1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng tại việt nam

103 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kênh chấp nhận rủi ro là một kênh mới, bên cạnh các kênh truyền thống, trong việc giải thích tác động truyền dẫn của CSTT đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế, được hiểu theo cơ ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH MAI HÙNG CƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH MAI HÙNG CƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng

Mã số : 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Ảnh hưởng của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi

ro của Ngân hàng tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Nguyễn Thị Ngọc Trang Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của Luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018

Huỳnh Mai Hùng Cường

Trang 4

MỤC MỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 2

1.6 Nội dung nghiên cứu 3

1.7 Ý nghĩa đề tài 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG 5

2.1 Ảnh hưởng của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng 5

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng khác lên hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng 27 2.2.1 Các yếu tố đặc thù ngân hàng 27

2.2.1.1 Tỷ lệ vốn hóa (Capitalization) 27

2.2.1.2 Khả năng sinh lợi (Profitability) 28

Trang 5

2.2.1.3 Hiệu quả chi phí (Efficiency) 29

2.2.1.4 Hoạt động ngoại bảng (Off-balance Sheet Items) 30

2.2.1.5 Quy mô (Size) 31

2.2.1.6 Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) 33

2.2.2 Các yếu tố kinh tế vĩ mô 33

2.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (Economic Growth) 33

2.2.2.2 Tầm quan trọng của ngân hàng (Importance of Banks) 34

2.2.2.3 Mức độ tập trung ngành ngân hàng (Concentration) 34

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 37

3.2 Mô hình nghiên cứu 38

3.3 Mô tả biến và các giả thuyết nghiên cứu 39

3.3.1 Biến phụ thuộc: Hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng 39

3.3.2 Các biến độc lập và kiểm soát 40

3.3.2.1 Tỷ lệ vốn hóa (Capitalization) 40

3.3.2.2 Quy mô (Size) 41

3.3.2.3 Khả năng sinh lợi (Profitability) 42

3.3.2.4 Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) 43

3.3.2.5 Hiệu quả chi phí (Efficiency) 44

3.3.2.6 Hoạt động ngoại bảng (Off-balance Sheet Items) 45

3.3.2.7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (Economic Growh) 46

3.3.2.8 Mức độ tập trung ngành ngân hàng 47

3.3.2.9 Tầm quan trọng của ngân hàng 47

3.3.2.10 Lãi suất 48

3.4 Phương pháp hồi quy 50

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52

Trang 6

4.1 Mô tả thống kê và ma trận tương quan 52

4.2 Kết quả hồi quy 57

4.2.1 Ảnh hưởng của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng 57

4.2.2 Ảnh hưởng tương tác giữa các đặc điểm ngân hàng và lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro ngân hàng 62

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Hàm ý chính sách 68

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NPL Non-performing loan Tỷ lệ nợ xấu

OLS Ordinary Least Square Phương pháp ước lượng bình

phương nhỏ nhất

TCTD Tổ chức tín dụng

VCSH Vốn chủ sở hữu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

BẢNG 3.1 DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG TRONG 37 BẢNG 3.2 TÓM TẮT CÁC BIẾN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 49 BẢNG 4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 53 BẢNG 4.2 MA TRẬN TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN ĐỘC LẬP VÀ BIẾN RISKA 55 BẢNG 4.3 MA TRẬN TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN ĐỘC LẬP VÀ BIẾN NPL 56 BẢNG 4.4 TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – 2016 57 BẢNG 4.5 TÁC ĐỘNG TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC ĐẶC ĐIỂM NGÂN HÀNG

VÀ LÃI SUẤT ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – 2016 64

Trang 9

TÓM TẮT

Nhằm tìm hiểu tác động của lãi suất lên hành vi chấp nhận rủi ro ngân hàng cũng như sự tương tác của các đặc điểm riêng biệt và các yếu tố kinh tế vĩ mô, luận văn sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 214 quan sát thu thập từ 22 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006-2016

Luận văn sử dụng mô hình GMM kết hợp các kiểm định AR(2) và Sargan để kết luận rằng, các kết quả nghiên cứu là đáng tin cậy và có thể sử dụng được

Kết quả luận văn cho thấy một tác động cùng chiều của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng bên cạnh các mối tương quan đa chiều của các biến

số kinh tế vĩ mô và đặc thù của mỗi ngân hàng, từ đó, đưa ra một số gợi ý nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro

Bên cạnh đó, những hạn chế về mặt số liệu hi vọng sẽ được khắc phục trong thời gian tới khi dữ liệu minh bạch và dễ tiếp cận hơn

Từ khóa: hành vi chấp nhận rủi ro, tài sản rủi ro, nợ xấu, GMM…

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế Được xem như một trung gian tài chính, ngân hàng có chức năng kết nối giữa những bên thừa vốn và những bên thiếu vốn Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng Với một thị trường chứng khoán còn non trẻ và sơ khai, hệ thống ngân hàng được xem như nơi cung ứng vốn kể cả nguồn vốn trung, dài hạn

Ngày 07/09/2008, hai nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac

và Fannie Mae buộc được chính phủ tiếp quản để tránh rơi vào tình trạng phá sản Ngày 15/09/2008, Lehman Brothers – ngân hàng đầu tư lớn thứ tư nước Mỹ đã tuyên bố phá sản, kết thúc 158 năm tồn tại Những sự kiện trên đã mở màn cho một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ sau cuộc Đại khủng hoảng những năm thập niên 1930

Khủng hoảng tài chính 2008 lan rộng từ nước Mỹ đi toàn thế giới, gây ra những hậu quả nặng nề Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nhà đất và tín dụng ở Mỹ từ những năm 2000, nằm ở những món cho vay dưới chuẩn

Tại Việt Nam, mức tăng trưởng bình quân đạt 7.8% trong giai đoạn

2002-2007 đã bị chậm lại khi cuộc khủng hoảng nổ ra, mở theo hàng loạt các vấn đề cho nền kinh tế những năm sau đó: Lạm phát lên tới 20% vào năm 2008 cùng với đó là nạn thất nghiệp, kinh tế tăng trưởng chậm lại, hàng tồn kho tăng, sức mua giảm Và hơn hết là vấn đề nợ xấu ngân hàng Đó thực sự là một vấn đề nan giải của nền kinh

tế, đặc biệt ở một nước còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng như Việt Nam

Như vậy có thể thấy rằng, một cuộc khủng hoảng từ hệ thống ngân hàng có thể gây ra những ảnh hưởng to lớn cho cả nền kinh tế Những hành vi chấp nhận rủi

ro gia tăng tại các ngân hàng có thể là mầm mống cho một cuộc khủng hoảng toàn diện Tuy nhiên, ở Việt Nam, những bài nghiên cứu về rủi ro trong hệ thống ngân

Trang 11

hàng là chưa nhiều hoặc chưa đi sâu vào một yếu tố đặc biệt nào đó, cụ thể ở đây là lãi suất, một thước đo quan trọng của nền kinh tế Do đó, tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro của Ngân hàng tại Việt Nam” cho luận văn cao học của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là nhằm tìm ra mối quan hệ giữa lãi suất và hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng tại Việt Nam Ngoài ra, luận văn cũng phân tích sự khác biệt trong từng yếu tố riêng biệt của mỗi ngân hàng và tình hình kinh tế vĩ mô có tác động lên hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng Những kết quả đạt được sẽ góp phần gợi ý cho những nhà làm chính sách trong vấn đề hạn chế và đề phòng rủi ro ngân hàng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn này đưa ra câu hỏi nghiên cứu:

- Liệu có tồn tại mối quan hệ thống kê giữa lãi suất với hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng? Nếu có, mối quan hệ này là cùng chiều hay ngược chiều? Mức độ ra sao và mạnh yếu thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Lãi suất và các biến đặc điểm cũng như kinh tế vĩ mô tác động lên việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Các ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động tại Việt Nam từ năm 2006 – 2016

1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu: Bộ dữ liệu gồm 214 quan sát từ 22 ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016 Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên trên Website của các ngân hàng và

Trang 12

các trang web của các tổ chức như worldbank.org, imf.org hay các website chuyên

về tài chính, chứng khoán như cafef.vn, vietstock.vn

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích hồi trên dữ liệu bảng Luận văn sử dụng phương pháp GMM dưới sự hỗ trợ của phần mềm Stata

1.6 Nội dung nghiên cứu

Luận văn trình bày theo năm phần:

Chương 1: Giới thiệu

Nhằm nêu rõ lý do chọn đề tài cũng như mục tiêu, đối tượng, phạm vi, dữ liệu và phương pháp và các đóng góp của luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây

Phần này tổng hợp những nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu và được trình bày theo từng quan điểm tách biệt Xem xét những yếu tố cụ thể tác động lên hành vi rủi ro qua kết quả của những nghiên cứu trước đây, từ đó cung cấp các nhìn

đa chiều và là nền tảng để dự đoán mối quan hệ giữa các biến

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Giới thiệu chi tiết bộ dữ liệu cũng như lý giải lý do lựa chọn phương pháp và mô hình nghiên cứu Ngoài ra, chương này nêu cách tính các biến và kỳ vọng về dấu đối với hành vi chấp nhận rủi ro ngân hàng

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Những kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày trong phần này, về mối tương quan dấu và mức độ của các biến, đồng thời lý giải dựa trên các lý thuyết và các kết quả thực nghiệm đã có

Chương 5: Kết luận

Phần này tóm tắt lại toàn bộ luận văn, những kết quả nghiên cứu từ đó gợi ý chính sách cũng như nhìn nhận những mặt hạn chế của luận văn và mở các hướng đi cho

Trang 13

các bài nghiên cứu sau này.

1.7 Ý nghĩa đề tài

Về lý thuyết: Cung cấp một kết quả thực nghiệm đào sâu về tác động của lãi suất cũng như các yếu tố khác lên rủi ro

Về thực tiễn: Gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến chủ

đề và gợi ý cho các nhà làm chính sách quan tâm về vấn đề rủi ro ngân hàng cách quản lý, hạn chế và phòng tránh rủi ro

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG 2.1 Ảnh hưởng của lãi suất đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng

 Quan điểm tương quan nghịch

Chấp nhận rủi ro ngân hàng quá mức thì rất đáng lên án Một hướng thảo luận gần đây chú ý đến việc liệu lãi suất tương đối thấp liệu có làm gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Nói ngắn gọn, lý thuyết này đề xuất rằng môi trường lãi suất thấp, trong khi các yếu tố khác không thay đổi, làm lợi nhuận ngân hàng và sự không đối xứng về thông tin giảm xuống Do đó, các ngân hàng phản ứng bằng cách làm giảm các tiêu chuẩn cho vay của họ, do đó nâng cao mức tài sản rủi ro trong danh mục đầu tư của họ và làm xấu đi sự cân bằng rủi ro phá sản Sau đây là một vài nghiên cứu nổi bật liên quan đến chủ đề này

Dell’ Ariccia và Marquez (2006) xem xét sự phân phối thông tin về người đi

vay ngân hàng tương tác với hành vi chiến lược của ngân hàng trong việc xác định các tiêu chuẩn cho vay (được thể hiện thông qua việc sử dụng các yêu cầu về yếu tố đảm bảo tín dụng), khối lượng cho vay và tổng thể phân phối tín dụng Trong bối cảnh các ngân hàng nhận được thông tin riêng tư về mức độ tin cậy của khách hàng, tác giả chỉ ra rằng các ngân hàng có thể nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay khi thông tin không đối xứng các ngân hàng đối mặt ở mức thấp Trong trạng thái cân bằng, việc giảm các tiêu chuẩn dẫn đến giảm giá trị danh mục đầu tư của ngân hàng, giảm lợi nhuận, và mở rộng tổng khối lượng tín dụng Hơn nữa, tác giả thấy rằng mặc dù các tiêu chuẩn thấp có thể làm tăng thặng dư chung, nhưng chúng làm tỷ lệ tài sản rủi ro trên tổng tài sản của các ngân hàng tăng lên đáng kể, cũng là làm tăng nguy

cơ mất ổn định tài chính Như vậy, thay đổi cấu trúc thông tin của thị trường có thể

có tác động đáng kể đến khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng ngay cả khi không

có bất kỳ sự thay đổi nào trong nền tảng cơ bản của nền kinh tế Tác giả tạo ra một lời giải thích mới cho mối quan hệ giữa sự bùng nổ cho vay và những giai đoạn

Trang 15

căng thẳng về tài chính được nhấn mạnh trong các nghiên cứu thực nghiệm gần đây Tức là, tác giả đưa ra một giải thích cho chuỗi tự do hoá tài chính, bùng nổ tín dụng,

và khủng hoảng ngân hàng đã xảy ra ở nhiều thị trường mới nổi

Mô hình của tác giả dự đoán mối quan hệ nghịch chiều giữa nhu cầu cho vay mới và tiêu chuẩn cho vay Điều này đã được xác nhận gián tiếp trong Asea và Blomberg (1998), những người thấy rằng các tiêu chuẩn cho vay của Hoa Kỳ có khuynh hướng thay đổi một cách có hệ thống theo chu kỳ kinh tế, với yêu cầu thế chấp tăng trong suốt sự thu hẹp chu kỳ và giảm trong giai đoạn mở rộng chu kỳ Lown và Morgan (2003) cũng thấy rằng các tiêu chuẩn cho vay được các ngân hàng

áp dụng khác nhau trong chu kỳ Gần đây hơn, Berger và Udell (2004) tìm thấy bằng chứng cho chu kỳ của các tiêu chuẩn vay liên quan đến sự thay đổi trong việc phân phối thông tin phù hợp với kết quả của Dell’ Ariccia và Marquez (2006) Mặc

dù các tác giả trước Dell’ Ariccia và Marquez (2006) tập trung vào giải thích ở cấp

độ ngân hàng, họ nhận thấy tầm quan trọng của một lý do thuộc về toàn hệ thống làm giảm bớt các tiêu chuẩn cho vay, chẳng hạn như giả thuyết dựa trên thông tin của tác giả

Mô hình của tác giả cũng dự đoán rằng giai đoạn suy thoái tài chính có nhiều khả năng xảy ra sau thời kỳ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ Chuỗi sự kiện này, trong đó có Achentina năm 1980, Chile năm 1982, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan năm 1992, Mexico năm 1994 và Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc năm 1997 là những ví dụ quan trọng nhất, đã được chứng minh bằng sự gia tăng lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng Ví dụ, Demirguc-Kunt và Detragiache (1998) tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng cho vay bùng nổ trước những đợt khủng hoảng ngân hàng Gourinchas, Valdes và Landerretche (2001) kiểm tra một số lượng lớn các giai đoạn bùng nổ cho vay và thấy rằng xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng sẽ tăng đáng kể sau những giai đoạn như vậy Hơn nữa, điều kiện của việc có một cuộc khủng hoảng ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào kích thước của sự bùng nổ

Theo Rajan (2006) sự phát triển trong lĩnh vực tài chính đã dẫn tới việc mở

Trang 16

rộng khả năng lan truyền rủi ro Việc tăng khả năng chịu rủi ro của các nền kinh tế, cũng như trong việc thực hiện rủi ro thực tế đã dẫn đến một loạt các giao dịch tài chính mà trước đây không thể thực hiện và đã tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp và hộ gia đình Trên tổng thể, điều này đã làm cho thế giới tốt hơn nhiều Đồng thời, chúng ta cũng thấy sự nổi lên của một loạt các trung gian tài chính có quy mô lớn và bị hấp dẫn bởi rủi ro có thể lan rộng trong chu kỳ kinh tế Các trung gian này không những có thể làm bật lên sự biến động thực sự, mà còn mạo hiểm với một số rủi ro xác suất nhỏ mà hành vi của họ có làm khả năng xảy ra biến động lớn hơn Do đó, trong một số điều kiện, các nền kinh tế có thể trong tình trạng nguy hiểm nhiều hơn với những rối loạn do khu vực tài chính gây ra hơn trước đây

Các nhà đầu tư có thể có những lựa chọn sai lầm Đầu tiên là người quản lý che giấu động cơ chấp nhận rủi ro trước các nhà đầu tư - vì rủi ro và lợi nhuận có liên quan, người quản lý trông như thể tạo ra kết quả tốt ngang với rủi ro Thông thường, các loại rủi ro có thể bị che giấu là những rủi ro tạo ra những hậu quả xấu nghiêm trọng với xác suất nhỏ nhưng bù lại sẽ hứa hẹn lợi nhuận cao trong suốt thời gian đầu tư còn lại Những rủi ro này được gọi là rủi ro đuôi

Hình thức thứ hai của hành vi lựa chọn sai lầm là động cơ bầy đàn chạy theo các nhà quản lý đầu tư khác trong lựa chọn đầu tư, bởi vì bầy đàn mang đến sự bảo hiểm cho người quản lý rằng sẽ không có kết quả thấp hơn so với những nhà quản

lý khác Hành vi bầy đàn có thể đẩy giá tài sản ra khỏi nguyên tắc cơ bản

Các nhà quản lý khác nhau có thể bị ảnh hưởng bởi những biến dạng này ở một mức độ khác nhau - những người còn trẻ và chưa được trải nghiệm có thể sẽ chấp nhận nhiều rủi ro đuôi, trong khi những người đã trải nghiệm thì có xu hướng bầy đàn nhiều hơn Nếu hành vi bầy đàn làm di chuyển giá tài sản đi xa khỏi nguyên tắc cơ bản, thì khả năng tự sắp xếp lại lớn - chính xác là loại gây tổn thất đuôi - tăng lên Một thành phần cuối cùng có thể làm cho hỗn hợp trở nên bất ổn, đó

là lãi suất thấp sau một thời gian có lãi suất cao Một môi trường có lãi suất thấp sau

Trang 17

một thời gian có lãi suất cao là một vấn đề đặc biệt khó giải quyết, vì không chỉ khuyến khích một số người tham gia "tìm kiếm lợi nhuận" tăng lên mà còn cả giá tài sản có thể dẫn đến tăng xoắn ốc, tạo ra một sự tự sắp xếp lại nhanh và lộn xộn Sau đây là một số ví dụ

Ví dụ 1: Các công ty bảo hiểm có thể đã thực hiện các cam kết về lãi suất cố định Khi lãi suất giảm, họ có thể không còn lựa chọn nào khác ngoài tìm kiếm các khoản đầu tư có rủi ro hơn - nếu họ giữ lãi thấp nhưng đầu tư an toàn, họ có thể sẽ không trả nợ đúng cam kết của mình, trong khi nếu họ chấp nhận đầu tư rủi ro cao hơn, họ có cơ hội sống sót Hiện tượng này, được gọi là chuyển dịch rủi ro (ví dụ, Jensen và Meckling (1976)), có xu hướng khiến cho người tham gia bỏ qua loạt rủi

ro giảm (bao gồm cả sự thiếu thanh khoản) vì sự chú ý của họ tập trung vào xu hướng tăng Tất nhiên, nếu lãi suất phi rủi ro bắt đầu quay trở lại, các công ty bảo hiểm có thể đáp ứng các nghĩa vụ nợ mà không chấp nhận rủi ro quá mức Vì vậy,

họ có động lực để tìm kiếm rủi ro khi lãi suất thấp và trở nên bảo thủ hơn khi chúng

có thể thấp trong những thời điểm đó, các nhà quản lý quỹ có thể tăng lợi nhuận bằng cách tăng thêm đòn bẩy khi đi vay Khi làm như vậy, họ cũng làm tăng rủi ro Bên cạnh động cơ của các nhà quản lý thay đổi, số lượng vốn đầu tư mạo hiểm cũng

có thể tăng lên khi lãi suất thấp Các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và các khoản tài trợ có thể xem xét đầu tư vào các quỹ đầu cơ nhằm tăng lợi nhuận Các quỹ đầu tư mạo hiểm có khả năng thu hút dòng chảy đáng kể, không chỉ bởi vì chúng cởi mở,

Trang 18

Borio và Zhu (2012) đưa ra một số phản ánh rộng hơn về các đặc tính của cơ

chế truyền dẫn dưới sự tiến hóa của cơ chế truyền dẫn hệ thống tài chính Tác giả cho rằng các lý thuyết cho đến nay vẫn chưa tập trung đủ vào cái gọi là "kênh chấp nhận rủi ro" (được giới thiệu lần đầu vào năm 2008) trong cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ, được định nghĩa là ảnh hưởng của những thay đổi trong lãi suất chính sách tiền tệ tác động lên cả khẩu vị rủi ro hoặc khả năng chấp nhận rủi ro và

do đó lên mức độ rủi ro trong danh mục đầu tư Có nhiều cách trong đó kênh chấp nhận rủi ro có thể hoạt động

Kênh đầu tiên là một tập hợp ảnh hưởng thông qua tác động của lãi suất lên việc định giá rủi ro, thu nhập và dòng tiền Ví dụ như lãi suất thấp hơn, làm tăng giá trị tài sản và giá trị thế chấp cũng như thu nhập và lợi nhuận, từ đó có thể làm giảm nhận thức về rủi ro và / hoặc tăng khả năng chịu rủi ro Việc giảm lãi suất sẽ làm tăng giá trị ròng của người vay, làm giảm xác suất vỡ nợ dự kiến và cho phép khách hàng vay nợ nhiều hơn và mở rộng đầu tư Một loại hiệu ứng cấp số nhân phát sinh,

kể từ khi đẩy mạnh đầu tư làm tăng giá tài sản, tiếp tục đẩy mạnh giá trị ròng và đầu

tư Thêm vào đó, sự mất cân bằng giá tài sản tăng dần phụ thuộc vào mức độ nhận thức và định giá rủi ro không đầy đủ, có xu hướng gia tăng cùng với cường độ giảm lãi suất cũng như thời gian duy trì môi trường lãi suất thấp

Một tập hợp ảnh hưởng thứ hai hoạt động thông qua mối quan hệ giữa lãi suất thị trường và lãi suất lợi nhuận mục tiêu (BIS, 2004, Rajan, 2005) Ví dụ, việc giảm lãi suất có thể tác động tới các mục tiêu sinh lợi cao đặc biệt dưới con số danh nghĩa, như với các quỹ hưu trí hoặc công ty bảo hiểm có nghĩa vụ nợ danh nghĩa theo lãi suất cố định dài hạn được xác định trước, và để gia tăng mức độ chịu đựng rủi ro, ảnh hưởng “tìm kiếm lợi nhuận” phát sinh, chấp nhận rủi ro cao hơn để sinh lợi cao hơn Tác động của kênh này có thể sẽ mạnh hơn khi khoảng cách giữa lãi suất thị trường và mục tiêu là rất lớn Trong trường hợp lãi suất danh nghĩa rất thấp càng có ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận của các mục tiêu sinh lợi trên

Theo Hà Thị Sáu và Phạm Thị Hoàng Anh (2014), cơ chế truyền dẫn của

Trang 19

CSTT là một tập hợp những phản ứng dây chuyền các biến số vĩ mô khởi đầu từ những thay đổi của các điều kiện tiền tệ Những phản ứng này tạo nên hệ thống

“kênh” tác động đa phương tới nền kinh tế, trong đó có 2 mục tiêu cuối cùng trong điều hành CSTT đó là ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế Nếu như cơ chế kiểm soát điều kiện tiền tệ chịu sự chi phối trực tiếp của NHTW thông qua việc lựa chọn

hệ thống mục tiêu trung gian và công cụ CSTT thì cơ chế truyền dẫn tác động của CSTT mang tính khách quan Theo Mishkin (2011), cơ chế truyền dẫn CSTT thường bao gồm các kênh đó là: kênh tín dụng, kênh lãi suất, kênh tỷ giá, kênh giá tài sản và kênh kỳ vọng Kênh chấp nhận rủi ro là một kênh mới, bên cạnh các kênh truyền thống, trong việc giải thích tác động truyền dẫn của CSTT đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế, được hiểu theo cơ chế như sau: Khi lãi suất được duy trì

ở mức thấp trong một khoảng thời gian đủ dài, các TCTD mở rộng tín dụng và tăng đầu tư, từ đó tác động tới các chủ thể khác trong nền kinh tế và làm nền kinh tế tăng trưởng Lãi suất thấp được duy trì trong thời gian dài thông qua nới lỏng CSTT không những khuyến khích ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng như mô tả trong kênh cấp tín dụng truyền thống mà còn khuyến khích các ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao hơn (Altunbas và cộng sự, 2010) Hành vi này của các ngân hàng nếu không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới sự mất cân bằng giữa khả năng và mức độ chấp nhận rủi ro, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hệ thống Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của kênh chấp nhận rủi ro, một kênh mới trong truyền dẫn CSTT Cụm

từ “chấp nhận rủi ro” hàm ý ngân hàng đã chấp nhận một mức rủi ro cao hơn trong việc cung cấp tín dụng ra nền kinh tế Đối với quốc gia có nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào vốn tín dụng ngân hàng thì vai trò của hệ thống tổ chức tín dụng trong việc truyền dẫn CSTT qua các kênh chấp nhận rủi ro là rõ ràng Với sự lý giải đó, kênh chấp nhận rủi ro vừa có thể coi là một kênh độc lập, vừa có thể coi là một nhánh phụ thuộc của kênh tín dụng hoặc kênh lãi suất trong cơ chế truyền dẫn truyền thống của CSTT

Jimenez, Ongena, Peydro và Saurina (2008) xác định tác động của lãi suất

ngắn hạn lên chấp nhận rủi ro tín dụng bằng cách phân tích Tây Ban Nha, một quốc

Trang 20

gia mà trong 20 năm qua, chính sách tiền tệ lệ thuộc vào bên ngoài Tác giả sử dụng Spanish Credit Register, một bộ số liệu duy nhất và toàn diện bao gồm hầu hết các hợp đồng cho vay kinh doanh từ 23 năm qua, và sử dụng lãi suất ngắn hạn do Ngân hàng Bundesbank mà đứng đằng sau đó có ảnh hưởng chính là ECB, do đó ngoại sinh, đo lường lập trường của chính sách tiền tệ

Lãi suất thấp hơn có thể giảm thiểu nguy cơ rút tiền gửi (Diamond and Rajan (2006)), giảm bớt các vấn đề lựa chọn bất lợi trên thị trường tín dụng (Dell'Ariccia and Marquez (2006)) hoặc nâng cao giá trị ròng của ngân hàng (Stiglitz and Greenwald (2003)), cho phép các ngân hàng nới lỏng điều kiện cho vay và gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro tín dụng Các mức lãi suất ngắn hạn thấp có thể làm cho tài sản phi rủi ro ít hấp dẫn hơn đối với các tổ chức tài chính và dẫn đến việc tìm kiếm mục tiêu sinh lời “search-for-yield” (Rajan (2006)) Mặt khác, lãi suất cao hơn làm tăng chi phí cơ hội cho các ngân hàng nắm giữ tiền mặt, do đó làm cho các lựa chọn thay thế nhiều rủi ro hấp dẫn hơn (Smith (2002)), hoặc có thể làm giảm giá trị tài sản hoặc giá trị điều lệ của ngân hàng đủ để làm một chiến lược "ván cờ phục hồi" (Kane (1989) và Hellman, Murdock và Stiglitz (2000)), do đó ảnh hưởng của lãi suất ngắn hạn đối với rủi ro tín dụng nưhư thế nào - cuối cùng là một câu hỏi thực nghiệm quan trọng chưa được nêu ra

Kiểm soát các điều kiện kinh tế vĩ mô và các đặc điểm của ngân hàng, cho vay và khách hàng vay, tác giả tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng trước khi cho vay, lãi suất ngắn hạn thấp hơn thúc đẩy các ngân hàng giảm bớt tiêu chuẩn cho vay của họ và cho vay nhiều hơn đối với người vay có lịch sử tín dụng xấu hoặc không có Quan trọng hơn, sau khi mở rộng tiền tệ, các ngân hàng cũng muốn chấp nhận nhiều rủi ro tín dụng hơn (Smith (2002), Stiglitz và Greenwald (2003), Diamond and Rajan (2006), Dell'Ariccia và Marquez (2006), Rajan (2006) và Borio

và Zhu (2007)

Trường hợp khoản vay đã được cấp, lãi suất thấp hơn hàm ý rủi ro tín dụng thấp hơn, tức là lãi suất thấp hơn làm giảm rủi ro tín dụng của các khoản vay còn dư

Trang 21

nợ, vì chi phí tái cấp vốn thấp hơn và giá trị tài sản của người đi vay cao hơn và do

đó rủi ro tín dụng thấp hơn Do đó, có một tác động hoàn toàn khác của việc giảm lãi suất lên rủi ro tín dụng đối với các khoản vay còn dư nợ

Tóm lại, trong ngắn hạn, lãi suất ngắn hạn thấp hơn làm giảm tổng rủi ro tín dụng của các ngân hàng do khối lượng dư nợ đã cho vay lớn hơn khối lượng cho vay mới Về trung hạn, lãi suất thấp hơn có thể làm tăng rủi ro tín dụng trong nền kinh tế Đặc biệt, thời kỳ lãi suất thấp (mở rộng tiền tệ) theo sau bởi một sự thu hẹp tiền tệ nghiêm ngặt làm tăng tối đa rủi ro tín dụng Mặt khác, nếu theo sau bởi một

sự sụt giảm mạnh về lãi suất sẽ làm giảm tổng rủi ro tín dụng do đó có thể giảm tình trạng khủng hoảng tín dụng

Tác động của chính sách tiền tệ lên việc chấp nhận rủi ro không giống nhau đối với tất cả các ngân hàng: Các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng có thanh khoản và các ngân hàng thương mại gặp nhiều rủi ro hơn khi lãi suất thấp Ngoài ra, nhiều công ty mới và cạnh tranh gay gắt trên thị trường tăng cường ảnh hưởng của lãi suất đối với chấp nhận rủi ro tín dụng ngân hàng (Dell'Ariccia và Marquez (2006) và Keeley (1990))

Tác giả cũng thấy rằng lãi suất dài hạn có ảnh hưởng yếu hơn đến chấp nhận rủi ro tín dụng hơn là lãi suất ngắn hạn, có thể bởi vì các ngân hàng cho vay chủ yếu dựa vào nợ ngắn hạn (Diamond và Rajan (2006)

Ioannidou, Ongena và Peydro (2009) nghiên cứu kênh chấp nhận rủi ro của

chính sách tiền tệ ở Bolivia, một quốc gia có thu nhập thấp, nơi những thay đổi về tiền tệ được truyền dẫn ngoại sinh từ Mỹ Tác giả thấy rằng một lãi suất chính sách thấp hơn khuyến khích việc cho vay rủi ro hơn đối với khách hàng vay với lịch sử tín dụng xấu hơn, xếp hạng tín dụng thấp hơn và hiệu quả sau cho vay yếu hơn (đặc biệt khi lãi suất tăng lên sau đó) Ảnh hưởng sẽ cao hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ vay vốn từ nhiều ngân hàng (phát sinh vấn đề đại diện) Để xác định duy nhất việc chấp nhận rủi ro, tác giả đánh giá mức độ thế chấp, lợi nhuận kỳ vọng và phí thưởng rủi ro (chênh lệch lãi suất giữa người vay có rủi ro cao hơn và người vay có

Trang 22

rủi ro thấp) của các khoản cho vay rủi ro hơn mới được cấp, nhận thấy rằng lợi nhuận và phí thưởng rủi ro từ các người vay này thực sự thấp hơn, đặc biệt là tại các ngân hàng gặp phải vấn đề đại diện

Tác giả phân tích tác động của chính sách tiền tệ lên việc chấp nhận rủi ro cho vay, định giá rủi ro tăng thêm (phí thưởng rủi ro) và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng bằng cách truy cập vào trang đăng ký tín dụng duy nhất, chi tiết của Bolivia từ năm 1999 đến năm 2003 Trong thời kỳ này, đồng peso của Bolivia được gắn với đồng đô la Mỹ, hiếm có hạn chế nào trong tài khoản vốn Bolivia, và hệ thống ngân hàng gần như hoàn toàn bị đô la hóa Ngoài ra, chu kỳ kinh doanh Bolivia và lãi suất quỹ dự trữ liên bang Hoa Kỳ không tương quan nhau Lãi suất quỹ dự trữ liên bang Mỹ do đó là một thước đo chính xác về lập trường chính sách tiền tệ ở Bolivia và ngoại sinh với điều kiện kinh tế địa phương Do đó, sử dụng lãi suất quỹ dự trữ liên bang Mỹ và trang đăng ký tín dụng Bolivian chi tiết, tác giả có thể kiểm tra xem liệu rằng và bằng cách nào lãi suất chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến chấp nhận rủi ro cho vay của ngân hàng, định giá rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng

Tác giả thấy rằng lãi suất chính sách tiền tệ thấp hơn làm tăng mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Kiểm soát các đặc tính của ngân hàng và công ty và

sự không đồng nhất không quan sát được, mối quan hệ giữa ngân hàng-doanh nghiệp, các khoản vay, và các đặc điểm thị trường ngân hàng và các điều kiện kinh

tế vĩ mô, sự giảm lãi suất quỹ dự trữ liên bang Mỹ khiến các ngân hàng cho vay mới với các người vay có rủi ro hơn với lịch sử không tốt trong quá khứ hoặc xếp hạng tín dụng thấp mà ngân hàng đã biết về những điều này

Thời điểm có rủi ro tín dụng cao nhất là khi lãi suất của chính sách tiền tệ thấp và tăng đáng kể trong suốt thời gian cho vay, như trường hợp ở Hoa Kỳ và Châu Âu trong giai đoạn 2002-2007 trước khi bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ những năm 1930, ở Nhật Bản vào những năm 1980, hoặc ở Mỹ trong những năm 1920 Do đó, những phát hiện của tác giả có những hệ lụy quan trọng đối với rủi ro tín dụng ngân hàng khi Mỹ và châu Âu để lại mức lãi suất chính

Trang 23

sách tiền tệ cực thấp đã được áp dụng từ năm 2008 và trở lại mức bình thường trong lịch sử

Tác giả nhận thấy rằng đặc biệt là các ngân hàng có nhiều tài sản thanh khoản, ít tài trợ từ các tổ chức tài chính nước ngoài, tỷ lệ vốn thấp hơn và nợ xấu thì

có rủi ro nhiều hơn các ngân hàng khác và định giá rủi ro tăng thêm thậm chí thấp hơn những ngân hàng khác, và còn thấp rõ ràng hơn đối với các ngân hàng có nhiều rủi ro đạo đức khi giao dịch với các công ty nhỏ có nhiều quan hệ với các ngân hàng khác, cho thấy một mối liên hệ nhân quả từ lãi suất chính sách thấp lên việc chấp nhận rủi ro quá mức

Brissimis và Delis (2009) quan tâm nhiều hơn đến việc liệu các biến động

chính sách tiền tệ có làm sai lệch hành vi của ngân hàng đối với việc cho vay và quyết định rủi ro dựa trên đặc điểm nội bộ ngân hàng Tính không đồng nhất trong phản ứng của các ngân hàng đối với một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ là một yếu tố quan trọng trong việc truyền tải chính sách này qua các ngân hàng Tác giả xem xét vai trò của tính thanh khoản, vốn hóa và sức mạnh thị trường của các ngân hàng như là các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến phản ứng của các ngân hàng trong việc cho vay và chấp nhận rủi ro đối với các động thái của chính sách tiền tệ Tác động cuối cùng của việc thay đổi chính sách tiền tệ đối với hoạt động của ngân hàng cũng được xem xét Phân tích thực nghiệm, sử dụng bộ dữ liệu bảng lớn cho Hoa

Kỳ và khu vực đồng euro, làm sáng tỏ các nguồn gốc khác biệt trong phản ứng của các ngân hàng đối với những thay đổi trong lãi suất chính sách bằng cách phân tách xuống cấp độ ngân hàng riêng lẻ Điều này đạt được bằng cách sử dụng kỹ thuật Local GMM cũng cho phép định lượng mức độ không đồng nhất trong cơ chế truyền dẫn Kết quả của tác giả như sau:

- Tác động của thay đổi chính sách tiền tệ đối với cho vay, rủi ro và khả năng sinh lời của ngân hàng sẽ giảm (tăng) với mức thanh khoản ngân hàng cao hơn (thấp hơn)

- Tác động của thay đổi chính sách tiền tệ đối với cho vay ngân hàng, chấp

Trang 24

nhận rủi ro và khả năng sinh lợi sẽ giảm (tăng) với mức vốn hóa ngân hàng cao hơn (thấp hơn)

- Tác động của thay đổi chính sách tiền tệ lên cho vay, rủi ro và khả năng sinh lợi của ngân hàng sẽ giảm (tăng) với mức độ sức mạnh thị trường ngân hàng cao hơn (thấp hơn)

Khi các ngân hàng có vai trò đặc biệt trong việc tài trợ cho các hoạt động kinh tế (Ashcraft, 2005), hành vi không đồng nhất của họ có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách Phân tích hiện tại cho thấy các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh hơn và có sức mạnh thị trường theo các chiến lược khác với những ngân hàng có tình hình tài chính yếu hơn, và trong một số trường hợp, họ dường như có lợi thế từ thị trường Tuy nhiên, khi nói về chấp nhận rủi ro và khả năng sinh lợi, người ta thường biết rằng trong những giai đoạn bất ổn định về tài chính, sức mạnh của ngay cả các ngân hàng lành mạnh cũng nhanh chóng xấu đi và các ngân hàng có rủi ro cao có thể trở nên mất khả năng thanh toán

Theo Altunbas, Gambacorta và Marqués (2010) nhận định, cuộc khủng

hoảng tín dụng hiện nay đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đến một khía cạnh mới của cơ chế truyền dẫn tiền tệ, kênh chấp nhận rủi ro (Rajan, 2005; Borio và Zhu, 2008) Cơ chế qua đó chính sách tiền

tệ có thể tác động đến hành vi chấp nhận rủi ro của các bên tham gia thị trường là phức tạp và bao gồm ít nhất hai khía cạnh Khía cạnh đầu tiên là khuếch đại "gia tốc tài chính" vì chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng đến việc định giá tài sản thế chấp, giá tài sản và dòng tiền, do đó tăng khả năng chịu rủi ro và khuyến khích các ngân hàng cho vay các khách hàng nhiều rủi ro hơn Khía cạnh thứ hai là quá trình "tìm kiếm lợi nhuận", đặc biệt là trong trường hợp các thành viên tham gia thị trường phải đối phó với lợi nhuận mục tiêu danh nghĩa cứng nhắc Hai yếu tố này có thể được khuếch đại nếu các bên nhận thức rằng chính sách tiền tệ được nới lỏng

Sự mở rộng kinh tế bắt đầu vào năm 2002 được mô tả bởi sự tồn tại của lãi

Trang 25

suất chính sách tiền tệ thấp, giá tài sản rất cao và nhận thức rủi ro ngắn hạn thấp, ba điều kiện có thể làm tăng hiệu quả của "gia tốc tài chính" Thêm vào đó, nhiều bằng chứng cho thấy "quy trình tìm kiếm lợi nhuận " có thể làm tăng nhu cầu của các ngân hàng đối với tài sản rủi ro hơn với lợi nhuận dự kiến cao hơn (Panetta và Angelini, 2009)

Tác giả nghiên cứu kênh chấp nhận rủi ro của chính sách tiền tệ ở cấp độ toàn cầu bằng cách sử dụng một cơ sở dữ liệu toàn diện của các ngân hàng được niêm yết Mẫu của tác giả bao gồm thông tin hàng quý cho tất cả các ngân hàng được niêm yết hoạt động tại Liên minh châu Âu (EU15) và Hoa Kỳ trong và trước giai đoạn khủng hoảng tài chính Tác giả tìm thấy bằng chứng của một liên kết có ý nghĩa giữa sự nới lỏng chính sách tiền tệ và chấp nhận rủi ro ngân hàng Lãi suất thấp được duy trì trong thời gian dài thông qua nới lỏng chính sách tiền tệ không những khuyến khích ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng có nhiều rủi ro hơn mà còn khuyến khích các ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao hơn trong việc tìm kiếm lợi nhuận Ý nghĩa chính sách chủ yếu của kết quả này là các hoạt động của ngân hàng trung ương có ảnh hưởng đến thái độ của ngân hàng và chính sách tiền tệ không hoàn toàn trung lập từ quan điểm ổn định tài chính

Sử dụng một bộ số liệu các tiêu chuẩn cho vay của khu vực Euro và ngân

hàng Mỹ, Maddaloni và Peydro (2010) nhận thấy rằng các mức lãi suất ngắn hạn

(chính sách tiền tệ) thấp làm giảm tiêu chuẩn cho vay hộ gia đình và doanh nghiệp

Sự giảm tiêu chuẩn - đặc biệt đối với các khoản thế chấp - được khuếch đại bởi hoạt động chứng khoán hóa, giám sát vốn ngân hàng yếu kém và lãi suất chính sách tiền

tệ quá thấp trong thời gian quá dài Ngược lại, lãi suất dài hạn thấp không làm giảm tiêu chuẩn cho vay Cuối cùng, các quốc gia giảm tiêu chuẩn cho vay trước cuộc khủng hoảng có kết quả kinh tế tồi tệ hơn sau đó Những kết quả này giúp làm sáng

tỏ nguồn gốc của cuộc khủng hoảng và có ý nghĩa chính sách quan trọng

Phân tích tiêu chuẩn cho vay của cả khu vực đồng Euro và Hoa Kỳ, tác giả thấy có bằng chứng rõ ràng rằng lãi suất ngắn hạn chính sách tiền tệ thấp làm giảm

Trang 26

tiêu chuẩn cho vay hơn là lãi suất dài hạn thấp Hoạt động chứng khoán hoá cao, giám sát vốn ngân hàng yếu kém và lãi suất chính sách tiền tệ quá thấp trong thời gian quá dài làm khuếch đại ảnh hưởng giảm tiêu chuẩn vay của lãi suất chính sách tiền tệ thấp, đặc biệt là đối với các khoản cho vay thế chấp Hơn nữa, tác giả cung cấp bằng chứng gợi ý rằng lãi suất chính sách tiền tệ quá thấp trong thời gian quá dài làm giảm nhẹ các tiêu chuẩn cho vay và sau đó làm tăng lên tài sản có rủi ro của ngân hàng là yếu tố chính dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính và có thể gây ra giảm tín dụng ngân hàng, khủng hoảng tài chính thực tế

Mức lãi suất ngắn hạn thấp đi trước nhiều cuộc khủng hoảng tài chính đã thực sự có trong lịch sử (Calomiris, 2008) Trong cuộc khủng hoảng gần đây, tác động của lãi suất CSTT thấp có thể thậm chí còn lớn hơn do sự thống nhất của ba yếu tố: sự phụ thuộc mạnh mẽ vào nghĩa vụ nợ ngắn hạn làm đòn bẩy tài chính, sự giám sát vốn ngân hàng yếu kém và mức độ đổi mới tài chính cao (phần lớn do chứng khoán hóa) Kết quả của tác giả chỉ ra rằng tác động giảm tiêu chuẩn vay của các yếu tố này đã được khuếch đại bởi sự tương tác của chúng trước cuộc khủng hoảng gần đây Hơn nữa, lãi suất chính sách tiền tệ thấp có thể là một nhân tố quan trọng trong việc chấp nhận rủi ro khi thanh khoản vốn cho các ngân hàng phần lớn

là ngắn hạn (và do đó phụ thuộc vào chính sách tiền tệ) và sự có mặt của các vấn đề đại diện của ngân hàng có thể làm cho thanh khoản dồi dào trở thành sự giảm tiêu chuẩn cho vay quá mức

Nhìn chung, những phát hiện của tác giả giúp làm sáng tỏ nguồn gốc của cuộc khủng hoảng gần đây, cụ thể, kết quả cho thấy rằng lãi suất chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính

Theo Paligorova và Jimenez (2012), loại hành vi gây ra - sự gia tăng mong

muốn đối với rủi ro gây ra ảnh hưởng tìm kiếm các tài sản đầu tư và các chiến lược tạo ra thu nhập đầu tư cao hơn - được gọi là kênh chấp nhận rủi ro của chính sách tiền tệ Thông qua kênh chấp nhận rủi ro, thời gian kéo dài lãi suất thấp có thể khiến các ngân hàng tăng nguồn cung tín dụng cho những người vay vốn có rủi ro hơn,

Trang 27

dẫn đến sự gia tăng tổng thể rủi ro trong danh mục cho vay ngân hàng Trong thời

kỳ lãi suất thấp, các ngân hàng có thể không điều chỉnh đầy đủ kỳ vọng của họ về lãi suất trong tương lai, giả định rằng thay vào đó lãi suất sẽ vẫn thấp trong một thời gian dài tiếp theo Nghiên cứu về kênh chấp nhận rủi ro tại Canada cho thấy trong thời gian mà lãi suất tương đối thấp, các ngân hàng có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn thì tính phí người vay rủi ro tương đối ít hơn so với trong thời gian lãi suất cao, tức là sự chênh lệch giữa tổng chi phí vay đối với người vay rủi ro cao và rủi ro thấp sẽ giảm dần trong giai đoạn NHTW duy trì mức lãi suất thấp so với giai đoạn có mức lãi suất cao Cụ thể, mức chênh lệch này trong giai đoạn lãi suất thấp

là thấp hơn 48% so với giai đoạn lãi suất cao Khả năng sẵn sàng chấp nhận rủi ro là một trong những nhân tố góp phần làm cho chi phí vay vốn ngân hàng đối với nhóm khách hàng có mức độ rủi ro cao sẽ rẻ hơn tương đối so với nhóm khách hàng có mức độ rủi ro thấp trong giai đoạn lãi suất duy trì mức thấp trong thời gian dài Chính vì vậy môi trường lãi suất thấp được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây

Delis và Kouretas (2011) nghiên cứu phân tích thực nghiệm liệu có mối

tương quan ngược giữa mức lãi suất và rủi ro ngân hàng hay không ở 16 quốc gia thuộc khu vực đồng euro trong giai đoạn 2001-2008 Theo tác giả, cần có nhiều nghiên cứu hơn về mối liên hệ lãi suất - rủi ro ngân hàng và nghiên cứu của tác giả nhằm mục đích đóng góp mảng nghiên cứu này theo ba cách

Thứ nhất, tác giả quan tâm nhiều hơn đến sự diễn biến cụ thể về mức lãi suất trong giai đoạn sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9, vì các nhà quan sát và các nhà phân tích liên kết những diễn biến này với tình trạng bất ổn về tài chính gần đây

đã kéo đến cuộc suy thoái Rõ ràng, tác giả quan tâm đến mức lãi suất, chứ không phải về thay đổi chính sách tiền tệ, mặc dù tác giả cũng tiến hành phân tích độ nhạy trên mặt trận này Tác giả tin rằng một phân tích thực nghiệm về mức lãi suất thì gần với các lý thuyết của Dell 'Ariccia và Marquez (2006) và Rajan (2006) hơn vì một chính sách tiền tệ mở rộng vẫn có thể hàm ý mức lãi suất tương đối cao

Trang 28

Thứ hai, thay vì tập trung vào một nền kinh tế đơn lẻ, tác giả sử dụng một bộ

dữ liệu quốc tế lớn, bao gồm tổng cộng 3628 ngân hàng hoạt động trong khu vực đồng euro trong giai đoạn 2001-2008 (tổng số quan sát là hơn 18000) Sự phong phú của bộ dữ liệu này cho phép đưa ra những kết luận chung về các cân nhắc lý thuyết được thảo luận ở trên và liên quan đến những kết luận đối với suy thoái kinh

tế

Thứ ba, quan điểm của tác giả đối với mối quan hệ nhiều hơn là từ phía hành

vi của ngân hàng và ít hơn từ phía mục tiêu chính sách của ngân hàng trung ương

Do vậy, tác giả ước tính các phương trình rủi ro trực tiếp từ tài liệu về các yếu tố quyết định rủi ro ngân hàng, nơi tác động của môi trường pháp lý và giám sát được kiểm soát trực tiếp

Khu vực đồng euro có vẻ là một thiết lập lý tưởng để cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp xác định mối liên hệ giữa lãi suất và rủi ro ngân hàng Khi hình thành các lãi suất của ngân hàng trung ương, rõ ràng hơn Quỹ dự trữ liên bang Hoa

Kỳ, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả xếp trên tất cả các mục tiêu tiềm năng khác Vì vậy, chính sách tiền tệ trong khu vực đồng euro đã không được ECB xem xét, ít nhất cho đến gần đây, như là một cơ chế

có thể làm suy giảm hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng hoặc thay đổi cấu trúc của các hoạt động mang lại rủi ro Trên thực tế, trách nhiệm trực tiếp về giám sát ngân hàng và ổn định tài chính chủ yếu thuộc về các cơ quan có thẩm quyền của mỗi quốc gia thành viên EU, và Hiệp ước Roma chỉ giao cho Hệ thống Ngân hàng Trung ương châu Âu nhiệm vụ “góp phần vào việc thực hiện ổn định chính sách được theo đuổi bởi các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến giám sát an toàn của các tổ chức tín dụng và sự ổn định của hệ thống tài chính” Do đó, các quyết định về lãi suất không bị ảnh hưởng trong giai đoạn lấy mẫu của tác giả do diễn biến trong khu vực ngân hàng thuộc khu vực đồng euro và ECB được xem xét, chính sách tiền

tệ và giám sát ngân hàng là hai nhiệm vụ khác biệt rõ rệt

Tuy nhiên, các vấn đề nhận dạng trong mối quan hệ giữa lãi suất và rủi ro

Trang 29

ngân hàng có thể vẫn còn tồn tại nếu người ta cho rằng (i) cả hai biến số này đều bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế vĩ mô chung và (ii) lãi suất của các ngân hàng riêng lẻ có thể nội sinh trong các quyết định về chấp nhận rủi ro của các ngân hàng này Hơn nữa, (iii) các nghiên cứu hiện tại về các yếu tố quyết định rủi ro ngân hàng cho thấy rủi ro ngân hàng bị ảnh hưởng bởi rủi ro thời kỳ trước Tác giả giải quyết vấn đề đầu tiên và thứ ba bằng các phương pháp ước tính thích hợp và thông qua các phân tích độ nhạy khác nhau và vấn đề thứ hai bằng cách sử dụng bộ dữ liệu bảng ngân hàng lớn như trong các nghiên cứu liên quan đến kênh cho vay ngân hàng (Kashyap và Stein, 2000; Ashcraft, 2006)

Nhìn chung, những nghiên cứu gần đây cho thấy môi trường lãi suất thấp từ đầu đến giữa những năm 2000 như là một yếu tố đã khởi đầu sự mong muốn chấp nhận rủi ro gia tăng của các ngân hàng trong việc tìm kiếm lợi nhuận Dựa vào các

lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trước đây, nghiên cứu của tác giả nhằm mục đích tách riêng tác động của giai đoạn kéo dài rất lâu của lãi suất thấp lên hành

vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Tác giả sử dụng khoảng 18000 quan sát hàng năm đối với các ngân hàng ở 16 quốc gia thuộc khu vực đồng euro trong giai đoạn 2001-2008, sử dụng phân tích GMM và đưa ra bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ rằng lãi suất thấp thực sự làm tăng rủi ro ngân hàng đáng kể Điều này không phụ thuộc vào các biến được sử dụng để đại diện lãi suất (ngắn hạn hoặc dài hạn, cấp ngành hoặc cấp ngân hàng) và không phụ thuộc mức độ hoặc thay đổi lãi suất được xem xét Do đó, môi trường lãi suất thấp sẽ duy nhất làm tăng tài sản ngân hàng có liên quan đến rủi ro và làm thay đổi thành phần danh mục đầu tư ngân hàng khu vực đồng euro đến một vị trí rủi ro hơn Đáng chú ý, trong số các ngân hàng của các quốc gia thuộc khu vực đồng euro rộng lớn, ảnh hưởng này ít rõ ràng hơn đối với các tổ chức của Pháp, các tổ chức này nắm giữ mức độ tài sản có rủi ro tương đối thấp Cuối cùng, tác động phân phối của lãi suất đối với chấp nhận rủi ro ngân hàng tùy vào đặc điểm của từng ngân hàng, cụ thể tác động của lãi suất đối với tài sản rủi

ro yếu hơn (nhưng vẫn có ý nghĩa) đối với các ngân hàng có mức vốn hóa cao và được khuếch đại với các ngân hàng tham gia vào các hoạt động ngân hàng phi

Trang 30

truyền thống (giá trị ngoại bảng cao hơn)

Buch, Eickmeier và Prieto (2014) nghiên cứu mối liên hệ giữa chính sách

tiền tệ và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Tác giả sử dụng mô hình vector tự hồi quy đa yếu tố FAVAR cho Hoa Kỳ giai đoạn 1997-2008 Ngoài các chỉ số kinh tế vĩ mô chuẩn, tác giả khai thác thông tin về rủi ro của nguồn gốc món vay mới của ngân hàng được cung cấp bởi Khảo sát về các điều khoản cho vay thương mại của Cục dự trữ Liên bang (STBL) Những dữ liệu này cung cấp thông tin về các khoản vay mới của ngân hàng cũng như lãi suất cho các loại rủi ro cho vay khác nhau và các nhóm ngân hàng khác nhau Dựa trên đó, tác giả phân tích tính không đồng nhất trong phản ứng của các khoản vay mới, các khoản vay có rủi

ro khác nhau, và các nhóm ngân hàng khác nhau

Nghiên cứu của tác giả có ba kết luận chính

Thứ nhất, trung bình trong giai đoạn lấy mẫu, tác giả không tìm thấy bằng chứng ủng hộ giả thuyết kênh chấp nhận rủi ro cho các nhóm ngân hàng lớn và nước ngoài, ngược lại, cho thấy một kênh chấp nhận rủi ro của chính sách tiền tệ có hoạt động giữa các ngân hàng nhỏ Danh mục cho vay của các ngân hàng nhỏ hướng đến vị thế rủi ro hơn, cho vay mới với người đi vay có rủi ro cao hơn sau cú sốc chính sách tiền tệ mở rộng Hơn nữa, sự thay đổi này trong cơ cấu rủi ro của danh mục đầu tư của các khoản vay mới không được bù đắp bởi sự gia tăng phí phần bù rủi ro Các ngân hàng nhỏ thay đổi danh mục cho vay mới theo hướng rủi

ro cao hơn và tính phí phần bù rủi ro thấp hơn

Thứ hai, tác giả cũng điều tra hành vi của các đặc điểm khác trong các điều khoản của hợp đồng cho vay Các ngân hàng nhỏ có xu hướng giảm thời gian đáo hạn của các khoản vay có rủi ro cao sau cú sốc chính sách tiền tệ Những khoản vay mới này có nhiều khả năng được hỗ trợ bằng tài sản thế chấp Điều này cho thấy các ngân hàng nhỏ có tính đến rủi ro tăng thêm của các khoản vay mới bằng cách điều chỉnh các điều khoản hợp đồng vay khác, có thể là điều kiện tiên quyết cho việc chấp nhận rủi ro

Trang 31

Cuối cùng, trong giai đoạn lãi suất “too-low-for-too-long” (“quá thấp trong thời gian quá dài”), chấp nhận rủi ro tăng thêm không chỉ được tìm thấy đối với các ngân hàng nhỏ mà còn ở các ngân hàng nước ngoài Kết quả này hỗ trợ các kết luận của Shin (2012), người cho rằng các ngân hàng nước ngoài đã sử dụng thanh khoản

dư thừa giữa thập niên 2000 để chấp nhận rủi ro quá mức

Drakos, Kouretas và Tsoumas (2016) nghiên cứu tác động của lãi suất đối

với chấp nhận rủi ro ngân hàng tại 10 nền kinh tế CEE (các quốc gia Trung và Đông Âu) và Liên bang Nga giai đoạn 1997-2011 có xem xét đến tình trạng sở hữu của các ngân hàng, tức là sỡ hữu trong nước và ngoài nước Phát hiện của tác giả cho thấy sự suy giảm dần của lãi suất dài hạn đã làm tăng sự mong muốn chấp nhận rủi

ro của các ngân hàng nước ngoài ở tất cả các nước, trong khi cũng với sự sụt giảm lãi suất ngắn hạn thì các ngân hàng nước ngoài ở 10 nước CEE phản ứng mạnh mẽ hơn so với Nga bằng cách tăng đầu tư rủi ro Tuy nhiên, hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng nước ngoài trong 10 nền kinh tế CEE chủ yếu là từ các ngân hàng có vốn hóa cao hơn Ngược lại, các ngân hàng nội địa ở Nga giảm đầu tư mạo hiểm khi lãi suất ngắn hạn giảm, trong khi đó họ không thay đổi mức độ chấp nhận rủi ro khi giảm lãi suất dài hạn Tại 10 quốc gia thuộc CEE, việc chấp nhận rủi ro của các ngân hàng trong nước lại vắng mặt với sự thay đổi tiền tệ Nhìn chung, kết quả cho thấy thực tế có hành vi chấp nhận rủi ro khác nhau giữa các ngân hàng nước ngoài và trong nước đối với môi trường lãi suất tại các quốc gia đang được xem xét, cũng như giữa 10 nền kinh tế CEE và Nga

Bikker và Vervliet (2017) điều tra tác động của môi trường lãi suất thấp bất

thường đối với sự ổn định của ngành ngân hàng Hoa Kỳ về mặt lợi nhuận cũng như mức độ chấp nhận rủi ro Bằng một tập hợp dữ liệu bảng lớn bao gồm các chỉ số kinh tế vĩ mô, các biến lãi suất và các biến chuyên biệt từ bảng cân đối ngân hàng, các mối quan hệ này được phân tích cho ngành ngân hàng Mỹ Về ảnh hưởng của môi trường lãi suất thấp đối với lợi nhuận, tác giả nhận thấy rằng khả năng các ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ hoạt động cho vay và huy động vốn truyền thống của họ sẽ

Trang 32

các ngân hàng có thể duy trì mức lợi nhuận tổng thể của họ bởi hạ thấp mức độ dự phòng thấp hơn một cách hiệu quả, vì xác suất vỡ nợ đối với các khoản vay còn dư

nợ là nhỏ hơn trong môi trường lãi suất thấp Về ảnh hưởng của môi trường lãi suất thấp đối với chấp nhận rủi ro ngân hàng, một mặt, không có bằng chứng rõ ràng cho thấy các ngân hàng đã tăng rủi ro trong việc tìm kiếm lợi nhuận Mặt khác, các ngân hàng đã có thể duy trì được mức lợi nhuận tổng thể và do đó không bù đắp sự giảm thu nhập lãi ròng bằng cách tạo ra nhiều khoản đầu tư rủi ro hơn Tuy nhiên, theo thời gian, các ngân hàng có thể thay đổi mô hình kinh doanh và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình để ít phụ thuộc vào các hoạt động cho vay và huy động vốn Ở khía cạnh giảm đáng kể mức độ dự phòng rủi ro tín dụng trong môi trường lãi suất thấp, vùng đệm chống lại tổn thất tín dụng bất ngờ đã bị thu hẹp lại Các ngân hàng

đã phải duy trì mức lợi nhuận tổng thể của mình bằng chi phí của việc bù đắp nhỏ hơn cho những tổn thất về tín dụng

Tóm tắt tổng quan các lý thuyết trên về ảnh hưởng của lãi suất đến chấp nhận rủi ro ngân hàng (quan điểm tương quan nghịch) lý thuyết hỗ trợ phân tích

thực nghiệm có thể được tìm thấy trong công trình lý thuyết của Dell’ Ariccia và Marquez (2006) Nghiên cứu này đề xuất rằng một số cú sốc ngoại sinh dẫn tới sự không đối xứng về thông tin thấp hơn, phát động cạnh tranh mạnh mẽ và bùng nổ tín dụng, và tạo ra động lực cho các ngân hàng tìm kiếm lợi tức cao hơn trong các

dự án rủi ro hơn Nếu như vậy các tiêu chuẩn cho vay được nới lỏng và tỷ lệ tài sản rủi ro trên tổng tài sản của các ngân hàng tăng lên đáng kể, điều này có thể sẽ dẫn đến sự suy giảm giá trị của các ngân hàng và tăng khả năng xảy ra khủng hoảng Rajan (2006) đi tới kết luận rõ ràng rằng nguồn gốc của hành vi ngân hàng như vậy

có thể là do môi trường lãi suất thấp Chẳng hạn, một thời kỳ lãi suất thấp kéo dài

và sự suy giảm liên quan đến sự biến động của các lãi suất này, giải phóng rủi ro của các ngân hàng và khuyến khích các vị thế rủi ro cao hơn Thêm vào đó, lãi suất danh nghĩa rất thấp thường đi đôi với việc giảm biên lợi nhuận giữa lãi suất cho vay

và lãi suất huy động của các ngân hàng và điều đó làm tăng động cơ khuyến khích các ngân hàng tìm kiếm lợi tức thông qua cơ chế được nêu trong Dell Ariccia và

Trang 33

Marquez (2006) Các cơ chế được mô tả cho đến nay là hợp lý, nhưng không thể tránh khỏi cuộc tranh luận này liên quan đến chính sách tiền tệ mở rộng Borio và Zhu (2008) giới thiệu thuật ngữ "kênh chấp nhận rủi ro của việc truyền dẫn chính sách tiền tệ" để mô tả mối quan hệ tiềm năng giữa chính sách tiền tệ mở rộng và gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro ngân hàng Borio và Zhu (2012), Altunbas và cộng sự (2010) cũng tiếp tục phát triển rộng hơn các khía cạnh mà kênh chấp nhận rủi ro có thể hoạt động

Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa lãi suất và rủi ro ngân hàng được tìm thấy trong các nghiên cứu gần đây của Jimenez và cộng sự (2008), Ioannidou và cộng sự (2009), Brissimis và Delis (2009), Maddaloni và Peydro (2010), Paligorova và Jimenez (2012), Buch, Eickmeier và Prieto (2014), Drakos, Kouretas và Tsoumas (2016), Bikker và Vervliet (2017) và Delis và Kouretas (2011) Các nghiên cứu đều tập trung vào tác động của sự thay đổi chính sách tiền

tệ đối với rủi ro ngân hàng, nói cách khác là về kênh chấp nhận rủi ro của chính sách tiền tệ Jimenez và cộng sự (2008) sử dụng số liệu của các ngân hàng Tây Ban Nha trong một khoảng thời gian tương đối dài và thấy rằng một chính sách tiền tệ

mở rộng thực sự có liên quan đến rủi ro tín dụng cao hơn Ioannidou et al (2009), trong một đóng góp quan trọng, sử dụng trường hợp Bolivian như là một thử nghiệm bán tự nhiên của chính sách tiền tệ ngoại sinh và nhận thấy kết quả rất giống Brissimis và Delis (2009) quan tâm nhiều hơn đến việc liệu các biến động chính sách tiền tệ có làm sai lệch hành vi của ngân hàng đối với việc cho vay và quyết định rủi ro dựa trên đặc điểm nội bộ ngân hàng Maddaloni và Peydro (2010) làm sáng tỏ nguồn gốc của cuộc khủng hoảng gần đây ở khu vực đồng Euro và Hoa

Kỳ, cụ thể lãi suất chính sách tiền tệ thấp ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính, tác động này thậm chí còn lớn hơn do sự thống nhất của ba yếu tố: sự phụ thuộc mạnh

mẽ vào nghĩa vụ nợ ngắn hạn làm đòn bẩy tài chính, sự giám sát vốn ngân hàng yếu kém và mức độ đổi mới tài chính cao (phần lớn do chứng khoán hóa) Paligorova và Jimenez (2012) với phân tích về kênh chấp nhận rủi ro tại Canada cho thấy chênh lệch giữa tổng chi phí vay đối với người vay rủi ro cao và rủi ro thấp sẽ giảm dần

Trang 34

trong giai đoạn NHTW duy trì mức lãi suất thấp so với giai đoạn có mức lãi suất cao Buch, Eickmeier và Prieto (2014) sử dụng mô hình FAVAR cho Hoa Kỳ giai đoạn 1997-2008 để nghiên cứu ảnh hưởng, nhìn chung tác giả không tìm thấy bằng chứng ủng hộ giả thuyết kênh chấp nhận rủi ro cho các nhóm ngân hàng lớn và nước ngoài, ngược lại được tìm thấy ở nhóm các ngân hàng nhỏ, và các ngân hàng này tính phí phần bù rủi ro thấp hơn, bù lại họ lại thêm vào một số điều khoản khác trong hợp đồng vay như điều khoản về tài sản thế chấp, thời gian đáo hạn ngắn hơn… Mặt khác trong giai đoạn lãi suất “too-low-for-too-long” chấp nhận rủi ro cao hơn thậm chí được phát hiện thấy không những ở nhóm ngân hàng nhỏ mà còn

ở nhóm ngân hàng nước ngoài Drakos, Kouretas và Tsoumas (2016) trong nghiên cứu về ảnh hưởng tại 10 quốc gia Trung – Đông Âu và Liên bang Nga giai đoạn 1997-2011 nhận thấy có hành vi chấp nhận rủi ro khác nhau giữa các ngân hàng thuộc sở hữu trong nước hoặc của nước ngoài Phân tích của Bikker và Vervliet (2017) nhận thấy dù môi trường lãi suất thấp có thể chèn ép biên lãi suất ròng làm ảnh hưởng lợi nhuận ngân hàng nhưng các ngân hàng tại Mỹ vẫn duy trì được mức lợi nhuận tổng thể bằng cách giảm dự phòng rủi ro tín dụng, điều này gây rủi ro đến

sự ổn định tài chính do làm mỏng vùng đệm chống lại tổn thất tín dụng Cuối cùng, nghiên cứu của Delis và Kouretas (2011) thực hiện với 16 quốc gia thuộc khu vực đồng euro, tác giả quan tâm nhiều hơn đến thay đổi mức lãi suất chứ không phải về thay đổi chính sách tiền tệ vì cho rằng một chính sách tiền tệ mở rộng vẫn có thể hàm ý mức lãi suất tương đối cao, và tập trung phân tích nhiều hơn là từ phía hành

vi của ngân hàng hơn là từ phía mục tiêu chính sách của ngân hàng trung ương Kết quả của tác giả cho thấy rằng môi trường lãi suất thấp sẽ duy nhất làm tăng tài sản rủi ro mà ngân hàng nắm giữ

 Quan điểm tương quan thuận

Bên cạnh những kết quả quả thực nghiệm cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa lãi suất và hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, một mối tương quan

dương có thể được giải thích từ lý thuyết Lựa chọn đối nghịch (Adverse Seletion)

và Rủi ro đạo đức (Moral Hazard), bắt nguồn từ hiện tượng Thông tin bất cân

Trang 35

xứng (Asymmetric Information) trên thị trường tài chính

Trước hết, thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) được hiểu là

trên thị trường tài chính, các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, dẫn đến một bên giao dịch không hiểu biết đầy đủ về bên giao dịch còn lại để có thể đưa

ra các quyết định chính xác (Nguyễn Văn Ngọc, 2012)

Lựa chọn đối nghịch (Adverse Seletion) là một tình trạng kinh tế có thể nảy

sinh do tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn

phải thứ không tốt (Nguyễn Văn Ngọc, 2012) Cụ thể trong trường hợp thị trường

tín dụng, trong một môi trường lãi suất cao, những chủ thể có nhu cầu vay nhiều nhất, sẵn sang trả mức lãi suất cao (hay chi phí sử dụng vốn cao) chính là những người có những dự án rủi ro cao nhất Chính những dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro như vậy có thể làm ngân hàng ngưng cho vay, mặc dù trên thị trường có thể còn rất nhiều khách hàng tốt Ngoài ra, lãi suất tín dụng cao có thể chỉ hấp dẫn những dự án rủi ro cao, còn những dự án có mức rủi ro thấp hơn sẽ không chấp nhận mức chi phí

sử dụng vốn cao

Rủi ro đạo đức (Moral Hazard) là vấn đề do hiện tượng thông tin không cân

xứng tạo ra sau khi giao dịch được thực hiện (Nguyễn Văn Ngọc, 2012) Xét trong

thị trường tín dụng ngân hàng, rủi ro đạo đức có thể xuất hiện khi khách hàng sử dụng nguồn vốn vay không đúng mục đích như thỏa thuận ban đầu khi được cấp tín dụng, mà đầu tư vào những dự án có mức độ rủi ro cao hơn rủi ro dự kiến của ngân hàng, dẫn đến rủi ro mất vốn cao hơn Trong một môi trường lãi suất cao, các đối tượng vay vốn càng có thêm động lực để tham gia vào các dự án rủi ro cao nhằm tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao để bù đắp cho chi phí sử dụng vốn

Về các kết quả thực nghiệm cho thấy mối tương quan dương giữa lãi suất và

hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, có thể kể đến Geng, Grivoyannis và Zhang

(2016) Tác giả thực hiện nghiên cứu với 16 ngân hàng niêm yết tại Trung Quốc, sử

dụng tỷ lệ nợ xấu và rủi ro mất khả năng thanh toán để đo lường rủi ro ngân hàng, thiết lập mô hình hồi quy dữ liệu bảng để nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất thị

Trang 36

trường liên ngân hàng, lãi suất ngân hàng trung ương và mức lãi suất cho vay cấp

độ ngân hàng đối với rủi ro của ngân hàng thương mại Kết quả thực nghiệm cho thấy lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất ngân hàng trung ương có tương quan dương với rủi ro ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay ngân hàng có mối tương quan nghịch với rủi ro ngân hàng Kết quả này có thể được giải thích là do thu nhập

từ lãi là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng mà ở đó lãi suất cho vay lại xem là

yếu tố quyết định đến thu nhập từ lãi (Staikouras và Wood, 2004), do đó các ngân

hàng sẽ có hành vi chấp nhận rủi ro cao hơn khi lãi suất gia tăng vì đây là thời điểm giúp cho các ngân hàng có thể kiếm được thu nhập từ lãi cao hơn

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng khác lên hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng

2.2.1 Các yếu tố đặc thù ngân hàng

2.2.1.1 Tỷ lệ vốn hóa (Capitalization)

 Quan điểm tương quan nghịch

Furlong và Keeley (1989, 1990) đã chứng minh các quy định về vốn cao hơn

không khuyến khích các ngân hàng tăng tài sản rủi ro

Berger và DeYoung (1997) xác nhận 4 giả thuyết về mối quan hệ giữa tỷ lệ

nợ xấu, vốn chủ sở hữu của ngân hàng và hiệu quả chi phí, trong đó có giả thuyết

“bad luck” cho rằng sự đổ vỡ của ngân hàng chủ yếu là do các yếu tố bên ngoài không lường trước được, và cho rằng các quy định và giám sát nghiêm ngặt có thể làm giảm bớt các cú sốc bên ngoài ngân hàng và làm giảm rủi ro đổ vỡ, ví dụ như các quy định về vốn

Kết quả của Santos (1999) cho thấy quy định về vốn của các ngân hàng giảm rủi ro vỡ nợ của ngân hàng Tuy nhiên Santos (2001) cho rằng việc tăng tỷ lệ vốn

trong nền kinh tế có thể tốn kém và không hiệu quả

Kopecky và VanHoose (2006), Baselga-Pascual, Trujillo-Ponce và Cardone-Riportella (2015), Laeven, Ratnovski và Tong (2016), Mousavi và Karimzadeh (2017), Trad, Trabelsi và Goux (2017) cũng kết luận việc tăng yêu cầu

Trang 37

vốn sẽ làm giảm rủi ro ngân hàng

 Quan điểm tương quan thuận

Tuy nhiên, lại có quan điểm trái ngược, như nghiên cứu của Blum (1999)

cho thấy yêu cầu về vốn tối thiểu có thể tăng rủi ro Quy định về vốn làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, lợi nhuận thấp tạo động cơ để các ngân hàng đầu tư vào các tài sản sinh lời cao hơn và có rủi ro cao hơn

 Quan điểm khác

Một số ý kiến khác lại cho rằng, ảnh hưởng của vốn hóa lên rủi ro là không

rõ ràng, hoặc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Calem và Rob (1999), Haq và

Heaney (2012) tìm thấy mối quan hệ hình chữ U giữa vốn ngân hàng và rủi ro, cho

thấy quy định về vốn có thể có những hậu quả không xác định được với rủi ro

Koehn và Santomero (1980) trong khi đó không tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa

vốn và khả năng phá sản của ngân hàng

Agoraki, Delis và Pasiouras (2011) lại xem xét mối quan hệ giữa rủi ro ngân

hàng, quy định về vốn trong tương tác với sức mạnh thị trường Kết quả của tác giả chỉ ra rằng yêu cầu về vốn giảm rủi ro nói chung, nhưng hiệu quả này sẽ suy yếu đáng kể hoặc thậm chí có thể bị đảo ngược, đối với các ngân hàng có sức mạnh thị trường, tức là cùng với quy định về vốn, các ngân hàng lớn ít rủi ro hơn so với các ngân hàng nhỏ

Delis, Tran và Tsionas (2012) chỉ ra sự không đồng nhất giữa các ngân hàng

trong mối quan hệ giữa quy định về vốn và rủi ro, quy định về vốn có thể có tác động cùng chiều hoặc ngược chiều với rủi ro ngân hàng do đặc điểm ngân hàng, các quy định khác và môi trường kinh tế vĩ mô

2.2.1.2 Khả năng sinh lợi (Profitability)

 Quan điểm tương quan nghịch

Liên quan đến mối quan hệ giữa hành vi chấp nhận rủi ro và lợi nhuận của

Trang 38

tìm thấy bằng chứng cho thấy các ngân hàng có lợi nhuận cao thì thường ít bị tổn thương hơn các ngân hàng có lợi nhuận thấp Điều này hàm ý rằng tồn tại mối quan

hệ ngược chiều giữa lợi nhuận ngân hàng và hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng

Bên cạnh đó, kết quả của Chaibia và Ftiti (2015) cho thấy khả năng sinh lợi tương quan âm với NPL Tương tự, các kết quả nghiên cứu của Lehar (2005),

Louzis, Vouldis và Metaxas (2012), Dimitrios, Helen và Mike (2016), Pascual, Trujillo-Ponce và Cardone-Riportella (2015) và Radivojevic và Jovovic (2017) cũng cho rằng lợi nhuận hay khả năng sinh lợi tương quan âm với rủi ro

Baselga-ngân hàng

 Quan điểm tương quan thuận

Ngược lại, một vài nghiên cứu khác (Mamatzakis và Bermpei, 2014; Naceur

và Omran, 2011) lại tìm thấy tác động cùng chiều của khả năng sinh lợi đến hành vi

chấp nhận rủi ro của các ngân hàng

2.2.1.3 Hiệu quả chi phí (Efficiency)

 Quan điểm tương quan nghịch

Các ngân hàng càng có hiệu quả quản trị chi phí càng kém, thì sẽ có động cơ tham gia vào các hoạt động rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận bù đắp cho chi phí hoạt

động của ngân hàng (Boyd và các cộng sự, 2006; Agoraki và các cộng sự, 2009)

Berger và DeYoung (1997) đề cập và chứng minh giả thuyết “bad

management”, rằng các rủi ro chính mà các tổ chức tài chính phải đối mặt là do các vấn đề nội bộ Các ngân hàng hiệu quả về mặt kỹ thuật có thể có nhiều khả năng

hơn trong việc quản lý rủi ro Kết quả của Williams (2004) và Fiordelisi,

Marques-Ibanez và Molyneux (2011) cũng hỗ trợ cho giả thuyết này, rằng các ngân hàng

quản lý kém hiệu quả thường có nhiều nợ xấu, tức là hiệu quả thấp thì rủi ro tăng

cao Fiordelisi, Marques-Ibanez và Molyneux (2011) cũng tìm thấy bằng chứng

hạn chế về mối quan hệ giữa vốn và rủi ro, hiệu quả quản lý làm tăng vị thế vốn của

Trang 39

các ngân hàng và cải thiện rủi ro

Berger và Bonaccorsi di Patti (2006) kiểm tra giả thuyết chi phí đại diện, giả

thuyết phổ biến của giới tài chính doanh nghiệp Theo giả thuyết này, đòn bẩy cao làm giảm chi phí đại diện của vốn cổ phần, tăng giá trị công ty do bị giám sát từ việc vay nợ, các nhà quản lý có động cơ hành động vì lợi ích cổ đông Tuy nhiên, khi đòn bẩy trở nên tương đối cao, chi phí đại diện của nợ có thể áp đảo chi phí đại diện của vốn cổ phần, làm tăng chi phí kiệt quệ, phá sản, hoặc mất khả năng trả nợ Tác giả sử dụng hiệu quả lợi nhuận để đo lường hiệu quả của công ty, như một cách

để đo lường nghịch đảo của chi phí đại diện, khi tổng chi phí đại diện càng cao thì hiệu quả càng giảm, làm tăng chi phí kiệt quệ và khả năng phá sản

Tương tự, Louzis, Vouldis và Metaxas (2012), Baselga-Pascual,

Trujillo-Ponce và Cardone-Riportella (2015) cũng nhận thấy hiệu quả chi phí tương quan

âm với rủi ro ngân hàng

2.2.1.4 Hoạt động ngoại bảng (Off-balance Sheet Items)

Hoạt động ngoại bảng là hoạt động kinh doanh phi truyền thống, phi lãi suất

Có nhiều quan điểm trái chiều về ảnh hưởng của yếu tố này đối với rủi ro ngân hàng

 Quan điểm tương quan thuận

Boyd, Chang và Smith (1998) ủng hộ lý thuyết các ngân hàng đa năng có thể

làm vấn đề rủi ro đạo đức trầm trọng hơn và sẵn sàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn

Deng, Elyasiani và Mao (2007) cũng cho thấy khi các ngân hàng đa dạng hóa các

hoạt động ngoại bảng có thể làm nghiêm trọng hơn vấn đề đại diện, dẫn đến tăng rủi

ro ngân hàng

Mercieca, Schaeck và Wolfe (2007) xem xét tác động của đa dạng hóa đối

với hoạt động của các tổ chức tín dụng nhỏ ở Châu Âu Tác giả kết luận rằng các TCTD nhỏ chỉ nên mở rộng nguồn lực trong ngành nghề kinh doanh có lợi thế hiện tại, nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyên môn hóa, khi mở rộng sang các hoạt

Trang 40

động phi truyền thống sẽ không có tính hiệu quả kinh tế theo phạm vi, liên quan đến rủi ro cao hơn

Demirgüc-Kunt và Huizinga (2010), Haq và Heaney (2012), Joaquín Maudos (2017) cũng cho rằng thu nhập từ các hoạt động ngoại bảng cao hơn gây ra

rủi ro ngân hàng cao hơn Maudos (2017) còn nhận thấy rằng ảnh hưởng này lớn

hơn trong thời kỳ mở rộng kinh tế

không có ảnh hưởng Ngoài ra, Sawada (2013) cho rằng ảnh hưởng khác nhau tùy

thuộc vào đặc điểm riêng của ngân hàng như loại hình tổ chức và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngân hàng truyền thống

Lee, Yang, Chang (2014) nghiên cứu ảnh hưởng của thu nhập phi lãi lên rủi

ro tại 967 ngân hàng thuộc 22 quốc gia ở Châu Á giai đoạn 1995-2009 Tác giả kết luận rằng loại hình chuyên môn hóa của ngân hàng (tiết kiệm, hợp tác xã, thương mại, đầu tư…) làm ảnh hưởng này cùng chiều hoặc ngược chiều khác nhau đối với mỗi ngân hàng

Köhler (2014, 2015) cũng có kết luận tương tự khi nghiên cứu ảnh hưởng

của hoạt động ngoại bảng trong ngành ngân hàng Đức giai đoạn 2002-2012, tác giả cho rằng cần phân biệt mô hình kinh doanh của ngân hàng (định hướng bán lẻ hoặc đầu tư) khi đưa ra kết luận về ảnh hưởng của các thu nhập phi truyền thống lên rủi

ro ngân hàng

2.2.1.5 Quy mô (Size)

Quy mô ngân hàng đề cập đến sức mạnh thị trường của ngân hàng, có nhiều

Ngày đăng: 21/09/2018, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w