc gia
chuyển đổi từ năm 1998-2006, phương pháp hồi quy với kỹ thuật FEM và REM, với biến phụ thuộc là chỉ số kiểm soát tham nhũng, biến độc lập: mức độ thị trường hóa, luật pháp, dân chủ, chỉ số toàn diện của chính sách chuyển đổi, thu nhập bình quân đầu người, dòng tiền ODA ròng, tỷ lệ đóng góp của ngành xây dựng trong GDP, biến giả hệ thống chính quyền liên bang cùng với 02 biến kiểm soát: tỷ lệ dân số theo đạo Tin Lành, thời hạn của chủ nghĩa xã hội Kết quả chỉ ra mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% giữa dân chủ và chỉ số kiểm soát tham nhũng Điều này cho thấy dân chủ hóa tạo ra hiệu quả kiểm soát rất mạnh đối với các hoạt động tham nhũng trong các nền kinh tế chuyển đổi
- Michael Jetter cùng cộng sự (2015): sử dụng bộ dữ liệu bảng của 155 quốc
gia trong giai đoạn 1998-2012, bằng phương pháp hồi quy với kỹ thuật 3SLS, trong
đó biến phụ thuộc tham nhũng được đại diện là chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) được thu thập từ Tổ chức minh bạch quốc tế TI, biến độc lập: dân chủ, thu nhập bình quân đầu người cùng với các biến kiểm soát: tự do báo chí, lịch sử dân chủ, nhập khẩu, quy mô chính phủ, quy mô dân số, tỷ lệ đô thị hóa, trình độ học vấn Kết
Trang 32quả cho thấy dân chủ làm giảm tham nhũng ở những nền kinh tế có GDP bình quân đầu người vượt mức 2.000 USD (năm 2005) Đối với các quốc gia nghèo hơn, dân chủ hoá được đề xuất làm tăng tham nhũng
Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây đều chỉ ra dân chủ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tham nhũng Một số nghiên cứu cho rằng nền dân chủ làm tăng tham nhũng trong giai đoạn đầu và tuy nhiên khi đạt được một nền dân chủ hoàn thiện, dân chủ sẽ làm giảm tham nhũng (Shrabani Saha, 2008), do đó giả thuyết H2, H3 tác giả xây dựng là:
H2: Khi các yếu tố khác không đổi, với một mức độ dân chủ cao hơn thì quy
mô chính phủ tác động ngược chiều đến tham nhũng
H3: Khi các yếu tố khác không đổi, tồn tại một mối quan hệ trong dài hạn giữa quy mô chính phủ, mức độ dân chủ và tham nhũng
2.3 Tổng hơp nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ
- Montiola và Jackman (2002): sử dụng dữ liệu của một số nước tư bản, giai
đoạn 1980-1983 trong tác phẩm “Sources of Corruption: A Cross-Country Study”,
sử dụng phương pháp hồi quy với kỹ thuật OLS trong việc tìm kiếm mối quan hệ giữa quy mô chính phủ, mức độ dân chủ, GDP đầu người và chỉ số tham nhũng đưa
ra kết quả rằng: vào đầu những năm 1980, Montiola và Jackman (2002) đã tìm thấy một số bằng chứng cho thấy khu vực nhà nước lớn hơn về chi tiêu của chính phủ sẽ làm giảm tỷ lệ tham nhũng, với mức độ cạnh tranh chính trị và phát triển kinh tế được kiểm soát Nghiên cứu cũng cho thấy nếu muốn giảm tham nhũng, các quốc gia đó không chỉ tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng, mà còn phải có các nhà lập pháp, những người đã từng làm việc trong chính phủ, sẵn sàng và có khả năng cạnh tranh chính trị ở mức cao
Edward L Glaeser, Raven E Saks (2006): sử dụng phương pháp hồi quy kỹ
thuật OLS, với bộ dữ liệu về các cáo buộc tham nhũng liên bang ở Hoa Kỳ (sử dụng các báo cáo năm 1989, 1999 và 2002) và số lượng trung bình các vụ kết án tham nhũng từ năm 1976 đến năm 2002 so với dân số trung bình trong cùng thời kỳ để
Trang 33xem xét sự ảnh hưởng của giáo dục, thu nhập bình quân đầu người, mức độ tăng trưởng kinh tế, vấn đề phân biệt chủng tộc lên tham nhũng và kết quả nghiên cứu cho thấy những quốc gia có trình độ giáo dục phát triển cao hơn và ở các bang giàu
có hơn sẽ ít tham nhũng hơn
- Shrabani Saha, Rukmani Gounder, Jen-Je Su (2009): lại cho rằng mức độ
tự do kinh tế có ảnh hưởng lên tham nhũng nên đã đưa thêm yếu tố này vào cùng với chỉ số đo mức độ dân chủ để xem xét ảnh hưởng của chúng lên tham nhũng Kết quả cho thấy tự do kinh tế làm giảm tham nhũng ở bất kỳ môi trường chính trị nào
và dân chủ làm tăng tham nhũng khi tự do hóa kinh tế thấp
- Go Kotera, Keisuke Okada, Sovannroeun Samreth (2012): sử dụng dữ liệu
từ năm 1995 đến năm 2008 của 82 quốc gia, tác phẩm “Government size,
democracy, and corruption: An empirical investigation” bằng phương pháp ước
lượng GMM với biến phụ thuộc tham nhũng là chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI), biến độc lập: quy mô chính phủ, dân chủ, thu nhập bình quân đầu người, nguồn gốc pháp lý đã chứng minh tồn tại mối quan hệ giữa quy mô chính phủ và tham nhũng dưới sự tác động của nền dân chủ Nhóm nghiên cứu cho rằng ở các quốc gia mà mức độ dân chủ tương đối hoàn thiện, việc tăng quy mô chính phủ sẽ giúp giảm tham nhũng bởi vì chính phủ được bổ nhiệm bằng việc bầu cử tự do và hợp pháp hoặc từ quyết định của số đông người dân Trái lại, ở các quốc gia mức độ dân chủ quá thấp, cơ cấu chính phủ hoạt động yếu và kết quả quy mô chính phủ lớn làm cho tham nhũng nhiều hơn
Ngoài yếu tố quy mô chính phủ và mức độ dân chủ, các yếu tố khác cũng được đưa vào xem xét trong các nghiên cứu, cụ thể như: thu nhập bình quân đầu người, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, trình độ giáo dục:
- Thu nhập bình quân: có nhiều yếu tố tác động đến lợi ích kỳ vọng từ hành
vi tham nhũng mà ở đó các nhân viên chính phủ sẽ cân đối để phù hợp với chi phí
kỳ vọng Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của lợi ích kỳ vọng thường được hiểu bằng tổng thu nhập thực mà các nhân viên này nhận được Đây được xem là lý
do kỳ vọng giảm tham nhũng ở các quốc gia phát triển Nghiên cứu của Acemoglu
Trang 34& Verdier (2000) kết luận: tiền lương mà giới chức nhận được ảnh hưởng rất lớn đến hành vi quyết định tham nhũng của các nhân viên này Như vậy, ở các quốc gia
có nền kinh tế phát triển, tiền lương mà nhân viên chính phủ nhận được có xu hướng cao hơn, do đó họ sẽ có khuynh hướng ít tham nhũng hơn so với các nước đang phát triển Trong nghiên cứu này tác giả mong đợi Do đó giả thuyết H4 tác giả xây dựng là:
người có tác động ngược chiều với tham nhũng
- Lạm phát: Lạm phát tăng cao làm giảm mức lương thực tế và do đó ảnh
hưởng tiêu cực đến sức mua của dân chúng Khi sức mua của đồng tiền bị giảm, cuộc sống của người dân có mức thu nhập trung bình và thấp trở nên khó khăn hơn rất nhiều Để đảm bảo nhu cầu cuộc sống hàng ngày của mình, những cá nhân này
có thể trở nên bất chấp các quy định pháp luật và làm bất kỳ công việc có thể kiếm thêm thu nhập kể cả gian lận, hối lộ, tham ô Paldam, (2002) cho rằng: rất nhiều người tin rằng lạm phát là nguyên nhân gây ra “rủi ro đạo đức” Khi đó, nó có thể tạo cơ hội cho các hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức như là gian lận, lừa dối, tham ô (Braun, 2004) Ngoài ra, lạm phát có thể tác động đến mức độ tham nhũng một cách gián tiếp Braun cho rằng lạm phát cao có thể làm giảm mức độ đầu tư và giảm đà tăng trưởng kinh tế Do đó, nó có ảnh hưởng cùng chiều đến mức độ tham nhũng Hay nói cách khác, lạm phát càng cao và biến động nhiều sẽ làm gia tăng mức độ tham nhũng Do đó giả thuyết H5 tác giả xây dựng như sau:
chiều đến mức độ tham nhũng
- Tình trạng thất nghiệp: Ngoài ra, tình trạng thất nghiệp gia tăng cũng là
một trong các chủ đề đáng quan tâm Thất nghiệp gia tăng kéo theo rất nhiều các hệ lụy về kinh tế xã hội cảu một nước Khi cá nhân không có công việc để tạo ra đủ thu nhập đáp ứng nhu cầu cuộc sống hằng ngày của mình, họ sẽ sẵn sàng làm bất cứ việc gì để tồn tại kể cả những việc bất hợp pháp Kristiansen và Ramli (2006) khi nghiên cứu tại quốc gia Indonesia đã chỉ ra rằng: quá trình mua bán chức vụ trong
Trang 35khu vực công diễn ra theo khuynh hướng ngày càng tăng và đa dạng cho tất cả các
vị trí ở các bộ phận khác nhau nhằm kiếm thêm thu nhập Theo đó, khi tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao thì hoạt động mua bán này diễn ra càng phổ biến hơn Hay nói cách khác, tỷ lệ thất nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với mức độ tham nhũng Do
đó giả thuyết H6 tác giả xây dựng như sau:
- Trình độ giáo dục: cũng có thể là một nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tham
nhũng Khi trình độ dân trí ở mức thấp, người dân thiếu hiểu biết đầy đủ về quyền giám sát hoạt động khu vực công của họ Chính việc này đã tạo điều kiện cho hoạt động tham nhũng diễn ra phổ biến Nghiên cứu của Ali & Isse (2002) cho rằng trình
độ dân trí cao có thể thúc đẩy ý thức lòng yêu dân tộc và trách nhiệm công dân trong xã hội văn minh Nó giúp nâng cao khả năng nhận thức về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân đối với tổ quốc Từ đó, họ biết rằng việc giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền và phòng chống tham nhũng là một phần trong quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ này Vì vậy, trình độ học vấn là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến tham nhũng tại các quốc gia trên thế giới Do đó giả thuyết H7 tác giả xây dựng như sau:
Tóm lại, kết quả thảo luận trên cho thấy tuy có nhiều nghiên cứu khác nhau về mối quan hệ giữa quy mô chính phủ và tham nhũng nhưng vẫn chưa thật sự rõ ràng
Có nghiên cứu cho rằng quy mô chính phủ có tác động ngược chiều đến tham nhũng, ngược lại cũng có nghiên cứu cho rằng quy mô chính phủ có tác động cùng chiều đến tham nhũng Các tác giả sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và áp dụng cho từng quốc gia, nhóm quốc gia khác nhau nhằm kiểm tra tác động này Tuy nhiên các nghiên cứu này vẫn chưa có kết luận thống nhất Ngoài ra các nghiên cứu còn chỉ ra rằng tỷ lệ lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp có tác động cùng chiều đến tham nhũng, trình độ giáo dục có tác động trái chiều đến tham nhũng Do đó tác giả xây
Trang 36dựng mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình của Go Kotera, Keisuke Okada, và Sovannroeun Samreth (2012), cụ thể như sau:
- Biến phụ thuộc: Tham nhũng
- Biến độc lập: Quy mô chính phủ, nền dân chủ, Quy mô chính phủ*nền dân chủ
- Biến kiểm soát: Tỉ lệ lạm phát, tỉ lệ thất nghiệp, trình độ giáo dục, thu nhập bình quân đầu người
- Biến giả: Legalorigin, nhận giá trị 1 cho các quốc gia theo Luật Anglo – Saxon
Trang 37CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở mô hình hình lý thuyết đã xây dựng ở chương 2, tác giả tiến hành xây dựng mô hình thực nghiệm kiểm định các giả thuyết về kỳ vọng dấu đã luận giải về tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng: vai trò của nền dân chủ tại các quốc gia ASEAN+6 giai đoạn 1997 – 2016 Mô hình thực nghiệm được tác giả xây dựng trên cơ sở mô hình nghiên cứu của Go Kotera, Keisuke Okada, và Sovannroeun Samreth (2012) với biến phụ thuộc là tham nhũng, biến độc lập là quy
mô chính phủ và dân chủ, biến tương tác là quy mô chính phủ kết hợp với dân chủ
và các biến kiểm soát Chương này cũng luận giải các chỉ tiêu đo lường các biến, phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu để làm nền tảng cho các phân tích ở chương 4
3.1 Mô hình nghiên cứu
3.1.1 Mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận ở chương 2 và mô hình nghiên cứu của Go Kotera, Keisuke Okada, và Sovannroeun Samreth (2012), tác giả xây dựng mô hình thực nghiệm kiểm định tác động của quy mô chính phủ đến tham nhũng và vai trò của nền dân chủ tại các quốc gia ASEAN+6 giai đoạn 1997 – 2016 như sau:
Corruptionit = β0 + β1Government sizeit + β2Democracyit + β3Government sizeit*Democracyit + β4GDP per capitait + β5Unemployit + β6Inflationit + β7Educationit + β8Legaloriginit + uit (3.1)
Trong đó:
- i là chỉ số về quốc gia (lần lượt các quốc gia Asean+6: Australia, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam)
- t là chuỗi thời gian chạy từ 1997 – 2016
- Biến phụ thuộc Corruption (tham nhũng):
Trang 38Tham nhũng được đo lường như thế nào? Mặc dù có một lượng lớn các nghiên cứu về tham nhũng, người ta vẫn chưa thể đo lường chính xác mức độ của tham nhũng Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã cố gắng ước lượng tham nhũng Trong các nghiên cứu của họ, tham nhũng được tính dựa trên các dữ liệu cấp độ vi mô, chẳng hạn như dữ liệu dựa trên các dự án cơ sở hạ tầng hoặc dữ liệu được thu thập từ việc khảo sát cấp độ công ty Dù vậy, các dữ liệu này không thể dùng cho việc phân tích
so sánh
Có hai cách tiếp cận cơ bản để đo lường tham nhũng ở cấp độ vĩ mô: (1) cảm nhận chung và (2) động cơ của hành vi tham nhũng Nhóm thứ nhất phản ánh cảm nhận của cộng đồng hoặc của một số nhóm đại diện phản hồi (còn được xem là các chuyên gia) quan tâm đến việc thiếu công bằng trong các giao dịch công Vì vậy, cảm nhận tham nhũng là cách đo lường gián tiếp mức độ tham nhũng thực Cách tiếp cận thứ hai đựa trên các cuộc khảo sát giữa những người đút lót tiềm năng và những người được đút lót Với cách tiếp cận này, nhà nghiên cứu có thể thu thập thông tin về mức độ thường xuyên của tham nhũng xảy ra trong nhiều loại giao dịch (The Hungarian Gallup Institution, 2000)
Kaufmann & Kraay (2002) chỉ ra rằng ưu điểm của việc khảo sát các chuyên gia là nó được thiết kế rõ ràng cho việc so sánh giữa các quốc gia Điểm bất lợi của phương pháp này là cuộc khảo sát thể hiện quan điểm của một số chuyên gia trong mỗi quốc gia, vì vậy chất lượng của cuộc khảo sát phụ thuộc vào sự hiểu biết của các chuyên gia được lựa chọn ở các quốc gia Dựa trên cơ sở đó ông đã xây dưng chỉ số về kiểm soát tham nhũng (COC_control of corruption), chỉ số này là một phần của chỉ số rộng hơn và được gọi là chỉ số quản trị Chỉ số này được công bố cho mỗi giai đoạn 2 năm và bao gồm gần 200 quốc gia Nó được tính toán dựa trên nền tảng của 100 biến riêng lẻ về cảm nhận tham nhũng và được thu thập từ 40 nguồn dữ liệu của hơn 30 tổ chức khác nhau Chỉ số này được đo lường theo giá trị
từ -2.5 đến 2.5, theo đó quốc gia nào có giá trị càng lớn càng ít tham nhũng Trong bài nghiên cứu này, để thuận tiện trong việc thu thập dữ liệu, biến tham nhũng được
đo lường bằng chỉ số COC
Trang 39- Biến độc lập Government size:
Trong lý thuyết hiện có, thường sử dụng hai chỉ tiêu để đo lường quy mô của chính phủ là tỷ lệ phần trăm nhân viên công quyền làm việc cho chính phủ so với dân số và tổng chi tiêu của chính phủ trên GDP Tỷ lệ chi tiêu của chính phủ/tổng thu nhập quốc gia rõ ràng là cao hơn tỷ lệ công chức làm việc cho chính phủ so với toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế, bởi trên thực tế, phần lớn các chi tiêu của chính phủ là chi cho hàng hoá, dịch vụ và thiết bị hơn là để trả lương cho công chức Mặc dù có rất nhiều sự tương đồng giữa hai yếu tố này (và vị trí xếp hạng của các quốc gia theo tỷ lệ công chức làm việc cho chính phủ cũng rất sít sao với vị trí xếp hạng theo tỷ lệ chi tiêu của chính phủ), nhưng chi tiêu của chính phủ là chỉ số
có nhiều ý nghĩa trực giác hơn về “quy mô” của chính phủ
Phụ thuộc vào phương pháp, mục đích của nghiên cứu sẽ có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô chính phủ Cụ thể theo nghiên cứu của Vedder, R.K., & Gallaway, L.E., (1998) thì quy mô chính phủ được đo lường bằng 5 chỉ tiêu: tổng chi tiêu/GDP, chi chăm sóc sức khỏe/GDP, chi tiêu bảo đảm thu nhập/GDP, chi quốc phòng/GDP, chi đầu tư ròng/GDP Nghiên cứu của Frank Michael Hage (2003) đo lường quy mô chính phủ theo các chỉ tiêu sau: tỷ lệ chi tiêu chính phủ/GDP, tỷ lệ lao động của chính phủ/tổng số lao động, tỷ lệ chi tiêu dùng của chính phủ/GDP Nghiên cứu Sheng-Tung Chen, Chien-Chiang Lee (2005) sử dụng
3 chỉ tiêu để đo lường quy mô chính phủ: tổng chi tiêu của chính phủ/GDP, chi đầu
tư của chính phủ/GDP, chi tiêu dùng của chính phủ/GDP Các tác giả Javier Andres, Rafael Domenech, Antonio Fatas (2008), Dimitar Chobanov, Adriana Mladenova (2009) sử dụng chỉ tiêu: Chi tiêu chính phủ/GDP để đo lường quy mô chính phủ Nghiên cứu của Ioannis Bournakis, Christopher Tsoukis (2016) lại sử dụng tổng số thu thuế/GDP để đo lường Nghiên cứu của Thanh Dinh Su and Thi Mai Hoai Bui (2017) sử dụng chỉ tiêu: chi tiêu ngân sách cấp tỉnh/tổng sản phẩm trong tỉnh (GPP)
để xác định quy mô của chính phủ
Nói tóm lại, có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô chính phủ Tuy nhiên, chỉ tiêu Chi tiêu chính phủ/GDP, được thu thập từ WDI (World Development
Trang 40Indicator) được tác giả ưu tiên sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường cho biến quy mô chính phủ do thuận tiên trong việc thu thập dữ liệu
- Biến độc lập Democracy:
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây của Schumpeter (2012), Kant (2003)
và Kotera & ctg (2011) đều nhấn mạnh vai trò của dân chủ tham nhũng Tuy nhiên, việc đo lường mức độ dân chủ là không dễ dàng Các nghiên cứu của Heckelman & Powell (2010) và Saha & Gounder (2013) đều sử dụng chỉ số tự do dân chủ để đại diện cho mức độ dân chủ Biến Democracy là mức độ dân chủ được xây dựng bằng cách lấy trung bình của chỉ số quyền chính trị và tự do công dân được cung cấp bởi
tổ chức Freedom House Chỉ số này được đo lường theo thang điểm từ 1 đến 10 Giá trị thấp nhất thể hiện thể chế dân chủ nhất
- Biến tương tác Government_size it *Democracy it : Trong phương trình thực
nghiệm (3.1), tác giả quan tâm đến hệ số hồi quy của biến tương tác Government_size*Democracy Hệ số β3 thể hiện mối quan hệ của biến tương tác quy mô chính phủ và mức độ dân chủ và cũng là một trong những vấn đề quan trọng được giả đề cập nghiên cứu này Khi đó, hiệu ứng riêng phần của biến Government_size và biến Democracy đến tham nhũng được xác định như sau: + ∆ Corruption /∆Government_size = β1 + β3 Democracy (3.2a)
+ ∆ Corruption /∆ Democracy = β2 + β3 Government_size (3.2b)
Nếu β3 < 0 thì phương trình (3.2a) cho thấy một điểm giá trị đo lường tăng lên của quy mô chính phủ tạo ra một sự giảm nhiều hơn trong mức độ tham nhũng với mức độ dân chủ cao hơn với các yếu tố khác không đổi Tương tự, nếu β3< 0 thì phương trình (3.2b) cho thấy một điểm giá trị đo lường tăng lên của chỉ số mức độ dân chủ tạo ra một sự giảm nhiều hơn trong mức độ tham nhũng với quy mô chính phủ cao hơn
- Biến kiểm soát GDP per capita: là thu nhập bình quân trên đầu người, được
lấy từ WDI (World Development Indicator)
- Biến kiểm soát Unemploy: là tỷ lệ thất nghiệp, được lấy từ WDI (World
Development Indicator)