1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bộ cánh cứng ở nước (insecta coleoptera) tại một số thủy vực thuộc tỉnh quảng nam

85 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nước còn lại, trong Ďó có Việt Nam, khu hệ cánh cứng ở vẫn chưa Ďược tập trung nghiên cứu, các dẫn liệu về nhóm này ở Việt Nam còn rất tản mạn, hạn chế trong một số tài liệu của Delè

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thi ̣ Thu Hà

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BỘ CÁNH CỨNG Ở NƯỚC (INSECTA: COLEOPTERA) TẠI MỘT SỐ THỦY VỰC THUỘC TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thi ̣ Thu Hà

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BỘ CÁNH CỨNG Ở NƯỚC (INSECTA: COLEOPTERA) TẠI MỘT SỐ THỦY VỰC THUỘC TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 60420103

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Trần Anh Đức, người thầy đã tận tình hướng dẫn và đưa ra những ý kiến quý báu trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo, cán bộ nghiên cứu đang công tác tại bộ môn Động vật Không xương sống, đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học và làm thực nghiệm tại bộ môn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam” và đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cấp Quốc gia: "Nghiên cứu, đề xuất và xây dựng mô hình ứng dụng giải pháp sinh thái, thủy lợi nhằm bảo tồn gắn với phát triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam", mã số: ĐTĐL.CN-11/16 đã hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè, thầy cô những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu Ďa da ̣ng sinh ho ̣c của nhóm Cánh cứng ở nước tại Đông Nam Á và Đông Á 3

1.2 Tình hình nghiên cứu Ďa da ̣ng sinh ho ̣c của nhóm Cánh cứng ở nước tại Việt Nam 9

1.3 Một số Ďặc Ďiểm Ďiều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam và Khu di tích Mỹ Sơn 12

1.3.1 Mô ̣t số Ďă ̣c Ďiểm Ďiều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam 12

1.3.2 Một số Ďặc Ďiểm Ďiều kiện tự nhiên Khu di tích Mỹ Sơn 13

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng, thời gian, Ďịa Ďiểm nghiên cứu 15

2.2 Phương pháp nghiên cứu 17

2.2.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực Ďịa 17

2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm 17

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 18

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Thành phần loài Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam 23

3.2 Đánh giá mức Ďộ Ďa dạng và mức Ďô ̣ tương Ďồng về thành phần loài Cánh cứng ở nước giữa các sinh cảnh tại Khu di tích Mỹ Sơn 30

Trang 5

3.2.1 Thành phần loài Cánh cứng ở nước theo các sinh cảnh 31 3.2.2 Đánh giá mức Ďộ Ďa dạng của Cánh cứng ở nước giữa các sinh cảnh 33 3.2.3 Đánh giá mức Ďô ̣ tương Ďồng về thành phần loài Cánh cứng ở nước giữa các sinh cảnh 37 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI ̣ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần loài Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng

Nam 23

Bảng 3.2 Số lượng giống, loài tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam 28

Bảng 3.3 Thành phần loài Cánh cứng ở nước trong các sinh cảnh tại khu vực Mỹ Sơn 31

Bảng 3.4 Kết quả phân tích các chỉ số Ďa dạng tại các Ďiểm thu mẫu tại khu vực Mỹ Sơn Ďơ ̣t tháng 8/2016 34

Bảng 3.5 Kết quả phân tích các chỉ số Ďa dạng tại các Ďiểm thu mẫu tại khu vực Mỹ Sơn Ďơ ̣t tháng 4/2017 35

Bảng 3.6 Chỉ số tương Ďồng Bray – Curtis giữa các sinh cảnh (%) 37

Bảng 3.7 Kết quả phân tích ANOSIM 38

Bảng 3.8 Danh sách loài phân biê ̣t giữa sinh cảnh 1 với sinh cảnh 2 39

Bảng 3.9 Danh sách loài phân biê ̣t giữa sinh cảnh 2 với sinh cảnh 3 39

Bảng 3.10 Danh sách loài phân biệt giữa sinh cảnh 1 với sinh cảnh 3 40

Bảng 3.11 Danh sách loài tiêu biểu cho sinh cảnh 1, sinh cảnh 2 và sinh cảnh 3 41

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ Ďồ các Ďịa Ďiểm thu mẫu ta ̣i mô ̣t số thủy vực thuô ̣c tỉnh Quảng Nam 15 Hình 2.2 Sơ Ďồ các Ďịa Ďiểm thu mẫu ta ̣i Khu di tích Mỹ Sơn 16 Hình 3.1 Tỷ lệ % số giống của các họ Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam 29 Hình 3.2 Tỷ lệ % số loài c ủa các họ Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam 29 Hình 3.3 Số lượng họ, giống, loài Cánh cứng ở nước trong từng sinh cảnh tại Khu

di tích Mỹ Sơn 33 Hình 3.4 Sơ Ďồ cây thể hiê ̣n mối quan hê ̣ giữa các sinh cảnh tại Khu di tích

Mỹ Sơn 37

Trang 8

MỞ ĐẦU

Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ có số lượng loài lớn nhất trong lớp Côn trùng (Insecta), với khoảng 450,000 loài, chiếm 40% tổng số loài côn trùng Ďã biết [23] Côn trùng cánh cứng có mặt ở hầu khắp các châu lục (trừ châu Nam Cực) và

có mức Ďộ Ďa dạng loài cao nhất ở vùng nhiệt Ďới Bộ Cánh cứng thuộc nhóm côn trùng có biến thái hoàn toàn, vòng Ďời gồm 4 giai Ďoạn: trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành Phần lớn các loài cánh cứng sống ở môi trường cạn, ngoài ra có khoảng 12.600 loài (chiếm khoảng 2,8% số loài cánh cứng Ďã biết) có một phần hoặc toàn bộ vòng Ďời sống trong môi trường nước (sau Ďây gọi chung là Cánh cứng ở nước) [29] Ví dụ như các họ Dytiscidae, Haliplidae, Gyrinidae sống cả vòng Ďời trong môi trường nước; họ Psephenidae có giai Ďoạn ấu trùng sống trong nước nhưng giai Ďoạn trưởng thành ở trên cạn; ngược lại, họ Dryopidae có ấu trùng chủ yếu sống trên cạn còn giai Ďoạn trưởng thành ở dưới nước [40]

Cánh cứng ở nước ăn các loài côn trùng nhỏ, thực vật, mảnh vụn hữu cơ, Ďồng thời, chúng cũng là thức ăn của cá và những loài Ďộng vật ăn thịt khác Bởi vậy, Cánh cứng ở nước là một mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn của hệ sinh thái ở nước Bên cạnh Ďó, họ Dytiscidae ăn ấu trùng muỗi nên có vai trò như một loại tác nhân kiểm soát muỗi [10] Mô ̣t số loài Cánh cứng trưởng thành còn Ďược sử dụng làm thức ăn cho con người như các loài thuộc giống Hydrophilus (họ Hydrophilidae), Cybister (họ Dytiscidae) Ďược sử dụng làm thức ăn ta ̣i Trung Quốc, loài Austrelmis condimentarius (họ Elmidae) Ďươ ̣c sử du ̣ng làm thức ăn ta ̣i Nam Mỹ

[29] Ngoài ra, do Ďời sống của nhóm này chịu tác Ďộng trực tiếp bởi các yếu tố lí – hóa học của môi trường nước nên số lượng cá thể trong một loài hay số lượng loài trong quần xã cũng có những biến Ďộng nhất Ďịnh khi Ďiều kiện môi trường thay Ďổi Do Ďó, Cánh cứng ở nước còn Ďược sử dụng làm sinh vật chỉ thị Ďể Ďánh giá chất lượng môi trường nước [5] Với vai trò và ứng dụng thực tiễn như vậy, nghiên cứu sự Ďa dạng của nhóm Cánh cứng ở nước là Ďiều cần thiết

Trang 9

Tại khu vực Đông Nam Á, khu hệ cánh cứng ở nước mới chỉ Ďược nghiên cứu tương Ďối kỹ ở một số nước như Singapore và Malaysia Các nước còn lại, trong Ďó có Việt Nam, khu hệ cánh cứng ở vẫn chưa Ďược tập trung nghiên cứu, các dẫn liệu về nhóm này ở Việt Nam còn rất tản mạn, hạn chế trong một số tài liệu của Delève (1968) về họ Dryopidae và Elmidae [51], của Sato (1972) về Dytiscidae và Noteridae [41] Ngoài ra còn có một số dẫn liệu về cánh cứng ở nước tại Việt Nam Ďược liệt kê sơ bộ trong các nghiên cứu về quần xã côn trùng nước tại một số khu vực, tuy nhiên phần lớn chưa Ďược xác Ďịnh Ďến loài [2, 4, 35] Cho tới nay, mới chỉ

có nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn và cộng sự (2015) là nghiên cứu riêng biệt về thành phần loài cánh cứng ở nước tại một khu vực cụ thể [6] Do Ďó, cần có các nghiên cứu riêng biệt về thành phần loài cánh cứng ở nước ở từng khu vực của Việt Nam Ďể có thể Ďánh giá Ďược mức Ďộ Ďa dạng của nhóm côn trùng này tại Ďây

Quảng Nam là một tỉnh thuộc khu vực miền Trung có Ďiều kiện tự nhiên Ďa dạng cùng với hệ thống sông ngòi dày Ďặc, thuận lợi cho việc phát triển của Cánh cứng ở nước Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về sự Ďa dạng của nhóm Cánh cứng ở nước tại khu vực này Dưới sự hỗ trợ của dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu Ďa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam” và Ďề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cấp Quốc gia: "Nghiên cứu, Ďề xuất và xây dựng mô hình ứng dụng giải pháp sinh thái, thủy lợi nhằm bảo tồn gắn với phát triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam", Ďề tài luận văn “Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bô ̣ Cánh cứng ở nước (Insecta: Coleoptera) tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam” Ďược thực hiện với mục tiêu:

- Xác Ďịnh thành phần loài Cánh cứng ở nước (Coleoptera) tại tỉnh Quảng Nam

- Đánh giá mức Ďộ Ďa dạng và mức Ďộ tương Ďồng về thành phần loài giữa các sinh cảnh ta ̣i khu di tích Mỹ Sơn , tỉnh Quảng Nam

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu đa da ̣ng sinh ho ̣c của nhóm Cánh cứng ở nước tại

Đông Nam Á và Đông Á

Bô ̣ Cánh cứng (Coleoptera) Ďược chia làm 4 phân bộ: Archostemata, Adephaga, Polyphaga và Myxophaga [11] Nhóm Cánh cứng ở nước chủ yếu thuộc

2 phân bộ Adephaga và Polyphaga trong số 4 phân bộ nói trên Phân bộ Myxophaga cũng có một số loài sống ở nước nhưng không phổ biến [18] Theo Dudgeon (2000), chỉ có 2 họ thuộc phân bộ này là Saphaeriidae và Hydroscaphidae Ďược tìm thấy tại các sông, suối nước ngọt Đây Ďều là họ hiếm gặp và số lượng giống, loài của mỗi họ cũng ít Họ Saphaeriidae Ďược tìm thấy trong các hốc, hố cát ven bờ dọc

theo suối [18] Họ này có duy nhất 1 giống Spaerius Họ Hydrocasphidae Ďược tìm

thấy ở suối, nơi có dòng chảy mạnh, chúng thường bám vào rong rêu mọc trên sỏi,

Ďá Họ Hydroscaphidae chỉ có giống Hydrocaspha Ďược ghi nhận Châu Á [18]

Đến năm 2003, Jäch và Balke Ďã ghi nhận thêm họ Torridincolidae thuộc phân bộ

Myxophaga tại Trung Quốc [28]

Phân bộ Adepaga có 6 họ: Amphizoidae, Gyrinidae, Haliplidae, Hygrobiidae, Noteridae và Dytiscidae có phân bố tại các sông, suối thuộc vùng nhiệt Ďới Châu Á [18] Trong Ďó Dytiscidae là họ có số lượng giống và loài lớn nhất với 34 giống, sau Ďó Ďến Gyrinidae với 5 giống [18]

Họ Dytiscidae không chỉ có số lượng loài Ďa dạng nhất trong 6 họ thuộc phân bộ Adephaga mà so sánh với nhóm Cánh cứng ở nước nói chung thì Ďây cũng

là họ có số lượng loài lớn nhất Năm 1998, Jäch Ďã thống kê Ďược họ Dytiscidae có

233 loài/ 792 loài Cánh cứng ở nước Ďã Ďược ghi nhâ ̣n tại Trung Quốc [27] Ngoài

ra, trong khu vực Đông Nam Á, Ďã ghi nhận 31 loài tại Singapore [26] và 70 loài tại Malaysia [10] Các nghiên cứu phân loại về họ Dytiscidae tại Đông Nam Á và

Đông Á chủ yếu tập trung vào giống Laccophilus thuộc phân họ Laccophilinae

Điển hình là nghiên cứu của Takizawa (1932) tại Nhật Bản [47] Tác giả nghiên cứu

Trang 11

về 2 phân họ: Noterinae và Laccophilinae Đối với phân họ Noterinae, tác giả Ďưa

ra khóa Ďịnh loại cho 2 giống, 5 loài Còn phân họ Laccophilinae chỉ xây dựng khóa Ďịnh loại cho 1 giống với 6 loài Khóa Ďịnh loại Ďược xây dựng trên những loài Ďã Ďược Ďịnh danh, không Ďưa ra loài mới [47] Đến năm 2015, Hájek bổ sung 7 loài

mới thuộc giống Laccophilus tại Đông Nam Á: L hendrichi, L jaechi, L

kalimantanensis, L mazzoldii, L nusatenggaraensis, L schillhammeri, L stastnyi

và 1 loài mới tại Trung Quốc: L komareki [26] Giống Laccophilus là giống có số

lượng loài lớn nhất trong phân họ Laccophilinae Giống này phân bố ở khắp các vùng Ďịa lý Ďộng vật nhưng Ďa dạng nhất ở vùng nhiệt Ďới, Ďiển hình như vùng Phương Đông (Oriental) [26]

Ngoài các nghiên cứu về giống Laccophilus thì giống Hydrovatus cũng bắt

Ďầu Ďược quan tâm Giống này có phân bố rộng, tổng số lượng loài Ďược Ďịnh danh

là 210 loài trên thế giới trong khi số lượng loài ước tính hàng nghìn loài [14] Điển

hình là nghiên cứu công bố loài mới: Hydrovatus wewalkai của Biström (1999) tại Thái Lan [13], H sringeriensis của Manivannan (2011) tại Ấn Độ [36] Đến 2016,

Biström dựa trên công bố loài mới của Manivannan và các mô tả loài trước Ďây Ďã xây dựng khóa phân loại cho 12 loài, Ďồng thời cũng công bố thêm 2 loài mới cho

vùng Ďịa lý Ďộng vật Phương Đông (Oriental region): H diversipunctatus, H

globosus [14]

Họ Gyrinidae tại Châu Á có 4 giống Ďược quan tâm nhiều nhất là:

Orectochilus, Dineutus, Gyrinus, Porrohynchus Tại Nhật Bản, Takizawa (1931) Ďã

xây dựng khóa phân loại cho 3 giống: Orectochilus, Dineutes (Dineutus), Gyrinus

và khóa Ďịnh loại tới loài cho từng giống này Giống Orectochilus gồm 4 loài: O

formosanus, O punctipenis, O agilis, O regimbarti trong Ďó loài O formosanus do

chính tác giả mô tả và công bố loài mới; giống Gyrinus gồm 4 loài: G gestroi, G

japonicus, G curtus, G fulvescens với loài G fulvescens là loài mới; giống Dineutes (Dineutus) gồm 3 loài: D australis, D marginatus, D mellyi [46]

Trang 12

Đối với các họ có số lượng loài ít như họ: Noteridae và Haliplidae, các nghiên cứu thường Ďược thực hiện chủ yếu cùng với các nghiên cứu tổng quát về thành phần loài tại từng khu vực, số lượng công bố loài mới rất ít Nghiên cứu nổi bật về phân loại các nhóm này trong khu vực Đông Nam Á phải kể Ďến nghiên cứu Balke, Jäch và Hendrich (2004) tại Malaysia [10] và Hendric, Balke và Yang (2004) [26] tại Singapore Hai nghiên cứu này Ďều xây dựng khóa phân loại tới họ và khóa phân loại tới giống cho khu vực nghiên cứu, ngoài ra nghiên cứu cũng Ďưa ra danh sách loài có mặt và phân bố của chúng Họ Noteridae là một họ khá nhỏ với khoảng

270 loài Ďược mô tả và khoảng 23 loài Ďược ghi nhận có mặt tại Đông Nam Á [26]

Các loài Ďược tìm thấy chủ yếu thuộc 4 giống: Canthydrus, Hydrocanthus,

Neohydrocoptus, Notomicrus Trong Ďó, giống Notomicrus chỉ có loài N tellenus và

giống Hydrocanthus chỉ có loài H indicus Ďược ghi nhận tại Ďây [10] Tại Singapore, Ďã ghi nhận 4 loài thuộc giống Canthydrus là: C flavus, C proximus, C

ritsema, C morsbachi, 3 loài thuộc giống Neohydrocoptus là: N bivitis, N frontalis, N subvittulus [26] Tại Malaysia, ghi nhận 2 loài thuộc giống Canthydrus

là: C angularis, C ritsemai và 6 loài thuộc giống Neohydrocoptus là: N bivitis, N

frontalis, N boschae, N sharpi, N scapularis, N bivittulus [10] Họ Haliplidae tại

Malaysia ghi nhận 2 giống: Peltodytes và Haliplus Tại Đông Nam Á, thuộc vùng Ďịa lý Ďộng vật Phương Đông có 4 loài thuộc giống Peltodytes và 20 loài thuộc phân giống Haliplus (Liaplus) [10]

Họ Hygrobiidae và họ Amphizoidae là 2 họ rất nhỏ với số lượng loài ít, các nghiên cứu về nhóm này tại Châu Á chưa Ďược quan tâm, Ďặc biệt là Đông Nam Á Trong Ďó, họ Hygrobiidae có 6 loài Ďược mô tả, họ Amphizoidae có 5 loài Ďược mô

tả trên thế giới và tại Châu Á thì mới chỉ ghi nhận có mặt ở Trung Quốc [29]

Phân bộ Polyphaga có số lượng họ Ďược Ďịnh danh nhiều nhất trong 3 phân

bộ kể trên với 11 họ thường Ďược tìm thấy ở sông suối nước ngọt Châu Á là Hydrophilidae, Elmidae, Dryopidae, Hydraenidae, Hydrochidae, Eulichadidae, Ptilodactilidae, Psephinidae, Scirtidae, Helophoridae, Heteroceridae [18]

Trang 13

Họ Hydrophilidae gồm khoảng 2400 loài Ďã Ďược mô tả, trong Ďó có khoảng

400 loài thuộc 60 giống ghi nhận tại vùng Ďịa lý Ďộng vật Phương Đông Tại

Singapore, ghi nhận 30 loài thuộc 12 giống [26] Giống Helochares có số lượng loài nhiều nhất với 7 loài tiếp Ďến là giống Enochrus với 4 loài, các giống Allocotocerus,

Regimbatia, Amphiops, Chasmogenus, Hydrophilus, Sternolophus, mỗi giống có 1

loài [26] Tại Malaysia, ghi nhận 70 loài thuộc 21 giống Giống Coelostoma có

nhiều loài nhất với 10 loài [10] Tại Trung Quốc, họ Hydrophilidae có số lượng loài lớn nhất so với các họ trong phân bộ Polyphaga với 131 loài trên tổng số 792 loài Cánh cứng ở nước Ďược thống kê [27] và trên thế giới, họ này có số lượng loài Ďứng thứ 2 so với tất cả các họ trong nhóm Cánh cứng ở nước với khoảng 1,800 loài [29]

Họ Hydrophilidae Ďược chia làm 4 phân họ (Hansen, 1991): Horelophinae, Horelophopsinae, Hydrophilinae và Sphaeridiinae nhưng chỉ có 2 phân họ Hydrophilinae và Sphaeridiinae Ďược ghi nhận tại Châu Á với hơn 1600 loài Ďược

mô tả [10] Các nghiên cứu về họ này Ďược thực hiện chủ yếu theo từng giống và số lượng loài mới Ďược công bố tại Trung Quốc là lớn nhất trong khu vực Đông Nam

Á và Đông Á Năm 2010, Jia công bố 1 loài mới thuộc giống Enochrus: Enochrus

pseudesuriens và Ďưa ra khóa Ďịnh loại tới loài của giống này sau khi thêm loài mới,

khóa Ďinh loại Ďược xây dựng cho 19 loài [33] Năm 2011, Short và Jia công bố 2

loài mới của giống Oocyclus là O fikaceki và O dinghu [44] Năm 2014, Jia thực

hiện nghiên cứu Ďối với họ Coelostoma và công bố 5 loài mới: C bifidum, C

hajeki, C hongkongense, C huangi, và C gentilii [34], 2 loài mới vào năm 2017:

C jaechi và C tangliangi và xây dựng khóa Ďịnh loại cho tổng cộng 17 loài [32]

Họ Elmidae cũng là một họ rất Ďược quan tâm trong phân bộ Polyphaga bởi

sự Ďa dạng và phân bố rộng Họ này có nhiều giống nhất so với các họ khác thuộc phân bộ này với 46 giống tại Châu Á [18] Các nghiên cứu Ďược thực hiện trên

nhiều giống, tại nhiều khu vực thuộc Châu Á như nghiên cứu về giống Grouvellinus

bởi Jäch, 1984 ở Himalaya và vùng Đông Nam Á Ďã mô tả lại 7 loài và mô tả mới 8 loài, trên cơ sở Ďó xây dựng khóa phân loại Ďến loài Giống này tiếp tục Ďược bổ sung thêm 5 loài mới ở Myanmar, Nelpan trong nghiên cứu của Jäch và Kodada

Trang 14

(1995) tại Trung Quốc và các vùng lân cận [12] Năm 1998, Jeng và Yang công bố thêm 3 loài mới thuộc họ này ở Đài Loan và Nhật Bản [12] Như vậy, tính Ďến

2014, giống này có tổng cộng 36 loài Ďược Ďịnh danh [12] Đây là giống Ďược quan tâm nghiên cứu nhiều trong họ Elmidae với các khóa phân loại khá chi tiết, Ďầy Ďủ

tại Trung Quốc Giống Macronychus có phân bố rộng, Ďược tìm thấy ở nhiều vùng

Ďịa lý Ďộng vật như Cổ Bắc (Palearctic), Bắc Mỹ (Nearctic), Đông phương (Oriental) trong Ďó vùng Đông Nam Á Ďược coi là có sự Ďa dạng nhất [17] Giống

này Ďược Müller (1806) mô tả dựa trên mẫu M quadrituberculatus thu Ďược ở Đức

Tuy nhiên, tại Châu Á, giống này hiếm gặp hơn các giống khác trong họ Năm

1998, Čiampo và Kodada bổ sung thêm 6 loài mới: M ultimus, M kubani, M

jendeki, M reticulatus, M jaechi, M sulcatus, xây dựng khóa Ďịnh loại cho 11 loài,

bao gồm 6 loài trên và 5 loài: M indicus, M quadrituberculatus, M levanidovae,

M vietnamensis và M glabratus [17] Tại khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu về

thành phần loài họ Elmidae Ďược tiến hành ở 2 nước: Thái Lan và Malaysia Trong

Ďó, tại Thái Lan, nghiên cứu của Sherpard và Sites (2016) Ďã xây dựng khóa phân loại cho các giống có mặt tại Ďây cùng với các giống thuộc họ Dryopidae Ďồng thời cũng ghi nhận sự có mặt của 23 loài [43] Tại Malaysia, Ďã ghi nhận 25 giống, tuy nhiên chưa có ghi nhận nào về loài [10]

Họ Dryopidae có khoảng 250 loài Ďã Ďược mô tả thuộc 30 giống [10] Điển hình nhất cho nghiên cứu về họ này tại Đông Nam Á là nghiên cứu của Sherpard và Sites (2016) tại Thái Lan [43] Trong nghiên cứu này, tác giả Ďã xây dựng khóa Ďịnh loại tới giống, Ďồng thời cũng ghi nhận 5 loài thuộc 4 giống có mặt tại Ďây:

Elmormophus bryanti, Elmormophus prosternalis Pachyparnus tonkineus, Parahelichus pseudogranulosus, Stenomystax kubani [43] Tại Malaysia Ďã ghi

nhận Ďược 3 giống: Elmormophus, Pachyparnus, Stenomystax nhưng không có loài

Ďịnh danh nào Ďược ghi nhận [10]

Họ Hydraenidae có khoảng 1200 loài, 40 giống Ďược Ďịnh danh trong khi ước lượng có khoảng hơn 1000 loài chưa Ďược Ďịnh danh [10] Các giống này thuộc

4 phân họ: Hydraeninae, Ochthebiinae, Orchymontiinae, Prosthetopinae trong Ďó tại

Trang 15

vùng Ďịa lý Ďộng vật Phương Đông (Oriental) chỉ ghi nhận Ďược 2 phân họ Hydraeninae, Ochthebiinae [10] Tại Đông Nam Á, không có nhiều nghiên cứu về nhóm này, trong 1200 loài Ďã mô tả thì mới chỉ có vài loài Ďược mô tả ở Ďây, hầu hết loài thu thập Ďược trong các nghiên cứu chỉ Ďể bậc giống Điển hình như nghiên cứu tại Singapore của Hendric và cộng sự (2004) Ďã xác Ďịnh Ďược 3 loài thuộc

giống Hydraena là Hydraena sp1., Hydraena sp2 và Hydraena sp3 [26] Nghiên

cứu tại Malaysia của Balke và cộng sự (2004) Ďã xây dựng khóa Ďịnh loại Ďến giống

cho 4 giống Ďược ghi nhận có mặt ở Ďây: Aulacochthebius, Ochthebius, Limnebius

và Hydraena và không ghi nhận Ďược loài nào có mặt ở Ďây [10] Tới năm 2007, Freitag và Jäch Ďã tiến hành nghiên cứu về giống Hydraena thuộc họ này tại Philippine Trong nghiên cứu, tác giả Ďã ghi nhận 1 loài tại Ďây là Hydraena (Hydraenopsis) scabra và công bố 11 loài mới: Hydraena (Hydraenopsis)

jojoorculloi, Hydraena (Hydraenopsis) nielshaggei, Hydraena (Hydraenopsis) zetteli, Hydraena (Hydraenopsis) castanescens, Hydraena (Hydraenopsis) claudia, Hydraena (Hydraenopsis) kodadai, Hydraena (Hydraenopsis) palawanensis, Hydraena (Hydraenopsis) pseudopalawanensis, Hydraena (Hydraenopsis) manguao Hydraena (Hydraenopsis) hosiwergi Hydraena (Hydraenopsis) busuanga

[20] và Ďến năm 2013, Freitag công bố thêm 1 loài mới nữa là Hydraena (Hydraenopsis) ateneo và ghi nhận tại Ďây có 14 loài thuộc giống Hydraena [19]

Ptilodactilidae, Psephinidae, Scirtidae, Eulichadidae là 4 họ có giai Ďoạn ấu trùng sống trong môi trường nước, còn giai Ďoạn trưởng thành chúng sống ở trên

cạn, chỉ có giống Hydrocyphon thuộc họ Scirtidae là tìm thấy dưới nước [10] Họ

Ptilodactilidae có khoảng 500 loài, 30 giống [29] nhưng tại Châu Á chỉ có duy nhất

1 giống là Epilichas [18] Họ Psephenidae có khoảng 272 loài thuộc 35 giống [29]

và có 13 giống Ďược ghi nhận tại Ďây và thường tìm thấy các loài thuộc giống

Eubrianax [18] Họ Scirtidae ghi nhận 4 giống: Cyphon, Flavohelodes, Hydrocyphon, Prionocyphon tại Châu Á, trong Ďó giống Cyphon là giống phổ biến

nhất ở vùng Ďịa lý Ďộng vật Phương Đông (Oriental region) [18] Họ Eulichadidae

Trang 16

chỉ có duy nhất 1 giống Eulichas với 20 loài ở Châu Á, nghiên cứu về nhóm này tại

Ďây ít Ďược quan tâm [18]

Ba họ còn lại: Helophoridae, Hydrochidae và Heteroceridae có số lượng rất

ít và hầu như không có nghiên cứu nào về phân loại Ďược thực hiện trong khu vực

Đông Nam Á Họ Helophoridae chỉ có duy nhất 1 giống Helophorus, họ Heteroceridae chỉ có 2 giống: Heterocerus và Littorimus [18] Họ Hydrochidae có

khoảng 200 loài Ďược Ďịnh danh, tất cả các loài này Ďều thuộc 1 giống duy nhất:

Hydrochus [10] Tại Đông Nam Á mới chỉ có ghi nhận về họ này ở Malaysia với

loài Hydrochus rishi [10]

Nhìn chung thì các nghiên cứu về phân loại học của nhóm Cánh cứng ở nước tại Châu Á Ďược Ďẩy mạnh từ những năm 90 của thế kỉ 20 cho tới nay Các loài mới

liên tục Ďược công bố như Grouvellinus orbiculatus, Grouvellinus sagittatus Bian,

2016 tại Trung Quốc; Vietelmis jablonskii Kodada, 2017 tại Thái Lan và Lào;

Coelostoma (Lachnocoelostoma) tangliangi, Coelostoma (Lachnocoelostoma) jaechi Jia, 2017 tại Trung Quốc Số lượng các công trình nghiên cứu về nhóm Ďối

tượng này ngày càng nhiều chứng tỏ Ďây là nhóm Ďối tượng Ďang rất Ďược quan tâm tại Châu Á

1.2 Tình hình nghiên cứu đa da ̣ng sinh ho ̣c của nhóm Cánh cứng ở nước tại

Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về Ďa dạng sinh học của nhóm Cánh cứng ở nước còn ít , hạn chế trong một số tài liệu của Delève (1968), Sato (1972) Các tài liê ̣u Ďã công bố chủ yếu tập trung vào 1 nhóm loài chứ chưa có nghiên cứu tổng thể,

hệ thống số lượng loài của nhóm Cánh cứng ở nước nói chung Nghiên cứu Ďầu tiên

về nhóm Ďối tượng này là của L Fairmaire (1888) với việc công bố loài mới thuộc

họ Dryopidae: Pachyparnus tonkineus Năm 1923, Pic công bố loài mới thuộc họ Elmidae: Stenelmis longicollii Năm 1968, Delève công bố kết quả nghiên cứu về

họ Dryopidae và Elminthidae (Elmidae) tại tỉnh Nghệ An Trong nghiên cứu của

mình, tác giả Ďã bổ sung thêm 2 giống mới thuộc họ Elmidae: giống Graphelmis

Trang 17

(với 2 loài mới Graphelmis scapularis và Graphelmis consobrina) và một giống mới: Vietelmis (với 1 loài mới: Vietelmis brevicornis) Đồng thời, tác giả cũng Ďƣa

ra mô tả của 20 loài mới thuộc 8 giống (Elmomorphus striatellus, Potamophilus

spinicollis, Leptelmis signata, Leptelmis obscura, Leptelmis vietnamensis, Leptelmis basalis, Stenelmis brevipes, Stenelmis pocsi, Stenelmis kaszabi, Stenelmis notabilis, Stenelmis metatibialis, Stenelmis corpulenta, Stenelmis dispar; Ordobrevia constricta, Ordobrevia communis; Zaitzevia pocsi; Zaitzeviaria fusca, Zaitzeviari laevicollis, Zaitzeviari pilosella, Macronychus vietnamensis) [51] Đến năm 1974,

Delève tiếp tục công bố thêm một loài mới thuộc họ Dryopidae tại Việt Nam là

Parahelichus granulosus [45]

Họ Noteridae và Dytiscidae cùng từng Ďƣợc nghiên cứu bởi Sato (1972) tại Việt Nam Tác giả cung cấp danh sách thành phần loài hai họ này cùng Ďịa Ďiểm

phân bố của chúng và ghi nhận 6 loài thuộc họ Noteridae: Hydrocoptus bivittis,

Hydrocoptus subvittulus, Hydrocanthus indicus, Hydrocanthus indicus, Canthydrus flavus, Canthydrus nitidulus Trong Ďó, tác giả Ďề nghị chia giống Hydrocoptus

thêm phân giống Neohydrocoptus và xếp loài loài Hydrocoptus bivittis vào phân giống Neohydrocoptus: Hydrocoptus (Neohydrocoptus) bivittis Họ Dytiscidae ghi nhận 26 loài: Hyphydrus pulchellus, Hyphydrus lyratus, Hydrovatus acuminatus,

Hydrovatus bonbouloiri, Hydrovatus confertus, Hydrovatus ferrugatus, Hydrovatus pumilus, Hydrovatus subtilis, Guignotus annamita, Guignotus flammulatus, Guignotus fuscipennis, Guignotus orientalis, Clypeodytes bufo, Clypeodytes dilutus, Clypeodytes perforatus, Hyphoporus sp., Laccophilus ellipticus, Laccophilus

similis, Neptostemus poesi, Neptostemus kaszabi Copelatus tenebrosus, Laeeonectes fulvescens, Rhantus annamita, Erctes sticticus, Hydaticus

(Guignotites) fabricii, Cybister (Meganectes) limbatus, Cybister (Meganectes)

ventralis và 3 phân loài: Cybister (Gsehwendtnerhydrus) tripunctatus orientális,

Hydaticus (Guigiiotites) lenzi oonjungens, Cybister (Gsehwendtnerhydrus)

tripunctatus orientalis Trong Ďó loài Neptostemus poesi ghi nhận tại Nghệ An và

loài Neptostemus kaszabi ghi nhận tại Hà Tĩnh là 2 loài mới [41] Tới năm 1997,

Trang 18

1998, Balke nghiên cứu về giống Laccophilus, công bố thêm hai loài mới:

Laccophilus vietnamensis tại Đà Lạt [9] và Laccophilus chini tại thành phố Hồ Chí

Minh [8]

Gần Ďây nhất là nghiên cứu của Grey và Kelly (2016) về giống

Porrorhynchus thuộc họ Gyrinidae Ďược thực hiện tại Đông Nam Á trong Ďó có

Việt Nam Tác giả Ďã hệ thống lại các loài thuộc giống này và Ďưa ra khóa Ďịnh loại tới loài cùng với sự phân bố của loài Tại Việt Nam, ghi nhận có sự xuất hiện của 2

loài: Porrorhynchus landaisi tại Lào Cai, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Nghệ An, Quảng Ngãi, Kon Tum và Porrorhynchus marginatus tại Hòa Bình, Quảng Trị, Ninh

Thuận, Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng [22]

Như vậy, tổng hợp từ các nghiên cứu trên và kết hợp với dẫn liệu về sự phân

bố của Cánh cứng ở nước Ďã thống kê Ďược khoảng 150 loài thuộc 7 họ: Dytiscidae, Gyrinidae, Noteridae, Halipidae, Hydrophilidae, Elmidae, Dryopidae tại Việt Nam [6, 8, 9, 10, 11, 19, 22, 34, 41, 45, 50, 51] Trong khi Viê ̣t Nam có Ďiều kiện tự nhiên Ďa da ̣ng , hê ̣ thống sông ngòi dày Ďă ̣c , thuâ ̣n lợi cho sự phát triển của Cánh cứng ở nước thì số lượng loài Ďược ghi nhận tại Việt Nam còn rất ít so với 2189 loài thuô ̣c 22 họ Ďược ghi nhận trong vùng Ďi ̣a lý Ďô ̣ng vâ ̣t Phương Đông [29], bởi vâ ̣y cần tiếp tu ̣c nghiên cứu về thành phần loài Cánh cứng ở nước Ďể bổ sung dữ liê ̣u về

Ďa da ̣ng sinh ho ̣c cho nhóm Ďối tượng này ta ̣i Viê ̣t Nam

Ngoài các nghiên cứu về từng nhóm nhỏ của Cánh cứng ở nước, nghiên cứu

về thành phần loài nhóm Cánh cứng ở nước còn Ďược thực hiện cùng các nhóm côn trùng nước khác ví dụ như nghiên cứu của Jung (2008) tại Sa Pa Ďã Ďưa ra danh sách của 35 loài thuộc 27 giống, 12 họ [35] nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiếu (2009) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo với 17 loài, 17 giống, 7 họ [2]; nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2012) tại Vườn Quốc gia Ba Vì có 12 họ, 29 giống, 29 loài [3] Tuy nhiên, hầu hết các loài trong những nghiên cứu trên Ďều chưa xác Ďịnh Ďược tên khoa học của loài, chủ yếu mới Ďến họ hoặc giống Thành phần loài Cánh cứng ở nước gần Ďây Ďã Ďươ ̣c quan tâm và nghiên cứu tập trung hơn tại Việt Nam

Trang 19

Năm 2015, Nguyễn Thanh Sơn và cộng sự Ďã nghiên cứu về thành phần loài Cánh cứng ở nước tại Vườn quốc gia Xuân Sơn và Ďưa ra danh lục gồm 28 loài thuộc 28 giống, 7 họ [6] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn và cô ̣ng sự (2015) mới chỉ là nghiên cứu Ďầu tiên tâ ̣p trung về Ďa da ̣ng sinh ho ̣c của nhóm Cánh cứng ở nước trong mô ̣t khu vực cụ thể Như vậy, cần phải tiếp tu ̣c nghiên cứu về thành phần loài của Cánh cứng ở nước tại các khu vực khác Ďể có Ďược dẫn liệu Ďầy Ďủ về Ďa dạng sinh ho ̣c của nhóm Ďối tượng này ta ̣i Viê ̣t Nam

1.3 Một số đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam và Khu di tích Mỹ

Sơn

1.3.1 Mô ̣t số đă ̣c điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam

Vị trí địa lý: Quảng Nam có tọa Ďộ Ďịa lý từ 108°26’16” Ďến 108°44’04” Ďộ

kinh Đông, và từ 15°23’38” Ďến 15°38’43” Ďộ vĩ Bắc Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Ďông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Sê Kông của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Hiện nay Quảng Nam có hai thành phố trực thuộc tỉnh là Tam Kỳ và Hội An cùng 16 huyện trải rộng từ miền núi Ďến vùng Ďồng bằng và duyên hải [52]

Địa hình: Địa hình tỉnh Quảng Nam tương Ďối phức tạp, thấp dần từ Tây

sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng Ďồng bằng và ven biển; vùng Ďồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn núi cao trên 2,000m như: núi Lum Heo cao 2,045m, núi Tiên cao 2,032m (Phước Sơn), Hòn Tà Xiêu cao 2,053m (Tây Giang), núi Ngọc Niay cao 2,259m, Ngọc Kring cao 2,025m, núi Ngọc Linh cao 2,598m (nằm giữa ranh giới Quảng Nam và Kon Tum,

là Ďỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn) Ngoài ra, vùng ven biển phía Ďông sông Trường Giang là dải cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc (Điện Bàn) Ďến Tam Quan (Núi Thành) Bề mặt Ďịa hình bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam

Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Ďa dạng với các hệ sinh thái Ďồi núi, Ďồng bằng, ven biển [52]

Trang 20

Khí hậu: Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt Ďới Ďiển hình, chỉ có 2

mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa Ďông lạnh miền Bắc Nhiệt

Ďộ trung bình năm 25,6°C Mùa Ďông nhiệt Ďộ vùng Ďồng bằng có thể xuống dưới 12°C và nhiệt Ďộ vùng núi thậm chí còn thấp hơn Độ ẩm trung bình trong không khí Ďạt 84% Lượng mưa trung bình 2000 - 2500 mm Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 10 Ďến tháng 12, mùa khô kéo dài từ tháng 2 Ďến tháng 8, tháng 1 và tháng 9

là các tháng chuyển tiếp với Ďặc trưng là thời tiết hay nhiễu loạn và khá nhiều mưa Mưa phân bố không Ďều theo không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn Ďồng bằng Vùng Tây Bắc thuộc lưu vực sông Bung (các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang) có lượng mưa thấp nhất trong khi vùng Ďồi núi Tây Nam thuộc lưu vực sông Thu Bồn (các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Hiệp Đức) có lượng mưa lớn nhất Trà My là một trong những trung tâm mưa lớn nhất của Việt Nam với lượng mưa trung bình năm vượt quá 4,000 mm Mưa lớn lại tập trung trong một thời gian ngắn trong 3 tháng mùa mưa trên một Ďịa hình hẹp, dốc tạo Ďiều kiện thuận lợi cho lũ các sông lên nhanh [52]

Hệ thống sông ngòi: Hệ thống sông ngòi ở Quảng Nam dày Ďặc Thu Bồn là

một trong những con sông lớn của Quảng Nam có tổng diện tích lưu vực khoảng 9,000km2, sông Tam Kỳ có diện tích lưu vực 800km2, ngoài ra còn có các sông có lưu vực khá lớn như: Cu Đê (400km2), Túy Loan (300km2), Li Li (280km2) Các sông này có lưu lượng dòng chảy lớn, Ďầy nước quanh năm, có giá trị lớn về thủy Ďiện, giao thông cũng như thủy nông Hiện tại, trên hệ thống sông Thu Bồn, nhiều nhà máy thủy Ďiện có công suất lớn như: thủy Ďiện Sông Tranh I, thủy Ďiện Sông Tranh II, thủy Ďiện Sông A Vương, thủy Ďiện Sông Bung Ďang Ďược xây dựng, góp phần cung cấp Ďiện cho nhu cầu sử dụng trong cả nước [52]

1.3.2 Một số đặc điểm điều kiện tự nhiên Khu di tích Mỹ Sơn

Vị trí địa lý: Khu di tích Mỹ Sơn nằm trên Ďịa phận xã Duy Phú, huyện Duy

Xuyên, tỉnh Quảng Nam có tọa Ďộ Ďịa lý: 15°515 Vĩ Ďộ Bắc và 108°573 Kinh Ďộ

Trang 21

Đông Khu di tích nằm trong một thung lũng, Ďược quy hoạch bảo tồn và phát huy

có tổng diện tích: 1,158 ha với hơn 70 công trình kiến trúc Ďền tháp [7]

Địa hình: Khu vực quy hoạch Ďược bao quanh bởi một vòng núi Ďất, núi Ďá

có Ďộ cao từ 120m Ďến 350m Đỉnh Răng Mèo (có tên gọi khác là Ďỉnh Hòn Đền) cao nhất, có Ďộ cao khoảng 750m so với mặt nước biển Trên các sườn núi, Ďỉnh núi Ďược bao phủ bằng một lớp thực vật dày Ďặc gồm các loại cây rừng có chiều cao từ 5m Ďến 20m [7]

Khí hậu : Khu vực quy hoạch nằm trong vùng nóng ẩm, hàng năm có hai

mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Nhiệt Ďộ trung bình: 25 - 26C, lượng mưa trung bình 2000 - 2200mm trên năm [7]

Hê ̣ thống suối : Trên các sườn núi có nhiều nguồn suối nhỏ dồn nước vào

con suối lớn có tên là suối Khe Thẻ, chảy từ trong thung lũng Mỹ Sơn ra hợp lưu

với một dòng Tụ thủy (phía Đông Bắc) Ďổ ra hồ Thạch bàn ở phía Tây Địa hình Ďồi

núi phức tạp, Ďộ dốc lớn, hệ thống suối ngắn, về mùa khô nước thường cạn, mùa mưa tạo lũ Mức ngập lũ thường xuyên hàng năm ở cốt 37,7m - 37,8m, cao hơn cốt nền nhóm D khoảng 0,3m - 0,4m Trong khu vực thung lũng thường xuyên bị ngập lụt do các khe suối không thoát kịp nước vào mùa mưa Cuộc khai quật suối Khe Thẻ vào năm 2002 Ďã vớt Ďược ở lòng suối nhiều hiện vật bằng Ďá Ďã giải quyết

phần nào về thoát nước và cải thiện Ďược một phần tình trạng ngập úng [7]

Trang 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Ďề tài là mẫu vật trưởng thành của Cánh cứng ở nước, Ďược thu trong 3 Ďợt khảo sát thực Ďịa tại một số khu vực của tỉnh Quảng Nam bởi cán bộ và sinh viên của Bộ môn Động vật không xương sống, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học tự nhiên – ĐHQGHN và cán bộ của Viện sinh thái và Bảo vệ Công trình (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam)

- Đợt 1: từ 18/9/2015 tới 28/9/2015 với 49 Ďiểm thu mẫu tại mô ̣t số thủy vực thuô ̣c tỉnh Quảng Nam (Hình 2.1), bao gồm Khu bảo tồn tự nhiên sông Thanh , Rừng phòng hô ̣ Đắk Mi , Khu bảo tồn thiên nhiên Ngo ̣c Linh , Rừng Ďă ̣c du ̣ng k hu bảo tồn Voi, sông Trường Giang, sông Thu Bồn

Trang 23

Hình 2.1 Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại một số thủy vực

thuô ̣c tỉnh Quảng Nam

- Đợt 2: từ 13/8/2016 tới 16/8/2016 tại 30 Ďiểm thu mẫu tại suối Khe Thẻ, khu Di tích Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (Hình 2.2)

- Đợt 3: từ 9/4/2017 tới 11/4/2017 thu mẫu lặp lại Ďợt 2 với 30 Ďiểm thu mẫu tại suối Khe Thẻ, khu Di tích Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (Hình 2.2) Đây là Ďợt tác giả luận văn trực tiếp tham gia quá trình thu mẫu

Hình 2.2 Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại Khu di tích Mỹ Sơn

Trong 79 Ďiểm thu mẫu trên, chỉ có 41 Ďiểm thu Ďược mẫu Cánh cứng ở nước Đặc Ďiểm sinh cảnh tại các Ďiểm thu mẫu Ďược mô tả trong Phụ lục 1

Trang 24

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

Phương pháp nghiên cứu ngoài thực Ďịa: Tiến trình thu mẫu Ďược thực hiện theo phương pháp của McCafferty (1983) [39] Tại mỗi Ďiểm thu mẫu , ba người cùng thực hiện thu mẫu một lúc , trong thời gian 20 phút, bán kính khoảng 10 m theo chiều dài suối Việc thu mẫu Ďược thực hiện ở cả nơi nước chảy, nước tĩnh, ven bờ, xung quanh các cây thủy sinh và ở các dạng nền Ďáy khác nhau Khi thu mẫu, dùng vợt Ďưa qua các Ďám cỏ, bụi cây nhỏ ven bờ hoặc các Ďám lá trôi nổi trên

bề mặt nước, xung quanh các cây thủy sinh, những vùng Ďất ẩm ướt hoặc những hốc nước Ďọng lại Đối với một số loài sống bám vào các tảng Ďá, dùng phương pháp Ďạp nước ở nền suối hoặc nhấc các tảng Ďá lên tìm kiếm, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp thì việc thu mẫu Ďược thực hiện bằng vợt cầm tay Mẫu bắt Ďược phải nhanh chóng cho vào lọ Ďựng vì mẫu vật của một số loài có thể bay khỏi mặt lưới Quá trình thu mẫu thống nhất với tất cả các Ďiểm thu mẫu Dụng cụ thu mẫu là vợt ao và vợt cầm tay Mẫu sau khi thu Ďược bảo quản ngay trong cồn 90% tại thực Ďịa và Ďem về lưu trữ tại Bộ môn Động vật không xương sống, Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm

Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Mẫu vật Ďược làm sạch, loại bỏ rác, cho ra khay và nhặt riêng cá thể Cánh cứng trưởng thành, sau Ďó bảo quản trong cồn 70% và tiến hành phân tích Viê ̣c Ďi ̣nh loa ̣i mẫu vâ ̣t sử du ̣ng các Ďă ̣c Ďiểm hình thái ngoài Ďă ̣c trưng và dựa trên tài liệu phân loại Ďã Ďược công bố của từng bâ ̣c phân loa ̣i

Đối với bậc họ : các Ďặc Ďiểm dùng Ďể Ďịnh loại là hình thái Ďầu , anten, vị trí của mắt, Ďô ̣ dài Ďôi cánh hóa cứng (che phủ hết bu ̣ng hay mô ̣t phần bu ̣ng ) công thức

và hình dáng Ďốt bàn Việc Ďịnh loại Ďến bâ ̣c họ dựa trên tài liệu của Jäch và Balke (2003) [28], Dudgeon (2000) [18]

Trang 25

Đối với bậc giống: tùy từng giống mà Ďặc Ďiểm dùng Ďể phân loại khác nhau Như các giống của ho ̣ Gyrinidae thì sử du ̣ng Ďă ̣c Ďiểm hình da ̣ng Ďôi cánh hóa cứng (có lỗ nhỏ hay lông cứng t rên cánh , gai ở cuối mép cánh ); các giống thuộc họ Dryopidae thì sử du ̣ng hình dáng của xúc biê ̣n hàm (thuôn dài hay tròn ), tấm ngực trước (mép bên) và Ďốt bụng cuối; các giống thuộc họ Elmidae sử dụng cấu tạo của anten (số Ďốt), cấu ta ̣o xúc biê ̣n hàm (số Ďốt), hình dáng của Ďốt háng và Ďốt ống của chân trước, hình dáng của Ďôi cánh hóa cứng (số gờ nhô lên ) v.v Phân loa ̣i bâ ̣c này sử dụng tài liệu của Shepard và Sites (2016) [43], Delève (1968) [51], Hendrich

và cộng sự [26], Komarek (2003) [31], Merritt và Cummin [40]

Đối với bậc loài : chủ yếu là dựa vào hình thái của phần phụ sinh dục và kết

hơ ̣p với hoa văn trên Ďôi cánh hóa cứng (giống Laccophilus) hoă ̣c hì nh dáng Ďốt bụng cuối và mép Ďôi cánh hóa cứng (giống Berosus) hoă ̣c kích thước cơ thể Phân

loại bậc này sử dụng tài liệu của Balke và cộng sự (1998) [8], Balke và Hendrich (1997) [9], Bian và Sun (2016) [12], Biström và Bergstern (1999) [14], Čiampor và Kodada (1998) [17], Gentili (2006) [21], Grey và Kelly (2016) [22], Jia và cô ̣ng sự (2014) [34], Mazzoldi (1998) [38], Schödl (1997) [42], Sona và cô ̣ng sự (2014)

[45], Brancucci (1983) [50], Delève (1968) [51]

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Đánh giá mức Ďộ Ďa dạng sinh ho ̣c của Cánh cứng ở nước thông qua chỉ

số Ďa dạng Margalef (d) và chỉ số Ďa dạng Shannon - Weiner (H’)

+ Chỉ số Margalef (d) là chỉ số Ďược sử dụng rộng rãi Ďể xác Ďịnh tính Ďa

dạng hay Ďộ phong phú về loài Chỉ số Margalef Ďược xác Ďịnh khi biết số loài và

số lượng cá thể trong mẫu Ďại diện của quần xã, Ďược tính theo công thức [16]:

1 log

S d

N

Trong Ďó: d: chỉ số Ďa dạng Margalef

S: số loài trong mẫu N: tổng số cá thể

Trang 26

Theo Nguyễn Huy Chiến (2007) [1], mức Ďộ Ďa dạng dựa trên giá trị của chỉ

số d Ďược sắp xếp như sau:

Chỉ số d

> 3,5 2,6 – 3,5 1,6 – 2,5 0,6 – 1,5

< 0,6

Mức độ đa dạng

Tính Ďa dạng rất phong phú Tính Ďa dạng phong phú Tính Ďa dạng tương Ďối tốt Tính Ďa dạng bình thường Tính Ďa dạng kém

+ Chỉ số đa dạng Shannon – Weiner (H’): nhằm xác Ďịnh lượng thông

tin hay tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Công thức Ďể tính chỉ số này là [16]:

ni: số lượng cá thể của loài i Hai thành phần của sự Ďa dạng Ďược kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là

số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số Ďa dạng loài Ďược xác Ďịnh thông qua hàm số Shannon - Weiner Theo Nguyễn Huy Chiến (2007) [1], từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức Ďộ Ďa dạng theo các cấp sau Ďây:

Chỉ số H’ Mức Ďô ̣ Ďa da ̣ng

> 3 Đa da ̣ng sinh ho ̣c tốt và rất tốt

1 – 3 Đa da ̣ng sinh ho ̣c khá

Trong Ďó

2 – 3 Trung bình khá

1 – 2 Trung bình kém

<1 Đa da ̣ng sinh ho ̣c kém và rất kém

Trang 27

Do mỗi một nhóm loài có một môi trường sống ưa thích khác nhau nên yếu tố sinh cảnh là một yếu tố ảnh hưởng Ďối với thành phần loài tại khu vực nghiên cứu Để so sánh mối tương quan về thành phần loài giữa các dạng sinh cảnh cần so sánh mức Ďộ tương Ďồng về thành phần loài giữa các dạng sinh cảnh với nhau Việc so sánh này Ďược thực hiện thông qua chỉ số tương Ďồng Bray –

Curtis

+ Chỉ số tương đồng Bray – Curtis Ďược tính toán bằng công thức [16]:

Trong Ďó: Sjk – Hệ số tương Ďồng của hai mẫu j và k (theo %)

yij – Số lượng cá thể loài i có trong mẫu j

yik – Số lượng cá thể loài i có trong mẫu k

p – số loài có trong mẫu j và k

Giá trị Sjk nằm trong khoảng 0 – 100%, Sjk càng lớn, thì tính tương Ďồng của hai mẫu càng cao

Việc Ďánh giá mức Ďô ̣ Ďa da ̣ng dựa vào c ác chỉ số Margalef (d) và Shannon – Weiner (H’) Việc Ďánh giá mức Ďô ̣ tương Ďồng v ề thành phần loài giữa các sinh cảnh dựa vào chỉ số Bray – Curtis kết hợp với hai phương pháp phân tích thống kê

là ANOSIM và SIMPER Phân tích ANOSIM cho phép Ďánh giá mức Ďộ khác biệt về thành phần loài giữa các sinh cảnh có ý nghĩa thống kê hay không , phân tích SIMPER cho phép xác Ďi ̣nh chính xác loài nào Ďã góp phần vào sự khác biê ̣t giữa các sinh cảnh Các kết quả ph ân tích ANOSIM và SIMPER trên có thể giúp bư ớc Ďầu xác Ďịnh những loài có tiềm năng làm sinh v ật chỉ thi ̣ cho các sinh cảnh khác nhau

+ Phân tích ANOSIM (Analysis of Similarities) Ďược tính toán bằng

phần mềm Primer 6, dựa trên công thức [15, 16]:

Trang 28

Trong Ďó: : là Ďộ tương Ďồng trung bình giữa các Ďiểm thu mẫu trong nhóm

: là Ďộ tương Ďồng trung bình giữa các cặp Ďiểm thu mẫu thuộc các nhóm khác nhau

do sự nhầm lẫn khi ghi thông tin mẫu…(Chapman,1999) R thường nhâ ̣n giá tri ̣ giữa 0 và 1 R=0 và p<0,05 khẳng Ďi ̣nh giả thuyết H0 xảy ra: không có sự khác biệt giữa 2 nhóm R≠0 và p<0,05 thì giả thuyết H0 bị loại bỏ và khẳng Ďịnh có sự khác biê ̣t giữa 2 nhóm Trường hợp Ďă ̣c biê ̣t, R=1 chỉ khi tất cả các Ďiểm trong 1 nhóm có nhiều sự tương Ďồng hơn bất kì nhóm nào khác [15]

Phân tích ANOSIM sử dụng hệ số tương Ďồng Bray-Curtis Ďể tính Ďộ tương Ďồng trung bình Phân tích này cho phép thực hiện việc so sánh tương quan nhiều nhóm cùng một lúc [16]

Viê ̣c xác Ďinh loài nào Ďã góp phần vào sự tương Ďồng giữa các Ďiểm trong

mô ̣t nhóm và sự khác biê ̣t (không tương Ďồ ng) giữa các nhóm với nhau sẽ Ďược làm rõ thông qua phân tích SIMPER Đồng thời , phân tích SIMPER cũng xác Ďịnh mức Ďô ̣ tương Ďồng trung bình giữa các Ďiểm thu mẫu trong 1 nhóm và mức

Ďô ̣ khác biê ̣t trung bình giữa hai nhóm với nhau

+ Phân tích SIMPER (Similarity percentage): Để sử dụng phương pháp

này, các Ďiểm thu mẫu sẽ Ďược phân thành các nhóm Ďiểm (thường theo các kiểu sinh cảnh khác nhau) Trong cùng một nhóm, những loài Ďược xem là tiêu biểu cho nhóm Ďó (typical species) khi có mức Ďộ Ďóng góp nhiều cho tính tương Ďồng

Trang 29

trung bình giữa các Ďiểm Giữa hai nhóm khác nhau, các loài Ďược xem là loài phân biệt (discriminating species ) khi loài Ďó chỉ xuất hiê ̣n ở mô ̣t nhóm và có mức Ďộ Ďóng góp nhiều cho sự khác biê ̣t gi ữa hai nhóm Hệ số tương Ďồng sử dụng trong phân tích này là Bray-Curtis [16]

Số liệu thu thập Ďược xử lý qua bảng biểu, sơ Ďồ, Ďồ thị biểu diễn số lượng, sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel Việc tính toán các chỉ số Ďa dạng, chỉ số tương Ďồng, phân tích ANOSIM, phân tích SIMPER Ďược thực hiện bằng phần

mềm Primer version 6 (http://www.primer-e.com/)

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam

Kết quả Ďịnh loại Cánh cứng ở nước thu Ďược tại khu vực tỉnh Quảng Nam

Ďã xác Ďịnh Ďược 48 loài, thuộc 32 giống, 9 họ, 2 phân bô ̣ (Adephaga và

Polyphaga) Trong Ďó có 6 loài lần Ďầu tiên ghi nhận cho Việt Nam là Macronychus

reticulatus Kodada, Grouvellinus nepalensis Delève, Elmomorphus brevicornis

Sharp, Gyrinus distinctus Aubé, Orectochilus punctipennis Sharp và Laccobius

senguptai Gentili

Loài Macronychus reticulatus trước Ďây Ďược xác Ďịnh có phân bố ở phía nam Trung Quốc và Lào [17], Grouvellinus nepalensis Delève mới chỉ Ďược ghi nhận ở Trung Quốc [12] Loài Elmomorphus brevicornis Sharp Ďược ghi nhận ở Hàn Quốc Nhật Bản [48] Loài Gyrinus distinctus có phân bố rộng, trước Ďây Ďược

ghi nhận ở Ấn Độ [49], Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Đảo Sip, Israel, Sudan, Ai Cập, Li – Băng, Syria, Iran, Iraq, Trung Á, Afghanistan, Mông Cổ, Trung Quốc [37] Loài

Orectochilus punctipennis trước Ďây Ďược ghi nhận tại Nhật Bản, phía Ďông Siberia,

Trung Quốc [46] Loài Laccobius senguptai Ďã từng Ďược ghi nhận tại Châu Âu,

miền nam Liên Bang Xô Viết cũ và Myanmar [21] Kết quả nghiên cứu thành phần loài Cánh cứng ở nước tại khu vực nghiên cứu Ďược trình bày trong Bảng 3.1

Bảng 3.1 Thành phần loài Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam

STT Taxon tích Mỹ Khu di

Sơn

Các khu vực khác

ở Quảng Nam

Phân bố trên thế giới

Phân bô ̣ Adephaga

1 Dytiscidae

1 Hydaticus sp +

Trang 31

STT Taxon tích Mỹ Khu di

Sơn

Các khu vực khác

ở Quảng Nam

Phân bố trên thế giới

2 Hydroglyphus sp +

3 Hydrovatus seminarius Motschulsky, 1859 + +

Ấn Độ, Trung Quốc, vùng Phương Đông [14]

4 Laccophilus parvulus obtusus Sharp, 1882 + Việt Campuchia, Thái Lan Nam, Lào,

Li – Băng, Syria, Iran, Iraq, Trung Á, Mông

Cổ, Trung Quốc, Afghanistan [37]

+ Việt Nam, Trung Quốc [38]

13 Orectochilus villosus Müller, 1776 + Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản [46]

14 Orectochilus sp + +

Trang 32

STT Taxon tích Mỹ Khu di

Sơn

Các khu vực khác

ở Quảng Nam

Phân bố trên thế giới

15 Porrorhynchus marginatus Laporte, 1835 + Việt Nam, Thái Lan, Lào [22]

Phân bô ̣ Polyphaga

20 Helichus haraldi Kodada & Jäch, 1995 + Việt Nam, Trung Quốc [51]

21 Parahelichus granulosus Delève, 1974 + Việt Nam, Lào [45]

Trang 33

STT Taxon tích Mỹ Khu di

Sơn

Các khu vực khác

ở Quảng Nam

Phân bố trên thế giới

36 Berosus incretus Orchymont, 1937 + Việt Nam, Thái Lan [42]

37 Berosus vietnamensis Schödl, 1997 + Việt Nam [42]

39 Chaetarthria sp +

40 Chasmogenus abnormalis Sharp, 1890 +

Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Đài Loan, Singapo, Phi-líp-pin, Ấn Độ, Ja-va, Borneo, Sumatra, Ďảo Ryukyu [31]

41 Coelostoma phallicum Orchymont, 1940 + Việt Campuchia, Nam, Trung Lào,

Quốc, Malaysia,

Trang 34

STT Taxon tích Mỹ Khu di

Sơn

Các khu vực khác

ở Quảng Nam

Phân bố trên thế giới

Chú thích: + Có mặt; * ghi nhận mới cho Việt Nam

Kết quả Ďịnh loại mẫu vâ ̣t thu Ďược trong Ďợt 1(từ 18/9/2015 tới 28/9/2015)

và Ďợt 2 (từ 13/8/2016 tới 16/8/2016) Ďã Ďược tác giả luận văn công bố trong thời gian thực hiê ̣n luâ ̣n văn trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa ho ̣c Tự nhiên và Công nghê ̣, Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, tâ ̣p 33, số 1S (2017), trang 144-149

Trong số 9 họ thu Ďược tại khu vực nghiên cứu, họ Elmidae và họ Hydrophilidae có số lượng loài lớn nhất với 12 loài mỗi họ, tổng số lượng loài của 2

họ này chiếm 50% số lượng loài bắt gă ̣p ta ̣i khu vực nghiên cứu Đây cũng là 2 họ

có số lượng giống nhiều nhất (chiếm 56,2%) Các cá thể của họ Elmidae thường thu Ďược ở ven bờ suối, nơi nước chảy, chúng bò trên những hòn Ďá và các mảnh vỡ rắn

ở vùng nước chảy hoặc ở nơi nước cạn, có nhiều Ďá Trong khi các cá thể của họ Hydrophilidae thường Ďược tìm thấy ở nơi có dòng chảy chậm hoặc nước cạn ngoại

trừ giống Laccobius, Berosus xuất hiện ở nơi có dòng chảy mạnh Ngoài ra, thỉnh

thoảng thấy chúng bò ven bờ và chui vào cát ẩm

Trang 35

Dytiscidae là họ có số lượng loài xếp thứ 2 với 8 loài, chiếm 16,6% tổng số loài thu Ďược Đây cũng là loài có số lượng giống xếp thứ 2 với 4 giống chiếm

12,6% Giống Laccophilus là giống phổ biến nhất trong 4 giống ta ̣i khu vực nghiên cứu Các loài thuộc giống này thường thu Ďược ở nơi nước chảy, dưới các tảng Ďá

Các họ còn lại: Chrysomelidae, Hydraenidae, Staphylinidae, Heteroceridae

có số lượng loài ít nhất với 1 loài thuộc 1 giống mỗi họ chiếm 2,1% tổng số loài Ďược Ďịnh danh Trong Ďó, họ Chrysomelidae Ďều là những họ có số lượng loài lớn nhưng ít Ďược biết Ďến, nghiên cứu về nhóm này chưa nhiều [37], tài liệu phân loại còn hạn chế nên trong quá trình phân loại mới chỉ Ďến bậc họ

Cấu trúc thành phần các bậc phân loại của Cánh cứng ở nước tại khu vực nghiên cứu Ďược trình bày trong Bảng 3.2 và tỷ lê ̣ % số giống, số loài của các họ Cánh cứng Ďươ ̣c trình bày trong Hình 3.1 và Hình 3.2

Bảng 3.2 Số lượng giống, loài tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam

Trang 36

STT Họ Số giống Số loài

Hình 3.1 Tỷ lệ % số giống của các họ Cánh cứng ở nước

tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam

Trang 37

Hình 3.2 Tỷ lệ % số loài của các họ Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam

Do tài liệu về phân loại và mẫu vật so sánh còn hạn chế nên trong số 48 loài chỉ có 21 loài xác Ďịnh Ďược tên loài, 26 loài còn lại mới chỉ xác Ďịnh Ďược Ďến bậc giống, một loài xác Ďịnh Ďến bậc họ (Chrysomelidae) Trong những nghiên cứu tiếp theo, cần tiếp tục so sánh và Ďối chiếu thêm với các tài liệu phân loại và mẫu vật liên quan Ďể có thể xác Ďịnh chính xác tên loài của các nhóm loài nói trên

3.2 Đánh giá mức độ đa dạng và mức độ tương đồng về thành phần loài Cánh cứng ở nước giữa các sinh cảnh tại Khu di tích Mỹ Sơn

Trong quá trình quan sát khi Ďiều tra thực Ďịa, việc xác Ďịnh sinh cảnh dựa trên việc quan sát các yếu tố : cấu trúc nền Ďáy , tốc Ďô ̣ dòng chảy , Ďô ̣ che phủ của rừng và mức Ďô ̣ tác Ďô ̣ng của con người Tại Khu di tích Mỹ Sơn Ďã xác Ďi ̣nh Ďược

3 sinh cảnh suối chính là:

Sinh cảnh 1: Suối nằm trong khu vực rừng tự nhiên, có Ďộ che phủ lớn 100%), nền Ďáy chủ yếu là Ďá tảng lớn xen lẫn Ďá nhỏ và sỏi, hai bên suối là rừng, ít

(60%-bị tác Ďộng bởi con người, tốc Ďộ dòng chảy tương Ďối nhanh Sinh cảnh này go ̣i tắt

Trang 38

là sinh cảnh ít chịu tác Ďộn g của con người , gồm 11 Ďiểm: MS01, MS02, MS03, MS04, MS05, MS06, MS07, MS08, MS09, MS10, MS11

Sinh cảnh 2: suối chảy qua khu vực quanh các Tháp của khu di tích, thuộc khu vực rừng trồng, hai bên suối là bụi cây nhỏ, Ďộ che phủ trung bình (30%-70%), nền Ďáy chủ yếu là Ďá nhỡ và Ďá cuội xen lẫn cát, mật Ďộ Ďá tảng không nhiều, tốc

Ďộ dòng chảy trung bình Sinh cảnh này go ̣i tắt là sinh cảnh chi ̣u tác Ďô ̣ng của con người, gồm 10 Ďiểm: MS12, MS13, MS14, MS15, MS16, MS17, MS18, MS19, MS20, MS21

Sinh cảnh 3: suối chảy qua các khu vực cung cấp dịch vụ du lịch như khu nhà nghỉ dưỡng, hội thảo, nhà chờ, một bên là Ďường Ďi một bên là cây bụi, Ďộ che phủ tương Ďối thấp (0%-50%), nền Ďáy chủ yếu là Ďá cuội và sỏi, xen lẫn cát mịn và bùn, tốc Ďộ dòng chảy chậm Sinh cảnh này go ̣i tắt là sinh cảnh chi ̣u tác Ďô ̣ng ma ̣nh của con người , gồm 9 Ďiểm: MS22, MS23, MS24, MS25, MS26, MS27, MS28, MS29, MS30

3.2.1 Thành phần loài Cánh cứng ở nước theo các sinh cảnh

Danh sách thành phần loài Cánh cứng ở nước tại Mỹ Sơn theo các sinh cảnh Ďươ ̣c trình bày trong Bảng 3.3

Bảng 3.3 Thành phần loài Cánh cứng ở nước trong các sinh cảnh

tại khu vực Mỹ Sơn STT Taxon Sinh cảnh 1 Sinh cảnh 2 Sinh cảnh 3

Trang 39

STT Taxon Sinh cảnh 1 Sinh cảnh 2 Sinh cảnh 3

Trang 40

STT Taxon Sinh cảnh 1 Sinh cảnh 2 Sinh cảnh 3

Chú thích: + có mặt tại khu vực nghiên cứu

Bảng 3.3 cho thấy, về số lượng loài và thành phần ở từng sinh cảnh, sinh cảnh 1 có số lượng loài nhiều nhất với 24 loài, trong Ďó 13 loài chỉ bắt gặp ở sinh cảnh này; sinh cảnh 2 có 18 loài, trong Ďó có 6 loài chỉ bắt gặp ở sinh cảnh này và thấp nhất là sinh cảnh 3 với 12 loài, trong Ďó có 4 loài chỉ bắt gặp ở sinh cảnh này Giữa Sinh cảnh 1 và Sinh cảnh 2 có 10 loài chung, giữa Sinh cảnh 2 và Sinh cảnh 3

có 8 loài chung và giữa Sinh cảnh 1 và Sinh cảnh 3 có 6 loài chung

3.2.2 Đánh giá mức độ đa dạng của Cánh cứng ở nước giữa các sinh cảnh

Cấu trúc thành phần Cánh cứng theo sinh cảnh theo số lượng họ, giống, loài

ở từng sinh cảnh Ďược trình bày ở Hình 3.3

Ngày đăng: 21/09/2018, 23:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm