Việc các ngân hàng và tổ chức tài chính lớn trên thế giới như HSBC, JPMorgan Chase, BNP Paribas… những năm gần đây đã vướng vào các vụ kiện tụng liên quan đến việc bị tội phạm rửa tiền v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG ĐAN ANH
PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ
KHỦNG BỐ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG ĐAN ANH
PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ
KHỦNG BỐ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố tại
NHTM Cổ phần Quân Đội” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ các tài liệu được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng toàn phần hoặc những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được dùng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có trích dẫn, sản phẩm hay nghiên cứu nào được dùng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bằng cấp tại bất kỳ các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017
Người cam đoan
Nguyễn Công Đan Anh
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1.Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1
1.2.Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3.Phạm vi nghiên cứu 2
1.4.Phương pháp nghiên cứu 2
1.5.Ý nghĩa nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu 3
1.5.1 Ý nghĩa nghiên cứu 3
1.5.2 Giới hạn nghiên cứu: 3
1.6 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Lý luận chung về rửa tiền và tài trợ khủng bố 4
2.1.1 Khái niệm về rửa tiền 4
2.1.2 Khái niệm Tài trợ khủng bố 6
2.1.3 Mối quan hệ giữa rửa tiền và tài trợ khủng bố 8
2.2 Tầm quan trọng của phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố 9
2.2.1 Tác động của rửa tiền và tài trợ khủng bố đối với phát triển nền kinh tế quốc gia 9
2.2.2 Những ảnh hưởng bất lợi đối với các nước đang phát triển: 11
2.2.2.1 Làm tăng tội phạm và tham nhũng 11
2.2.2.2 Những hậu quả đối với quốc tế và đầu tư nước ngoài 12
2.2.2.3 Làm suy yếu các tổ chức tài chính 12
Trang 52.2.2.4 Nền kinh tế và khu vực tư nhân bị tổn thương 14
2.2.2.5 Những nỗ lực tư nhân hóa bị tổn hại 15
2.2.3 Những lợi ích của một chính sách AML/CFT hữu hiệu 15
2.2.3.1 Chống tội phạm và tham nhũng 15
2.2.3.2 Tăng cường sự ổn định của các tổ chức tài chính 16
2.3 Quy trình rửa tiền và tài trợ khủng bố 17
2.3.1 Sắp đặt 17
2.3.2 Chia nhỏ (sắp lớp) 18
2.3.3 Hòa nhập 19
2.4 Các tổ chức đặt ra tiêu chuẩn quốc tế 19
2.4.1 Liên hiệp quốc 20
2.4.2 Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) 21
2.4.3 Ủy ban Basle về giám sát ngân hàng 22
2.4.4 Các nguyên tắc chống rửa tiền dành cho hệ thống ngân hàng tư nhân của nhóm Wolfsberg 25
2.5 Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 27
2.5.1 Nghiên cứu nước ngoài 27
2.5.2 Các nghiên cứu trong nước 29
2.6 Mô hình lý thuyết 33
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ TẠI MB 38
3.1 Nhận diện hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố thông qua hệ thống ngân hàng 38
3.2.Một số phương thức rửa tiền và tài trợ khủng bố phổ biến qua hệ thống ngân hàng đã được MB ghi nhận và cảnh báo 39
3.2.1 Giao dịch nộp tiền mặt vào ngân hàng 39
3.2.2 Giao dịch thanh toán quốc tế chiều đi 39
3.2.3 Giao dịch thanh toán quốc tế chiều về 40
3.2.4 Giao dịch chuyển tiền đầu tư 40
3.2.5 Giao dịch thanh toán chung 40
3.2.6 Thông qua phương thức tài trợ thương mại khác 40
Trang 63.3.Điều kiện phát sinh rửa tiền và tài trợ khủng bố qua hệ thống ngân hàng 43
3.3.1 Hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố chưa đầy đủ 43
3.3.2 Bộ máy tổ chức về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố còn hạn chế 43
3.3.3 Một số quy định trong thanh toán tạo nhiều thuận lợi cho bọn tôi phạm
43
3.4 Thực trạng công tác phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố tại ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) 44
3.4.1 Sơ lược về Ngân hàng TMCP Quân Đội 44
3.4.3 Kết quả hoạt động phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của MB Bank từ khi triển khai cho đến nay (năm/2016) 53
3.4.4 Kết quả thực hiện công tác phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố 57
3.5 Đề xuất mô hình nghiên cứu 59
CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU 61
4.1 Thiết kế nghiên cứu 61
4.1.1 Quy trình nghiên cứu 61
Bảng 4.1: Quy trình nghiên cứu 62
4.1.2 Thiết kế nghiên cứu 63
4.1.3 Dữ liệu thu thập 63
4.1.4 Thiết kế bảng câu hỏi 64
4.1.5 Nghiên cứu sơ bộ định tính 64
4.1.5.1 Thảo luận tay đôi 64
4.1.5.2 Xây dựng bảng câu hỏi 65
4.1.6 Nghiên cứu chính thức 66
4.1.7 Phân tích dữ liệu 66
4.2 Phân tích nghiên cứu 68
4.2.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 68
4.2.2 Kiểm định phi tham số 70
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
Trang 75.2 Kiến nghị 77
5.3 Đóng góp mới của đề tài 78
5.4 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 1 82
PHỤ LỤC 2 83
PHỤ LỤC 3 85
PHỤ LỤC 4 92
1 Kinh nghiệm của ngân hàng Maybank (Malaysia) 92
2 Kinh nghiệm của ngân hàng AffinBank Berhad (Malaysia) 92
PHỤ LỤC 5 93
SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN VÀ TÀI TRỢ KHỦNG BỐ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM 93
PHỤ LỤC 6 98
Hình 3.2: Màn hình nhập dữ liệu AML/CFT 98
Nguồn: Quy trình PCRT&TTKB MBBank, năm 2015 98
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Các chữ viết
AML Anti money laundering Chống rửa tiền
CFT Combating the Financing of
Terrorism
Chống tài trợ khủng bố
CTC Counter Terrorism Committee Ủy ban chống khủng bố
FATF Financial Action Task Force
ODC Office on Drugs and Crime Văn phòng ma túy và tội phạm OFAC Office of Foreign Assets
Control
Danh sách đen của Văn phòng kiểm soát tài sản nước ngoài, Bộ tài chính Mỹ
PCRT&TTKB Phòng chống rửa tiền và tài trợ
UN United Nation Liên Hiệp Quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các câu trả lời được sử dụng trong nghiên cứu
Bảng 2.2: Kết quả kiểm định độ tin cậy
Bảng 3.1: Mô hình triển khai công tác Phòng chống rửa tiền
Bảng 3.2: Phân loại khách hàng theo rủi ro
Bảng 3.3: Các tổ chức và công ty của Nga bị EU cấm vận
Bảng 4.1: Quy trình nghiên cứu
Bảng 4.2: Tóm lược số lượng câu trả lời
Bảng 4.3: Kết quả chạy Cronbach’s Alpha
Bảng 4.4: Giá trị thống kê mô tả đặc trưng cơ bản của các biến
Bảng 4.5: Kết quả tương quan Spearman Rho giữa nhân tố xử lý và vị trí Bảng 4.6: Thống kê tỷ lệ xử lý từ chối giao dịch đáng ngờ
Bảng 4.7: Kết quả chạy SPSS Mann-Whitney
Bảng 4.8: Bảng thống kê các vị trí gặp giao dịch đáng ngờ
Bảng 4.9: Bảng kết quả kiểm định Kruskal- Wallis
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình rửa tiền và tài trợ khủng bố
Hình 3.1: Mô hình tổ chức của MB hiện nay
Hình 3.2: Màn hình nhập dữ liệu AML/CFT
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương này đề cập đến tính cấp thiết của đề tài luận văn, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận văn
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, rửa tiền và tài trợ khủng bố đã và đang trở thành một vấn đề đáng
lo ngại không chỉ của Việt Nam mà của toàn thế giới Theo Ngân hàng thế giới (World bank) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ước tính rửa tiền toàn cầu có liên quan đến tham nhũng, hoạt động tội phạm và trốn thuế chiếm khoảng ba đến năm phần trăm GDP toàn cầu hay khoảng từ 2.17 đến 3.61 ngàn tỷ đô la một năm (Malcolm Beith, July 19, 2012, The daily Beast) Do các trung tâm tiền tệ hàng đầu thế giới đang nỗ lực chống lại các hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố, nên tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố có xu hướng chuyển hoạt động tội phạm qua các nước mới nổi, trong đó có Việt Nam Vào đầu năm 2014, mặc dù Việt Nam đã được tuyên bố chính thức ra khỏi danh sách các nước cần sự giám sát của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) về tính tuân thủ toàn cầu trong phòng chống rửa tiền nhưng với đặc điểm nền kinh tế còn non trẻ, hệ thống ngân hàng còn chưa hoàn thiện, thói quen sử dụng tiền mặt trong các giao dịch hàng ngày… được xem là địa điểm để cho việc rửa tiền và tài trợ khủng bố diễn ra thuận lợi Đặc biệt, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang chịu nguy cơ cao vì các tội phạm rửa tiền thường dùng kênh này để rửa tiền, thông qua hệ thống ngân hàng, “tiền bẩn” sẽ thành “tiền sạch”
Việc các ngân hàng và tổ chức tài chính lớn trên thế giới như HSBC, JPMorgan Chase, BNP Paribas… những năm gần đây đã vướng vào các vụ kiện tụng liên quan đến việc bị tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố sử dụng hệ thống ngân hàng làm công cụ phạm tội và án phạt đối với các ngân hàng này lên tới hàng triệu Đô la Mỹ Danh tiếng của các ngân hàng này cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Do đó, việc rà soát, thiết lập mối quan hệ đại lý với các ngân hàng ở các nước có
Trang 12nguy cơ hoặc có khả năng xuất hiện tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố, đặc biệt
là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam trở nên khó khăn hơn Tuy vậy, công tác phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong đó có NHTM cổ phần Quân Đội (MB) mới được chú ý trong vài năm gần đây và vẫn còn thiếu các công cụ, hệ thống cũng như nguồn lực cần thiết trong khi thủ đoạn rửa tiền và tài trợ khủng bố ngày càng tinh vi Vì vậy, đây là lý do để hình thành đề tài “Phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố tại NHTM cổ phần Quân Đội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình thực hiện công tác PCRT & TTKB tại MB
- Hướng nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác PCRT&TTKB tại MB Từ kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố tại MB
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài trả lời câu hỏi:
+ Yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện PCRT&TTKB tại MB?
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp mô tả: tổng quan về tình hình rửa tiền, tài trợ khủng bố và phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố của hệ thống ngân hàng tại một số nước trên thế giới để rút ra được bài học kinh nghiệm cho hệ thống Việt Nam nói chung và
MB nói riêng
Trang 13- Phương pháp thống kê: tập hợp số liệu và đánh giá thực trạng rửa tiền và tài trợ khủng bố của MB
- Phương pháp định lượng: mô hình phi tham số đo lường ảnh hưởng của một số nhân tố đến việc thực hiện chính sách phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng
bố của MB
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu
1.5.1 Ý nghĩa nghiên cứu
- Đóng góp về lý thuyết: giới thiệu mô hình nghiên cứu định lượng đã được sử dụng trong một vài nghiên cứu nước ngoài để làm rõ hơn việc triển khai cũng như thực hiện công tác PCRT và TTKB tại Ngân hàng TMCP Quân Đội
- Đóng góp về thực tiễn: Từ việc nghiên cứu công tác triển khai cũng như thực hiện công tác PCRT và TTKB tại Ngân hàng TMCP Quân Đội để từ đó đánh giá được tình hình thực hiện công tác trên của MB nói riêng và các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nói chung, để từ đó đề ra các giải pháp hợp lý nhằm tăng cường công tác PCRT và TTKB tại Ngân hàng TMCP Quân Đội
1.5.2 Giới hạn nghiên cứu:
Do dữ liệu nghiên cứu được lấy từ kết quả khảo sát của các nhân viên đang làm tại MB nên kết quả chỉ phản ánh được tình hình thực hiện công tác PCRT và TTKB tại MB mà chưa đề cập đến được sự tương tác giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố và cũng chưa phản ánh được tình hình thực tế việc thực hiện công tác phòng chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
1.6 Kết cấu luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương
- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu
- Chương 3: thực trạng thực hiện công tác PCRT&TTKB tại MB
- Chương 4: Thiết kế nghiên cứu và phân tích nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU
Chương này bao gồm các phần chính như sau:
- Cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu
- Khái quát chung về hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố, ảnh hưởng của hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố đến đời sống kinh tế, quy trình và phương thức rửa tiền và tài trợ khủng bố
- Đề xuất mô hình vận dụng nghiên cứu trong đề tài
2.1 Lý luận chung về rửa tiền và tài trợ khủng bố
2.1.1 Khái niệm về rửa tiền 2.1.1.1 Nguồn gốc của rửa tiền Cụm từ “rửa tiền” được sử dụng lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, việc rửa tiền, che giấu thu nhập đến từ hoạt động phi pháp, lại xuất hiện thực sự ở thế kỷ 13 trước công nguyên khi mà mậu dịch đường biển được sử dụng như là kênh giao dịch quốc tế Các chuyến tàu chở hàng hóa giá trị lớn thường bị cướp bóc
và xóa sổ do nạn cướp biển hoành hành Do đó cướp biển được cho là những kẻ tiên phong cho việc thực hiện “rửa tiền” và mục tiêu của chúng là những chuyến tàu thương mại châu Âu đi qua vùng biển Atlantic trong suốt thế kỷ thứ 16 và 18 Và cách đây 2000 năm, những thương nhân giàu có Trung Hoa do tham gia những giao dịch bị cấm bởi chính phủ, họ đã tìm cách xóa bỏ nguồn gốc lợi nhuận kiêm được
từ những giao dịch trên bằng cách chuyển tiền vào các tài sản có tính thanh khoản cao và tìm cách đưa tiền đầu tư vào các hoạt động kinh doanh ngoài nước Cách thức này hiện nay vẫn còn được rất nhiều tội phạm rửa tiền sử dụng
Cụm từ “rửa tiền” có nguồn gốc từ những năm 1920 trong suốt thời gian Luật cấm nấu và bán rượu ở Mỹ Lợi nhuận kiếm được lợi nhuận từ hoạt động này rất lớn và để hợp pháp hóa nguồn tiền này, những thương nhân Mỹ bắt đầu tìm cách trộn lẫn nguồn tiền phi pháp với các nguồn tiền hợp pháp Đây được cho là mô tả nguồn gốc hoàn hảo của rửa tiền với một số lượng lớn tiền bẩn và phi pháp được đưa vào hàng lọat giao dịch để từ đó “tiền bẩn” trở thành “tiền sạch”
Trang 152.1.1.2 Khái niệm
“Rửa tiền” có thể được hiểu theo nhiều cách
Theo Luật về tội phạm rửa tiền của Indonesia năm 2002, rửa tiền là những tài sản trị giá từ 500 triệu Rupiah trở lên hoặc tương đương có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến những hoạt động sau: tham nhũng, hối lộ, buôn lậu hàng hóa, vũ khí, buôn người, ma túy, thuốc kích thích, khủng bố, trộm cướp, lừa đảo và các hành vi phi pháp khác (Khoản 2, Luật về tội phạm rửa tiền của Nước cộng hòa Indonesia, năm 2002)
Theo điều 4, khoản 1 Luật Phòng, chống rửa tiền số 07/2012/QH13 hiệu lực thi hành 01/01/2013 của Việt Nam thì:
“Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có, bao gồm: Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự; Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có; Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp nguồn gốc tài sản”
Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) - một tổ chức được công nhận là tổ chức đặt tiêu chuẩn quốc tế cho những nỗ lực về chống rửa tiền (AML) - đưa ra định nghĩa súc tích cho thuật ngữ “rửa tiền” là việc xử lý nguồn tiền
do phạm tội mà có nhằm che đậy nguồn gốc bất hợp pháp của chúng nhằm hợp pháp hóa những món lợi phi pháp thu được từ hành vi phạm tội
Nguồn gốc của tội rửa tiền là quá trình phạm tội trong đó những đồng tiền thu từ hoạt động phạm tội được ngụy trang để che đậy nguồn gốc bất hợp pháp của chúng Về cơ bản, rửa tiền liên quan đến những đồng tiền bắt nguồn từ tài sản có liên quan đến tội phạm chứ không phải liên quan đến chính tài sản đó Trong điều kiện của mình, Công ước của Liên Hợp Quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần (năm 1988) (gọi là Điều ước Viên) chỉ quy định về các tội phạm nguồn của tội buôn bán bất hợp pháp ma túy Vì vậy, những hành vi phạm tội không liên quan đến buôn bán bất hợp pháp ma túy như lừa đảo, bắt cóc và trộm
Trang 16cắp thì không cấu thành tội rửa tiền theo Điều ước Viên Tuy nhiên, theo năm tháng, cộng đồng quốc tế đã hình thành quan điểm rằng các tội phạm nguồn của tội rửa tiền cần phải được mở rộng, chứ không phải chỉ bó hẹp trong hành vi buôn bán bất hợp pháp ma túy Vì vậy, FATF và các tổ chức quốc tế khác đã mở rộng định nghĩa của Điều ước Viên về nguồn gốc tội phạm để bổ sung cả những hành vi phạm tội nghiêm trọng khác Ví dụ, Công ước Palécmô yêu cầu tất cả các nước thành viên phải áp dụng “giới hạn rộng nhất các tội phạm nguồn” của tội rửa tiền của Công ước này
Trong 40 khuyến nghị về chống rửa tiền (Bốn mươi khuyến nghị), FATF đã hợp nhất các định nghĩa mang tính chuyên môn và lập pháp về rửa tiền trong Điều ước Viên và Công ước Palécmô và liệt kê 20 loại hành vi phạm tội phải được đề cập đến trong các tội phạm nguồn của tội rửa tiền.
2.1.2 Khái niệm Tài trợ khủng bố Theo Điều 3, khoản 1, Luật phòng, chống khủng bố của Việt Nam số 07/2012/QH13 hiệu lực thi hành 01/01/2013 quy định:
“Khủng bố là một, một số hoặc tất cả hành vi sau đây của tổ chức, cá nhân nhằm chống chính quyền nhân dân, ép buộc chính quyền nhân dân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng:
Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần của người khác; Chiếm giữ, làm hư hại, phá hủy hoặc đe dọa phá hủy tài sản; Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Hướng dẫn chế tạo, sản xuất, sử dụng hoặc chế tạo, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc, chất cháy và các công cụ, phương tiện khác nhằm phục vụ cho việc thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này; Tuyên truyển, lôi kéo, xúi giục, cưỡng bức, thuê mướn hoặc tạo điều kiện, giúp sức cho việc thực hiện hành vi quy định tại các điểm a, b và
c Khoản 1 điều này; Thành lập, tham gia tổ chức, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện đối
Trang 17tượng nhằm thực hiện hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; Các hành vi khác được coi là khủng bố theo quy điịnh của Điều ước quốc tế về phòng chống khủng bố mà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên
Tài trợ khủng bố là hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố.”
Ngoài ra, Liên Hợp Quốc (UN) đã có nhiều nỗ lực, chủ yếu là thông qua các công ước quốc tế, để chống khủng bố và các cơ chế được dùng để tài trợ cho khủng
bố Ngay trước vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 vào nước Mỹ, Liên hợp quốc
đã thông qua Công ước quốc tế về chống tài trợ cho khủng bố, trong đó quy định:
“Đối tượng bị coi là phạm tội theo Công ước này nếu cung cấp hoặc huy động tiền bạc dưới bất kỳ hình thức nào, trực tiếp hoặc gián tiếp, bất hợp pháp và cố ý với mục đích hoặc biết là một phần hay toàn bộ nguồn tiền đó sẽ được dùng để thực hiện:
Hành vi cấu thành một tội trong phạm vi và định nghĩa trong một trong các điều ước quốc tế liệt kê trong Phụ lục; hoặc b: Hành vi khác với ý định giết hại hoặc làm bị thương nặng cho thường dân hoặc người khác không tham gia tích cực vào hoạt động thù địch trong trường hợp có xung đột vũ trang khi xét về bản chất hoặc hoàn cảnh xảy ra thì hành vi đó có mục đích khủng bố dân cư hoặc ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế làm hoặc không làm một việc gì; Một hành vi được coi là cấu thành một tội nói tại Khoản 1 kể cả trong trường hợp nguồn tiền liên quan thực tế chưa được sử dụng để thực hiện một tội nói tại điểm a hoặc điểm b khoản 19”
Vấn đề khó khăn đối với một số nước là định nghĩa về khủng bố Không phải tất cả các nước đã thông qua Công ước này đều nhất trí về những hành vi cấu thành tội khủng bố Ý nghĩa của khủng bố không được chấp nhận rộng rãi do có sự khác biệt lớn về quan điểm chính trị, tôn giáo giữa các nước
FATF cũng được công nhận là một tổ chức đặt các tiêu chuẩn quốc tế cho các nỗ lực chống tài trợ cho khủng bố (CFT) FATF không đưa ra định nghĩa cụ thể
Trang 18về thuật ngữ tài trợ cho khủng bố trong chín Khuyến nghị đặc biệt về chống tài trợ cho khủng bố (Những khuyến nghị đặc biệt) do FATF soạn thảo sau sự kiện 11/9/2001 Tuy nhiên, FATF cố gắng thuyết phục các nước thông qua và thực hiện Công ước quốc tế về chống tài trợ cho khủng bố Vì vậy, định nghĩa nêu trên là định nghĩa được hầu hết các nước chấp nhận cho mục đích định nghĩa về tài trợ cho khủng bố
2.1.3 Mối quan hệ giữa rửa tiền và tài trợ khủng bố
Về cơ bản, các thủ thuật được sử dụng để rửa tiền cũng giống như các thủ thuật được dùng để che giấu nguồn gốc của khoản tiền đó và các mục đích sử dụng
để tài trợ cho khủng bố Các khoản tiền được sử dụng để hỗ trợ cho khủng bố có thể bắt nguồn từ các nguồn hợp pháp, các hoạt động tội phạm, hoặc từ cả hai Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là sự che đậy nguồn gốc tiền dùng để tài trợ cho khủng bố, bất kể nguồn gốc của tiền là chính đáng hay phi pháp Nếu nguồn gốc có thể được che đậy thì nó vẫn có thể được dùng vào các hoạt động tài trợ cho khủng bố trong tương lai Tương tự, điều quan trọng đối với tội phạm khủng bố là che đậy được mục đích sử dụng các quỹ để hoạt động tài trợ không bị phát giác
Vì những lý do như vậy, FATF đã đề nghị rằng mỗi nước cần hình sự hóa hành vi tài trợ cho khủng bố, hành vi khủng bố, các tổ chức khủng bố và quy định
rõ những hành vi phạm tội nào cấu thành tội rửa tiền
Những nỗ lực chống tài trợ cho khủng bố cũng đòi hỏi các nước phải xem xét
mở rộng phạm vi của khuôn khổ AML để đưa thêm vào đó cả những tổ chức phi lợi nhuận, đặc biệt là những tổ chức từ thiện, nhằm bảo đảm các tổ chức đó không bị sử dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tài trợ hoặc hỗ trợ cho khủng bố Những nỗ lực CFT cũng đòi hỏi phải xem xét lại các hệ thống chuyển tiền thay thế,
ví dụ như hệ thống hawalas Nỗ lực này bao gồm việc xem xét kỹ các biện pháp cần tiến hành để ngăn chặn tình trạng những tổ chức nói trên bị những kẻ rửa tiền và khủng bố sử dụng
Như đã trình bày ở trên, sự khác biệt đáng kể giữa rửa tiền và tài trợ cho khủng bố là các khoản tiền liên quan có thể bắt nguồn từ những nguồn hợp pháp
Trang 19hoặc từ các hoạt động phạm tội Những nguồn hợp pháp có thể gồm tiền quyên tặng hoặc quà tặng dưới dạng tiền hoặc những tài sản khác cho những tổ chức như các quỹ tài trợ hoặc các tổ chức từ thiện nhưng lại được dùng để hỗ trợ cho các hoạt động khủng bố hoặc các tổ chức khủng bố Vì vậy, sự khác biệt này đòi hỏi phải có các luật riêng để xử lý việc tài trợ cho kẻ khủng bố Tuy nhiên, đối với các khoản tiền tài trợ cho khủng bố có nguồn gốc bất hợp pháp thì có thể đã được đề cập trong khuôn khổ AML của mỗi nước tùy thuộc vào phạm vi các tội phạm nguồn của tội rửa tiền
2.2 Tầm quan trọng của phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
Xuất phát từ chính bản chất của nó, rửa tiền và tài trợ cho khủng bố là những hành vi được thực hiện một cách bí mật và do vậy không thể dùng được cho mục đích phân tích thống kê Tội phạm rửa tiền không ghi lại bằng tài liệu quy mô hoạt động của chúng hoặc không công bố số lợi nhuận của chúng và tội phạm tài trợ cho khủng bố cũng làm như vậy Hơn nữa, việc đưa ra những con số ước tính còn khó khăn hơn bởi vì hoạt động rửa tiền và tài trợ cho khủng bố được tiến hành trên phạm vi toàn cầu Tội phạm rửa tiền sử dụng các nước khác nhau để che giấu những khoản tiền bất chính bằng cách lợi dụng những khác biệt trong hệ thống AML cũng như những nỗ lực thi hành pháp luật và hợp tác quốc tế giữa các nước Vì vậy mà không có những con số ước lượng đáng tin cậy về quy mô rửa tiền và tài trợ cho khủng bố trên phạm vi toàn cầu Chỉ riêng đối với rửa tiền, Quỹ tiền tệ quốc tế ước tính tổng số tiền được rửa trên thế giới dao động ở mức 3% tới 5% GDP toàn cầu
Vì vậy, nếu xét theo bất kỳ một con số ước tính nào thì vấn đề này cũng rất nghiêm trọng và đáng để mỗi nước phải dành sự quan tâm thật đầy đủ
2.2.1 Tác động của rửa tiền và tài trợ khủng bố đối với phát triển nền kinh tế quốc gia
Những doanh nghiệp phạm tội và hoạt động tài trợ cho khủng bố thành công được phần lớn là do chúng có thể che giấu được nguồn gốc hoặc các nguồn gốc của mọi khoản tiền của chúng và rửa sạch những đồng tiền đó bằng cách lưu chuyển chúng qua các hệ thống tài chính quốc gia và quốc tế.Điều này dẫn đến những thay
Trang 20đổi trong cầu tiền tệ cùng bất ổn lãi suất và tỷ giá hối đoái nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam Rửa tiền và tài trợ khủng bố còn có thể làm tăng đầu tư với rủi ro cao, làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Nguồn tiền thu được từ hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố thường không được sử dụng để đầu tư vào các lĩnh vực nhằm làm cho kinh tế phát triển hơn hay đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh mang lại những giá trị gia tăng cao mà chỉ được đầu tư vào các tài sản nhằm che đậy nguồn gốc của tiền như góp vốn vào các công ty bình phong, hoặc mua các tài sản xa xỉ,… Từ đó dẫn đến mất cân bằng môi trường đầu tư, làm cho nguồn vốn phân bổ không hợp lý, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Đồng thời, các
tổ chức tài chính bình phong xuất hiện sẽ khiến mất ổn định cho hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế mất ổn định và khiến cho hoạt động của các tổ chức tài chính trong nước gặp vấn đề nghiêm trọng, có thể suy yếu
Hệ thống phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố lỏng lẻo, yếu kém có thể tạo điều kiện cho tội phạm rửa tiền, tài trợ khủng bố dùng các khoản lợi nhuận tài chính của chúng để mở rộng hoạt động tội phạm cũng như thúc đẩy các hoạt động bất hợp pháp như tham nhũng, buôn bán bất hợp pháp ma túy, buôn bán và bóc lột con người, buôn lậu và khủng bố
Mặc dù rửa tiền, tài trợ khủng bố có thể xảy ra ở bất kỳ nước nào nhưng chúng gây những hậu quả kinh tế, xã hội đặc biệt đáng kể cho các nước đang phát triển và những nước có hệ thống tài chính yếu kém vì đây thường là những thị trường nhỏ và do đó dễ bị tổn thương hơn trước tác động của tội phạm và khủng bố Rút cục thì cả nền kinh tế, xã hội lẫn an ninh của những nước bị sử dụng làm cơ sở cho rửa tiền và tài trợ cho khủng bố sẽ bị đẩy vào tình trạng hiểm nghèo Song lại khó có thể xác định được quy mô của những hậu quả bất lợi đó bởi vì không thể lượng hóa một cách chính xác những tác hại như vậy đối với cộng đồng quốc tế nói chung và đối với từng nước nói riêng
Mặt khác, một quốc gia có hệ thống chống rửa tiền AML và chống tài trợ khủng bố CFT hiệu quả sẽ mang lại những lợi ích quan trọng cho quốc gia đó, cả trong nước lẫn trên trường quốc tế Những lợi ích này bao gồm giảm mức độ phạm
Trang 21tội và tham nhũng, tăng cường tính ổn định của các tổ chức và thị trường tài chính, những tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế và uy tín đối với cộng đồng quốc
tế, tăng cường các biện pháp chuyên môn về quản lý rủi ro cho các tổ chức tài chính của nước đó và bảo đảm sự thống nhất của thị trường
2.2.2 Những ảnh hưởng bất lợi đối với các nước đang phát triển: 2.2.2.1 Làm tăng tội phạm và tham nhũng
Thành công trong việc rửa tiền sẽ làm cho tội phạm có thể thu được những lợi ích to lớn Do đó quốc gia nào còn được xem là nơi ẩn náu an toàn cho hoạt động rửa tiền thì quốc gia đó càng có khả năng hấp dẫn tội phạm và thúc đẩy tham nhũng
Tại Việt Nam, báo cáo điều tra của Cục cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế
và tham nhũng (C46, Bộ Công An), thì tội phạm dùng nguồn tiền thu được từ hoạt động lừa đảo, tham nhũng, hoặc từ hoạt động buôn lậu hay thu được từ hoạt động buôn bán ma túy, chất cấm, hoặc từ các hoạt động phi pháp khác để mua các tài sản
có giá trị như bất động sản, vàng…chuyển cho người thân đứng tên sở hữu, hoặc đầu tư kinh doanh, lập doanh nghiệp, góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp khác
Một ví dụ gần đây của hoạt động rửa tiền từ tham nhũng ở Việt Nam gần là vào cuối năm 2016, Viện Kiểm Soát nhân dân tối cao đã tống đạt cáo trạng truy tố bốn bị can bao gồm: Trần Văn Liêm, nguyên tổng giám đốc Tổng công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vận tải viễn dương Vinashin (Vinashinlines), Trần Văn Khương nguyên kế toán trưởng Vinashinlines, Giang Kim Đạt nguyên quyền trưởng phòng kinh doanh của Vinashinlines Cả ba bị can này đều bị truy tố về tội tham ô tài sản còn bị can thứ bốn là Giang Văn Hiển, cha ruột của bị can Đạt bị truy
tố về tội rửa tiền Theo như cáo trạng, từ tháng 7 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007,
bị cáo Trần Văn Liêm ký hợp đồng mua ba con tàu và giao cho bị can Đạt đàm phán mua tàu Bị cáo Đạt đã thực hiện hành vi tham ô tài sản trong quá trình làm việc Sau khi lấy được tiền từ thương vụ mua tàu, bị cáo chuyển vào tài khoản bị can Hiển, sau đó bị can Hiển rút tiền mặt đưa lại cho bị can Đạt rồi sau đó đứng tên mình và người thân để mua 40 bất động sản và mua đi bán lại 13 xe ô tô Hành vi
Trang 22tẩu tán số tiền tham nhũng bằng cách sử dụng nguồn tiền để mua các tài sản có giá trị và cho người khác đứng tên chính là hành vi rửa tiền.Các đối tượng đã cấu kết với nhau, một bên lợi dụng chức quyền của mình để tham ô tài sản, một bên tìm cách che giấu và tẩu tán tài sản tham ô đó nhằm trục lợi và biến nguồn tài sản tham
ô thành tài sản hợp pháp
2.2.2.2 Những hậu quả đối với quốc tế và đầu tư nước ngoài
Sự phát triển của một nước có thể bị ảnh hưởng tiêu cực khi bị nghi ngờ là nơi ẩn náu an toàn cho tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố Theo đó, các tổ chức tài chính quốc tế có thể hạn chế các giao dịch của mình với những tở chức đặt tại những quốc gia này hoặc những tổ chức được xem như nơi ẩn náu an toàn của tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố Dẫn đến các giao dịch từ những quốc gia này hoặc từ những tổ chức bị nghi ngờ sẽ bị kiểm soát gắt gao hơn, hoặc bị dừng giao dịch, làm tăng chi phí giao dịch hoặc quyết định chấm dứt hoàn toàn các mối quan
hệ cho vay Điều này ảnh hưởng tiêu cực ngay cả đối với các doanh nghiệp hợp pháp khi họ muốn vay mượn từ thị trường quốc tế hoặc phải mất nhiều chi phí hơn
do bị kiểm soát gắt gao về quyền sở hữu, các hệ thống tổ chức và kiểm soát Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) vẫn bảo lưu một danh sách những nước không tuân thủ các yêu cầu về AML hoặc không hợp tác đầy đủ trong cuộc chiến chống rửa tiền Việc bị xếp vào danh sách “các nước và vùng lãnh thổ thiếu hợp tác” sẽ khiến mọi người hiểu rằng nước đó không đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu về AML Ngoài những tác động tiêu cực nói trên, các nước thành viên FATG riêng lẽ cũng có thể áp đặt những biện pháp phòng vệ cụ thể đối với những nước không hành động để sửa chữa những khiếm khuyết trong công tác AML hoặc CFT của mình
2.2.2.3 Làm suy yếu các tổ chức tài chính
Rửa tiền và tài trợ cho khủng bố có thể gây nguy hại theo nhiều cách cho sự lành mạnh của khu vực tài chính của một đất nước cũng như cho sự ổn định của từng tổ chức tài chính Phần trình bày dưới đây sẽ tập trung vào các tổ chức ngân hàng, nhưng những hậu quả giống như hoặc tương tự như vậy cũng đúng đối với
Trang 23các loại hình tổ chức tài chính khác, như các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, các hãng quản lý đầu tư Những hậu quả đó là rủi ro đối với uy tín, nghiệp vụ, pháp lý và rủi ro tập trung đều có mối quan hệ qua lại với nhau Mỗi rủi ro đều gây
ra những chi phí cụ thể như mất đi hoạt động kinh doanh sinh lợi; Những vấn đề về tính thanh khoản do việc rút tiền có thể xảy ra; Cắt đứt các cơ sở ngân hàng đại lý; Các chi phí điều tra và án phạt; Thu giữ tài sản, tổn thất cho vay và Giảm giá trí cổ phần của các tổ chức tài chính này
Rủi ro về uy tín là một rủi ro tiềm ẩn, khi một ngân hàng bị nghi ngờ có
những phương pháp kinh doanh hoặc những mối quan hệ giao dịch không lành mạnh, dù điều này có đúng hay không thì danh tiếng uy tín của tổ chức này cũng sẽ
bị ảnh hưởng Khách hàng, người vay tiền và người gửi tiền cũng như các nhà đầu
tư sẽ ngần ngại hoặc ngừng kinh doanh, giao dịch với một tổ chức như vậy Điều này sẽ làm giảm các khoản cho vay sinh lợi khi mất những khách hàng vay tiền tốt,
và làm tăng rủi ro của danh mục vốn cho vay Những người gửi tiền cũng có thể rút tiền ra dẫn đến giảm nguồn tài trợ với chi phí thấp, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng đó
Ngoài ra, các nguồn tiền lớn sau khi được rửa thường bất ngờ bị rút ra khỏi ngân hàng thông qua các lệnh chuyển tiền điện tử hoặc từ các phương tiện chuyển tiền khác, có thể ảnh hưởng đến tính thanh khoản nên 1 tổ chức tài chính không thể dựa vào tiền gửi của tội phạm để làm nguồn cấp vốn ổn định
Rủi ro nghiệp vụ cũng tiềm tàng những khả năng thất thoát bắt nguồn từ các
quy trình không đầy đủ hoặc không chặt chẽ từ con người và từ hệ thống hoặc từ những sự kiện ngoại sinh Những thiệt hại này xảy ra khi các tô chức phải gánh chịu tình trạng giảm, ngừng hoặc chịu chi phí cao đối với các dịch vụ giao dịch ngân hàng, chi phí vay vốn hoặc chi phí cấp vốn tăng lên
Rủi ro pháp lý cũng tiềm ẩn do ảnh hưởng từ các vụ kiện, phán quyết bất lợi
từ Tòa án, tiền phạt và các hình phạt khác có thể gây ra thua lỗ, thậm chí dẫn đến phải đóng cửa tổ chức như trường hợp của Ngân hàng BSI của Thụy sĩ đã bị Cục Tiền tệ Singapore rút giấy phép hoạt động tại Singapore vì đã vi phạm các quy định
Trang 24chống rửa tiền tại nước này Còn ngân hàng Commonwealh, ngân hàng lớn nhất
Úc, đang đối mặt với án phạt lên tới 18 triệu đô la Úc cho mỗi vi phạm về rửa tiền
và tài trợ khủng bố Ngân hàng này bị cáo buộc đã không báo cáo đúng thời hạn hoặc không báo cáo các giao dịch nghi ngờ có tổng giá trị tương đương 500 triệu đô
la Mỹ Do đó, những khách hàng của các tổ chức này có thể bị thiệt hại, bị mất tiền
và có thể khởi kiện để được bồi hoàn lại khoản tiền bị mất làm tăng chi phí cũng như các khoản phạt do các cuộc điều tra của các nhà chức trách ngân hàng hoặc cơ quan thi hành pháp luật khác
Rủi ro tập trung là tiềm tàng vì sự thiệt hại bắt nguồn từ rủi ro có quá nhiều
khoản cấp vốn tập trung cho một đối tượng vay Thường thì các ngân hàng quy định
tỷ lệ cho vay tối đa đối với một đối tượng vay (có thể là doanh nghiệp hoặc cá nhân hoặc một nhóm đối tượng khách hàng có liên quan) để hạn chế rủi ro tập trung vốn
Từ việc thiếu thông tin về một khách hàng cụ thể, hoạt động kinh doanh của khách hàng này hoặc mối quan hệ của đối tượng này với những người vay vốn khác có thể gây bất lợi cho ngân hàng cấp tín dụng Tổn thất sẽ xảy ra khi đối tượng vay không thực hiện được hợp đồng hoặc hợp đồng đó đã được ký bởi những đối tượng ảo, không có thật Do đó, việc một ngân hàng có hệ thống nhận dạng được chủ sở hữu hưởng lợi từ một tài khoản là vấn đề hết sức quan trọng đối với một hệ thống AML/CFT hiệu quả Các thủ tục này giúp nhận dạng được đối tượng vay thật và các mối quan hệ kinh doanh thực tế của khách hàng, ngoài ra các thủ tục về chú ý xác đáng cũng giúp cho các tổ chức tài chính hiểu được bản chất của những lợi ích kinh doan và những vấn đề tài chính cơ bản của khách hàng
2.2.2.4 Nền kinh tế và khu vực tư nhân bị tổn thương Các công ty bình phong là các doanh nghiệp được thành lập và tổ chức theo pháp luật, tham gia hoạt động kinh doanh theo luật điều chỉnh thường được tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố sử dụng nhằm trộn lẫn các nguồn tiền phi pháp với các nguồn tiền hợp pháp, để từ đó che giấu được nguồn gốc của khoản tiền do phạm tội mà có Các công ty này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà chỉ được tạo ra để bảo vệ và che giấu nguồn tiền phi pháp Do đó, hàng hóa dịch vụ do
Trang 25chúng bán ra có thể có giá thấp hơn thị trường, điều đó khiến cho các doanh nghiệp hợp pháp khó có thể cạnh tranh công bằng được với các doanh nghiệp bình phong này
Nguồn tiền do phạm tội sau khi đã được rửa sạch nguồn gốc có thể được sử dụng để kiểm soát một số hoặc các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế ở một số quốc gia, làm phân bổ sai lệch các nguồn lực bắt nguồn từ sự không minh bạch của giá tài sản và hàng hóa Điều này dẫn đến tăng sự bất ổn định tiềm tàng về khía cạnh kinh tế và tiền tệ Ngoài ra còn có thể tạo ra một cơ chế trốn thuế, dẫn đến làm cạn kiệt nguồn thu của một đất nước
2.2.2.5 Những nỗ lực tư nhân hóa bị tổn hại Tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố có thể làm ảnh hưởng đến những nỗ lực cải tổ nền kinh tế thông qua tư nhân hóa của nhiều quốc gia Tội phạm có khả năng trả giá cao hơn so với những người đấu thầu chính là các doanh nghiệp nhà nước và theo cách này, những khoản tiền bất chính được đưa vào đầu tư, từ đó làm tăng khả năng hoạt động phạm tội, và có thể dẫn đến tệ nạn tham nhũng, cũng như lấy đi khoản thu thuế hợp pháp của quốc gia
2.2.3 Những lợi ích của một chính sách AML/CFT hữu hiệu
2.2.3.1 Chống tội phạm và tham nhũng Một hệ thống AML/CFT chặt chẽ và hữu hiệu trong đó có quy định phạm vi rộng các tội phạm nguồn của tội rửa tiền và tài trợ khủng bố sẽ góp phần chống tội phạm và tham nhũng nói chung Khi chính việc rửa tiền bị buộc tội thì điều này sẽ tạo ra một hành lang khác cho việc truy tố tội phạm, cả những kẻ thực hiện hành vi phạm tội chính lẫn những kẻ hỗ trợ cho việc thực hiện thông qua các khoản tiền có được một cách bất hợp pháp do rửa tiền Tương tự, một hệ thống AML/CFT trong
đó quy định hối lộ là tội phạm nguồn và có hiệu lực thực thi, sẽ tạo ra ít cơ hội hơn cho những kẻ phạm tội đút lót và mua chuộc công chức
Hệ thống AML/CFT hiệu quả sẽ là một rào cản đối với các hoạt động phạm tội Một hệ thống như vậy sẽ gây khó khăn hơn cho việc thu lợi từ hoạt động rửa tiền
Trang 262.2.3.2 Tăng cường sự ổn định của các tổ chức tài chính Việc tăng cường các nghiệp vụ ngân hàng lành mạnh có tác dụng làm giảm những rủi ro tài chính cho hoạt động của các tổ chức tài chính, làm tăng niềm tin của công chúng vào sự ổn định của các tổ chức tài chính đó Những rủi ro tài chính này bao gồm khả năng cá nhân hoặc các tổ chức ngân hàng bị thua lỗ do hậu quả của sự không minh bạch bắt nguồn từ hoạt động phạm tội, kiểm soát nội bộ lỏng lẻo hoặc việc vi phạm pháp luật và quy định ngành
Các thủ tục về nhận dạng và chú ý xác đáng tới khách hàng còn được gọi là các quy tắc “hiểu biết khách hàng của bạn” (KYC) Đó là một phần của một hệ thống AML/CFT hữu hiệu Những quy tắc này không chỉ phù hợp mà còn tăng cường hoạt động an toàn và lành mạnh của các ngân hàng và những loại hình tổ chức tài chính khác Những chính sách và thủ tục như vậy là một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả.Ví du trong những tình huống cá nhân hoặc một doanh nghiệp có thể
sở hữu nhiều doanh nghiệp tách biệt nhau về mặt giấy tờ, hình thức kinh doanh tuy nhiên nếu một tổ chức có hiểu biết hoặc có thông tin toàn diện về những hoạt động của khách hàng cụ thể đó do thực hiện các thủ tục KYC thì có thể giảm bớt được rủi
ro tín dụng do hạn chế giao dịch với đối tượng khách hàng này
Nhận thấy những lợi ích của cơ chế quản lý rủi ro theo thủ tục KYC nên Ủy ban Balse về giám sát ngân hàng đã được KYC vào thành một phần của các nguyên tắc cốt lõi về giám sát ngân hàng một cách có hiệu quả bên cạnh những lý do về AML
Ngoài ra, các thủ tục KYC tạo ra sự chú ý xác đáng cụ thể đối với các tài khoản có độ rủi ro cao và cho phép theo dõi những hoạt động đáng ngờ Cơ chế kiểm soát nội bộ chặt chẽ như vậy phù hợp với nghiệp vụ thận trọng và lành mạnh của một tổ chức tài chính
2.2.3.3 Kích thích phát triển kinh tế Rửa tiền gây tác động tiêu cực và trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế do nguồn lực được phân bổ vào các hoạt động kém sinh lợi hơn Các khoản tiền bất hợp pháp
đã được rửa sạch nguồn gốc và đi vào nền kinh tế theo nhiều đường khác nhau hơn
Trang 27so với các khoản tiền hợp pháp Thay vì được đưa vào để phục vụ sản xuất tiếp tục đầu tư thì các khoản tiền này được đưa vào các khoản đầu tư kém hiệu quả để bảo toàn giá trị hoặc để chúng có thể dễ dàng để chuyển đi như bất động sản, đồ mỹ nghệ, đồ cổ, trang sức hoặc những tài sản tiêu dùng có giá trị cao như ô tô
Những khoản đầu tư này không tạo thêm lợi ích cho nền kinh tế nói chung
mà còn có thể được bọn tội phạm dùng để biến những công ty sản xuất thành những khoản đầu tư kém sinh lợi do mục đích quản lý của chúng là sinh lãi từ rửa tiền chứ không phải là quản lý doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận Một doanh nghiệp như vậy thì không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hoặc theo đuổi những mục đích chính đáng và hữu ích về mặt tư bản Và khi những nguồn lực của một quốc gia được dùng để dành cho các khoản đầu tư vô ích, tương phản với những khoản đầu tư để hướng tới mục đích sản xuất nhằm sinh lợi khác thì chắn chắn điều này sẽ làm giảm năng suất của toàn bộ nền kinh tế
Những hệ thống AML/CFT mạnh sẽ ngăn cản sự dính líu của tội phạm vào nền kinh tế Điều đó tạo cơ hội để các khoản đầu tư được sử dụng vào các mục đích sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần tăng năng suất của toàn bộ nền kinh tế
2.3 Quy trình rửa tiền và tài trợ khủng bố
2.3.1 Sắp đặt Giai đoạn này liên quan đến việc bố trí các nguồn tiền phi pháp vào hệ thống tài chính, thường thông qua một tổ chức tài chính bằng cách gửi tiền vào tài khoản ngân hàng Những lượng tiền mặt lớn thường được chia nhỏ ra và được gửi dần vào các ngân hàng khác nhau Việc chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác cũng có thể nằm trong giai đoạn này Ngoài ra các khoản tiền bất hợp pháp có thể được chuyển đổi thành các công cụ tài chính như séc hoặc ủy nhiệm chi và được hòa lẫn với các khoản tiền hợp pháp để che giấu được nguồn gốc tội phạm Việc bố trí này còn có thể được hoàn thành bằng cách dùng tiền mặt mua chứng khoán hoặc hợp đồng bảo hiểm
Trang 28Hình 2.1: Quy trình rửa tiền và tài trợ khủng bố
(Nguồn: Hướng dẫn tham khảo về chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố, Paul Allan Schott, 2006)
2.3.2 Chia nhỏ (sắp lớp) Giai đoạn thứ hai xảy ra sau khi những khoản tiền phi pháp đã đưa được vào
hệ thống tài chính Chúng lúc này là các khoản tiền hoặc chứng khoán hoặc các hợp đồng bảo hiểm sẽ được chuyển đổi hoặc chuyển sang các tổ chức tài chính khác nhằm tiếp tục tách chúng ra khỏi nguồn gốc phạm tội
Trang 29Những khoản tiền này cũng có thể được chuyển đi dưới dạng chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền như séc, ủy nhiệm chi chuyển tiền hoặc trái phiếu vô danh hoặc chuyển khoản tới các tài khoản khác ở trong nước hoặc ngoài nước
Ngoài ra tội phạm rửa tiền cũng có thể chuyển khoản tiền này dưới hình thức thanh toán tiền hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc đầu tư vào một công ty bình phong để
từ đó rửa sạch được nguồn gốc phi pháp của chúng
2.3.3 Hòa nhập Giai đoạn cuối liên quan đến việc hòa nhập các khoản tiền đã chuyển đổi vào trong nền kinh tế chính thống bằng cách mua tài sản như bất động sản, chứng khoán hoặc các công cụ tài chính khác như trái phiếu, cổ phiếu hoặc mua các loại hàng hóa xa xỉ như trang sức, vàng, đồ cổ, tranh vẽ…
Cũng có thể thấy ba giai đoạn như vậy trong các chương trình tài trợ cho khủng bố, trừ giai đoạn thứ ba liên quan đến việc phân bổ kinh phí cho những kẻ khủng bố và các tổ chức hỗ trợ chúng, trong khi đó rửa tiền - như đã trình bày ở phần trên – lại đi theo chiều ngược lại – hòa nhập kinh phí của tội phạm và trong nền kinh tế chính thống
2.4 Các tổ chức đặt ra tiêu chuẩn quốc tế
Để đối phó với mối quan ngại ngày càng tăng do các hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố, cộng đồng quốc tế đã hành động trên nhiều mặt Phần lớn là thừa nhận tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố thực tế là đang lợi dụng các cơ chế chuyển ngân quốc tế nhanh chóng như chuyển ngân điện tử, cho việc thực hiện các mục đích của chúng Vì vậy cần có sự hợp tác và phối hợp đồng bộ quốc tế để ngăng chặn những hoạt động tội phạm này
Công ước quốc tế đầu tiên chỉ coi tội buôn bán ma túy là tội phạm nguồn duy nhất của tội rửa tiền (Tội phạm nguồn là tội chính, từ đó tạo ra những đồng tiền là đối tượng của rửa tiền) Bởi vì hiện nay có rất nhiều các loại tội phạm là mối quan ngại của thế giới nên nhiều nước đã quy định một diện rộng các tội nghiêm trọng là tội phạm nguồn của tội rửa tiền Nội dung dưới đây này trình bày về các tổ chức quốc tế khác nhau được coi là các cơ quan đặt ra tiêu chuẩn quốc tế
Trang 302.4.1 Liên hiệp quốc 2.4.1.1 Chương trình toàn cầu vể chống rửa tiền (GPML) Liên hợp quốc (UN) là một tổ chức quốc tế đầu tiên tiến hành hoạt động quan trọng về chống rửa tiền thực sự trên toàn cầu Một trong những chương trình
mà UN đưa ra để hỗ trợ tăng cường hiệu quả của hoạt động chống rửa tiền toàn cầu
là Chương trình toàn về chống rửa tiền GPML nằm trong văn phòng ma túy và tội phạm – ODC của UN GPML là một dự án nghiên cứu và hỗ trợ với mục đích tăng cường hiệu quả của các hành động quốc tế chống rửa tiền bằng cách cung cấp các kiến thức giám định chuyên môn, đào tạo và tư vấn cho các nước thành viên theo yêu cầu Chương trình tập trung vào những lĩnh vực sau: Tăng cường nhận thức của những nhân vật chủ chốt trong các nước thành viên UN; Giúp tạo các khung pháp lý cho các nước theo luật án lệ và các nước theo luật châu Âu lục địa với sự hỗ trợ của luật mẫu; Tăng cường năng lực thể chế, đặc biệt là việc thiết lập các đơn vị tình báo tài chính; Cung cấp đào tạo cho các nhà lập pháp, tư pháp, các cơ quan quản lý thi hành pháp luật và khu vực tài chính tư nhân; Thúc đẩy tiếp cận vùng để giải quyết các vấn đề, xây dựng và duy trì các mối quan hệ chiến lược với các tổ chức khác; Duy trì cơ sở dữ liệu các thông tin và tiến hành phân tích những thông tin thích hợp
Vì vậy, GPML là một nguồn thông tin, kiến thức chuyên môn và hỗ trợ kỹ thuật cho việc hình thành hoặc hoàn thiện cơ sở hạ tầng AML của mỗi nước
2.4.1.2 Ủy ban chống khủng bố
Vào ngày 28/09/2001, Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 1373 để trực tiếp đối phó với những sự kiện của ngày 11/09/2001 Nghị quyết buộc tất cả các nước thành viên phải có những hành động cụ thể để chống khủng bố Bên cạnh đó còn thiết lập Ủy ban chống khủng bố (CTC) để theo dõi việc thực hiện xây dựng năng lực toàn cầu chống khủng bố của các nước thành viên CTC bao gồm 15 nước thành viên của Hội đồng bảo an nhưng không phải là cơ quan thi hành pháp luật vì không quy định các hình phạt cũng như không truy tố hoặc buộc tội các nước thành viên Thay vào đó ủy ban nay tìm cách thiết lập một cuộc đối thoại giữa Hội đồng bảo an và các nước thành viên về cách thức để đạt
Trang 31được các mục tiêu của Nghị quyết 1373 Nghị quyết cũng yêu cầu các nước thành viên phải gửi báo cáo cho CTC về các bước đã tiến hành để thực hiện các biện pháp nêu trong Nghị quyết và báo thường khu về tiến độ thực hiện
CTC duy trì một trang web với một thư mục để các quốc gia có thể tìm kiếm
sự giúp đỡ nhằm cải thiện các kết cấu hạ tầng về chống khủng bố của mình Trên trang web này có các bản sao luật mẫu và nhiều thông tin hữu ích khác
2.4.2 Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền FATF được các nước G7 thành lập vào năm 1989 với mục tiêu phát triển và thúc đẩy các biện pháp chống rửa tiền Tháng 10 năm 2001, FATF đảm nhận thêm nhiệm vụ chống tài trợ cho khủng bố FATF có ba chức năng chính liên quan đến rửa tiền là: theo dõi tiến độ thực hiện các biện pháp chống rửa tiền các nước thành viên; Tổng kết và báo cáo về
xu hướng, thủ đoạn rửa tiền và các biện pháp chống rửa tiền; Thúc đẩy việc chấp thuận và thực hiện các tiêu chuẩn của FATF về chống rửa tiền trên toàn cầu
FATF đã thông qua 40 khuyến nghị về rửa tiền (gọi là Bốn mươi khuyến nghị) từ đó thiết lập một khuôn khổ toàn diện về AML và bộ khuyến nghị này được thiết kế để áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới 40 khuyến nghị đưa ra các nguyên tắc cho hành động, cho phép một quốc gia linh hoạt theo hoàn cảnh cụ thể
và yêu cầu riêng của nước đó để thực hiện các nguyên tắc này Tuy không có hiệu lực bắt buộc nhưng Bốn mươi khuyến nghị được cộng đồng quốc tế và các tổ chức liên quan xem như là một tiêu chuẩn cho công tác chống rửa tiền
FATF cũng thúc đẩy các nước áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về AML/CFT
và để khuyến khích các nước áp dụng các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và truy
tố tội phạm rửa tiền, nghĩa là thực hiện Bốn mươi khuyến nghị FATF đã thông qua một quy trình để nhận diện những nước và vủng lãnh thổ bị coi là gây trở ngại cho
sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, gọi là những nước NCCT
FATF khuyến khích các nước NCCT đẩy nhanh tiến độ sửa chữa những khiếm khuyết của mình Trong trường hợp một nước NCCT không có những tiến bộ thỏa đáng thì có thể bị áp đặt các biện pháp đối kháng được áp dụng từ từ, linh hoạt
Trang 32như: các yêu cầu nghiêm ngặt về nhận dạng khách hàng và tăng cường các cố vấn
để xác định chủ sở hữu hưởng lợi trước khi thiết lập các mối quan hệ với các cá nhân và các công ty từ nước này; Tăng cường các cơ chế báo cáo thích hợp; FATF xem xét các yêu cầu phê duyệt việc thành lập các công ty con, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng ở các nước thành viên có phải là ngân hàng từ một NCCT hay không; Cảnh báo các doanh nghiệp về những rủi ro về rửa tiền khi giao dịch với các thực thể trong NCCTs; Chấm dứt các giao dịch của các nước thành viên FATF với các tổ chức từ một nước như vậy
Như một phần trong nỗ lực này, các nước thành viên FATF sử dụng bảng câu hỏi tự đánh giá về các hoạt động của nước mình trong việc thực hiện Những khuyến nghị đặc biệt này FATF vẫn tiếp tục xây dựng bản hướng dẫn về các phương pháp chuyên môn và cơ chế được sử dụng để tài trợ cho khủng bố
2.4.3 Ủy ban Basle về giám sát ngân hàng
Ủy ban Basle về giám sát ngân hàng (Ủy ban Basle) được thành lập vào năm
1974 bởi Thống đốc ngân hàng trung ương của Nhóm 10 nước Đại diện cho mỗi nước là Ngân hàng trung ương của nước đó hoặc một cơ quan thích hợp có nhiệm
vụ chính thức về giám sát sự thận trọng của ngành ngân hàng nếu nó không phải là Ngân hàng trung ương Ủy ban này không có quyền giám sát quốc tế chính thức hoặc thẩm quyền theo pháp luật Ủy ban này chỉ xây dựng các tiêu chuẩn giám sát, các hướng dẫn chung và khuyến nghị các bản tuyên bố về những phương pháp giám sát ngân hàng tốt nhất Những tiêu chuẩn và hướng dẫn như vậy được thông qua với
hy vọng các cơ quan thích hợp trong mỗi nước sẽ tiến hành mọi bước cần thiết cho việc thực hiện các tiêu chuẩn đó thông qua các biện pháp cụ thể, cả lập pháp, quản
lý hoặc các biện pháp khác, phù hợp nhất với các hệ thống quốc gia của nước mình
Ba trong số các tiêu chuẩn và hướng dẫn của Ủy ban Basle liên quan đến các vấn đề
Trang 33ngân hàng cần đảm bảo có sẵn trong các tổ chức của mình để hỗ trợ cho việc chống rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng, ở trong nước và cả phạm vi quốc tế Theo Bản tuyên bố này, các ngân hàng có thể bị coi là phạm tội sử dụng “một cách vô ý” với tư cách là tổ chức trung gian
Vì vậy, Uỷ ban này coi hàng rào phòng chống rửa tiền đầu tiên và quan trọng nhất là “tính liêm chính của chính các ban quản lý ngân hàng và sự quyết tâm thận trọng để ngăn không cho các tổ chức của mình dính líu vào tội phạm hoặc bị sử dụng như một kênh rửa tiền.”
Về cơ bản, có bốn nguyên tắc được đưa ra trong Bản tuyên bố này, đó là:
• Nhận dạng khách hàng đúng cách;
• Tiêu chuẩn đạo đức cao và tuân thủ luật pháp;
• Hợp tác với các cơ quan thi hành luật pháp; và
• Các chính sách và thủ tục để bảo đảm tuân thủ Bản tuyên bố này
Trước hết, các ngân hàng cần có những nỗ lực thỏa đáng để xác định nhân dạng thật của tất cả mọi khách hàng yêu cầu dịch vụ của tổ chức mình
Ngân hàng cần có một chính sách rõ ràng là không tiến hành những giao dịch
có giá trị đáng kể với những khách hàng không có khả năng cung cấp đủ các bằng chứng chứng minh nhân dạng của họ
Thứ hai, các ngân hàng cần bảo đảm rằng hoạt động kinh doanh của mình được thực hiện theo những tiêu chuẩn đạo đức cao và ngân hàng cần tuân thủ các luật, quy định liên quan đến giao dịch tài chính Về vấn đề này, ngân hàng không được cung cấp dịch vụ hoặc chủ động hỗ trợ cho các giao dịch mà ngân hàng có lý
do xác đáng để tin rằng các giao dịch đó có liên quan đến rửa tiền
Thứ ba, ngân hàng cần hợp tác đầy đủ với các cơ quan thi hành luật pháp trong phạm vi cho phép theo luật hoặc quy định trong nước liên quan đến bí mật khách hàng Không ủng hộ hoặc hỗ trợ cho những khách hàng đang tìm cách lừa dối các cơ quan thi hành pháp luật thông qua những thông tin đã bị sửa đổi, thiếu đầy
đủ hoặc sai sự thật Khi một ngân hàng có những suy đoán hợp lý rằng các khoản tiền được gửi là từ hoạt động phạm tội hoặc các giao dịch đưa vào ngân hàng là
Trang 34nhằm mục đích phạm tội thì ngân hàng đó cần có biện pháp thích hợp, bao gồm việc
từ chối hỗ trợ, cắt đứt quan hệ khách hàng và đóng hoặc phong tỏa tài khoản đó
Thứ tư, các ngân hàng cần thông qua các chính sách chính thức nhất quán với Bản tuyên bố về ngăn ngừa Ngoài ra, các ngân hàng cần bảo đảm rằng tất cả cán bộ, nhân viên đều nhận thức được các chính sách này của ngân hàng và được tập huấn cẩn thận về những vấn đề được đề cập đến trong các chính sách này của ngân hàng Bên cạnh đó, nhằm thực hiện các chính sách của mình, các ngân hàng cần thông qua và thực hiện các thủ tục rõ ràng về nhận dạng khách hàng Cuối cùng, trong chức năng kiểm toán nội bộ bên trong ngân hàng, cần xây dựng và thực hiện các biện pháp để kiểm định sự tuân thủ
Ủy ban Basle đã ban hành các nguyên tắc cốt lõi để giám sát ngân hàng hiệu quả trong năm 1997, gọi là Các nguyên tắc cốt lõi Đây là một bản thiết kế toàn diện cho hệ thống giám sát ngân hàng và đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau gồm 25 nguyên tắc Trong toàn bộ nguyên tắc cốt lõi thì nguyên tắc số 15 là xử lý vấn đề rửa tiền quy định:
Các giám sát viên ngành ngân hàng phải bảo đảm rằng các ngân hàng có sẵn chính sách, phương pháp và thủ tục thích hợp, bao gồm các quy tắc nghiêm ngặt về
“hiểu biết khách hàng của mình”, nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn đạo đức và nghề nghiệp cao trong khu vực tài chính và ngăn ngừa việc ngân hàng bị các phần tử phạm tội lợi dụng, một cách cố ý hay vô ý
Các chính sách và thủ tục về “hiểu biết khách hàng của mình” hay “KYC” này là phần quyết định của một khuôn khổ thể chế AML/CFT hiệu quả đối với mỗi nước
Vào tháng 10/2001, Ủy ban Basle đã ban hành một tài liệu về các nguyên tăc KYC mở rộng với nội dung nói về: Sự chú ý xác đáng tới khách hàng của các ngân hàng (Chú ý xác đáng tới khách hàng) Tài liệu này được phát hành nhằm đối phó với những khiếm khuyết rõ rệt về các thủ tục KYC trên toàn cầu Những tiêu chuẩn KYC này dựa trên và cung cấp thông tin chi tiết hơn về Bản tuyên bố về ngăn ngừa
Trang 35và Nguyên tắc cốt lõi 15 Các yếu tố chủ yếu của các tiêu chuẩn KYC được trình bày một cách chi tiết trong tài liệu này
Một điểm đáng lưu ý là những tiêu chuẩn KYC được đưa ra trong Chú ý xác đáng tới khách hàng này dự kiến đem lại cho các ngân hàng nhiều lợi ích hơn so với việc chống rửa tiền bởi nó bảo vệ sự an toàn và lành mạnh của các ngân hàng và bảo vệ tính liêm chính của các hệ thống ngân hàng Hơn nữa, bằng tài liệu này, Ủy ban Basle ủng hộ mạnh mẽ việc “chấp thuận và thực hiện các khuyến nghị của FATF, đặc biệt là những khuyến nghị liên quan đến ngân hàng”, và chủ trương rằng các tiêu chuẩn của Chú ý xác đáng tới khách hàng “phải nhất quán với các khuyến nghị của FATF” của Nhóm các ngân hàng Wolfsberg
Nhóm Wolfsberg là hiệp hội gồm 12 ngân hàng toàn cầu, chủ yếu đại diện cho các tập đoàn ngân hàng tư nhân quốc tế Nhóm được đặt tên theo địa danh Château Wolfsberg ở Đông Bắc Thụy Sỹ, nơi thành lập của Nhóm Nhóm đã đưa ra bốn bộ nguyên tắc dành cho hệ thống ngân hàng tư nhân
2.4.4 Các nguyên tắc chống rửa tiền dành cho hệ thống ngân hàng
tư nhân của nhóm Wolfsberg
Những nguyên tắc này thể hiện quan điểm của Nhóm về các hướng dẫn thích hợp để chống rửa tiền khi đối mặt với các cá nhân có thế lực và các bộ phận ngân hàng tư nhân thuộc các thể chế tài chính Những nguyên tắc này liên quan đến việc nhận dạng khách hàng, bao gồm việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi của tất cả các tài khoản và các tình huống liên quan đến việc phải tăng cường thủ tục chú ý xác đáng, ví dụ như các giao dịch bất thường hoặc đáng ngờ
Mười một nguyên tắc này bao gồm:
1 Tiếp nhận khách hàng: các chỉ dẫn chung; 2 Tiếp nhận khách hàng: các tình huống đòi hỏi phải chú ý/quan tâm nhiều hơn; 3 Cập nhật hồ sơ khách hàng; 4 Các phương pháp xác định các hoạt động bất thường hoặc đáng ngờ; 5 Theo dõi; 6 Trách nhiệm kiểm soát; 7 Báo cáo; 8 Giáo dục, tập huấn và thông tin; 9 Các yêu cầu về giữ gìn hồ sơ, sổ sách; 10 Các ngoại lệ và sai lệnh; 11 Tổ chức chống rửa tiền
Trang 362.4.5 Tuyên bố về chống tài trợ cho khủng bố Tuyên bố của nhóm Wolfsberg về chống tài trợ cho khủng bố mô tả vai trò
mà các tổ chức tài chính nên tham gia trong việc phòng chống tài trợ cho khủng bố nhằm tăng sự đóng góp của các tổ chức tài chính cho vấn đề quốc tế này Tuyên bố này nhấn mạnh việc các tổ chức tài chính cần hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc chống tài trợ khủng bố thông qua các biện pháp phòng chống, phát hiện
và chia sẻ thông tin liên quan
Tuyên bố này cũng quy định các chính sách và thủ tục “hiểu biết khách hàng” (KYC) cần được tăng cường bằng việc tìm kiếm danh sách các phần tử khủng bố đã biết hoặc thuộc dạng đáng ngờ Bên cạnh đó, các ngân hàng nên đóng vai trò tích cực trong việc giúp các chính phủ bằng cách áp dụng các biện pháp tăng cường về chú ý xác đáng tới khách hàng bất cứ khi nào phát hiện thấy các hành vi bất thường hoặc đáng ngờ Các biện pháp tăng cường chú ý xác đáng tới khách hàng là đặc biệt quan trọng khi các khách hàng tham gia vào các lĩnh vực hoặc hoạt động đã được các cơ quan có thẩm quyền nhận diện là dùng để tài trợ khủng bố Tuyên bố tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải thúc đẩy hợp tác và áp dụng Những khuyến nghị đặc biệt của FATF trên phạm vi toàn thế giới
2.4.6 Các nguyên tắc chống rửa tiền trong hệ thống ngân hàng đại lý Nhóm Wolfsberg đã thông qua 14 nguyên tắc chi phối việc thành lập và duy trì quan hệ với các ngân hàng đại lý trên thế giới Các nguyên tắc này cấm các ngân hàng quốc tế giao dịch với các “ngân hàng trá hình” Bên cạnh đó, các nguyên tắc
sử dụng cách tiếp cận dựa trên rủi ro đối với các ngân hàng đại lý được thiết kế để xác định mức độ mà một ngân hàng cần áp dụng các thủ tục chú ý xác đáng liên quan đến các khách hàng của các ngân hàng đại lý
Để đánh giá rủi ro tiềm năng, các nguyên tắc của Nhóm Wolfsberg đòi hỏi ngân hàng đại lý phải xem xét ngân hàng khách hàng về các vấn đề sau:
• Trụ sở; Chủ sở hữu và cơ cấu quản lý; Hồ sơ kinh doanh; Cơ sở khách hàng
Trang 37Hồ sơ rủi ro này là nhằm hỗ trợ các ngân hàng trong việc áp dụng các thủ tục KYC khi cung cấp các dịch vụ cho ngân hàng đại lý Các nguyên tắc cũng cụ thể hóa việc nhận dạng và theo dõi hoạt động hoặc giao dịch bất thường
2.5 Lƣợc khảo các nghiên cứu có liên quan
2.5.1 Nghiên cứu nước ngoài 2.5.1.1 Bài nghiên cứu “Money Laundering and Terrorism Financing: “Does the Saudi Arabian Financial Intelligence Unit Comply with International Standards?” của tác giả Abdulaziz Alhassan, 2011
Bài nghiên cứu giới thiệu khái quát về những nỗ lực mà chính phủ Ả rập Sau-di (KSA) trong việc làm giảm các hoạt động liên quan đến rửa tiền và tài trợ khủng bố, trong đó có việc thành lập một mô hình tổ chức cho việc chống rửa tiền
và tài trợ khủng bố và bắt buộc tất cả các ngân hàng thương mại hoạt động trong KSA phải có hệ thống AML nội bộ Đồng thời giới thiệu vể cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của SAFIU (Cơ quan phòng chống rửa tiền của KSA) Cơ quan này thực hiện 3 chức năng sau: Thứ nhất, nhận các báo cáo giao dịch đáng ngờ liên quan đến rửa tiền và tài trợ khủng bố; Thứ hai, phân tích các báo cáo này và xác định khuynh hướng, kiểu hoạt động và các chỉ số khác của hoạt động tội phạm; Thứ
ba, phổ biến các thông tin phân tích qua việc cung cấp các báo cáo đến cơ quan hành luật và cơ quan quốc tê
Bài nghiên cứu tập trung phân tích những vấn đề sau đây
- Phân tích chức năng, vai trò và nhiệm vụ của SAFIU
- SAFIU đã góp phần cung cấp thông tin cho các thành viên và các viện nghiên cứu về công tác phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố như thế nào
- Đánh giá liệu SAFIU có phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế
- Kiểm định tính hiệu quả của SAFIU và đưa ra những giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại
Tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu bằng việc đưa ra mô hình đo lường tính hiệu quả của SAFIU thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi bao gồm 2 phần chính sau:
Trang 38- Phần A: được thiết kế nhằm thống kê các dữ liệu của người tham gia khảo sát: tuổi, trình độ học vấn, tính chất công việc, kinh nghiệm và kỹ năng có được từ tham gia các khóa đào tạo
- Phần B: Các câu hỏi được thiết kế để phản ánh được quan điểm của người tham gia khảo sát theo 5 mức độ của thang đo Likert
Bảng câu hỏi được chia thành bốn phần để phù hợp với mục đích nghiên cứu:
Phần 1: Hiệu quả của SAFIU trong việc nhận và phân tích các báo cáo giao dịch đáng ngờ về rửa tiền và tài trợ khủng bố?
Phần 2: Hiệu quả của SAFIU trong việc quản trị các hoạt động phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố với các tổ chức chính phủ và tổ chức phi chính phủ như các ngân hàng và định chế tài chính?
Phẩn 3: Hiệu quả của các chính sách hợp tác quốc tế của AML và CTF giữa SAFIU và FIUs ở các quốc gia khác?
Phẩn 4: Những kiến nghị giúp SAFIU phát triển tốt hơn các chính sách phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố?
Kết quả là tác giả đưa ra kết luận rằng SAFIU phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời đưa ra những giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại của SAFIU và mô hình tổ chức phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của KSA
2.5.1.2 “Preventing Money Laundering and TerroristFinancing” của nhóm tác giả Pierre-Laurent Chatain, John McDowell, Cedric Mosset, Paul Allan Schott và Emile Van der Does de Willebois
Quyển sách của nhóm tác giả trên trình bày tổng thể về công tác phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố trên thế giới và đưa ra nhiều bài học kinh nghiệm của nhiều quốc gia Quyển sách nêu ra những vấn đề chính như sau:
- Các tiêu chuẩn quốc tế về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố đối với ngân hàng
- Mục tiêu của chế độ giám sát trong hoạt động phòng chống rửa tiền và taì trợ khủng bố
Trang 39- Trình bày những rủi ro có thể xảy ra đối với các ngân hàng liên quan đến rửa tiền và tài trợ khủng bố và phương pháp phòng ngừa
- Giới thiệu các mô hình giao dịch có nguy cơ cao và các ngành đòi hỏi phải tăng cường giám sát
2.5.2 Các nghiên cứu trong nước 2.5.2.1 Giải pháp phòng chống rửa tiền tại các NHTM Việt Nam (Phạm Huy Hùng, 2010)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Huy Hùng tập trung vào thực trạng thực hiện công tác PCRT tại các NHTM VN, chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện những tồn tại nêu ra
Tác giả trình bày các biện pháp mà hiện nay các NHTM VN đang sử dụng như:
- Công tác tổ chức: Hiện nay, mỗi ngân hàng đều bố trí một thành viên ban điều hành chịu trách nhiệm về tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật về PCRT tại đơn vị
- Về quy định nội bộ của các NHTM: Một số ngân hàng đã tiến hành xây dựng và ban hành quy chế nội bộ về PCRT làm căn cứ thực hiện công tác PCRT tại đơn vị mình
- Về ứng dụng công nghệ thông tin: Hiện nay, một số NHTM Việt Nam
đã hoàn thiện Module CIF quản lý hồ sơ khách hàng để cập nhật thường xuyên những thông tin của khách hàng
Đồng thời chỉ ra những tồn tại các NHTM VN cần khắc phục:
- Phạm vi triển khai: chưa truyền thông được hậu quả của rửa tiền nên các cơ quan, ban ngành hay các tổ chức, cá nhân khác nhìn chung chưa thực sự quan tâm, chú trọng tới công tác này; ngoài ra viêc cập nhật, theo dõi thông tin về khách hàng (CDD) và lưu giữ hồ sơ còn tồn tại nhiều hạn chế
- Về thanh tra, giám sát, các cơ quan giám sát chưa thực hiện cuộc thanh tra PCRT nào để đánh giá các hiệu quả của việc thực hiện Nghị định số 74
Trang 40Thiếu các số liệu thống kê toàn diện, gây khó khăn trong việc đánh giá tính hiệu lực của pháp luật
- Về đào tạo nguồn nhân lực, hiện nay, hầu hết các ngân hàng chưa xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức về công tác PCRT
Từ đó tác giả đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả PCRT tại các NHTM VN:
- Hoàn thiện khung pháp lý về PCRT: cần tập trung vào một số lĩnh vực như: Triển khai các biện pháp ngăn chặn có hiệu lực; tăng cường yêu cầu về thu thập và quản lý thông tin khách hàng; gia tăng hiệu lực của các báo cáo về giao dịch đáng ngờ; quản lý và giám sát
- Các ngân hàng cần xây dựng quy trình hướng dẫn cách thức thực hiện công tác PCRT tại các khâu: Mở và sử dụng tài khoản; quy định về nhận biết khách hàng, nhận biết khách hàng giản đơn và tăng cường
- Các ngân hàng cần xác định rủi ro, các dấu hiệu rửa tiền trong từng sản phẩm dịch vụ, từng hoạt động kinh doanh, giao dịch
- Hoàn thiện mô hình tổ chức toàn diện từ hội sở chính, chi nhánh đến các công ty trực thuộc trong hệ thống NHTM Việt Nam
- Giải pháp về hệ thống công nghệ hỗ trợ: Hệ thống PCRT cần phải có
2 module thiết yếu là Filtering: ngăn chặn tức thời và Profiling dành cho phân tích
2.5.2.2 Phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam (Nguyễn Thị Loan, 2016)
Mục tiêu chính của bài viết là phân tích, đánh giá các kết quả, hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hoạt động PCRT qua hệ thống ngân hàng tại Việt Nam và khuyến nghị giải pháp góp phần nâng cao tính hiệu lực của hoạt động PCRT thông qua đó ngăn ngừa hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của rửa tiền đối với quốc gia
Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích thống kê thể hiện qua các bảng số liệu, hình vẽ, sơ đồ, đồ thị Dữ liệu phân tích được thu thập từ các nguồn