BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH TRẦN NGUYỄN BẢO NGUYÊN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VÀ HẠN CHẾ TÍN DỤNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM L
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TRẦN NGUYỄN BẢO NGUYÊN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VÀ HẠN CHẾ TÍN DỤNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẦN NGUYỄN BẢO NGUYÊN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VÀ HẠN CHẾ TÍN DỤNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN TIẾN KHAI
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tp.HCM, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Trần Nguyễn Bảo Nguyên
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
Chương 1: Giới thiệu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Cấu trúc luận văn 2
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và kết quả các nghiên cứu trước 4
2.1 Lược khảo lý thuyết 4
2.1.1 Tín dụng nông thôn 4
2.1.2 Thông tin bất cân xứng 7
2.1.3 Tiếp cận tín dụng 8
2.1.4 Hạn chế tín dụng 8
2.2 Nghiên cứu thực nghiệm liên quan 10
2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tín dụng 10
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng cung tín dụng 12
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 15
3.1 Khung phân tích 15
3.2 Mô hình phân tích 16
3.3 Đo lường biến số 24
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 29
Chương 4: Kết quả nghiên cứu 30
4.1 Phân tích thống kê mô tả 30
4.1.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình 30
Trang 54.1.2 Tiếp cận tín dụng của hộ gia đình 31
4.1.3 Hạn chế tín dụng của hộ gia đình 34
4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng 37
4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến xác suất hạn chế tín dụng 39
4.4 Mức độ hạn chế tín dụng 41
Chương 5: Kết luận, hạn chế và hàm ý chính sách 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Hạn chế của nghiên cứu 45
5.3 Hàm ý chính sách 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VARHS : Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình Việt Nam
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Heckman : Mô hình Heckman hai giai đoạn – sử dụng hồi quy OLS Heckprob : Mô hình Heckman hai giai đoạn – sử dụng hồi quy Probit OLS : phương pháp bình phương tối thiểu
VBARD : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tổng hợp tóm tắt và mô tả các biến theo các nghiên cứu trước Bảng 4.1: Cơ cấu mục đích vay
Bảng 4.1: Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình
Bảng 4.2: Cơ cấu mục đích vay của khoản vay
Bảng 4.3: Hạn chế tín dụng và mục đích vay
Bảng 4.4: Hạn chế tín dụng và tình trạng tài sản thế chấp
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy Heckman giai đoạn một
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy Probit hai giai đoạn
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy Heckman giai đoạn hai
Hình 4.2: Phân bố nguồn vay theo khu vực tín dụng
Hình 4.3: Phân bố hộ vay theo tình trạng tài sản thế chấp
Hình 4.4: Số tiền vay và thu nhập của hộ gia đình
Hình 4.5: Hạn chế tín dụng
Hình 4.6: Tỷ lệ số hộ hạn chế tín dụng theo nhóm thu nhập
Trang 7TÓM TẮT
Hoạt động của tín dụng nông thôn hiện nay vô cùng đa dạng và phát triển, nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng đem tới cho các hộ nông dân ngày càng tăng lên, đời sống hộ gia đình được cải thiện, đây là mục tiêu mà thị trường tín dụng hướng đến Tuy nhiên, vì tính chất bất cân xứng thông tin trong thị trường tín dụng, các tổ chức tín dụng có những cơ chế riêng trong việc hạn chế cấp tín dụng cho những đối tượng không phù hợp, điều này nhằm giảm thiểu rủi ro về thanh toán sau khi vay Bài viết tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của
hộ gia đình ở khu vực nông thôn Việt Nam, đồng thời cũng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xác suất hạn chế tín dụng cũng như mức độ hạn chế tín dụng khi hộ gia đình vay vốn Bài viết sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn Heckman và hồi quy Probit hai giai đoạn (Heckprob) để đưa ra kết quả nghiên cứu Dữ liệu sử dụng trong bài viết lấy từ nguồn dữ liệu thứ cấp Điều tra tiếp cận hộ gia đình nông thôn Việt Nam năm 2014 (VARHS)
Kết quả cho thấy một số yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng của
hộ gia đình bao gồm tỷ lệ phụ thuộc của hộ, trình độ giáo dục chủ hộ, số thành viên trong hộ, số tuổi chủ hộ Trong đó, tỷ lệ phụ thuộc và tuổi chủ hộ có mối quan hệ nghịch biến với xác suất về khả năng tiếp cận tín dụng, trong khi số thành viên thì có quan hệ cùng chiều với khả năng tiếp cận tín dụng Ngoài ra, chủ hộ không có bằng cấp hoặc chỉ có trình độ giáo dục cơ bản có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn chủ
hộ có bằng cấp cao hơn Kết quả cũng cho thấy một số yếu tố tác động đến xác suất hạn chế tín dụng như: thu nhập, giá trị tài sản thế chấp, tổ chức tín dụng Cụ thể, thu nhập và giá trị tài sản thế chấp có quan hệ ngược chiều với xác suất hạn chế tín dụng
và vay vốn ở các tổ chức tín dụng chính thức thì khả năng hạn chế tín dụng cao hơn vay ở các tổ chức phi chính thức
Trang 8Chương 1: Giới thiệu
1.1 Đặt vấn đề
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nông nghiệp là nền móng và vẫn giữa vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Theo số liệu Tổng cục thống kê, dân số khu vực nông thôn năm 2016 là 60,64 triệu người, chiếm 65,4% dân số cả nước, lực lượng lao động trên 15 tuổi đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 22,5 triệu người, chiếm 42,2% tổng số lao động Tuy nhiên, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 16,32% cơ cấu kinh tế năm 2016 Các số liệu cho thấy nguồn lao động cho ngành nông nghiệp dồi dào nhưng đóng góp của ngành nông nghiệp vào cơ cấu kinh tế thì quá ít, phải chăng những biện pháp phát triển khu vực nông thôn nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng còn hạn chế?
Hiện nay, một công cụ hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế ở nông thôn là chương trình tín dụng nông thôn Nghiên cứu của Diagne (1999) cho thấy rằng tiếp cận tín dụng ảnh hưởng đến phúc lợi hộ gia đình thông qua hai kênh chính Thứ nhất, nó làm giảm bớt khó khăn về vốn đối với các hộ làm nông nghiệp Điều này có thể cải thiện đáng kể khả năng mua sắm nông nghiệp của các hộ gia đình, đồng thời giảm chi phí
cơ hội cho các tài sản thâm dụng vốn, khuyến khích công nghệ tiết kiệm lao động và nâng cao năng suất lao động Thứ hai, tiếp cận tín dụng làm tăng khả năng chịu rủi
ro của các hộ gia đình, thay đổi các chiến lược đối phó rủi ro Các hộ gia đình có tiếp cận tín dụng có thể sẵn sàng theo đuổi các công nghệ giảm nguy cơ rủi ro và thực hiện các dự án hiệu quả hơn Tuy nhiên, khoảng 90% người dân ở các nước đang phát triển khó tiếp cận dịch vụ tín dụng (Robinson, 2001) vì không đáp ứng được các yêu cầu của tổ chức tín dụng, hoặc tự cảm thấy không đủ khả năng vay vốn Hơn nữa, khi được tiếp cận tín dụng, không phải ai cũng thỏa mãn với số tiền vay nhận được do nhiều trường hợp hạn chế tín dụng xảy ra – số tiền nhận được thấp hơn nhu cầu vay Hạn chế tín dụng quy định bởi các nguyên tắc của tổ chức tín dụng về tiêu chuẩn đối với người vay, quy định này hình thành dựa trên các quy chế nhà nước về tỷ lệ nợ xấu, lãi suất vay nhằm tránh nguy cơ vỡ nợ Nhận thấy cần phải nghiên cứu về tình
Trang 9trạng tín dụng nông thôn, tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
tiếp cận tín dụng và hạn chế tín dụng của hộ gia đình nông thôn Vi ệt Nam” để
làm đề tài luận văn Trong bài này, tác giả nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ khu vực nông thôn Việt Nam, đồng thời nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xác suất hạn chế tín dụng từ tổ chức tín dụng đối với các
hộ từ các khi tiếp cận tín dụng, từ đó gợi ra một số ý kiến nhằm phát triển hoạt động tín dụng nông thôn cũng như phát triển kinh tế khu vực nông thôn
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung phân tích khía cạnh tín dụng nông thôn với các mục tiêu
Tuy nhiên, để phù hợp với mô hình, tác giả sau khi lọc lại dữ liệu chỉ sử dụng
3260 quan sát để chạy mô hình
1.4 Cấu trúc luận văn
Bài nghiên cứu gồm 5 chương:
Trang 10Chương 1: Giới thiệu tình hình tín dụng nông thôn Việt Nam, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Đưa ra một số cơ sở lý luận cho nghiên cứu này
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng;
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận nghiên cứu, một số hạn chế của nghiên cứu và hàm ý chính sách mà tác giả đề xuất
Trang 11Chương 2: Cơ sở lý thuyết và kết quả các nghiên cứu trước
2.1 Lược khảo lý thuyết
2.1.1 Tín dụng nông thôn
Định nghĩa:
Tín dụng nông thôn là phần hỗ trợ nguồn vốn của các tổ chức tín dụng cho các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở vùng nông thôn (Pham, 2013) Tại Việt Nam, hoạt động của tín dụng nông thôn được coi là mục tiêu chung của quốc gia trong phát triển kinh tế và đời sống
Đặc điểm của tín dụng nông thôn:
Theo Klein và cộng sự (1999), tín dụng nông thôn có các đặc điểm sau:
Chi phí giao dịch cao: Khoảng cách địa lý giữa tổ chức tín dụng và khu vực
nông thôn xa nhau, thậm chí một số khu vực có sở hạ tầng kém phát triển, ảnh hưởng đến việc đi lại và trao đổi thông tin, do đó, việc giao dịch giữa tổ chức tín dụng và người vay sẽ tốn nhiều thời gian và chi phí hơn Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ
Rủi ro cao: Một đặc điểm khác của thị trường tín dụng nông thôn là rủi ro cao
Rủi ro cao bắt nguồn thì các hoạt động cho vay vùng sản xuất nông nghiệp Hoạt động nông nghiệp thường bị ảnh hưởng bởi thời tiết và khí hậu bất lợi, trong khi đó, thu nhập từ hoạt động nông nghiệp thấp, nếu điều kiện tự nhiên bất lợi sẽ làm nguồn lợi nông nghiệp giảm đáng kể Khi đó, khả năng vỡ nợ cao do không thanh toán được khoản vay Để giảm rủi ro, tổ chức tín dụng cung cấp khoản vay kèm theo yêu cầu thế chấp tài sản
Lợi nhuận thấp: Sinh lợi kỳ vọng của ngành nông nghiệp tương đối thấp, đa
số hộ dân lấy công làm lời Hơn nữa, đa số giá sản phẩm nông nghiệp bị ép giá nếu cung tăng, do đó, hộ gia đình thường trong tình huống bị động khi quyết định giá của
họ Do đó, các khoản vay cho hoạt động nông nghiệp có lợi nhuận thấp hơn so với các ngành công nghiệp, dịch vụ
Trang 12Vai trò của tín dụng nông thôn:
Tín dụng nông thôn giúp tăng khả năng tài chính cho những hộ có nguồn vốn hạn chế trong việc mua nguyên liệu đầu vào và đầu tư hiệu quả Hơn nữa, nhờ đủ nguồn vốn, hộ gia đình có thể mua thêm máy móc, thiết bị, cập nhật và học hỏi công nghệ, đây là chìa khóa giúp tăng năng suất lao động và giảm rủi ro trong sản xuất (Rosenzweig và Bingswanger, 1993)
Ngoài ra, cung cấp tín dụng mang lại hiệu quả trong phân bổ nguồn lực về tài chính Các hộ gia đình nông thôn và các doanh nghiệp có nhiều khác biệt trong việc tiết kiệm, đầu tư và lựa chọn các cơ hội khác nhau ở bất kỳ thời điểm cụ thể nào Vì vậy, có những trường hợp một số hộ gia đình hoặc doanh nghiệp trong tình trạng dư thừa nguồn vốn trong khi số khác có thể thiếu nguồn vốn Do thiếu thông tin, không
ai biết được người nào có nguồn tiết kiệm và người nào cần vay, để giải quyết vấn đề này, tổ chức trung gian tài chính thành lập với vai trò cầu nối giữa hai bên, giúp thu hẹp khoảng cách giữa người tiết kiệm và người vay, đồng thời phân bổ lại nguồn vốn trong xã hội hiệu quả
Hoạt động tín dụng ở khu vực nông thôn Việt Nam:
Các tổ chức tín dụng hoạt động dựa trên quy mô, đối tượng cho vay khác nhau, chịu sự quản lý của nhà nước hoặc không chịu sự quản lý của nhà nước Theo nghiên cứu của Pham (2013) về thị trường tín dụng nông thôn, có thể chia thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam thành hai nhóm chính: tín dụng chính thức và phi chính thức, hai hình thức tín dụng này hoạt động xen kẽ và hỗ trợ cho nhau
Tín dụng chính thức: Hoạt động dưới sự quản lý của Ngân hàng nhà nước Các
tổ chức tín dụng chính thức thường yêu cầu tài sản thế chấp cho những khoản vay của các đối tượng vay vốn như: người thuê nhà, người lao động có thu nhập từ lương,
hộ sản xuất nhỏ và các doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ Trong khu vực các tổ chức tín dụng chính thức, đứng đầu và chiếm vai trò chính là Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam (VBARD), lãi suất của VBARD được xác định
Trang 13theo khung lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) VBARD có các chi nhánh đến cấp huyện và rất ít đến cấp xã, do đó, nguồn vốn đến khu vực nông thôn còn hạn chế
Tín dụng phi chính thức: các khoản vay từ nguồn tín dụng phi chính thức
thường không yêu cầu tài sản thế chấp, gồm các khoản vay mượn từ người thân, bạn
bè và hàng xóm, các khoản tín dụng xoay vòng “hụi”, và khoản vay từ người cho vay Một hình thức tín dụng phi chính thức được hình thành gần đây trong đó tín dụng được cấp bởi thương nhân địa phương hoặc các nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp Hình thức tín dụng này dần trở thành một bộ phận quan trọng của tín dụng phi chính thức Lợi thế của tín dụng phi chính thức: gần gũi với hộ gia đình, có thể tiếp cận bất cứ lúc nào, khu vực hoạt động linh động, quy trình nhanh mà không cần tài sản thế chấp, trả nợ linh động và chi phí giao dịch thấp Do đó, những hộ không có tài sản thế chấp và cần khoản vay nhỏ thường tiếp cận nguồn tín dụng phi chính thức
Cung tín dụng chính thức ở nông thôn được thực hiện thông qua hình thức cho vay cá nhân và thông qua các chương trình tín dụng vi mô Kênh tín dụng này được cho là cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận tín dụng của hộ Tuy nhiên, do thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng, cơ chế sàng lọc trong thị thường tín dụng chính thức đã loại trừ một số người nghèo không đủ điều kiện vay vốn ra khỏi thị trường Ở Việt Nam, Pham và Izumida (2002) chỉ ra rằng hơn 30% hộ nông dân không thể vay từ người cho vay chính thức Khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức bị hạn chế dẫn đến các hộ gia đình này phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tín dụng phi chính thức Tuy cùng tồn tại song song trong thị trường tín dụng nông thôn, hai phương thức cho vay chính thức và phi chính thức sử dụng các chiến lược sàng lọc khác nhau để tránh lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức trong quá trình cho vay của họ Trong đó, các tổ chức tín dụng chính thức đánh giá rủi ro tín dụng dựa trên yếu tố lãi suất và lịch sử trả nợ của người vay Trong khi đó, người cho vay phi chính
Trang 14thức đánh giá rủi ro tín dụng dựa trên đặc điểm của hộ đi vay, đặc biệt là mối quan
hệ cá nhân giữa người cho vay và người đi vay
2.1.2 Thông tin bất cân xứng
Lý thuyết chính của thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng nông thôn bắt nguồn từ nghiên cứu của Hoff & Stiglitz (1990)
Quan điểm về thị trường tín dụng làm tiền đề cho Stiglitz (1990):
Thứ nhất, mỗi người vay có khả năng trả nợ khác nhau, do đó người cho vay phải tốn rất nhiều chi phí để xác định mức độ rủi ro của từng người vay (Thông tin bất cân xứng – imperfect information) Đây được gọi là vấn đề thanh lọc – screening (Hoff và Stiglitz 1990) Để khắc phục vấn đề thiếu thông tin ban đầu, người cho vay mất nhiều thời gian và nguồn lực để sàng lọc đối tượng vay vốn khi không có sẵn dữ liệu thông tin tín dụng, thậm chí khi có được thông tin tín dụng thì chưa chắc tin cậy được do nguồn thông tin sai lệch nhiều
Thứ hai, người cấp tín dụng sẽ tốn chi phí để xác định coi người đi vay có sử dụng khoản vay đúng mục đích hay không Khi không thực hiện đúng cam kết về mục đích vay, người vay có thể sử dụng vốn không hợp pháp, dẫn đến nguồn trả nợ không đảm bảo như ban đầu thỏa thuận Do đó, người cấp tín dụng cần theo dõi và khuyến khích người vay thực hiện đúng theo cam kết ban đầu Đây là vấn đề khuyến khích – incentive problem
Thứ ba, sau khi nhận được nguồn vốn, người cấp tín dụng sẽ khó bắt buộc người vay trả nợ theo cam kết hợp đồng ban đầu Trường hợp sai phạm hợp đồng có thể xuất phát do biến cố cuộc sống, gây khó khăn trả nợ hoặc nhận thức kém của người vay, người vay ỷ y cho rằng việc chậm trễ thanh toán không gây khó khăn khi vay vốn trong tương lai Do đó, người cấp tín dụng phải có những biện pháp tạo ra động lực cho người đi vay thực hiện đúng các cam kết Đây là vấn đề thực thi – emforcement problem
Trang 15Với ba vấn đề trên, tổ chức cấp tín dụng sẽ cân nhắc cho vay dựa trên các đặc điểm của người cho vay để hạn chế tối đa rủi ro khi cho vay và các chi phí phát sinh khi xảy ra các vấn đề nêu trên
Thông tin bất cân xứng gây ra hai hành vi phổ biến là lựa chọn bất lợi và tâm
lý ỷ lại Lựa chọn bất lợi là hành động trước khi ký hợp đồng vay vốn Tâm lý ỷ lại
là hành động sau khi ký hợp đồng, cả hai hành vi này đều của bên có nhiều thông tin hơn, ảnh hưởng tiêu cực đến bên ít thông tin Thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng phát sinh vì người vay vốn có thông tin tốt hơn về rủi ro vỡ nợ của họ hơn các tổ chức cấp tín dụng (Aleem, 1990) Người vay hiểu rõ mục đích vay vốn, khả năng trả nợ của mình, trong khi đó, bên cho vay là các tổ chức tín dụng chỉ nắm bắt thông tin từ dữ liệu mà người vay cung cấp, nếu người vay cố tình cung cấp thông tin sai thì người cho vay sẽ bị thiệt hại khi đã giải ngân món vay Vì vậy, với sự bất cân xứng về thông tin này, người cho vay sẽ thiết lập tiêu chuẩn cho vay và kiểm tra thông tin riêng để hạn chế thấp nhất rủi ro khi cho vay
Thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng ảnh hưởng đến chi phí giao dịch và sự khác biệt trong các gói sản phẩm tín dụng (ví dụ lãi suất) giữa các nhóm khách hàng khác nhau Cụ thể là, khi nhận thấy khoản vay có độ rủi ro cao, tổ chức tín dụng sẽ quy định mức lãi suất cao nhằm bù đắp các chi phí phát sinh sau này, mặt khác để loại bỏ người vay đó Người vay có xu hướng không vay khi cho rằng lãi suất đó quá cao so với kỳ vọng của họ Do đó, với cơ chế thay đổi lãi suất, người cho vay có thể phần nào loại bỏ bớt những khoản vay không tốt ban đầu
2.1.3 Tiếp cận tín dụng
Trường hợp người vay vốn nhận được nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng được gọi là tiếp cận tín dụng Người vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức và phi chính thức đều nằm trong trường hợp tiếp cận tín dụng
2.1.4 Hạn chế tín dụng
Hạn chế tín dụng xảy ra khi nhu cầu vay của người vay không được thỏa mãn hoàn toàn (số tiền được vay thấp hơn nhu cầu vay) do người cho vay hạn chế mức tín
Trang 16dụng mặc dù người đi vay chấp nhận mức lãi suất cao hơn Bên cho vay sẽ xác định
số tiền cấp tín dụng theo phân bổ dựa trên xác suất vỡ nợ, xác suất này có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố bao gồm lợi nhuận kỳ vọng của dự án, các điều khoản của khoản vay, sự không hoàn hảo của thị trường và đặc điểm của người vay
+ Pure Credit Rationing: người cho vay sẽ thiết lập tiêu chí về đặc điểm nhân khẩu học, gia đình, lịch sử tín dụng,… để lựa chọn đối tượng được vay và không được vay, với các tiêu chí đó, người cho vay sẽ phân loại và từ đó ra quyết định cho vay hay không
Trang 17trường hợp 2 và 3, nghiên cứu chỉ tập trung phân tích và đưa ra kết quả trường hợp hạn chế tín dụng một phần này và gọi tắt trong suốt nghiên cứu là hạn chế tín dụng
Hình 2.1: Các trường hợp hạn chế tín dụng
Nguồn: Zeller, 1994
2.2 Nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tín dụng
Đặc điểm cá nhân của chủ hộ và hộ gia đình được kỳ vọng có ý nghĩa quan trọng đối với nhu cầu tín dụng Các đặc điểm cá nhân của chủ hộ tác động quan trọng đến nhu cầu tín dụng bao gồm tuổi, giới tính, trình độ học vấn Các đặc điểm hộ gia đình gồm: số thành viên trong hộ, tỷ lệ phụ thuộc, thu nhập hộ, khoảng cách từ hộ đến nơi vay
Tuổi chủ hộ: Theo giả thuyết chu kỳ cuộc sống, những cá nhân trẻ và năng động với tham vọng kiếm được thu nhập cao hơn, họ thường tích cực hơn trong việc tiết kiệm để tích lũy tài sản Vì vậy, người trẻ có thể có xu hướng tiết kiệm và vay nhiều hơn cho đầu tư trong khi người già có thể ít có xu hướng tiết kiệm và vay mượn Ngoài ra, người trẻ có thể có xu hướng đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp,
Nộp hồ sơ vay vốn
Cấp tín dụng
Lý do không nộp hồ sơ
Được cấp theo nhu cầu vay
Không cấp tín dụng
Hạn chế cấp tín dụng một phần Không đủ điều
kiện vay
Trang 18đòi hỏi phải có vốn lớn và rủi ro cao, trong khi người già và về hưu sẽ có xu hướng đầu tư vào các hoạt động nông nghiệp với vốn nhỏ Do đó, nhu cầu về tín dụng dự kiến sẽ thay đổi cùng chiều theo độ tuổi, nghiên cứu của Mikkel & Finn (2003) cũng đem lại kết quả tương tự Tuy nhiên, Okurut và cộng sự (2005) và Zeller (1994) có kết quả ngược lại, nghiên cứu cho thấy người già với mạng lưới xã hội rộng lớn và vốn xã hội nhiều, họ có xu hướng vay mượn nhiều hơn người trẻ
Giới tính chủ hộ: Nam giới và nữ giới tham gia vào các hoạt động kinh tế khác nhau, do đó, nhu cầu tín dụng đến các hoạt động kinh tế là khác nhau Nữ giới chủ yếu tập trung vào các hoạt động nông nghiệp và công việc nhà, trong khi nam giới thực hiện các hoạt động có thu nhập cao cho gia đình (Ilahi, 2001a, 2001b) Việc phân chia công việc cũng do ảnh hưởng của phân biệt quyền lực trong gia đình Do đó, nhu cầu về tín dụng dự kiến sẽ khác nhau theo giới tính
Trình độ học vấn chủ hộ: đặc điểm về trình độ học vấn tác động tích cực đến nhu cầu tín dụng của hộ Những người có trình độ học vấn cao luôn chủ động tham gia các hoạt động mang lại lợi nhuận cao, họ sử dụng các kiến thức của mình để kinh doanh dự án lớn, do đó nhu cầu tín dụng sẽ tăng lên cùng với trình độ giáo dục (Mpuga, 2008; Okurut, 2005)
Thu nhập hộ: đây là yếu tố quan trọng quyết định nhu cầu tín dụng Thu nhập thấp dẫn đến hộ gia đình tiết kiệm ít và nhu cầu tín dụng thấp do họ cảm thấy không
đủ khả năng trả nợ Với thu nhập cao hơn, hộ gia đình có thể tiết kiệm được nhiều hơn và có nhiều tài sản hơn, có thể dùng làm tài sản thế chấp để vay Điều này hàm
ý rằng ở mức thu nhập cao hơn, hộ gia đình có nhu cầu vay thường xuyên hơn và với
số tiền lớn hơn (Mpuga, 2008)
Số thành viên trong hộ: theo nghiên cứu của Sai Tang (2010), số thành viên trong hộ có tác động cùng chiều với nhu cầu vay vốn của hộ Nguyên nhân là do hộ với nhiều thành viên hơn, chi tiêu cho hộ lớn, các khoản đầu tư lớn như mua tích lũy tài sản cao hơn, ngoài ra, nếu số thành viên đang trong độ tuổi đi học thì nhu cầu vay vay vốn cũng cao hơn Kết quả cũng tương tự đối với nghiên cứu của Ranjula (2002),
Trang 19khi phân tích về nhu cầu tín dụng của các hộ nông dân ở Ấn Độ, tác giả cũng thấy mối quan hệ cùng chiều giữa số thành viên trong hộ và nhu cầu vay vốn
Tỷ lệ phụ thuộc: Cơ cấu lao động của hộ gia đình có thể ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng Ví dụ, số thành viên trong độ tuổi lao động nhiều thường có quan hệ cùng chiều với số tiền vay mượn (Barslund và Tarp, 2008) Cụ thể, những hộ có nhiều thành viên trong độ tuổi lao động ngoài việc tăng vốn để mở rộng sản xuất, họ còn vay vốn nhiều để chi trả các khoản chi tiêu trong gia đình (Pham và Izumida, 2002)
Do đó, những hộ có tỷ lệ phụ thuộc cao thường có nhu cầu vay vốn thấp hơn những
hộ có tỷ lệ phụ thuộc thấp Trong khi nghiên cứu của Okurut (2005) không thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ phụ thuộc và nhu cầu vay vốn
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hằng (2015) về các yếu
tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng của hộ nông dân Việt Nam cho thấy các biến về tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, số thành viên hộ, thu nhập của hộ đều ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng cung tín dụng
Cung tín dụng trong thị trường tín dụng là việc cung cấp tín dụng của bên cho vay, thể hiện qua nguyên tắc hạn chế tín dụng của các tổ chức tín dụng Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng hạn chế tín dụng gồm đặc điểm nhân khẩu học hộ gia đình (tỷ lệ phụ thuộc, thu nhập), đặc điểm chủ hộ (trình độ giáo dục, giới tính) và tài sản thế chấp Tổ chức tín dụng và mục đích vay vốn cũng ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng của hộ gia đình
Trình độ giáo dục: người có kết quả tốt về giáo dục thường có kiến thức áp dụng các kỹ thuật mới làm tăng năng suất, điều đó dẫn đến khả năng trả nợ tốt Do
đó khả năng hạn chế tín dụng thấp, kết quả nghiên cứu của tìm ra tác động ngược chiều giữa trình độ giáo dục và hạn chế tín dụng, tức là người có trình độ học vấn cao
có khả năng hạn chế tín dụng thấp hơn (Barslund và Tarp, 2008; Pham và Izumida, 2002) Tuy nhiên, nghiên cứu của Zeller (1994) có kết quả ngược lại, cho rằng hộ sẽ
bị hạn chế tín dụng khi số năm đi học càng cao
Trang 20Giới tính chủ hộ: Okurut (2005) cho thấy kết quả giới tính người vay có ảnh hưởng đáng kể đến hạn chế tín dụng Nữ giới có xu hướng làm những công việc chăm sóc gia đình hơn là các hoạt động tạo thu nhập, do đó, khả năng hạn chế tín dụng khi
nữ vay vốn sẽ cao Nghiên cứu của Chaudhuri và Cherical (2011) có kết quả ngược lại, nam giới có nhiều khả năng bị hạn chế tín dụng cao hơn
Quy mô hộ gia đình, tỷ lệ phụ thuộc, số thành viên lao động là những yếu tố quan trọng trong quyết định cho vay tín dụng của người cho vay Các hộ gia đình có quy mô gia đình lớn hơn có khuynh hướng bị hạn chế tín dụng (Chaudhuri và Cherical, 2011) Tỷ lệ phụ thuộc cao hơn có thể dẫn đến xác suất hạn chế tín dụng cao hơn (Pham và Izumida, 2002), điều này là hợp lý vì tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì gánh nặng kinh tế cao, do đó khả năng trả nợ thấp
Thu nhập: chỉ số kinh tế về thu nhập có ảnh hưởng đáng kể đến các ràng buộc tín dụng trong những nghiên cứu trước đây (Foltz, 2004) Thu nhập hộ gia đình càng cao thì khoản vay của hộ bị hạn chế càng thấp, điều này là hợp lý vì thu nhập phản ánh chính xác nhất khả năng trả nợ của hộ
Tài sản thế chấp: đóng vai trò quan trọng trong thị trường tín dụng nông thôn Tài sản thế chấp được xem như một vật thể làm tin của người vay, người đi vay thường sẵn sàng đảm bảo khoản vay bằng tài sản có giá trị cao khi vay tiền thực hiện dự án có rủi ro thấp, vì người vay không muốn mất tài sản nên họ đã tính toán rủi ro hợp lý, đảm bảo thanh toán đúng hạn Đất đai là tài sản thế chấp thông thường được sử dụng trong thị trường tín dụng, đất đai đã được xác nhận là một nhân tố quan trọng của xác suất hạn chế tín dụng trong các nghiên cứu khác nhau Do đó, hạn chế tín dụng sẽ xảy ra trong trường hợp thiếu tài sản thế chấp (Bester, 1987) Nghiên cứu của Foltz (2004) cũng đem lại kết quả tương tự, cho rằng các hộ gia đình có quyền sở hữu đất càng nhiều thì ít bị hạn chế tín dụng Tuy nhiên, diện tích đất đai và quyền sử dụng đất ở Việt Nam đều có tác động không đáng kể đến quyết định của ngân hàng trong việc cung cấp tín dụng (Barslund và Tarp, 2008, Phạm và Izumida, 2002)
Khoảng cách đến nơi vay: Theo nghiên cứu của Samuel (2017), khoảng cách
Trang 21từ hộ đến nơi vay vốn gần nhất có tác động cùng chiều với hạn chế tín dụng, điều này
có nghĩa là những hộ ở xa nơi vay vốn thì khoản vay nhận được sẽ thấp hơn nhu cầu vay Điều này được lập luận là do khoảng cách từ hộ gia đình đến địa điểm vay càng
xa thì chi phí giao dịch càng cao,ảnh hưởng tiêu cực hiệu quả khoản vay, do đó, các khoản vay của các hộ ở xa sẽ có rủi ro cao hơn và sẽ bị hạn chế cao hơn các khoản vay gần địa điểm vay
Mục đích vay vốn: nghiên cứu của Chaudhur và Cherical (2011), Diagne (1999) cho rằng các khoản vay cho sản xuất và nuôi trồng ít bị hạn chế tín dụng so với các mục đích vay khác Điều này là do mục tiêu mà tín dụng nông thôn hướng đến, bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình có thể tăng thu nhập và cải thiện đời sống Còn các mục đích vay khác như đầu tư, tiêu dùng thì không đem lại thu nhập, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, do đó, xác suất hạn chế tín dụng cao hơn
Tổ chức tín dụng: hộ vay vốn tại các tổ chức tín dụng chính thức thường có khả năng hạn chế tín dụng cao hơn so với các tổ chức phi chính thức, nguyên nhân là
do các quy định nghiêm ngặt khi xét duyệt cho vay, giám sát
Kết quả nghiên cứu của Phan Đình Khôi (2013) về các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức và phi chính thức của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long, cho thấy việc sở hữu tài sản thế chấp có giá trị cao thì khả năng được cấp tín dụng càng lớn Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra mục đích vay vốn, tuổi tác và thu nhập của hộ gia đình ảnh hưởng đến số tiền vay nhận được
Trang 22Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
sản thế chấp, nhu cầu vay, các mục đích vay, tổ chức tín dụng
Số thành viên trong hộ Tuổi chủ hộ Thu nhập hộ Trình độ học vấn chủ hộ
Tỷ lệ phụ thuộc Giới tính chủ hộ Khoảng cách đến nơi vay Giá trị tài sản thế chấp Mục đích vay sản xuất Mục đích vay tiêu dùng Mục đích vay đầu tư
Tổ chức tín dụng
Tiếp cận
tín dụng
Hạn chế tín dụng
Trang 233.2 Mô hình phân tích
Nghiên cứu sử dụng lý thuyết của Heckman (1979) để giải quyết vấn đề lệch
do chọn mẫu Lệch do chọn mẫu ở đây là do chỉ sử dụng dữ liệu những hộ tham gia tín dụng để chạy hồi quy và sử dụng kết quả để mô tả toàn bộ mẫu (cả tham gia tín dụng và không tham gia tín dụng )
Hình 3.2: Phân bố mẫu dữ liệu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ dữ liệu VARHS -2014
Hình 3.2 mô tả vấn đề lệch do chọn mẫu Trong đó, dữ liệu quan sát có thông tin về các biến liên quan đến khả năng tiếp cận tín dụng chỉ có ở 1183 quan sát Trong khi đó có 2077 quan sát không tiếp cận tín dụng, đây là những mẫu không quan sát được, không có dữ liệu để xử lý Vì vậy, khi ước lượng khả năng tiếp cận tín dụng của hộ, chỉ có 1183 quan sát được đưa vào mô hình và sau đó, kết quả ước lượng của
1183 quan sát sẽ giải thích kết quả của 3260 quan sát => hiện tượng lệch do chọn mẫu Mô hình Heckman sẽ giải quyết vấn đề này
Mẫu (3260 quan sát)
Tiếp cận tín dụng (1183 quan sát)
Không tiếp cận tín dụng (2077 quan sát)
Hạn chế tín dụng
một phần
(845 quan sát)
Không hạn chế tín dụng một phần (338 quan sát)
Đã từng bị hạn chế
tín dụng
(0 quan sát)
Chưa từng bị hạn chế tín dụng (338 quan sát)
Không đủ tiêu chuẩn
Không có nhu cầu
Trang 24Nghiên cứu sử dụng mô hình Heckman hai giai đoạn để phân tích kết quả về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng và mức độ hạn chế tín dụng Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng thêm mô hình Heckprob (cải tiến từ Heckman) để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến xác suất hạn chế tín dụng
Mô hình Heckman hai giai đoạn: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng và mức độ hạn chế tín dụng
Nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình Heckman hai giai đoạn (1979), trong đó biến phụ thuộc trong phương trình kết quả mang giá trị liên tục và biến phụ thuộc của phương trình lựa chọn mẫu là biến nhị phân
Xem xét một mẫu ngẫu nhiên gồm I quan sát, phương trình hạn chế tín dụng của mỗi hộ gia đình i sẽ là:
𝑌1𝑖 = 𝑋1𝑖 𝛽1 + 𝑢1𝑖 (1a) => phương trình kết quả
𝑌2𝑖 = 𝑋2𝑖 𝛽2 + 𝑢2𝑖 (1b) => phương trình chọn mẫu
i = 1,2,…,I: số hộ trong mẫu
(1a) Phương trình phản ánh mức độ hạn chế tín dụng của hộ gia đình
Trong đó:
Y 1i : biến liên tục, được xác định bằng 1 - tỷ lệ giữa khoản vay nhận được và nhu cầu
vay ban đầu Nếu Y1i có giá trị nhỏ hơn 0 thì hộ xảy ra trường hợp hạn chế tín dụng,
và Y1i có giá trị bằng 0 thì hộ đó không bị hạn chế tín dụng
X 1i : vector các biến ngoại sinh về các đặc điểm ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng, gồm
các nhóm biến đặc điểm hộ gia đình, đặc điểm tài sản thế chấp của hộ và đặc điểm khoản vay
u 1i : sai số mô hình
(2a) Phương trình phản ánh khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình
Trang 25Trong đó:
Y 2i: biến nhị phân Y2i = 1 nếu hộ tiếp cận tín dụng (khoản vay nhận được > 0) và Y2i
= 0 nếu không tiếp cận tín dụng (khoản vay nhận được = 0)
X 2i : vector các biến mô tả khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình, bao gồm nhóm
biến đặc điểm hộ gia đình và đặc điểm tài sản của hộ
u 2i : sai số mô hình
Giả định chung của 2 mô hình (1a) và (2a):
(u1, u2) ~ N(0, 0, σ 2 u1, σ 2 u2, ρu1 u2)
- Hai sai số của 2 mô hình có giá trị trung bình bằng không, phương sai không thay đổi và giữa chúng có mối tương quan thể hiện bằng chỉ số ρu1u2
- u1 và u2 không có mối quan hệ với X1i và X2i
Nếu kỳ vọng một giá trị u1i = 0 thì phương trình hồi quy cho mẫu lựa chọn có
giá trị giống phương trình hồi quy mẫu tổng thể, có nghĩa là ta có thể ước lượng được
𝛽1 bằng phương pháp bình phương tối thiểu OLS khi sử dụng mẫu lựa chọn để làm
Trang 26kết quả cho mẫu tổng thể Tuy nhiên, thực tế u1i ≠ 0 do nguyên tắc chọn mẫu dựa trên
dữ liệu sẵn có thường có nhiều ảnh hưởng đến kết quả Giả sử dữ liệu sẵn có của Y1i khi 𝑌2𝑖∗ > 0 trong khi đó Y1i không có quan sát nào nếu 𝑌2𝑖∗ = 0, điều này dẫn đến u1i
sẽ không đạt giá trị 0 như kỳ vọng, thay vào đó, u1i sẽ đạt tại ngưỡng:
𝐸(𝑢1𝑖│𝑋1𝑖, 𝑌2𝑖∗ > 0) = 𝐸(𝑢1𝑖│𝑋1𝑖, 𝑢2𝑖 > − 𝑋2𝑖 𝛽2)
Mô hình hồi quy với mẫu lựa chọn và u1i ≠ 0 như sau:
𝐸 ( 𝑌1𝑖│𝑋1𝑖, 𝑌2𝑖∗ > 0) = 𝑋1𝑖 𝛽1+ 𝐸(𝑢1𝑖│𝑋1𝑖, 𝑢2𝑖 > − 𝑋2𝑖 𝛽2) (2)
Mô hình thể hiện 2 biến độc lập là 𝑋1𝑖 và 𝑋2𝑖 Trong đó ước lượng các tham
số trong phương trình (1a) phù hợp với phương trình (2), vì vậy vấn đề lệch do chọn mẫu được xác định khi bỏ một số quan sát
Một giả định quan trọng khác của mô hình là hệ quả cách chọn mẫu ngẫu
nhiên Theo đó, mật độ chung của u 1 , u 2i là h(u 1i ,, u 2i ) Giả định này được phát triển
𝜆𝑖= 𝜙(𝑍𝑖)
1 − Ф(𝑍𝑖)=
𝜙(𝑍𝑖)
Ф (−𝑍𝑖)Trong đó ϕ và Ф thể hiện mật độ và hàm phân phối cho biến phân phối chuẩn, và
𝑍𝑖 = −𝑋2𝑖 𝛽2
√𝜎22
λ i là nghịch đảo của tỷ lệ Mill, đây là tỷ lệ của hàm mật độ xác suất và hàm phân phối tích lũy
Trang 27Mô hình hồi quy có điều kiện chọn mẫu được biểu diễn như sau:
Ф (𝑋2𝑖𝛽2
√𝜎22)Nếu biết 𝑍𝑖và sau đó có giá trị 𝜆𝑖 ta sẽ có phương trình hồi quy sau:
𝑌1𝑖 = 𝐸( 𝑌1𝑖│𝑋1𝑖, 𝑌2𝑖∗ > 0) + 𝑉1𝑖
𝑌2𝑖 = 𝐸( 𝑌2𝑖│𝑋2𝑖, 𝑌2𝑖∗ > 0) + 𝑉2𝑖
Với V 1i , V 2i là sai số
Trang 28Trong đó,
𝐸 ( 𝑉1𝑖│𝑋1𝑖 , 𝜆𝑖 ,𝑢2𝑖 > −𝑋2𝑖 𝛽2) = 0
𝐸 ( 𝑉2𝑖│𝑋2𝑖 , 𝜆𝑖 , 𝑢2𝑖 > −𝑋2𝑖 𝛽2) = 0
Nếu biết giá trị 𝑍𝑖 và 𝜆𝑖, ta có thể thêm 𝜆𝑖 như một biến trong mô hình hồi quy
trong phương trình Y 1i , Y 2i và ước tính phương trình đó bằng phương pháp bình phương tối thiểu OLS Tuy nhiên, khó có thể biết được giá trị 𝜆𝑖, Heckman (1979) đề
xuất các bước tính λ i như sau:
Bước 1: ước lượng các hệ số hồi quy β 2 trong phương trình 𝑌2𝑖 = 𝑋2𝑖 𝛽2 +
𝑢2𝑖 , 𝑌2𝑖 = 1 khi 𝑌2𝑖∗ > 0 và 𝑌2𝑖 = 0 khi 𝑌2𝑖∗ = 0 bằng hồi quy probit
Bước 2: từ hệ số β 2 , tiếp tục ước lượng Z i và 𝜆𝑖, sau đó ước lượng λ̂i
Bước 3: ước lượng β 1 và σ 12 từ các hệ số đã tính
Áp dụng mô hình hồi quy Heckman hai giai đoạn vào nghiên cứu
Giai đoạn 1: Hồi quy Probit tính xác suất khả năng tiếp cận tín dụng
𝑃𝑟𝑜𝑏𝑖𝑡(𝑌2 = 1|𝑋2𝑖) = Ф(𝑋2𝑖 𝛽2)
= β 1 Số thành viên trong hộ + β 2 Tỷ lệ phụ thuộc + β 3 Thu nhập
hộ + β 4 Tuổi chủ hộ + β 5 Giới tính chủ hộ + β 6 Trình độ giáo dục của chủ hộ + u 2
Giai đoạn 2: Hồi quy OLS ước lượng giá trị tham số các nhân tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ khoản vay tín dụng nhận được trong trường hợp hộ gia đình được tiếp cận tín dụng
𝑌1𝑖 = 𝐸 ( 𝑌1𝑖|𝑋1𝑖, 𝑌2𝑖∗ > 0) + 𝑉1𝑖= 𝑋1𝑖 𝛽1+𝜎12𝜙(−𝑋2𝑖𝛽2)
Ф (𝑋2𝑖𝛽2) + 𝑉1𝑖
= β 1 Tỷ lệ phụ thuộc + β 2 Thu nhập hộ + β 3 Khoảng
cách đến nơi vay vốn + β 4 Giới tính chủ hộ + β 5 Trình độ giáo dục của chủ hộ+ β 6
Trang 29Giá trị tài sản thế chấp + β 7 Mục đích vay sản xuất + β 8 Mục đích vay tiêu dùng + β 9
Mục đích vay đầu tư + β 10 Tổ chức tín dụng + V 1i
Mô hình Probit hai biến với mẫu lựa chọn (Heckprob): Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xác suất hạn chế tín dụng
Khi biến phụ thuộc của phương trình kết quả và phương trình chọn mẫu đều
là biến nhị phân, mô hình Probit hai biến với mẫu lựa chọn có thể được sử dụng Mô hình này tương tự như mô hình lựa chọn mẫu của Heckman về điều chỉnh vấn đề mẫu không ngẫu nhiên Tuy nhiên, thay vì sử dụng hồi quy probit (đối với phương trình lựa chọn) và một hồi quy OLS (đối với phương trình kết quả) trong mô hình của Heckman, thì mô hình Probit hai biến với mẫu lựa chọn cho phép sử dụng hai mô hình hồi quy probit cho cả hai phương trình (Nicoletti & Peracchi, 2001) Mô hình này dùng để kiểm tra các yếu tố quyết định đến xác suất hạn chế tín dụng khi hộ đã được tiếp cận tín dụng
Mô hình probit hai biến với mẫu lựa chọn được giải thích như sau:
Phương trình kết quả: 𝑌1𝑖 = 𝑋1𝑖 𝛽1 + 𝑢1𝑖
Trong đó, Y 1i là biến nhị phân có giá trị = 1 khi hộ bị hạn chế cấp tín dụng (tỷ
lệ giữa khoản vay nhận được và nhu cầu vay < 1), , Y 1i có giá trị = 0 khi hộ không bị hạn chế cấp tín dụng (tỷ lệ giữa khoản vay nhận được và nhu cầu vay = 1) 𝑋1𝑖là vectơ các biến giải thích cho 𝑌1𝑖∗, β 1 là tham số của các biến giải thích, u 1i là sai số
Phương trình lựa chọn: 𝑌2𝑖 = 𝑋2𝑖 𝛽2 + 𝑢2𝑖
Trong đó, 𝑌2𝑖 là biến nhị phân mang giá trị bằng 1 khi hộ tiếp cận tín dụng (số tiền vay nhận được > 0) và mang giá trị bằng 0 khi hộ không tiếp cận tín dụng (số tiền vay nhận được = 0) 𝑋2𝑖là vectơ tập hợp các biến giải thích, u 2i là sai số
Giả định: u 1i và u 2i độc lập và có phân phối chuẩn: u 1i , u 2i ~ iid N(0,0,1,1) và
corr(u 1i , u 2i ) = ρ, hàm phân bố xác suất sẽ là:
Trang 30Trường hợp u 1 và u 2 độc lập với nhau, tham số β 1 có thể được ước lượng trong
mô hình probit 𝑃𝑟(𝑌1𝑖 = 1│𝑋1𝑖) Tuy nhiên, do mẫu bị lựa chọn nên sai số u 1 và u 2
không độc lập, có tương quan với nhau, corr(u 1 ,u 2 ) = ρ ≠ 0 Khi đó, β 1 không thể xác định bằng mô hình 𝑃𝑟(𝑌1𝑖 = 1│𝑋1𝑖) mà phải xác định bằng các phương trình
ϕ (.) là hàm phân phối tích lũy đơn biến và ϕ ( , . , ρ) là hàm phân phối tích lũy hai
biến với hệ số tương quan ρ
Với các sai số độc lập nhau và phân phối chuẩn hai biến với hệ số tương quan
ρ, u 1i , 𝑢2 ~ 𝜑(0,0,1,1, 𝜌), xác suất mô hình 𝑃𝑟(𝑌1𝑖 = 1│𝑋1𝑖, 𝑌2𝑖 = 1 ) được phát triển như sau: