1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp hồ chí minh

85 330 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ tầm quan trọng và tính thực tiễn của vấn đề, từ chỗ số lượng nghiên cứu về vấn đề gian lận BCTC dành cho trường tài chính Việt Nam chưa nhiều, tác giả quyết định chọn đề tài “CÁC YẾU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH HÒA

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH HÒA

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

TP.HCM

Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN PHƯƠNG THẢO

TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học, Ts Trần Phương Thảo Nội dung luận văn là trung thực và các nguồn tài liệu tham khảo được dẫn chứng đầy đủ

Tác giả luận văn

Trần Thanh Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Tính cấp thiết của đề tài .2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.6 Phương pháp nghiên cứu .5

1.7 Ý nghĩa luận văn 5

1.8 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 7

2.1 Nền tảng lý thuyết về gian lận BCTC 7

2.1.1 Định nghĩa về gian lận BCTC 7

2.1.2 Lý thuyết về gian lận báo cáo tài chính 8

2.2 Các phương thức gian lận thường gặp trên BCTC 10

2.2.1 Các phương thức gian lận trên BCTC nói chung 10

2.2.2 Các thủ thuật gian lận lợi nhuận 12

2.3 Các yếu tố gây ra gian lận BCTC 17

2.4 Lược khảo các các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC 19

2.4.1.Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 19

2.4.2.Tổng quan nghiên cứu trong nước 23

Trang 5

2.5 Khoảng trống nghiên cứu… 24

Tóm tắt chương 2 24

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM 25

3.1 Những gian lận BCTC của DNNY trên SGDCK Tp.HCM 25

3.2 Phân tích thực trạng khả năng gian lận lợi nhuận trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM từ 2011-2015 32

3.2.1 Thực trạng sai lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán 32

3.2.2 Thực trạng sai lệch nghiêm trọng lợi nhuận trước và sau kiểm toán 36

Tóm tắt chương 3 37

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN LẬN BCTC CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI SGDCK TP.HCM ……38

4.1 Mô hình nghiên cứu …….38

4.1.1 Mô hình nghiên cứu 38

4.1.2 Các biến nghiên cứu 39

4.2 Phương pháp nghiên cứu 42

4.3 Thu thập và xử lý dữ liệu 42

4.3.1 Thu thập dữ liệu 42

4.3.2 Xử lý dữ liệu 44

4.4 Kết quả kiểm định giả thuyết 48

4.4.1 Kết quả kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC 48

4.4.2 Kết quả kiểm định sự khác biệt trong ảnh hưởng của các tỷ số tài chính đến gian lận BCTC 56

Tóm tắt chương 4… 58

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận ……… 59

Trang 6

5.2 Kiến nghị 60

5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 62

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TTCK: Thị trường chứng khoán

DN: Doanh nghiệp

DNNY: Doanh nghiệp niêm yết

BCTC: Báo cáo tài chính

SGDCK: Sở giao dịch chứng khoán

SGDCK Tp.HCM: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

HĐKD: Hoạt động kinh doanh

CTCP: Công ty cổ phần

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Số lượng niêm yết và vốn hóa thị trường trong 5 năm, từ năm 2011 đến

2015 26

Bảng 3.2: Số lượng và tỷ lệ các công ty sai lệch lợi nhuận 32

Bảng 3.3: Tỷ lệ các loại sai lệch lợi nhuận sau kiểm toán .34

Bảng 3.4: Tỷ lệ các công ty chênh lệnh lợi nhuận sau kiểm toán từ 5% và 10% trở lên 36

Bảng 4.1: Số lượng và tần suất xuất hiện các công ty trong mẫu 45

Bảng 4.2: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của các biến độc lập từ 66 công ty có khả năng gian lận 47

Bảng 4.3: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của các biến độc lập từ 66 công ty không gian lận 47

Bảng 4.4: Kết quả hồi qui logistic với 8 biến độc lập 49

Bảng 4.5: Phần trăm dự đoán đúng của mô hình logistic với 8 biến độc lập 49

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định Hosmer & Lemeshow 50

Bảng 4.7: Mức ý nghĩa các biến độc lập 50

Bảng 4.8: Các hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập 51

Bảng 4.9: Tỷ lệ dự đoán đúng và HL test 52

Bảng 4.10: Kết quả quả hồi quy logistic sau khi loại bỏ biến TD/TA 53

Trang 9

Bảng 4.11: Kết quả phân tách hồi quy đa biến ngược 54 Bảng 4.12: Mức ý nghĩa thống kê của các ba biến độc lập 54 Bảng 4.13: Kết quả hồi quy sau khi khắc phục hiện tượng phương sai phần dư thay đổi 55 Bảng 4.14: Kết quả mô hình hồi quy thực sự phù hợp 56 Bảng 4.15: Kết quả kiểm định 2 mẫu độc lập 57

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

Khi kinh tế gặp khó khăn, thị trường chứng khoán(TTCK) Việt Nam luôn xuất hiện

sự giảm mạnh bất thường về giá của một số lượng khá lớn cổ phiếu Do đó làm dấy lên nghi ngờ từ phía cổ đông về chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính(BCTC), sự minh bạch của ban lãnh đạo, sự công tâm của công ty kiểm toán,

sự thất bại của cơ quan quản lý trong việc bảo vệ nhà đầu tư Một số vụ việc điển hình như: Công ty dược Viễn Đông(năm 2011), Công ty Cổ phần Đầu tư Khoáng sản Tây Bắc(năm 2012), Tập đoàn Đại Dương(năm 2014), Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành(năm 2016)

Hiện nay tại Việt nam, chưa có một cơ quan quản lý nào thực hiện thống kê vi phạm của doanh nghiệp trong việc công bố thông tin sai lệch trên BCTC sau kiểm toán

Ở Mỹ, Hiệp hội kế toán viên công chứng (AICPA-American Institute of Certified

Public Accountants) thống kê cho thấy: 157 công ty vi phạm trong năm 2000; 270

công ty trong năm 2001; năm 2002 có 330 công ty; và hơn 350 công ty trong năm

2003 Các vi phạm chủ yếu là: (1)ghi nhận doanh thu bằng thủ thuật kế toán phức tạp không phản ánh đúng bản chất thực của doanh thu; (2)ghi nhận chi phí sai như vốn hóa không đúng bản chất, ghi nhận cao hàng tồn kho, ghi nhận thấp các khoản

nợ xấu và đầu tư thua lỗ, bỏ qua định giá lại tài sản; (3)ghi nhận không chính xác các khoản liên doanh liên kết; (4)các vi phạm còn lại là không công bố các nội giao dịch, các giao dịch vòng quanh giữa nhóm công ty, các giao dịch ngoại tệ…

Nếu thông tin trong BCTC không phản ánh đúng bản chất kinh tế, tùy theo mức độ

mà việc đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, đặc biệt những dự phóng về doanh nghiệp sẽ gặp phải sai lệnh ở mức nghiêm trọng Hiển nhiên doanh nghiệp nhận thức rõ việc nhà đầu tư, chủ nợ luôn tập trung chú ý phát hiện gian lận nên khi chủ đích thực hiện gian lận thường cố gắng che dấu bằng những thủ thuật kế toán đôi khi rất phức tạp

Trang 12

Khi những gian lận bị thị trường phát hiện hoặc doanh nhiệp tự công bố do khả năng che dấu không còn tiếp tục được nữa, hậu quả là sự sụt giảm rất mạnh về giá

cổ phiếu

Việc việc phát hiện các gian lận trên BCTC là thách thức lớn đối với nhà đầu tư, chủ nợ, cũng như đối với kiểm toán viên Do vậy, gian lận BCTC luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Tại thời điểm năm 2016, Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (SGDCK Tp.HCM) hiện có 317 doanh nghiệp đang niêm yết với giá trị niêm yết đạt gần 464.527 tỷ đồng Kể từ phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000, đến nay SGDCK Tp.HCM đã phát triển được hơn 16 năm, Nhà đầu tư và các Môi giới

đã dần trở nên chuyên nghiệp hơn Các quyết định đầu tư ngày càng dựa trên tập hợp yếu tố cơ bản của doanh nghiệp thu được từ phân tích thông tin trên BCTC, chứ không đơn thuần chỉ dựa vào giá và khối lượng giao dịch kết hợp với mẫu hình phân tích kỹ thuật như trước đây Và như vậy nhu cầu ngày càng tăng về thông tin trung thực, minh bạch, kịp thời, đầy đủ trong BCTC

Trong hai quí đầu năm 2016, nhà đầu tư trên sàn chứng khoán Tp.HCM đã chứng kiến những thông tin sốc tiêu cực từ BCTC của doanh nghiệp Tập đoàn Kỹ nghệ

Gỗ Trường Thành bị phát hiện gần 980 tỷ đồng hàng tồn kho không có thật, đồng thời công ty cũng trích lập dự phòng phải thu khó đòi thấp hơn thực tế Công ty cổ phần Thiết bị Y tế Việt Nhật có vốn điều lệ 1.125 tỷ đồng, trong khi phải trích lập

dự phòng đột biến lên tới hơn 1.159 tỷ đồng nên bị lỗ tới 1.336 tỷ đồng Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai quí 2/2016 đã công bố 530 tỷ giảm giá trị tài sản khi thực hiện đánh giá lại tài sản Những trường hợp điển hình trên không khỏi khiến nhà đầu tư và những ai quan tâm đặt câu hỏi về tính trung thực, sự minh bạch thông tin trong BCTC

Trang 13

Từ tầm quan trọng và tính thực tiễn của vấn đề, từ chỗ số lượng nghiên cứu về vấn

đề gian lận BCTC dành cho trường tài chính Việt Nam chưa nhiều, tác giả quyết

định chọn đề tài “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN LẬN BÁO CÁO

TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM” làm đề tài nghiên cứu Đây là vấn đề có tính

thời sự, nhằm giúp đối tượng quan tâm nhận diện những gian lận BCTC, giúp cơ quan quản lý có thêm công cụ tham khảo để xác định chất lượng thông tin công bố của doanh nghiệp và cuối cùng góp phần làm giảm bớt thông tin bất cân xứng tại TTCK Việt Nam

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Theo tác giả thống kê từ dữ liệu BCTC của các doanh nghiệp niêm yết(DNNY) trên SGDCK Tp.HCM từ 2011 đến 2015, trong số các công ty công bố BCTC trước kiểm toán, trung bình có 83,41% các công ty xuất hiện sai lệnh lợi nhuận trước và sau kiểm toán Trong số các công ty có sai lệch thì trung bình chiếm đến 40,38% là công ty có sai lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán lớn hơn 5% Như vậy tồn tại một tỷ lệ khá cao các BCTC trước kiểm toán phạm phải sai lệch về lợi nhuận trên 5%, đây là mức mà Ủy Ban Chứng Khoán yêu cầu doanh nghiệp phải có văn bản giải trình lý do Trước thực trạng như vậy, mục tiêu nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Phân tích thực trạng khả năng gian lận lợi nhuận BCTC của các doanh

nghiệp niêm yết(DNNY) trên SGDCK Tp.HCM

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận lợi nhuận BCTC của các

DNNY trên SGDCK Tp.HCM

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Thực tế về gian lận đã xảy ra trên sàn chứng khoán Tp.HCM rất đa dạng và phức tạp Từ việc trích lập dự phòng thấp, đánh giá không đúng các khoản lời/lỗ của liên doanh liên kết, bỏ qua các đánh giá về giảm giá tài sản,…cho đến những gian lận nghiêm trọng hơn như ghi nhận doanh thu ảo, ghi khống giá trị hàng tồn kho, tăng

Trang 14

vốn thông qua phát hành thêm nhưng sử dụng không đúng mục đích Khi các gian lận được tiến hành sẽ ảnh hưởng đến các khoản mục trên BCTC và như vậy sẽ tác động đến tỷ số tài chính

Để làm rõ các mục tiêu nghiên cứu ở trên, trọng tâm luận văn trả đi lời các câu hỏi:

Câu 1: Các yếu tố tài chính nào ảnh hưởng đến gian lận lợi nhuận trên BCTC

của các DNNY trên SGDCK Tp.HCM?

Câu 2: Có hay không sự khác biệt trong ảnh hưởng của các chỉ tiêu tài chính

đến gian lận lợi nhuận của DNNY trên SGDCK HCM?

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn sử dụng BCTC trước và sau kiểm toán của các DNNY trên SGDCK Tp.HCM

Theo đó, để xác định DN gian lận BCTC, luận văn căn cứ vào sai lệnh lợi nhuận giữa BCTC trước và sau kiểm toán của các DN niêm yết

Đồng thời, để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC, luận văn chỉ tập trung vào các yếu tố tài chính Cụ thể, tỷ số đòn bẩy tài chính, tỷ số sinh lợi, tỷ

số thanh khoản, tỷ số kết cấu tài sản Đây cũng là hướng nghiên cứu đã được thực hiện ở nghiên cứu trước đây bởi Subramanyam và Wild, 2009; Bai, Yen và Yang, 2008; Spathis, 2002; Persons, 1995

Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM trong trong giai đoạn 05 năm, từ 2011 - 2015

Theo đó, luận văn thu thập dữ liệu của những DN phi tài chính Cụ thể, các

số liệu được thu thập từ các BCTC hàng năm trước kiểm toán và sau kiểm toán trên

cơ sở nguồn dữ liệu được cung cấp bởi công ty Vietstock

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, sử dụng thống kê mô tả,

so sánh đối chiếu kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định lượng sử dụng công cụ kiểm định t hai mẫu độc lập(Independent saple t-test) và mô hình hồi qui logistic, được thực hiện bằng phần mềm Stata 12 Cụ thể:

Kiểm định t hai mẫu độc lập dùng để tìm hiểu có hay không sự khác biệt trong ảnh hưởng của các chỉ tiêu tài chính đến gian lận lợi nhuận của DNNY trên

SGDCK HCM?

Mô hình kiểm định hồi qui logistic để xác định các yếu tố tài chính nào ảnh hưởng đến gian lận lợi nhuận trên BCTC của các DNNY trên SGDCK Tp.HCM?

1.7 Ý nghĩa luận văn

Về mặt lý luận: Đề tài tổng kết các cơ sở lý luận về đánh giá gian lận BCTC, hệ

thống lại các quan điểm và mô hình phát hiện gian lận bằng tỷ số tài chính đã thực hiện trên thế giới

Về mặt thực tiễn:

 Bằng thống kê luận văn đã đưa ra bức tranh đầy đủ về hiện trạng sai lệnh lợi nhuận trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết trên SGDCK Tp.HCM từ năm 2011-2015 Qua phân tích số liệu đã đi đến những kết luận quan trọng về khả năng gian lận lợi nhuận trong BCTC trước kiểm toán của các công ty niêm yết

 Luận văn cũng cung cấp một lượng lớn các thủ thuật kế toán thường được sử dụng để gian lận lợi nhuận BCTC, giúp các đối tượng quan tâm nắm rõ chi tiết từng bước cách thức mà công ty thực hiện gian lận Qua đó áp dụng vào thực tiễn phát hiện những gian lận khi đọc BCTC

 Kết quả mà nghiên cứu định lượng thu được có giá trị hữu ích cho các đối tượng quan tâm như nhà đầu tư, quĩ đầu tư, kiểm toán viên, Ủy ban chứng khoán Nhà nước trong việc đánh giá khả năng gian lận BCTC nhằm đưa ra những quyết định có liên quan một cách hiệu quả

Trang 16

1.8 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm các nội dung chính sau:

Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu, tính cấp thiết và hữu dụng của đề

tài nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan về gian lận và gian lận BCTC, các kết quả nghiên cứu

trong lĩnh vực này, các thủ thuật kế toán phổ biến dùng thực hiện gian lận

Chương 3: Thực trạng gian lận và sai lệch nghiêm trọng về lợi nhuận trong

BCTC trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tp.HCM

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về gian lận BCTC của doanh

nghiệp niêm yết tại SGDCK Tp.HCM

Chương 5: Kết luận và đề xuất kiến nghị nhằm hạn chế gian lận BCTC

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN LẬN

BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Gian lận BCTC nằm trong một chủ đề nghiên cứu rộng hơn là lý thuyết về gian lận Trong chương này tác giả giới thiệu các định nghĩa về gian lận BCTC, những kết quả nghiên cứu quan trọng đóng góp cho sự phát triển lý thuyết về gian lận BCTC Trình bày các yếu tố gây ảnh hưởng đến rủi ro gian lận BCTC và chi tiết các thủ thuật kế toán dùng thực hiện gian lận Tác giả cũng tổng kết các công trình tiêu biểu

về sử dụng chỉ số tài chính để phát hiện gian lận BCTC một công ty

2.1 Nền tảng lý thuyết về gian lận BCTC

2.1.1 Định nghĩa về gian lận BCTC

Theo đi ̣nh nghĩa trong chuẩn mực kiểm Việt Nam thì: “Gian lận báo cáo tài chính

là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”

Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế(ISA) là “Hành vi cố ý của cá nhân hay tổ chức

trong công ty, những người chịu trách nhiệm với Hội đồng quản trị, nhân viên hoặc bên thứ ba liên quan đến việc sử dụng lừa dối để thu lợi ích bất hợp pháp cho mình”

Theo Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia về chống gian lận trên BCTC của Hoa kỳ

(Treadway Commision) năm 1987 định nghĩa: “Gian lận trên báo cáo tài chính là

hành vi cố ý bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh hay công bố thiếu thông tin tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng thông tin, đặc biệt là nhà đầu tư và chủ nợ”

Như vậy có thể hiểu gian lận BCTC là những hành vi cố ý ghi nhận sai lệch thông tin trên BCTC, được thực hiện bởi những người có trách nhiệm trong công ty hoặc

Trang 18

bên liên quan đến công ty, nhằm mục đích đánh lừa người sử dụng thông tin trong BCTC

Tuy nhiên, Tại Việt Nam gian lận BCTC khó xác định là do cố ý hay vô ý, nên trong thực tế thường đề cập đến khả năng gian lận BCTC Cũng theo thông tư số

155/2015/TT-BTC “hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán”: Số

liệu, kết quả hoạt động kinh doanh lũy kế từ đầu năm tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong báo cáo tài chính quý 2 đã công bố so với báo cáo tài chính bán niên được soát xét; hoặc tại báo cáo tài chính quý 4 đã công bố so với báo cáo tài chính năm được kiểm toán có sự chênh lệch từ 5% trở lên thì phải có công văn giải trình với SGDCK Như vậy mức chênh lệnh 5% được coi là không bình thường và

cần phải công khai nguyên nhân, qua đó đối tượng quan tâm có thể đánh giá được khả năng gian lận BCTC của doanh nghiệp

2.1.2 Lý thuyết về gian lận báo cáo tài chính

Gian lận trên BCTC có thể được giải thích dựa vào lý thuyết tổng quát về gian lận của Cressey với mô hình tam giác gian lận hoặc của Steve Albrecht với mô hình về bàn cân gian lận Ngoài ra lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling, lý thuyết đối tượng liên quan của Freeman cũng góp phần làm rõ nguyên nhân dẫn đến gian lận

BCTC

Cressey (1953) đã thực hiện một nghiên cứu tổng quát về gian lận, theo Cressey

hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ sở hội đủ ba nhân tố sau: áp lực, cơ hội,

cá tính của con người Ông đề xuất mô hình tam giác gian lận(Fraud Triangle) như

Cơ hội

Cá tính, thái độ

Áp lực

Trang 19

Áp lực: Khởi nguồn của việc thực hiện gian lận là do người thực hiện chịu

những áp lực Cressey tổng kết 6 trường hợp chính tạo nên áp lực gồm: khó khăn về tài chính; hậu quả từ thất bại cá nhân; khó khăn về kinh doanh; bị cô lập; muốn ngang bằng mọi người; mối quan hệ chủ-thợ

Cơ hội: Một khi đã có những áp lực hay động lực thúc đẩy, nếu có cơ hội,

hành vi gian lận sẽ được thực hiện Có hai yếu tố để tạo ra cơ hội:

 Có thông tin: khi nhận biết được hành vi gian lận của người khác hay nhận thấy ở vị trí mình có thể thực hiện được hành vi gian lận tương tự

 Có kỹ thuật để thực hiện: là có đủ kỹ năng và phương tiện để thực hiện gian lận

Thái độ, cá tính: Công trình nghiên cứu của Cressey cho thấy rằng, không

phải tất cả mọi người khi hội đủ áp lực và cơ hội là thực hiện hành vi gian lận mà còn tùy thuộc vào thái độ và cá tính Theo Cressey khoảng 80% khi

có cơ hội và chịu áp lực họ sẽ thực hiện hành vi gian lận

Trong khi đó, cũng nghiên cứu về gian lận, D W Steve Albrecht(1980) một nhà tội phạm học làm việc tại trường Đại học Brigham Young (Mỹ) đã xây dựng một mô

hình nổi tiếng: Mô hình về bàn cân gian lận Mô hình này cho rằng hành vi gian lận

có xảy ra hay không phụ thuộc vào ba nhân tố: Hoàn cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung thực của cá nhân Theo Albercht, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính trung thực của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất cao Ngược lại, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính trung thực cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp

Khác với hai lý thuyết trên, lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling(1976) nghiên

cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền cho rằng: do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành công ty nên các nhà quản lý(bên được

ủy nhiệm) có thể thực hiện các hành vi tư lợi dẫn đến gian lận Mặt khác do thông

Trang 20

tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông cũng là nguyên nhân tạo cơ hội cho hành vi gian lận Cụ thể:

– Quan hệ nhà quản lý và cổ đông: Các giải pháp để giảm chi phí ủy quyền là thông qua hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận công ty Phần lớn các kế hoạch khen thưởng dựa trên các con số kế toán, do đó nhà quản lý sẽ tìm cách tác động vào báo cáo tài chính thông qua vận dụng chính sách kế toán để đạt được mục đích hưởng lợi cá nhân của mình

– Quan hệ cổ đông và chủ nợ: Khi cho vay, chủ nợ có thể đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động doanh nghiệp Việc sử dụng các điều khoản hạn chế nói trên phải dựa trên số liệu kế toán của doanh nghiệp Do đó, các nhà quản lý sẽ tìm cách vận dụng chính sách kế toán khi lập báo cáo tài chính có lợi nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt khi doanh nghiệp gần đến tình trạng vi phạm hợp đồng vay

Lý thuyết đối tượng liên quan của Freeman(1984) đề cập đến trách nhiệm xã hội

của doanh nghiệp và cũng được dùng để giải thích nguyên nhân về gian lận BCTC Một khía cạnh của lý thuyết cho rằng: Ban điều hành doanh nghiệp thường ưu tiên lên hàng đầu trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ luật chơi của thị trường, không bao gồm(hoặc coi nhẹ) các hành động dẫn đến sự hiểu lầm và gian lận

Tựu chung lại, để giải thích và tìm hiểu về gian lận BCTC người ta đã kết hợp lý thuyết tổng quát về gian lận với lý thuyết tài chính Hay gian lận BCTC nằm trong một chủ đề nghiên cứu rộng hơn là lý thuyết về gian lận

2.2 Các phương thức gian lận thường gặp trên BCTC

2.2.1 Các phương thức gian lận trên BCTC nói chung

Các phương thức gian lận đến từ lợi dụng sự linh động trong áp dụng chuẩn mực kế

Trang 21

toán(ví dụ các khoản mục có giá trị cho phép ước lượng theo ý chủ quan), hoặc cực đoan hơn nữa là vi phạm chuẩn mực Ở đây tác giả trình bày kết quả các nghiên cứu tiêu biểu

Theo viện CFA hoa kỳ, các phương thức có thể được xếp vào hai nhóm chính:

- Ghi nhận sai thời điểm hoặc sai giá trị: gian lận BCTC bằng cách ghi nhận sai thời điểm hoặc sai về giá trị sẽ ảnh hưởng đến nhiều tài khoản trong BCTC, ví dụ khi công ty cố tình ghi nhận doanh thu sớm hơn tiêu chuẩn cho phép hoặc ghi nhận cao hơn thực tế sẽ làm tăng lợi nhuận, vốn cổ phần, tài sản

- Ghi nhận sai phân loại: gian lận bằng cách phân loại sai tài khoản trong ghi nhận các giao dịch kinh tế, ví dụ công ty cố tình phân loại hàng tồn kho vào mục tài sản dài hạn khác, hoặc phân loại dòng tiền hoạt động đầu tư khi bán tài sản dài hạn thành dòng tiền hoạt động kinh doanh

Công trình nghiên cứu của ACFE(2006) chỉ ra gian lận BCTC thường được thực

hiện bằng các phương thức:

- Che giấu hoặc phóng đại các khoản phải trả hay chi phí

- Phóng đại hoặc che dấu lợi nhuận

- Định giá sai giá trị tài sản

- Cung cấp thông tin không chính xác: không lưu ý trách nhiệm trọng yếu hay giao dịch các bên liên quan

- Ghi nhận doanh thu hoặc chi phí không chính xác về thời điểm nhằm để bóp méo lợi nhuận

Ba phương cách đầu tiên được sử dụng thường xuyên và chiếm hơn 40% các trường hợp gian lận Bên cạnh đó, 55% các trường hợp gian lận phối phợp nhiều hơn một phương thức để thực hiện các gian lận BCTC

Trong khi đó nghiên cứu của Beasley(1999) và Schilit (2002) phân loại các phương

thức gian lận như sau:

- Ghi nhận doanh thu quá sớm hoặc không có thật

Trang 22

- Chuyển thu nhập tương lai về hiện tại

- Chuyển chi phí hiện tại sang kỳ sau

- Ghi nhận các khoản phải trả dưới mức thực tế

- Chuyển thu nhập hiện tại sang kỳ sau

- Chuyển chi phí tương lai đến kỳ hiện tại

Tương tự, công trình nghiên cứu của các tác giả là Bonner , Palmrose và Young(1998), Rezaee(2002) phân loại chi tiết các phương thức gian lận BCTC

- Ghi nhận doanh thu sớm, giả mạo doanh thu

- Phân loại sai doanh thu và tài sản

- Ghi nhận tài sản cao hơn thực tế

- Ghi nhận chi phí chi phí /nợ phải trả thấp hơn thực tế

- Bỏ qua ghi nhận nợ phải trả

- Công bố thiếu hoặc không phù hợp

- Gian lận vốn chủ sở hữu

- Giao dịch vòng quanh với các bên liên quan

- Thuyết minh BCTC nhằm định hướng sai cho người đọc

Như vậy, theo các nghiên cứu không có quá nhiều phương thức để thực hiện gian lận BCTC Tuy nhiên sự phức tạp đến từ việc ứng mỗi phương thức gian lận bên trên có rất nhiều cách khác nhau để thực hiện gian lận, mà ta gọi là “thủ thuật” Dưới đây tác giả sẽ trình bày những thủ thuật kế toán điển hình nhằm làm sai lệch lợi nhuận

2.2.2 Các thủ thuật gian lận lợi nhuận

Thủ thuật kế toán làm sai lệnh lợi nhuận phần lớn các trường hợp đều nhằm đến mục đích: làm tăng lợi nhuận sau thuế và làm tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cốt lõi

Thủ thuật ghi nhận doanh thu

 Ghi nhận doanh thu tại thời điểm ký hợp đồng hoặc có đơn đặt hàng

Trang 23

nhưng chưa hoàn thành giao hàng hóa cho bên mua

 Ghi nhận doanh thu giả mạo bằng cách giao hàng nhưng không có đơn đặt

hàng

 Ghi nhận doanh thu khi chưa thực hiện xong hợp đồng hoặc một phần

trong hợp đồng

 Ghi nhận doanh thu cho toàn bộ hợp đồng, trong khi đúng ra phải ghi

nhận doanh thu từng phần theo tiến độ thực hiện hợp đồng

 Ghi nhận toàn bộ doanh thu khi bán hàng cho công ty con, hoặc công ty

liên doanh liên kết Bỏ qua điều chỉnh doanh thu khi mà công ty con, công

ty liên doanh liên kết chưa bán hết số hàng này cho khách hàng

 Cố tình tăng doanh thu bằng cách bán hàng cho nhà phân phối với chiết

khấu cao vượt trội, gây bất lợi hoặc thiệt hại cho công ty

 Tăng doanh thu bằng cách bán hàng kèm theo quyền được trả lại

 Tăng doanh thu bằng cách dàn xếp hợp đồng mua bán với đối tác hoặc

công ty con, công ty liên doanh liên kết

 Giao dịch hoán đổi(boomerang transaction) để tăng doanh thu Ví dụ,

công ty A và B hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính, A và B bắt tay nhau thực hiện giao dịch rằng A sẽ cho B thuê 01 cái máy, đồng thời thuê lại của B chiếc máy khác tương đương Rõ ràng về mặt thực tế không có

gì thay đổi, nhưng trên sổ sách kế toán A và B sẽ ghi nhận doanh thu cho thuê máy Hàng loạt các công ty có cơ hội để thực hiện thủ thuật này khi hoạt động trong các lĩnh vực như: cho thuê tài chính, cho thuê đường

truyền viễn thông, cho thuê biển đặt quảng cáo

 Thực hiện thủ thuật “thu lợi một lần”(One-Time Benefits): Khi bán tài sản

cố định hoặc một mảng kinh doanh, công ty chủ đích bán giá thấp hơn thị trường, đồng thời thỏa thuận với bên Mua sẽ phải sử dụng sản phẩm hoặc

Trang 24

dịch vụ của công ty với giá cao để bù lại phần chênh lệch Bằng cách này công ty có thể dịch chuyển lợi nhuận và doanh thu đến kỳ kế toán trong tương lai

Thủ thuật ghi nhận chi phí

 Ghi nhận thấp giá vốn hàng bán:

Khi ghi nhận giá vốn bán hàng thấp hơn thực tế, phần chênh lệch sẽ để lại

ở hàng tồn kho Khoản mục “chi phí sản xuất dở dang” trong hàng tồn kho

thường được dùng để “chứa” phần chênh lệch này

Ghi nhận thấp giá vốn hàng bán còn được thực hiện bằng cách ghi nhận dưới giá trị thực tế hàng tồn kho(mua nhiều nhưng ghi nhận ít) Khi hàng hóa được bán thì giá trị hàng tồn kho chuyển qua giá vốn hàng bán, giá trị

tồn kho thấp thì giá vốn bán hàng cũng thấp tương ứng

Ghi nhận thấp giá vốn hàng bán còn được thực hiện thông qua thủ thuật phục hồi “dự phòng giảm giá hàng tồn kho” của những kỳ trước Chuẩn mực kế toán cho phép khi dự phòng giảm giá hàng tồn kho giảm đi thì phần chênh lệnh này được trừ vào giá vốn hàng bán trong kỳ, tuy nhiên cách này không “hiệu quả” như hai cách ở trên vì giá trị chênh lệch

thường không nhiều

 Thực hiện vốn hóa chi phí hoạt động thông thường: Làm giảm chi phí

trong kỳ, dịch chuyển chi phí hiện tại sang tương lai

Theo chuẩn mực kế toán, có một số lượng lớn các loại chi phí được phép vốn hóa vào tài sản và sẽ khấu hao ở các kỳ kế toán trong tương lai Bằng cách phân loại lại tài sản hoặc phân loại chi phí dựa trên đánh giá chủ quan, công ty có thể vốn hóa các chi phí hình thành tài sản mà lẽ ra bản chất phải được xếp vào chi phí trong kỳ

Trang 25

Ví dụ, một công ty ngành dược nghiên cứu phát triển một loại thuốc, chuẩn mực kế toán yêu cầu ghi nhận chi phí nghiên cứu là chi phí trong kỳ

vì không chắc nghiên cứu sẽ thành công, chi phí phát triển sản phẩm thuốc mới được vốn hóa Do không dễ phân loại rạch ròi khi nào nghiên cứu đã thành công nên công ty dễ dàng phân loại một phần chi phí nghiên cứu vào chi chi phát triển để được vốn hóa

Lưu ý các công ty sử dụng đòn bẩy cao thường có xu hướng vốn hóa lãi suất đi vay vào tài sản Hoặc những công ty có tài sản hình thành do bản

thân tự xây dựng, khi đó công ty có cơ hội dồn các chi phí vào tài sản này

 Dịch chuyển chi phí sang kỳ sau còn được thực hiện thông qua sự thỏa

thuận với các nhà cung cấp nguyên vật liệu và hàng tồn kho Nhà cung cấp

sẽ giảm giá hàng hóa trong kỳ kế toán này và phần chênh lệch sẽ bù vào tăng giá bán ở các kỳ sau

 Dịch chuyển chi phí sang kỳ sau bằng cách kéo dài thời hạn khấu hao tài

sản cố định, hoặc xác định giá trị còn lại của tài sản cao hơn mức bình thường

Thủ thuật ghi nhận tài sản và nợ

 Ghi nhập thấp dự phòng phải thu khó đòi: Dự phòng phải thu khó đòi

được xem là chi phí trong kỳ, nên khi ghi nhận thấp khoản mục này sẽ làm tăng lợi nhuận Đánh giá về dự phòng phải thu khó đòi phụ thuộc vào

đánh giá chủ quan của lãnh đạo công ty nên gian lận khó bị phát hiện

 Ghi nhận thấp các chi phí(nợ) chưa phải trả: Đó là các khoản chi phí

quản lý doanh nghiệp chưa thanh toán, các khoản nợ về lương và bảo hiểm người lao động, các khoản nợ chưa trả về chi phí nghiên cứu phát

triển sản phẩm, các khoản dự phòng về bảo hành sản phẩm đã bán

 Ghi nhận thấp các khoản thuế phải nộp hoặc các bảo lãnh nợ cho bên thứ

ba: Thuế và các thiệt hại phát sinh do bảo lãnh nợ là chi phí, ghi nhận thấp

Trang 26

hoặc không công bố đầy đủ các khả năng thất thoát do bảo lãnh nợ được

xem là thủ thuật giấu chi phí

 Bỏ qua hoặc ghi nhận thấp sự giảm giá của tài sản như hàng tồn kho và các tài sản cố định, chứng khoán nắm giữ trong đầu tư tài chính

 Cố tình đánh giá không chính xác về chênh lệnh tỷ giá ngoại tệ

Thủ thuật làm tăng lợi nhuận kinh doanh cốt lõi: Lợi nhuận một công ty có thể xem

xét do đóng góp từ hai phần, phần lợi nhuận thông thường đến từ hoạt động kinh doanh hàng ngày và phần lợi nhuận khác không đến từ hoạt động thông thường như bán thanh lý tài sản, cho thuê tài sản(với những công ty không hoạt động trong lĩnh vực này)… Tỷ trọng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh thông thường chiếm tỷ lệ càng cao trong tổng lợi nhuận thì công ty càng có giá trị Vì thế một số công ty sử dụng thủ thuật để dịch chuyển lợi nhuận từ hoạt động khác sang lợi nhuận kinh doanh thông thường hoặc dịch chuyển chi phí của hoạt động kinh doanh thông thường sang chi phí khác

 Dịch chuyển chi phí thông thường vào bộ phận kinh doanh ngừng hoạt

động: Khi công ty tuyên bố dừng hoạt động kinh doanh một bộ phận nào

đó, chuẩn mực kế toán yêu cầu phải hạch toán riêng Để mảng hoạt động kinh doanh còn lại có được bức tranh sáng hơn, công ty sẽ dồn chi phí vào

bộ phận kinh doanh vừa tuyên bố ngừng hoạt động

 Ghi nhận giảm mạnh giá trị các tài sản mà chúng được phân bố khấu hao

là chi phí trong kỳ: Công ty nhấp nhận giảm lợi nhuận hoặc lỗ trong một

kỳ kế toán, bù lại trong nhiều kỳ kế toán sau có được chi phí thấp

 Dịch chuyển lợi nhuận từ hoạt động không thông thường sang lợi nhuận

thông thường và dịch chuyển lỗ theo chiều ngược lại: Không có một qui

tắc chung cho thủ thuật này, tùy vào tính chất tự nhiên của lĩnh vực hoạt

động mà công ty có cơ hội thực hiện dịch chuyển lợi nhuận

Trang 27

Thủ thuật phân loại lại các khoản đầu tư chứng khoán: chuyển những chứng khoán

kinh doanh bị lỗ trong kỳ thành loại “nắm giữ đến ngày đáo hạn” để tránh phải ghi

nhận lỗ trực tiếp

Thủ thuật làm tăng lợi nhuận thông qua đầu tư tài chính, liên doanh, liên kết

Các liên doanh liên kết có doanh thu và lợi nhuận tốt thì công ty sẽ gia tăng cổ phần góp vốn để được phép khi liệt kê các liên doanh liên kết này theo kế toán hợp nhất(accquistion method) Khi đó công ty mẹ sẽ cải thiện bức tranh doanh thu và lợi nhuận hoạt động kinh doanh

Những liên doanh liên kết bị lỗ thường bị công ty mẹ tìm cách loại bỏ nhằm khỏi bị ảnh hưởng vào lợi nhuận hoạt động kinh doanh, bằng cách giảm bớt sở hữa để liệt

kê vào khoản mục đầu tư tài chính

Công ty còn gia tăng lợi nhuận bằng cách ghi nhận dưới giá trị các khoản dự phòng đầu tư tài chính vào công ty con

2.3 Các yếu tố gây ra gian lận BCTC

Khi đánh giá về BCTC một công ty, cần phải lưu ý những yếu tố như là những tín hiệu cảnh báo về rủi ro xuất hiện gian lận trong BCTC Theo SAS-99(*), có thể tổng hợp các yếu tố liên quan đến rủi ro gian lận BCTC như sau:

Các yếu tố gây ra rủi ro gian lận BCTC liên quan đến áp lực

 Sự ổn định tài chính hoặc khả năng sinh lợi của công ty bị đe dọa bởi nền kinh tế, nghành hoặc các điều kiện hoạt động như:

 Cạnh tranh cao hoặc thị trường bị bão hòa, theo đó làm giảm biên lợi nhuận của công ty

 Công ty dễ bị tổn thương khi đối mặt với thay đổi nhanh của công nghệ, sản phẩm lỗi thời, hoặc lãi suất

 Giảm mạnh nhu cầu từ khách hàng hoặc gia tăng khó khăn về kinh doanh trong nghành cũng như trong nền kinh tế

Trang 28

 Thua lỗ trong hoạt động dẫn đến khả năng bị phá sản hoặc bị thâu tóm

 Chuẩn kế toán mới, hoặc các luật mới yêu cầu công ty phải tuân thủ

 Tồn tại áp lực cao với ban điều hành yêu cầu phải đáp ứng kỳ vọng của bên thứ ba như:

 Các nhà phân tích, tổ chức đầu tư, hãng định mức tín nhiệm, kỳ vọng vào xu hướng sinh lợi của công ty Hoặc chính những kỳ vọng

mà ban điều hành đã công bố với cổ đông trong BCTC

 Cần phải đáp ứng điều kiện nhằm phát hành thêm nợ hoặc cổ phiếu để duy trì khả năng cạnh tranh của công ty thông qua chi cho đầu tư nghiên cứu hoặc thay thế đổi mới tài sản

 Công ty cần phải đáp ứng điều kiện niêm yết hoặc trả nợ cũng như các điều khoản đã cam kết trong nợ

 Kỳ vọng, quan điểm về BCTC xấu sẽ ảnh hưởng đến các giao dịch như mua bán sát nhập

 Các thông tin hiện hữu chỉ ra rằng vị trí tài chính của ban điều hành hoặc hội đồng quản trị bị đe dọa bởi tình hình tài chính công ty Chúng xuất hiện từ những vấn đề sau:

 Ban điều hành hoặc hội đồng quản trị có các liên kết lợi ích tài chính

rõ ràng với công ty

 Một phần đáng kể những thù lao được dựa trên giá cổ phiếu, kết quả hoạt động hoặc dòng tiền

 Dùng đảm bảo cá nhân cho các khoản nợ của tổ chức

 Có áp lực lớn từ hội đồng quản trị về các mục tiêu tài chính, mục tiêu doanh thu, lợi nhuận

Các yếu tố gây ra rủi ro gian lận BCTC liên quan đến cơ hội

 Tính chất tự nhiên của ngành hoặc đặc thù hoạt động của công ty tạo ra cơ hội gian lận BCTC Một số điển hình như sau:

Trang 29

 Tính chất hoạt động của công ty thường có giao dịch hàng đổi hàng(barter transaction), đặc biệt là giao dịch hàng đổi hàng với công

ty không bị bắt buộc phải kiểm toán

 Có tình trạng tài chính mạnh hoặc khả năng thống trị phân ngành giúp công ty kiểm soát khách hàng, nhà cung cấp

 Để ghi nhận tài sản, nợ, doanh thu, chi phí cần phải dựa trên sự ước lượng và không dễ xác minh

 Tính chất hoạt động của công ty thường có giao dịch chồng chéo phức tạp

 Công ty có mở tài khoản ngân hàng hoặc chi nhánh tại các quốc gia được xếp vào “thiên đường trốn thuế”

 Công ty tồn tại giám sát không hiệu quả

 Kiểm soát lỏng lẻo của ban giám đốc

 Kiểm soát không hiệu quả của hội đồng quản trị

 Cấu trúc công ty phức tạp hoặc không bền vững, ví dụ như thường xuyên thay đổi người trong Hội đồng quản trị hoặc ban Giám đốc

Các yếu tố gây ra rủi ro gian lận BCTC liên quan đến thái độ

Các nhân tố rủi ro liên quan đến thái độ đến từ Hội đồng quản trị, của ban Giám đốc

và của người lao động

2.4 Lược khảo các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC

2.4.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu về gian lận BCTC đã được thực hiện từ lâu và với số lượng nhiều ở các thị trường tài chính phát triển, trong đó có những nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến phát hiện gian lận BCTC bằng các tỷ số tài chính

Kiệt quệ tài chính là một yếu tố rất quan trọng khi xem xét khả năng gian lận BCTC, bởi khi đó dưới áp lực công ty gặp khó khăn, ban lãnh đạo có khả năng cao thực hiện gian lận Altman(1968) đưa ra chỉ số Z đo khả năng phả sản của một công

Trang 30

ty, đây là công trình có giá trị cao trong ứng dụng thực tiễn Các tỷ số tài chính dùng để xác định khả năng phá sản một công ty theo Altman bao gồm: vốn lưu động ròng trên tổng tài sản; lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản; lợi nhuận trước thuế

và lãi vay trên tổng tài sản; giá trị thị trường của vốn chủ sở hữa trên giá trị sổ sách của tổng nợ; doanh thu thuần trên tổng tài sản

Dựa trên kết quả của Altman, Igor Pustylnick(2011) đưa ra chỉ số P có kết cấu khác chỉ số Z duy nhất 01 tỷ số tài chính Khi kết hợp tốc độ thay đổi của P với Z, tác giả chứng minh rằng sự kết hợp này có hiệu quả trong việc phát hiện các công ty gian lận BCTC

Hamer (1983) cho rằng hầu hết các mô hình dự đoán phá sản có độ chính xác tương

tự nhau, có nghĩa là khi điều kiện tài chính công ty gặp khó khăn sẽ thúc đẩy xuất hiện hành vi gian lận, nhằm che dấu tình trạng khó khăn hoặc tránh bị sa thải hoặc nhằm để tiếp tục nhận được các nguồn lực nhiều nhất có thể

Một công trình khác rất có giá trị thực tiễn do Beneish(1999) phát triển Ông xây dựng chỉ số M để phát hiện khả năng gian lận BCTC, chỉ số M là sự kết hợp tuyến tính của 8 tỷ số tài chính, chúng đo tốc độ thay đổi của: doanh thu; số ngày thu tiền bình quân từ bán hàng và cung cấp dịch vụ; lợi nhuận biên gộp; tài sản vô hình trên tổng tài sản; khấu hao tài sản hữu hình; tỷ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trên doanh thu; dồn tích; đòn bẩy tài chính

Gian lận bằng cách ghi nhận doanh thu sớm hoặc doanh thu giả mạo sẽ dẫn đến doanh thu và tài sản cao hơn thực tế, mặt khác ước lượng chi phí thấp cũng sẽ làm tài sản cao hơn thực tế, kết quả là lợi nhuận cao hơn thực tế Worthy(1984) đã nghiên cứu các loại gian lận lợi nhuận đến từ thay đổi phương pháp kế toán hoặc ước lượng chủ quan từ Ban giám đốc về các khoản mục chi phí

Spathis (2002) cho thấy rằng lợi nhuận ròng và vốn lưu động là một chỉ báo đáng tin cậy về phát hiện gian lận Lý do là, nếu các công ty gặp phải lợi nhuận biên thấp

Trang 31

đi, đồng nghĩa với hiệu quả sinh lợi từ tài sản sẽ thấp hơn, trước khó khăn đó công

ty có thể cố gắng tăng doanh thu hoặc giảm chi phí bằng gian lận BCTC Mặt khác vốn lưu động trên tổng tài sản phản ánh khả năng thanh khoản, khi tỷ số này thấp là động lực khuyến khích các nhà quản lý lừa đảo thông quan vận dụng hồ sơ kế toán,

do đó các công ty bị ảnh hưởng bởi gian lận có xu hướng hiện diện tính thanh khoản thấp

Dù cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách, các nhà đầu tư quan tâm đến việc quản lý các hành vi gian lận, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu thực nghiệm đánh giá xác suất gian lận BCTC bằng cách sử dụng các dữ liệu được công bố rộng rãi Chỉ

có vài mô hình được giới thiệu hoặc sử dụng trên phạm vi quốc tế hoặc quốc gia cung cấp một loạt các chỉ số dành cho số ít người trong nghề sử dụng được Các mô hình đó lại chứa đựng những đánh giá chủ quan do Loebbecke, Einning và Willingham phát triển(1989) Các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách không thể sử dụng các mô hình này để xác định các công ty tham gia vào việc báo cáo tài chính gian lận Vì mô hình bao gồm rất nhiều thông tin không công khai và chủ quan, chỉ có sẵn cho kiểm toán viên hoặc người trong công ty

Luận văn đi theo hướng tiếp cận phát hiện gian lận BCTC bằng cách sử dụng các dữ liệu tài chính đã công bố rộng rãi Những công trình khác tiêu biểu liên quan đến nghiên cứu trong luận văn như:

Sử dụng mô hình logistic với mười biến độc lập trong

đó có 8 tỷ số tài chính Dùng phương pháp phân tách hồi qui(Stepwise) tác giả chỉ ra những nhóm tỷ số tài chính sau đây có tác dụng trong việc phát hiện gian lận: đòn bẩy tài chính, vòng quay vốn, cấu trúc tài sản và qui

mô công ty

Trang 32

Tác giả Năm Kết quả nghiên cứu

Dani và cộng

Nghiên cứu đã kiểm tra 11 tỷ số tài chính và dùng phân tích hồi qui logistic Kết quả chỉ ra rằng các đại lượng liên quan mật thiết đến phát hiện gian lận gồm: Lợi nhuận gộp trên tổng tài sản; hàng tồn kho trên tổng tài sản; chỉ số lợi nhuận biên gộp và chỉ số Z

Summers và

Kết quả từ nghiên cứu xác nhận tỷ số tăng trưởng hàng tồn kho và lợi nhuận trên tài sản có sự khác biệt giữa các công gian lận và các công ty không gian lận

Amaechi và

Nnanyereugo 2013

Sử dụng hồi qui logistic với 29 tỷ số tài chính là biến độc lập, kết quả là 16 tỷ số có ý nghĩa trong việc phát hiện gian lận

Trang 33

Tác giả Năm Kết quả nghiên cứu

Dalnial và

Kiểm tra về sự khác nhau giữa trung bình từng tỷ số tài chính của hai mẫu công ty gian lận và không gian lận Kết quả đã phát hiện ra sự khác nhau các tỷ số tài chính

có sự khác nhau là: Tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, các khoản phải thu trên doanh thu

Ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy chỉ số Z đo khả năng phá sản có ý nghĩa thống kê trong việc phát hiện gian lận BCTC

2.4.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu trong nước về phát hiện gian lận BCTC của doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán tại Việt Nam chưa thực sự nhiều

Trần Thị Giang Tân và công sự(2014) thực hiện đánh giá sự hữu hiệu của mô hình tam giác lận trong dự báo gian lận của các công ty niêm yết Mẫu sử dụng gồm 78 công ty và phân tích bằng bồi qui logistic, mô hình dự báo đúng 83,33% các công ty trong mẫu nghiên cứu và 80% công ty ngoài mẫu nghiên cứu

Đi theo hướng tiếp cận khác, nghiên cứu của Mai Đức Nghĩa, Vũ Hữa Đức, Huỳnh Văn Hiếu(2010) chỉ ra phương pháp và các tỷ số có khả năng phát hiện các sai lệch trong BCTC như: tỷ lệ lãi gộp, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu

Trong khi đó, Nguyễn Tuấn, Nguyễn Thành Cường, Ngô Xuân Ban(2011) thực hiện tìm hiểu bản chất của gian lận trong BCTC, đồng thời đưa ra một số dẫn chứng

là báo cáo kiểm toán một số công ty cổ phần niêm yết để minh hoạ về khả năng xảy

ra gian lận Qua đó đưa ra một số khuyến nghị gia tăng sự minh bạch hoá thông tin

kế toán tài chính, cũng như những lưu ý cho nhà đầu tư

Trang 34

2.5 Khoảng trống nghiên cứu

Trên cơ sở rà soát các bài báo quan trọng từ các nghiên cứu trước như đã trình bày ở trên, luận văn nhận thấy các chỉ tiêu tài chính có ảnh hưởng đến việc phát hiện gian lận có sự trùng lắp ở một số chỉ tiêu nhưng không nhất quán Nghĩa là với mỗi nghiên cứu lại chỉ ra một nhóm các chỉ tiêu tài chính khác nhau có hiệu quả cho phát hiện gian lận Như vậy rõ ràng vẫn còn khoảng trống hay câu hỏi về vấn đề

gian lận BCTC, đó là với các dữ liệu được công bố công khai và có sẵn, các chỉ tiêu

tài chính nào có thể được sử dụng để xác định các công ty tham gia vào việc gian lận BCTC tại SGDCK Tp.HCM?

Thừa kế các nghiên cứu về phát hiện gian lận bằng tỷ số tài chính, tiêu biểu như của Person(1995) và Spathis (2002), tác giả chọn lọc và xây dựng mô hình nghiên cứu phát hiện gian lận BCTC trong điều kiện đặc thù ở Việt Nam, cụ thể là các doanh nghiệp trên SGDCK Tp.HCM Kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng để phát hiện gian lận cũng như cho thấy khía cạnh khác biệt của thị trường chứng khoán Việt

Nam so với thế giới

Tóm tắt chương 2

Nội dung chương đã tóm tắt các cơ sở lý thuyết về gian lận BCTC, lược khảo các công trình nghiên cứu tiêu biểu về gian lận BCTC trên thế giới cũng như tại Việt Nam

Trong chương này đã thảo luận chi tiết các thủ thuật kế toán có tác dụng đáng kể trong việc thực hiện gian lận lợi nhuận và lợi nhuận hoạt động kinh doanh cốt lõi Qua đó giúp người đọc hiểu được cơ chế thực hiện gian lận, góp phần phát hiện gian lận khi phân tích BCTC

Cuối cùng, trên cơ sở ra soát, luận văn tìm thấy khoảng trống nghiên cứu cần nghiên cứu sâu hơn trong điều kiện đặc thù tại Việt Nam

Trang 35

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO

DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM

Trong chiều dài phát triển của SGDCK Tp.HCM đã xuất hiện những trường hợp công ty gian lận BCTC gây hậu quả nặng nề cho nhà đầu tư Tuy nhiên tình trạng thường xuyên diễn ra gây bức xúc lại là chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán trên BCTC Đặc biệt là các trường hợp công ty từ lãi trước kiểm toán chuyển thành

lỗ sau kiểm toán hoặc lợi nhuận sau kiểm toán giảm hơn 5%, hậu quả để lại là sự giảm giá cổ phiếu khi thông tin được công bố và gây mất niềm tin, thiệt hại cho nhà đầu tư

Trong chương này tác giả tổng kết những tình huống gian lận điển hình, đồng thời thực hiện thống kê và phân tích thực trạng sai lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán của các công ty niên yết trên sàn chứng khoán Tp.HCM trong 05 năm, từ 2011-

2015 Qua đó rút ra kết luận về khả năng gian lận lợi nhuận trong BCTC trước kiểm toán

3.1 Những gian lận BCTC của DNNY trên SGDCK Tp.HCM

Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, tiền thân là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, được chuyển đổi theo Quyết định 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ

Ngày đầu, có hai DN được niêm yết, đó là Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE)

và Công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông (Sacom) Một tuần chỉ có hai phiên giao dịch Hiện Sở tổ chức giao dịch 5 ngày mỗi tuần, thời gian giao dịch còn được kéo dài sang buổi chiều, đồng thời số lượng cổ phiếu niêm yết đã hơn 300

Bảng 3.1 bên dưới tổng kết số lượng niêm yết và vốn hóa thị trường trong 5 năm gần nhất(1)

Trang 36

Bảng 3.1: Số lượng niêm yết và vốn hóa thị trường trong 5 năm, từ

2012

Có thêm 14 cổ phiếu và 01 chứng chỉ quỹ

chính thức lên giao dịch, 09 trường hợp

hủy niêm yết Tính đến 31/12/2012 có 308

cổ phiếu, 6 chứng chỉ quỹ, 39 trái phiếu

đang được niêm yết

Tổng giá trị vốn hóa đạt 678.403 tỷ đồng

2013

Tính đến 31/12/2013 có 301 cổ phiếu, 02

chứng chỉ quỹ, 38 trái phiếu đang được

niêm yết Thêm 4 cổ phiếu mới được giao

dịch, 11 công ty bị hủy niêm yết, 04 quỹ

đầu tư, và 01 trái phiếu doanh nghiệp

Tổng giá trị niêm yết đạt 842.105 tỷ đồng, tăng 7%

so với 2012

2014

Có thêm 09 công ty niêm yết mới, 05

trường hợp bị niêm yết Tại thời điểm cuối

năm 2014, Sở GDCK TP.HCM có 305 cổ

phiếu, 1 chứng chỉ quĩ ETF, 38 trái phiếu

đang niêm yết

Tổng giá trị thị trường là 985.258 tỷ đồng, tăng 22%

so với năm 2013

2015

Có thêm 19 công ty niêm yết mới và 17

công ty bị hủy niêm yết Tính đến hết

ngày 31/12/2015, có 307 cổ phiếu, 1

chứng chỉ quỹ ETF, 39 trái phiếu doanh

nghiệp đang được niêm yết và giao dịch

Giá trị thị trường đạt 1,14 triệu tỷ đồng, tăng 16% so với 2014

Trang 37

Cùng với sự phát triển nhanh chóng số lượng DNNY, các trường hợp gian lận BCTC cũng xảy ra nhiều hơn Gian lận BCTC xảy ra trên SGDCK Tp.HCM không nằm ngoài các phương thức gian lận đã trình bày ở chương trước, các thủ thuật kế toán được sử dụng cũng không phức tạp Nhưng các công ty khi gian lận đều phối hợp nhiều thủ thuật nhằm đồng thời vừa thực hiện gian lận và cố gắng che dấu gian lận đến mức kỹ nhất có thể Các gian lận thường bị phanh phui khi Ban lãnh đạo liên đới đến pháp luật hoặc khi tình hình hoạt động xấu đi nghiêm trọng, hoặc kiểm toán yêu cầu công ty điều chỉnh hồi tố lại các khoản mục kế toán

Gian lận về ghi nhận doanh thu sớm:

Trong BCTC 2016 sau kiểm toán của công ty cổ phần Hùng Vương (mã chứng khoán: HVG) đã điều chỉnh chuyển từ lãi trước kiểm toán sang lỗ gần 56 tỷ đồng trên báo cáo tài chính riêng lẻ Theo đó, đối với báo cáo tài chính riêng lẻ, lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán bị thay đổi chủ yếu do phải điều chỉnh doanh thu Cụ thể, điều chỉnh giảm 228 tỷ do ghi nhận doanh thu từ bán bã đậu nành sai niên độ, và

181 tỷ đồng từ việc chuyển nhượng ao cá (đến ngày 30/09/2016 Công ty chưa hoàn tất các thủ tục pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng ao cá nên chưa thể ghi nhận doanh thu)

Một doanh nghiệp khác trong BCTC bán niên năm 2016 báo lãi 17 tỷ, sau kiểm toán chỉ còn 300 triệu đồng, giảm hơn 98% Đó là công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển dự án hạ tầng Thái Bình Dương (Mã chứng khoán: PPI) Lý do lợi nhuận giảm

là doanh thu 6 tháng đầu năm trước kiểm toán gần 278 tỷ đồng, nhưng sau kiểm toán chỉ còn 200 tỷ PPI đã ghi nhận doanh thu thi công công trình xây dựng hạ tầng

kỹ thuật khi chưa được nghiệm thu chính thức nên đơn vị kiểm toán đề nghị chưa ghi nhận trong kỳ, và như vậy PPI đã ghi nhận doanh thu sớm

Sau khi kiểm toán trên BCTC năm 2016, lãi ròng của công ty cổ phần Tư Thương mại-Dịch vụ Địa ốc Hoàng Quân (Mã chứng khoán: HQC) giảm hơn 92 tỷ đồng, từ 112 tỷ đồng xuống còn 19,6 tỷ đồng Khi ra đưa ra thuyết minh giải trình chênh lệch là do sau khi kiểm toán doanh thu của HQC giảm 192 tỷ đồng Cụ thể

Trang 38

vấn-các căn hộ của vấn-các dự án đã hoàn thành và sẵn sàng bàn giao cho khách hàng nên HQC ghi nhận doanh thu dựa trên thông báo bàn giao căn hộ đã gửi cho khách Tuy nhiên đến cuối năm 2016, HQC vẫn chưa bàn giao hết nên theo nguyên tắc kế toán doanh thu, số căn hộ chưa bàn giao này không được ghi nhận, như vậy HQC đã ghi nhận doanh thu sớm

Thêm một trường hợp nữa về ghi nhận doanh thu sớm là công ty cổ phần cao su Đồng Phú Trong báo cáo kết quả kinh doanh năm 2011 sau kiểm toán đã điều chỉnh giảm lợi nhuận gần 64,8 tỷ đồng Trong văn bản giải trình gửi SGDCK TP.HCM công ty giải thích có một phần nguyên nhân đến từ ghi nhận 2,8 tỷ đồng doanh thu chưa đủ điều kiện ghi nhận

Gian lận về ghi nhận doanh thu không có thật:

Trường hợp khác đáng nghi vấn về nghi nhận doanh thu không có thật là Tập đoàn

Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành Trong công bố BCTC quý 2/2016, Gỗ Trường Thành

bị kiểm toán yêu cầu điều chỉnh giảm tới 218 tỷ đồng ở các khoản phải thu Cùng với các điều chỉnh hồi tố khác, trong khi giá trị phải xóa bỏ các khoản phải thu chiếm tỷ trọng khá lớn so với doanh thu, dẫn đến nghi vấn về 218 tỷ phải thu này nhiều khả năng là không có thật, nghĩa là giá trị phải thu đến từ doanh thu ảo

Trường hợp công ty cổ phần Hùng Vương trong BCTC năm 2016 trước kiểm toán

đã ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính hơn 37 tỷ đồng Đây là khoản doanh thu liên quan đến khoản cổ tức được chia năm 2015 từ công ty Thức ăn Chăn nuôi Việt Thắng, một công ty con của Hùng Vương Tuy nhiên, theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông công ty Việt Thắng vào ngày 27/1/2016 đã quyết định giảm tỷ lệ chia

cổ tức, nhưng trong BCTC cuối năm 2016 của công ty cổ phần Hùng Vương vẫn ghi nhận mà không điều chỉnh giảm Kết quả là công ty cổ phần Hùng Vương ghi nhận hơn 37 tỷ đồng doanh thu không có thật

Trang 39

Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết bị kiểm toán yêu cầu điều chỉnh hồi tố giảm doanh thu năm 2006 với số tiền gần 5,4 tỷ đồng do chưa giao hàng hóa nhưng đã ghi nhận doanh thu

Giao dịch vòng quanh với các bên liên quan tạo doanh thu ảo:

Vào năm 2011 hàng loạt những gian lận của công ty Dược Viễn Đông kéo dài từ năm 2008 bị phanh phui, kết cục công ty phải chấm dứt hoạt động Một trong những gian lận bị phát hiện là ghi nhận doanh thu ảo Cụ thể, Ban lãnh đạo đã lập ra một loạt công ty trung gian nhằm mua bán lòng vòng để tạo doanh thu ảo cho công

ty Dược Viễn Đông

Gian lận ghi nhận thấp giá vốn hàng bán để tăng lợi nhuận:

Quay trở lại trường hợp công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết, năm 2007 công ty đã hồi tố và giải trình như sau: “…điều chỉnh hồi tố giảm giá trị sản phẩm dở dang vào ngày 31/12/2006 với số tiền 3.138.236.043 đồng nên giá trị sản phẩm dở dang từ 4.823.307.573 đồng giảm xuống còn 1.685.071.530 đồng, đồng thời tăng giá vốn hàng bán theo số lượng nhập kho thực tế là 402.579.888 đồng” Như vậy trong năm tài chính 2006, công ty đã sử dụng thủ thuật ghi nhận thấp giá vốn hàng bán và phần chênh lệnh so với ghi đúng giá vốn hàng bán được để lại trong khoản mục sản phẩm

dở dang

Gian lận vốn hóa chi phí hoạt động thông thường:

CTCP Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo (Mã chứng khoán: ITA) trong BCTC năm

2014 sau kiểm toán đã xuất hiện chi phí tài chính tăng 26,67% so với số liệu BCTC

trước kiểm toán Theo giải trình t ừ ITA, gia tăng chi phí tài chính là do trích trước

chi phí lãi vay của hợp đồng tín dụng của các ngân hàng và điều chỉnh lại một phần lãi vay không được vốn hóa trong kỳ theo quan điểm kiểm toán Như vậy trong BCTC trước kiểm toán, ITA đã vốn hóa một phần chi phí lãi vay mà đáng lẽ phải là chi phí hoạt động trong kỳ

Trang 40

BCTC năm 2010 của Công ty cổ phần Basa, công ty đã vốn hóa chi phí đi vay số tiền 1,04 tỷ đồng vào giá trị công trình xây dựng cơ bản, trong khi công trình đã ngừng xây dựng trong năm Theo chuẩn mực kế toán thì chi phí đi vay này phải tạm ngừng vốn hóa và tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ Với thủ thuật đó công đi đã tránh phải ghi nhận chi phí 1,04 tỷ đồng, nghĩa là lợi nhuận trước thuế tăng lên một lượng tương ứng

Gian lận dịch chuyển chi phí sang kỳ sau:

Tiếp tục trở lại với công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết, điều chỉnh hồi tố cho năm

2006 buộc công ty phải tăng ghi nhận chi phí khấu hao tài sản cố định với số tiền 676.099.997 đồng Như thế, trong năm tài chính 2006 công ty đã thực hiện khấu hao thấp hơn chuẩn mực kế toán yêu cầu, chi phí khấu hao còn lại được dồn sang kỳ sau

Gian lận bằng thủ thuật ghi nhận không đúng sự giảm giá trị của tài sản:

Năm 2016, kết quả kinh doanh sau kiểm toán của công ty chứng khoán Ngân hàng Agribank – Agriseco với số lỗ hơn 424 tỷ đồng, gấp đôi so với con số trên BCTC tự lập Nguyên nhân do chi phí hoạt động sau soát xét của Agriseco tăng từ 164 tỷ đồng lên 428 tỷ đồng, trong khi doanh thu hoạt động không thay đổi Chi phí tăng

vì công ty đã trích lập dự phòng cho các khoản đầu tư, các khoản phải thu thấp hơn thực tế và công ty kiểm toán Ernst&Young yêu cầu điều chỉnh lại.

Trong báo cáo tài chính năm 2016 sau kiểm toán của công ty cổ phần Hùng Vương,

đã điều chỉnh chuyển từ lãi trước kiểm toán sang lỗ gần 56 tỷ đồng trên báo cáo tài chính riêng lẻ Một phần nguyên nhân lỗ đến từ chi phí quản lý tăng 52 tỷ đồng do kiểm toán yêu cầu phải trích lập dự phòng bổ sung phải thu khó đòi

Công ty cổ phần Xuyên Thái Bình trong năm tài chính 2013 có lợi nhuận trước thuế sau kiểm toán giảm 54,3% so với trước kiểm toán Nguyên nhân do công ty bị kiểm toán yêu cầu phải trích lập dự phòng giảm giá trị đầu tư của công ty liên kết hơn 50

Ngày đăng: 21/09/2018, 23:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm