NGUYỄN DUY DUYẾN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG NƯỚC, TRẦM TÍCH GÓP PHẦN SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*****
NGUYỄN DUY DUYẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG NƯỚC, TRẦM TÍCH GÓP PHẦN SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*****
NGUYỄN DUY DUYẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG NƯỚC, TRẦM TÍCH GÓP PHẦN SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Khoa học Môi Trường
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2017 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN XUÂN CỰ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, Tôi xin được tỏ lòng tri ân và kính trọng sâu sắc đến PGS.TS
Nguyễn Xuân Cự, người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình chỉ bảo và hướng
dẫn tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn thạc sĩ của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Môi trường,
trường Đại Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội, đã nhiệt tình giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong quá trình theo học chương trình cao học cũng như hoàn thành
luận văn này
Cảm ơn Ban giám đốc, các đồng nghiệp thuộc Trung tâm Điều tra tài nguyên
– môi trường biển nơi tôi đang công tác, đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cùng cộng tác
nghiên cứu với tôi trong suốt những năm qua
Cuối cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình:
bố mẹ, vợ và anh chị em đã tạo điều kiện tốt nhất về mọi mặt cho tôi trong suốt thời
gian qua và đặc biệt trong quá trình theo học khóa học thạc sỹ tại trường Đại học
Quốc Gia Hà Nội
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Duyến
Trang 4KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cmax : Hàm lượng lớn nhất
Cmin : Hàm lượng nhỏ nhất
Ctb : Hàm lượng trung bình
CV : Hệ số biến phân hàm lượng
ĐHMT : Địa hóa môi trường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐẦM PHÁ VÀ ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG 3
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG ĐẦM PHÁ 4
1.2.1 Tình hình nghiên cứu địa hóa môi trường đầm phá trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình nghiên cứu địa hóa môi trường đầm phá ở Việt Nam 6
1.3 ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH CÁC ĐẦM PHÁ Ở VIỆT NAM 8
1.3.1 Đặc điểm tài nguyên và môi trường đầm phá ở Việt Nam 8
1.3.2 Tình hình ô nhiễm môi trường nước và trầm tích các đầm phá ở Việt Nam9 1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ ĐẦM THỊ NẠI 12
1.4.1 Đặc điểm địa hình 12
1.4.2 Đặc điểm khí hậu 13
1.4.3 Đặc điểm thủy văn, hải văn 14
1.4.4 Đặc điểm trầm tích 16
1.4.5 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên 17
1.4.6 Đặc điểm về kinh tế xã hội 19
1.4.7 Các loại hình sản xuất trong khu vực đầm Thị Nại 20
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu 24
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 24
2.3.3 Các phương pháp phân tích mẫu trong phòng 27
2.3.4 Phương pháp thống kê xử lý kết quả nghiên cứu 29
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
Trang 63.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH ĐẦM
THỊ NẠI 30
3.1.1 Đặc điểm địa hóa môi trường nước đầm Thị Nại 30
3.1.2 Đặc điểm địa hóa trầm tích đầm Thị Nại 47
3.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH ĐẦM THỊ NẠI61 3.2.1 Hiện trạng môi trường nước đầm Thị Nại 62
3.2.2 Hiện trạng môi trường trầm tích đầm Thị Nại 64
3.2.3 Một số tai biến thiên nhiên đầm Thị Nại 66
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẦM THỊ NẠI 68
KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 79
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê nhiệt độ không khí trung bình, độ ẩm không khí trung bình, số giờ nắng và lượng mưa các tháng trong năm 2016 của Bình Định 13 Bảng 1.2 Tình hình sử dụng đất, mặt nước tại đầm phá Thị Nại phục vụ NTTS năm
2016 21 Bảng 3.1 Tham số một số chỉ tiêu hóa – lý môi trường nước tầng mặt Đầm Thị Nại (N = 35 mẫu) 31
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu sinh hóa của nước đầm Thị Nại (N=6 mẫu) 34
Bảng 3.3 Tham số thông kê các anion trong môi trường nước mặt Đầm Thị Nại (N=35 mẫu) 35 Bảng 3.4 Tham số thống kê các kim loại nặng trong môi trường nước mặt đầm Thị Nại (N = 35 mẫu ) 39 Bảng 3.5 Tham số thống kê các anion trong trầm tích Đầm Thị Nại (N=35 mẫu) 48 Bảng 3.6 Tham số thống kê hàm lượng các kim loại nặng trong trầm tích đầm Thị Nại (N = 35 mẫu) 52 Bảng 3.7 Tham số thông kê các hợp chất OCPs trong trầm tích tầng mặt đầm Thị Nại (N = 7 mẫu) 60 Bảng 3.8 Tham số thống kê các hợp chất PCBs trong trầm tích tầng mặt đầm Thị Nại (N=7 mẫu) 61
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Địa hình đầm Thị Nại 12
Hình.1.2 Hướng dòng chảy thường kỳ mùa Hè 15
Hình.1.3 Hướng dòng chảy thường kỳ mùa Đông 15
Hình.1.4 Sơ đồ phân bố trầm tích tầng mặt đầm Thị Nại 17
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 23
Hình 2.2 Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước và trầm tích 27
Hình 3.1 Phân bố độ muối trong nước đầm Thị Nại 32
Hình 3.2 Biến thiên độ muối từ đỉnh đầm ra cửa đầm 32
Hình 3.3 Biến thiên NO3- trong nước mặt từ đỉnh đầm ra cửa đầm 36
Hình 3.4 Phân bố hàm lượng NO3- trong nước đầm Thị Nại 36
Hình 3.5 Biến thiên hàm lượng trung bình NO3- trong nước mặt theo thời gian 36
Hình 3.6 Biến thiên hàm lượng SO4 trong nước mặt từ đỉnh đầm tới cửa đầm 37
Hình 3.7 Phân bố hàm lượng SO42- trong nước đầm Thị Nại 37
Hình 3.8 Biến thiên hàm lượng trung bình SO42- trong nước mặt theo thời gian 37
Hình 3.9 Biến thiên CO32- trong nước mặt theo mặt cắt từ đỉnh đầm tới cửa đầm 38
Hình 3.10 Phân bố hàm lượng CO32- trong nước đầm Thị Nại 38
Hình 3.11 Biến thiên CO32- trong nước mặt theo thời gian 38
Hình 3.12 Biến thiên hàm lượng As trong nước mặt từ đỉnh đầm tới cửa đầm 40
Hình 3.13 Phân bố hàm lượng As trong nước đầm Thị Nại 40
Hình 3.14 Biến thiên hàm lượng trung bình As trong nước mặt theo thời gian 40
Hình 3.15 Biến thiên hàm lượng Zn trong nước mặt từ đỉnh đầm đến cửa đầm 41
Hình 3.16 Phân bố hàm lượng Zn trong nước đầm Thị Nại 41
Hình 3.17 Biến thiên hàm lượng trung bình Zn trong nước mặt theo thời gian 41
Hình 3.18 Biến thiên hàm lượng Cd trong nước mặt từ đỉnh đầm đến cửa đầm 42
Hình 3.19 Phân bố hàm lượng Cd trong nước đầm Thị Nại 42
Hình 3.20 Biến thiên hàm lượng trung bình Cd trong nước mặt theo thời gian 42
Hình 3.21 Biến thiên hàm lượng Hg trong nước mặt từ đỉnh đầm ra cửa đầm 43
Hình 3.22 Phân bố hàm lượng Hg trong nước đầm Thị Nại 43
Trang 9Hình 3.23 Biến thiên hàm lượng trung bình Hg trong nước mặt theo thời gian 43
Hình 3.24 Biến thiên hàm lượng Cu trong nước mặt từ đỉnh đầm tới cửa đầm 44
Hình 3.25 Phân bố hàm lượng Cu trong nước đầm Thị Nại 44
Hình 3.26 Biến thiên hàm lượng trung bình Cu trong nước mặt theo thời gian 44
Hình 3.27 Biến thiên hàm lượng Mn trong nước mặt từ đỉnh đầm đến cửa đầm 45
Hình 3.28 Phân bố hàm lượng Mn trong nước đầm Thị Nại 45
Hình 3.29 Biến thiên hàm lượng trung bình Mn trong nước mặt theo thời gian 45
Hình 3.30 Biến thiên hàm lượng Pb trong nước mặt từ đỉnh đầm ra cửa đầm 46
Hình 3.31 Phân bố hàm lượng Pb trong nước đầm Thị Nại 46
Hình 3.32 Biến thiên hàm lượn trung bình Pb trong nước mặt theo thời gian 46
Hình 3.33 Biến thiên hàm lượng SO42- trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 48
Hình 3.34 Phân bố hàm lượng SO42- trong trầm tích 48
Hình 3.35 Biến thiên hàm lượng trung bình SO42- trong trầm tích theo thời gian 48
Hình 3.36 Biến thiên hàm lượng CO32-trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 49
Hình 3.37 Phân bố hàm lượng CO32- trong trầm tích 49
Hình 3.38 Biến thiên hàm lượng CO32- trong trầm tích theo thời gian 49
Hình 3.39 Biến thiên hàm lượng PO43- trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 50
Hình 3.40 Phân bố hàm lượng PO43- trong trầm tích đầm Thị Nại 50
Hình 3.41 Biến thiên hàm lượng trung bình PO43- trong trầm tích theo thời gian 50
Hình 3.42 Biến thiên hàm lượng NO3- trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 51
Hình 3.43 Phân bố hàm lượng NO3- trong trầm tích đầm Thị Nại 51
Hình 3.44 Biến thiên hàm lượng NO3- trong trầm tích theo thời gian 51
Hình 3.45 Biến thiên hàm lượng Mn trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 53
Hình 3.46 Phân bố hàm lượng Mn trong trầm tích đầm Thị Nại 53
Hình 3.47 Biến thiên hàm lượng trung bình Mn trong trầm tích theo thời gian 53
Hình 3.48 Biến thiên hàm lượng As trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 54
Hình 3.49 Phân bố hàm lượng As trong trầm tích đầm Thị Nại 54
Hình 3.50 Biến thiên hàm lượng trung bình As trong trầm tích theo thời gian 54
Hình 3.51 Biến thiên hàm lượng Sb trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 55
Trang 10Hình 3.52 Phân bố hàm lượng Sb trong trầm tích đầm Thị Nại 55
Hình 3.53 Biến thiên hàm lượng trung bình Sb trong trầm tích theo thời gian 55
Hình 3.54 Biến thiên hàm lượng Cu trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 56
Hình 3.55 Phân bố hàm lượng Cu trong trầm tích đầm Thị Nại 56
Hình 3.56 Biến thiên hàm lượng trung bình Cu trong trầm tích theo thời gian 56
Hình 3.57 Biến thiên hàm lượng Zn trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 57
Hình 3.58 Phân bố hàm lượng Zn trong trầm tích đầm Thị Nại 57
Hình 3.59 Biến thiên hàm lượng trung bình Zn trong trầm tích theo thời gian 57
Hình 3.60 Biến thiên hàm lượng Pb trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 58
Hình 3.61 Phân bố hàm lượng Pb trong trầm tích đầm Thị Nại 58
Hình 3.62 Biến thiên hàm lượng trung bình Pb trong trầm tích theo thời gian 58
Hình 3.63 Biến thiên hàm lượng Hg trong trầm tích từ đỉnh đầm ra cửa đầm 59
Hình 3.64 Phân bố hàm lượng Hg trong trầm tích đầm Thị Nại 59
Hình 3.65 Biến thiên hàm lượng trung bình Hg trong trầm tích theo thời gian 59
Trang 111
MỞ ĐẦU
Dọc dải bờ biển nước ta có ba loại hình thủy vực ven bờ tiêu biểu là các vũng vịnh, vùng cửa sông và đầm phá Chúng có những đặc thù riêng về điều kiện
tự nhiên, tài nguyên, môi trường và tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội Trong
đó, vùng đầm phá cửa sông ven biển là một trong những loại hình giàu dinh dưỡng
và đa dạng đảm bảo cho năng suất sinh học cao và đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Từ lâu, ông cha ta đã biết khai thác vùng đầm phá để cung cấp cho xã hội nhiều loại sản phẩm lâm nghiệp, nông nghiệp, thủy hải sản… có giá trị phục vụ cho đời sống Tuy nhiên việc khai thác sử dụng các đầm phá từ trước đến nay vẫn đang ở trạng thái tự nhiên, chưa có quy hoạch và đầu tư thích đáng Hầu hết diện tích các đầm phá được sử dụng để nuôi, trồng phục vụ sinh
kế kinh tế Một số vùng được sử dụng khai thác độc lập theo các ngành quản lý, còn phần lớn là được sử dụng với tính chất tự do, khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên, mang lại hiệu quả kinh tế thấp mà còn hủy hoại môi trường sinh thái, gây nhiều bất lợi khác về xã hội làm cạn kiệt nguồn lợi, tài nguyên và suy giảm chất lượng môi trường ảnh hưởng lớn tới sự phát triển bền vững
Đầm phá ven bờ phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới với các vùng địa lý khác nhau, chiếm khoảng 13% chiều dài bờ biển (Nichols and Allen, 1981) Ở Việt Nam có
12 đầm phá tiêu biểu, phân bố ở ven bờ Miền Trung trong khoảng từ vĩ độ 11º Bắc (Ninh Thuận) tới vĩ độ 16º Bắc (Thừa Thiên Huế) với mật độ 57km chiều dài bờ biển miền Trung có một đầm phá và bờ đầm phá, chiếm khoảng 21% chiều dài bờ biển Việt Nam Trong đó riêng tỉnh Bình Định đã có tới ba đầm phá là đầm Trà Ổ, đầm Đề Gi và đầm Thị Nại
Đầm Thị Nại có quy mô diện tích đứng thứ 2 trong hệ thống đầm phá Việt Nam, xếp sau phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) Đầm Thị Nại có diện tích 5.060ha, nằm ở vùng cửa sông đổ ra biển, có bãi triều rộng nên hệ sinh thái trong đầm khá phong phú và đa dạng, là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên ưu đãi và ở vị trí chiến lược quan trọng nên có nhiều tiềm năng để phát triển về kinh tế - xã hội Trước đây, đầm Thị Nại có đến 1.000ha rừng ngập mặn và 200ha thảm cỏ biển, bảo
Trang 122
đảm sự sinh trưởng, phát triển và duy trì sự ổn định về môi trường sinh thái ở khu vực đầm Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, quá trình đô thị hóa khu vực quanh đầm, kéo theo các hoạt động du lịch, dịch vụ, giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt dân cư, nuôi trồng thủy hải sản …phần lớn thiếu quy hoạch, gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường và cảnh quan cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường nước và trầm tích của đầm Vì vậy, để sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đầm Thị Nại cần phải có
sự hiểu biết sâu sắc về đặc điểm địa hóa môi trường nước và trầm tích vùng nghiên cứu
Những năm gần đây đã có một số kết quả điều tra về địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình, môi trường đầm Thị Nại, nhưng còn rời rạc và trong thực
tế còn nhiều vấn đề tồn tại cần được giải quyết cụ thể như: đặc điểm địa hóa môi trường nước; đặc điểm địa hóa trong trầm tích và các nghiên cứu chuyên sâu như sự biến thiên hàm lượng các chỉ tiêu môi trường theo không gian, thời gian của đầm để đánh giá sự biến đổi của chúng thì hầu như chưa được đề cập
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm địa hóa môi trường nước, trầm tích góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” được thực hiện với mục tiêu
cụ thể như sau:
Làm sáng tỏ các vấn đề địa hóa môi trường bao gồm sự phân bố của thành phần vật chất trong môi trường nước và trầm tích khu vực đầm Thị Nại qua đó đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước và trầm tích đầm Thị Nại góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc tổ chức quản lý khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường đầm Thị Nại
Trang 133
Chương 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐẦM PHÁ VÀ ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Khái niệm về Đầm phá
Theo Emery và Stevenson (1957), Bird (1967) [23], các đầm phá ven biển là những thuỷ vực nông, hầu như bị ngăn cách với biển bởi các bờ cát phía ngoài, nhận nước ngọt từ các con sông và đổ nước ra biển qua cửa riêng của mình Những đầm phá này hoạt động như một hồ chứa, trong mùa lũ, chúng nhận một lượng nước ngọt trước khi đổ ra biển, lúc này chúng như một con sông Vào mùa kiệt với thời gian dài và lượng nước ngọt rất ít, toàn bộ phá vào sâu hơn tới hạ lưu các con sông, nước biển theo thuỷ triều tràn vào nên bị mặn hoá, lúc này chúng lại mang tính chất của các đầm phá nước mặn, thường phát triển phổ biến ở ven bờ Ấn Độ - Thái Bình Dương Các đầm phá ven bờ nổi tiếng trên thế giới có tên gọi lịch sử như: Hồ Mặt Trời (Solar Pond) ở Israel, hồ Togo ở Guinea, hồ Mellah ở ven bờ Địa Trung Hải, vịnh Rockport ở Texas hay vịnh Florida.[28]
Trong quá trình lấn biển tự nhiên, những vận động kiến tạo, dòng biển ven
bờ và dòng của các con sông đóng vai trò cực kỳ quan trọng Dòng biển ven bờ chảy song song với bờ biển, mang đến nguồn bồi tích to lớn Các dòng sông thường mang nước và lượng phù sa của mình ra biển, thẳng góc với đường bờ, khi gặp dòng biển buộc chúng phải đổi dòng Nhờ lực tương tác trên mà dòng trầm tích biển
ưu thế đã tạo nên giải cát chạy song song với đường bờ bao bọc lấy vụng nước phía trong (phá), mà ở đó dòng chảy đổ ra biển một cách an toàn
Sự hình thành các dải phá là bước khởi đầu của quá trình chinh phục biển của các dòng sông, dòng biển và xảy ra trong các giai đoạn địa chất gần đây, liên quan với hoạt động của các vận động tân kiến tạo, nhất là sau thời kỳ biển tiến Flandrian kỷ Đệ Tứ Các nhà địa chất, địa mạo cho rằng, chính sự vận động tân kiến tạo là điều kiện cho phù sa sông và biển lấp đầy các vụng biển nông để tạo ra các dải phá và đồng bằng ven biển Đồng bằng là giai đoạn cuối cùng của sự bồi lấp,
Trang 144
còn các phá được coi như đồng bằng được bồi đắp chưa hoàn chỉnh, đang trong quá trình hình thành (Kremf, 1930)
1.1.2 Khái niệm về địa hóa môi trường
Địa hóa môi trường (ĐHMT) là chuyên nghành khoa học trẻ Danh từ ĐHMT được Kothny đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị của Hội hóa học Mỹ (15/9/1971) với nhiệm vụ của địa hóa môi trường là nghiên cứu nguồn gốc, sự di chuyển, tập trung các nguyên tố trong môi trường để đánh giá mức độ tác động của con người lên tự nhiên Địa hóa môi trường đã có rất nhiều đóng góp vào việc định hướng sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường nói chung và khu vực đầm phá ven bờ nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu về địa hóa môi trường cho đến nay vẫn còn rất thiếu Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang được đẩy mạnh khai thác để phục vụ phát triển kinh tế, xã hội
Trong nghiên cứu môi trường thì địa hoá môi trường giữ vai trò hết sức quan trọng Qua các công trình nghiên cứu địa hoá môi trường nước và trầm tích của các nhà địa hóa cho chúng ta thấy được các các vấn đề về ô nhiễm môi trường, địa hoá
và sức khoẻ của con người; phương pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm cũng được nhiều nhà khoa học đầu tư nghiên cứu [24]
Trong vấn đề bảo vệ môi trường và hướng tới sự dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Địa hóa môi trường có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn, địa hóa môi trường xác lập cơ sở khoa học cho việc đánh giá, dự báo chất lượng môi trường nước, khí, đất, trầm tích…; xây dựng cơ sở khoa học địa hóa cho việc cải tạo, bảo
vệ và quản lý Môi trường, sử dụng lâu bền tài nguyên thiên nhiên, dự báo các tai biến thiên nhiên; kết quả nghiên cứu địa hóa môi trường còn được dùng làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng tối ưu lãnh thổ, lãnh hải và tìm kiếm thăm dò khoáng sản có ích [20]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG ĐẦM PHÁ 1.2.1 Tình hình nghiên cứu địa hóa môi trường đầm phá trên thế giới
Công tác nghiên cứu địa hóa môi trường được đẩy mạnh trong những thập kỷ gần đây, khi khai thác và sử dụng lâu bền tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
Trang 15- xã hội Mỹ đã có những nghiên cứu rất chi tiết về địa hóa môi trường các vịnh Texas, San Fransico [26] Mexico đặc biệt quan tâm đến địa hóa môi trường trầm tích đáy vịnh Mexico City sau sự kiện cá trong vịnh chết hàng loạt vào năm 2004
Các nghiên cứu chuyên về phân bố các nguyên tố vi lượng trong trầm tích các vịnh và đầm phá trên thế giới đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học Kết quả nghiên cứu địa hóa vịnh Neward, bang New Jersey của Mỹ cho thấy hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong trầm tích đáy vịnh biến đổi rất mạnh, nhưng đặc biệt cao tại các khu vực có tốc độ lắng đọng trầm tích cao và trầm tích đáy vịnh
đã bị ô nhiễm bởi As, Cd, Cu, Hg, Ni, Pb, Zn [23] Kết quả nghiên cứu trầm tích vịnh Manila, Philippin cho thấy do tác động nhân sinh dẫn đến tập trung cao Pb, Cd,
Zn và Cu nhưng hàm lượng không ổn định [29] Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế đến chất lượng môi trường trầm tích vịnh Xiamen, Trung Quốc cho thấy sự tập trung hàm lượng của Cu, Pb, Zn, Cd… phụ thuộc vào nguồn ô nhiễm, trong đó có hai nguồn chính là nước thải đô thị và nước thải từ các cảng thương mại [32] Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra đặc điểm tích tụ của các nguyên tố vi lượng trong trầm tích các vịnh và hoạt động nhân sinh làm gia tăng tình trạng ô nhiễm nguyên tố vi lượng như ở vịnh Taranto của Italy [22], vịnh Izmit [30]
và vịnh Saros, Thổ Nhĩ Kỳ [31]
Ở hầu hết các nước phát triển có biển đều tiến hành nghiên cứu địa hoá môi trường ở biển và đặc biệt là vùng biển ven bờ nơi được coi là vùng rất nhạy cảm đối với các vấn đề môi trường Tại vùng này các nước đều thiết lập một hệ thống kiểm soát môi trường với các thiết bị đồng bộ để nghiên cứu môi trường nói chung và
Trang 161.2.2 Tình hình nghiên cứu địa hóa môi trường đầm phá ở Việt Nam
Với đường bờ biển dài hơn 3.260 km với những đặc trưng khí hậu, địa hình, thuỷ lý, hoá, sinh học khác nhau, tiềm năng tài nguyên đầm phá ven bờ Việt Nam được khai thác sử dụng từ xa xưa, gắn liền với lịch sử quần cư của cộng đồng xung quanh Tài nguyên của khu hệ đầm phá ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của khu vực cả hiện tại và định hướng sử dụng trong tương lai
Tuy nhiên, nghiên cứu về đầm phá ở Việt Nam còn mới và còn hạn chế Sau những năm 1975, đầm phá ven biển mới trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập, được nghiên cứu một cách hệ thống và được coi là một thể địa chất hiện đại, một hệ sinh thái hay một địa hệ cấu thành bờ biển
Từ 1990 đến nay, các nghiên cứu về tài nguyên – môi trường ở đới bờ nói chung, các nghiên cứu về đặc điểm địa hóa môi trường vũng vịnh và đầm phá ven biển nói riêng đã được triển khai Một số nghiên cứu về tài nguyên tại các vũng vịnh và đầm phá của Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển, Phân Viện Hải dương học Hải Phòng, Viện Hải dương học Nha Trang đã bước đầu đánh giá về mức độ đa dạng sinh học, nguồn lợi tự nhiên… ở các khu vực này, tuy nhiên còn ở mức độ sơ lược
Trang 177
Khi nghiên cứu các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam, Vũ Trung Tạng (1994) nhận định các đầm phá là nét đặc sắc của bờ biển miền Trung, với sự phân bố đa dạng các quần xã sinh vật (thực động vật nổi, thực động vật đáy, khu hệ cá) [13]
Nguyễn Chu Hồi, 1995 [4] khi nghiên cứu quá trình hình thành đầm cũng như xu thế phát triển đã cho thấy: đầm phá là những loại hình thuỷ vực tiêu biểu ở dải ven biển nước ta, chúng tập trung chủ yếu ở phần ven biển Miền Trung, từ vĩ độ Bắc 110
- 170 (từ tỉnh Thừa Thiên Huế tới tỉnh Ninh Thuận), là một trong những hệ sinh thái ven bờ có năng suất sinh học cao, là một dạng tài nguyên tổng hợp chứa đựng tiềm năng kinh tế đa dạng
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài KT 03.11 giai đoạn 1991 – 1995, thuộc Chương trình nghiên cứu biển KT – 03 do Đặng Ngọc Thanh làm chủ nhiệm [16]
Đã xác định có 12 đầm phá ở phần ven biển miền Trung bao gồm: phá Tam Cầu Hai, đầm Lăng Cô (Thừa Thiên Huế); đầm Trường Giang (Quảng Nam); đầm
Giang-An Khê, đầm Nước Mặc (Quảng Ngãi); đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Thị Nại (Bình Định); đầm Cù Mông, đầm Ô Loan (Phú Yên), đầm Thuỷ Triều (Khánh Hoà)
và đầm Nại (Ninh Thuận)
Từ năm 1990 đến năm 2001, Trung tâm Điều tra tài nguyên – môi trường biển đã tiến hành thực hiện đề án “Điều tra địa chất – khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất biển ven bờ Việt Nam (0-30m nước) tỷ lệ 1:500.000” do TSKH Nguyễn Biểu là chủ nhiệm Nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề án này, tất cả các vũng vịnh và đầm phá ven biển Việt Nam đã được khảo sát về đặc điểm địa hóa môi trường [1] Tuy nhiên, chỉ ở mức độ hết sức sơ lược
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến địa hóa môi trường
có thể kể tới là các công trình sau:
+ Đề tài “Đánh giá trạng thái địa chất môi trường vùng biển nông ven bờ 30m nước) vùng Đại Lãnh-Hải Vân”, (Nguyễn Chu Hồi, Đào Mạnh Tiến và nnk 1992) [4];
(0-+ Đề tài:“Điều tra đánh giá tài nguyên môi trường các vũng vịnh trọng điểm ven bờ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường do Trung tâm Điều
Trang 188
tra tài nguyên – môi trường biển chủ trì (GS.TS Mai Trọng Nhuận là chủ nhiệm), năm 2008 Đề tài đã tiến hành thu thập tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên và môi trường các vũng vịnh Việt Nam [12];
+ Dự án thành phần số 2 “Điều tra, nghiên cứu, đánh giá và dự báo mức độ tổn thương môi trường nước và trầm tích đáy do ô nhiễm ở các vùng biển Việt Nam”, do ThS Lê Văn Học chủ nhiệm, năm 2011 [3]
+ Dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Thừa Thiên Huế - Bình Định (0-60m nước) tỷ lệ 1:100.000, do ThS Lê Anh Thắng chủ nhiệm, năm 2016 [15]
Các kết quả nghiên cứu đã đưa ra được những vấn đề mới về việc dự báo biến động môi trường, mức độ tổn thương của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và bài toán kinh tế môi trường được đặt ra, những giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững
1.3 ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH CÁC ĐẦM PHÁ Ở VIỆT NAM
1.3.1 Đặc điểm tài nguyên và môi trường đầm phá ở Việt Nam
Tài nguyên và môi trường đầm phá tồn tại trong một thể thống nhất và tài nguyên đầm phá biến đổi theo động thái môi trường do tác động của cả quá trình tự nhiên và tác động của con người, đặc biệt khi nhận thức mới về tài nguyên cho phép khả năng khai thác tài nguyên đa lợi ích sử dụng cho phát triển đa ngành Sau nhiều năm nghiên cứu về đầm phá ven bờ Việt Nam ở mức độ chi tiết khác nhau giữa các đầm phá, có thể rút ra từ các công trình nghiên cứu một số nhận xét sau:
Chất lượng môi trường tự nhiên và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của hệ thống đầm phá đã suy giảm và nhu cầu phục hồi chức năng môi trường và chức năng sinh thái hệ thống đầm phá trở nên bức xúc
Suy giảm chất lượng môi trường và tiềm năng tài nguyên đầm phá do cả quá trình tự nhiên dưới dạng tai biến và tác động của con người Tai biến tự nhiên gây hậu quả nặng nề nhất là lũ và ngập lụt, bồi lấp và dịch chuyển cửa làm thay đổi cơ bản tính chất thủy vực, các hợp phần môi trường, cơ cầu và tiềm năng tài nguyên
Trang 199
Tác động của con người đáng kể nhất là khai thác nguồn lợi thủy sản quá mức, gia tăng liên tục lượng phát thải chất gây bẩn vào đầm phá trực tiếp từ các điểm quần
cư xung quanh đầm phá từ lưu vực thông qua hệ thống sông
Sức ép của các hoạt động kinh tế - xã hội tới tài nguyên và môi trường có xu hướng gia tăng, đặc biệt khi các dự án phát triển có liên quan đang lần lượt trở thành hiện thực theo quy hoạch tới năm 2020
Hiểu biết và đầm phá ven bờ ở Việt Nam cho tới nay vẫn ở mức độ thấp, thấp hơn nhiều so với chính vai trò kinh tế - xã hội của khu vực
Những nỗ lực bảo vệ tài nguyên và môi trường đầm phá của Nhà nước và địa phương liên quan lâu nay là rất lớn nhưng chưa đem lại kết quả như mong muốn, một phần do hiểu biết về đầm phá thấp hơn mức độ cần thiết và phần khác do tính chất phức tạp của vấn đề, điển hình là hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Khi nghiên cứu định hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ, Nguyễn Hữu
Cử, 2006 [2] cho rằng: tác động của con người thông qua mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của mình ở cả ven bờ và trên toàn lưu vực cùng với tác động của quá trình
tự nhiên sinh tai biến đã dẫn đến suy giảm tiềm năng tài nguyên và chất lượng môi trường, suy giảm chức năng môi trường (chức năng điều hoà, phân tán, chôn vùi chất gây bẩn và tự làm sạch) và chức năng sinh thái thuỷ vực (lưu giữ nguồn giống thuỷ sinh vật đa nguồn gốc và khả năng phục hồi tự nhiên các tiểu hệ sinh thái)
1.3.2 Tình hình ô nhiễm môi trường nước và trầm tích các đầm phá ở Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới, với cơ chế thị trường, nhu cầu về sản phẩm tăng nên việc khai thác sử dụng đầm phá phát triển mạnh với nhiều hình thức khác nhau Những đầm phá có đê bao bọc ngoài việc trồng lúa, cói và chăn nuôi gia cầm còn được tận dụng các mặt nước để nuôi thủy sản nước ngọt và nước lợ Những vùng bãi bồi ngoài đê, cũng được sử dụng để nuôi hải sản
Những năm gần đây, cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, việc khai thác nguồn lợi thủy sản quá mức, sự phát triển nhanh chóng diện tích ao nuôi tôm kết hợp thêm với các hoạt động khai thác thiếu kiểm soát các nguồn lợi thủy sản
Trang 2010
trong các đầm phá đã làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm vùng đầm phá ven biển Việc tập trung khai thác vùng này đã gây ra sức ép lớn do đánh bắt quá mức, đánh bằng biện pháp hủy diệt (lưới mắt nhỏ, trái vụ, hóa chất độc, mìn ) dẫn đến ô nhiễm vùng nước biển ven bờ, làm suy giảm nguồn lợi nghiêm trọng [15]
Các phương thức khai thác truyền thống vùng đất thấp và đất ngập nước ven biển nước ta là khai hoang lấn biển để trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản nước lợ Trong suốt quá trình này, khoảng 2.100 km đê biển được quai đắp để chuyển các vùng đất ngập nước tự nhiên ven biển thành các khu nội đồng rộng lớn với mục đích phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản [4] Việc quai đê
tự phát, chắp vá đã biến một vùng đất rộng lớn luôn được lưu thông nước và được bồi tụ phù sa thành hệ thống ao khép kín Điều này làm cho hệ sinh thái trong các đầm phát triển không bình thường: Sú, Vẹt rụng lá và chết, rong và xác động vật chết ứ đọng trong đầm lâu ngày tạo ra sự ô nhiễm ngày càng nặng dẫn đến đầm bị thoái hóa, không thể tiếp tục nuôi được nữa, rừng ngập mặn bị phá hoại, môi trường ven biển bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến khí hậu vùng ven biển
Trước đây, đai rừng ngập mặn trải dài suốt dọc bờ biển, nhưng hiện nay diện tích rừng ngập mặn đã giảm đi rất nhiều Diện tích rừng ngập mặn bị giảm đi, hệ sinh thái rừng ngập mặn bị suy giảm đã gây những ảnh hưởng và thiệt hại không nhỏ cho vùng đất ngập nước ven biển và cho các ngành kinh tế quan trọng ở vùng ngập mặn Ở nhiều địa phương, rừng ngập mặn đã biến mất và thay vào đó là các ao đầm nuôi tôm, đất hoang hóa và tốc độ mất rừng ngập mặn khoảng 2,3%/ năm [2] Mất rừng ngập mặn gây ra tổn thất nghiêm trọng về đa dạng sinh học, đặc biệt là mất bãi đẻ của các loài thủy sản, mất nơi trú chân và làm tổ của các loài chim, làm mất chức năng chống phèn hóa, hạn chế ô nhiễm, ngăn ngừa xói lở của các vùng cửa sông ven biển Các hệ sinh thái đầm phá, các trảng cỏ ngập nước ở khu vực đầm phá cũng đang bị suy thoái nặng nề do khai thác thủy hải sản không bền vững
và mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản Điều đó dẫn đến mất môi trường sống của
Trang 2111
nhiều loài thủy sinh và làm suy giảm chức năng sinh thái của đầm phá Các đầm phá bị thay đổi dẫn đến mất chức năng điều tiết nước đã gây nhiễm mặn các con sông làm ảnh hưởng tới đời sống của người dân.[4]
Ô nhiễm môi trường nước mặt và trầm tích ngày càng trở nên rõ rệt ở các đầm phá của Việt Nam Hạ lưu các con sông chính có chất lượng nước xấu, trong khi đó các ao, hồ, kênh mương nội thị thì đang nhanh chóng biến thành các
bể chứa nước thải Nước ven bờ cũng bị ô nhiễm do các nguồn ô nhiễm trên đất liền, các hoạt động xây dựng cảng, sự cố tràn dầu và xói lở bờ biển
Qua phân tích ở trên cho thấy, tình hình các đầm phá ở Việt Nam là rất đáng báo động Mặc dù đã có nhiều những nghiên cứu về đầm phá và đã đạt một
số kết quả đáng kể, nhưng trong lĩnh vực nghiên cứu đặc điểm địa hóa môi trường phục vụ cho phát triển bền vững và bảo vệ môi trường còn một số tồn tại
đó là:
Các số liệu còn làm riêng lẻ, rời rạc, phần lớn các đề tài ở tỷ lệ lớn là các nghiên cứu mang tính chất chuyên ngành, nội dung nghiên cứu chỉ chuyên sâu theo từng lĩnh vực riêng biệt như thủy sản, địa chất, khoáng sản, hải dương học, hàng hải, du lịch… mà chưa có được nghiên cứu một cách hệ thống đồng bộ theo quan điểm tổng hợp, liên ngành, phát triển bền vững
Trong đó đối với lĩnh vực địa hóa môi trường chưa có các nghiên cứu chuyên sâu như sự biến đổi hàm lượng theo không gian và thời gian chưa có những đánh giá cụ thể về hiện trạng phân bố các hợp phần trong nước và trong trầm tích biển, thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp… để làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường đầm Thị Nại
Để giải quyết được các hạn chế nêu trên, trong luận văn của mình, học viên mong muốn sẽ tiến hành thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu hiện có, điều tra bổ sung thêm những yếu tố tài nguyên, môi trường, liên kết tổng hợp các tài liệu, khảo sát thực địa để có được một bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi
Trang 22đồi thấp: địa hình này phát
triển chủ yếu phía Tây, Tây
Bắc vùng nghiên cứu, với đặc
trưng là tương đối bằng phẳng,
độ cao chỉ từ 1 – 5m và bị chia
cắt nhiều bởi hệ thống kênh
rạch
+ Địa hình núi thấp: địa
hình núi thấp phát triển ở phía
Đông diện tích nghiên cứu
(núi Phương Mai, Núi Đen,
Núi Cấm) và phía Nam diện
tích nghiên cứu (núi Vũng
Chua…) Nhìn chung, địa hình
núi ở đây có cao độ cao đạt đến >500m và phát triển thành dải kéo dài ở phía Đông, còn ở các khu vực khác chỉ hình thành các núi đơn lẻ
- Đặc điểm đường bờ: Đường bờ ven Đầm Thị Nại phát triển trên các loại
thành tạo là thành tạo trầm tích bở rời và thành tạo đá rắn chắc thuộc phức hệ Đèo
Cả Đường bờ có hình dáng tương đối khúc khủy và chịu ảnh hưởng nhiều bởi hệ thống thủy văn trong vùng nghiên cứu
- Địa hình đáy đầm: Đáy đầm Thị Nai tương đối thoải tử khu vực đỉnh đầm
ra khu vực cửa đầm Khu vực trung tâm đầm độ sâu lớn nhất khoảng 4m Khu vực
Hình 1.1 Địa hình đầm Thị Nại (nguồn Google Earth)
Trang 23Bảng 1.1 Thống kê nhiệt độ không khí trung bình, độ ẩm không khí trung bình, số giờ nắng và lượng mưa các tháng trong năm 2016 của Bình Định
+ Nắng
Số giờ nắng trong năm trung bình 2257,7 giờ, dao động trong khoảng 2127 giờ đến 2409 giờ và phân phối không đều các tháng trong năm, cao nhất là tháng 5 -
Trang 24ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79% Thống kê
độ ẩm không khí trung bình các tháng năm 2016 (bảng 1.1)
+ Lượng mưa
Trung bình hàng năm tương đối thấp và đều đặn, từ 1300-2600mm/năm, trong năm 2016 lượng mưa đạt 1351,4 mm (bảng 1.1) số ngày mưa phân bố không đều theo thời gian (mưa nhiều nhất là vào tháng 10 và tháng 12), tạo thành hai mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 1, chiếm 90% lượng mưa cả năm; và 10% tổng lượng mưa tập trung vào mùa khô là các tháng còn lại trong năm Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Thống kê lượng mưa các tháng năm 2016 (bảng 1.1)
+ Các hiện tượng thời tiết khác thường
Khí hậu vùng nghiên cứu tương đối ôn hòa, ít khi có sương mù, nhưng lại chịu ảnh hưởng xấu bởi áp thấp nhiệt đới và bão vào các tháng 8, 9 và 10 Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là miền thường có bão đổ bộ vào đất liền Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào
1.4.3 Đặc điểm thủy văn, hải văn
Đầm Thị Nại nối liền với vịnh Quy Nhơn, được coi là thủy vực nước lợ đặc trưng của vùng nhiệt đới Đầm là nơi tập trung các cửa sông lớn là sông Kôn và sông Hà Thanh, về mùa mưa lượng nước sông đổ ra là khá lớn, về mùa khô lượng nước mưa đổ ra đầm hầu như không đáng kể Đầm Thị Nại thông ra biển qua vịnh
Trang 2515
Quy Nhơn bằng một lạch sâu có chiều rộng khoảng 600 – 800m Sự trao đổi nước giữa đầm và biển ngoài nhờ hiện tượng thủy triều, từ các mối quan hệ và động lực nói trên đã dẫn đến tính chất dòng chảy trong đầm Thị Nại chủ yếu là dòng triều lưu Về mùa mưa lũ xuất hiện thêm thành phần dòng chảy sông
+ Dòng chảy
Trong cả hai mùa đông và hè đều có dòng thường kỳ có xu hướng từ Bắc xuống Nam Ở ven bờ khu vực các cửa hệ thống sông lớn dòng chảy rất phức tạp do động lực của dòng chảy sông rất lớn vào mùa lũ (Hình 1.2 và Hình 1.3)
Hình.1.2 Hướng dòng chảy thường kỳ
Độ lớn triều trung bình năm đạt 105cm
Độ lớn triều trung bình lớn nhất vào tháng VI đạt 120cm
Độ lớn triều cực tiểu chỉ đạt 36cm
- Mực nước (so với chuẩn 0m hải đồ trạm Quy Nhơn)
Trang 2616
Mực nước trung bình nhiều năm: 157cm
Mực nước cao nhất quan trắc được: 296cm
Mực nước thấp nhất quan trắc được: 27cm
- Sóng
Đầm Thị Nại là một đầm ven bờ gần kín, được che chắn bởi hệ thống cồn cát nối đảo Phước Mai Do vậy, đầm Thị Nại ít chịu ảnh hưởng của chế độ sóng ven bờ biển, mà chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng gió với đà gió không lớn
Sóng ven bờ trong thời gian tháng I – IV thịnh hành hướng đông, đông – bắc,
độ cao trung bình 0,9 – 1,0m, lớn nhất 2,5m Trong khoảng thời gian tháng V – IX, sóng thịnh hành hướng tây - tây nam, độ cao trung bình 1,0 – 1,1m, lớn nhất 2,5m Trong thời gian tháng X – XII, sóng thịnh hành hướng đông – bắc, độ cao trung bình 1,2m, lớn nhất 2,5m
1.4.4 Đặc điểm trầm tích
Theo kết quả nghiên cứu mẫu độ hạt trầm tích tầng mặt đầm Thị Nại có 8 kiểu trầm tích sau: Trầm tích cát sạn, cát chứa sạn, cát bùn sạn, cát bùn chứa sạn, cát, cát bùn, bùn cát và bùn Đặc điểm phân bố của chúng được thể hiện cụ thể trên (Hình 1.4) Các trầm tích này được phù sa sông Kôn và sông Hà Thanh bồi đắp Nhìn chung trầm tích vùng ven đầm khá màu mỡ do sự bồi đắp của các con sông trong vùng nhưng có độ nhiễm mặn cao do ảnh hưởng của lượng nước biển vào đầm Vùng ven đầm - đặc biệt là vùng các cửa sông khu vực đỉnh đầm điều kiện trầm tích và nguồn nước rất thuận lợi cho việc nuôi tôm và các loại thủy sinh khác
Trang 2717
Hình.1.4 Sơ đồ phân bố trầm tích tầng mặt đầm Thị Nại
1.4.5 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên sinh vật
Đầm Thị Nại là một đầm nước lợ - mặn nhiệt đới có nguồn lợi thủy sản khá
đa dạng tập trung chủ yếu ở khu vực Cồn Chim Hàng năm ở khu vực này có khoảng 36 tấn cá được khai thác Về động vật không xương sống có 102 loài thuộc
31 họ và 5 nhóm ngành ở khu vực Cồn Chim, mật độ trung bình đạt 8.40,54 cá thể/m2 Về nguồn giống thủy sinh vật: loài giáp xác có mật độ cao ở ven đầm, trung bình 440 cá thể/100m3 Mật độ nguồn giống thân mềm khá cao - đạt 3.809 cá thể/m3, vào kỳ cao triều có mật độ cao hơn - đạt 5.113 cá thể/m3 [12]
Trang 2818
Đầm Thị Nại có Khu phục hồi sinh thái Cồn Chim (được thành lập năm 2004) Khu vực Cồn Chim có tổng diện tích hơn 480ha, bao gồm một loạt các cồn nổi như Cồn Chim, Cồn Giá, Cồn Trạng và vùng nước lân cận gần đầm Thị Nại Đây là một vùng có hệ sinh thái động, thực vật phong phú và giàu tiềm năng, với rừng ngập mặn và thảm cỏ biển là nơi sinh sống lý tưởng của nhiều loại thủy sản có giá trị Các nhà khoa học đã xác định được 25 loài cây ngập mặn, 5 loài cỏ biển phân bố trên diện tích 50ha, cùng khoảng 64 loài động vật phù du, 76 loài cá thuộc
40 họ, 35 loài giác xác, 31 loài thân mềm và 1 loài da gai Cồn Chim còn là nơi cư trú của 33 loài chim, trong đó có 23 loài chim nước và 10 loài chim rừng
+ Tài nguyên vị thế
Với vị trí nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và nằm gần tuyến đường hàng hải quốc tế trên biển Đông, có cảng biển quốc tế Quy Nhơn, khu vực đầm Thị Nại có độ nhạy cảm về chính trị cũng như cơ hội phát triển KT-XH to lớn
+ Tài nguyên đất ngập nước
Khu vực nghiên cứu có hệ sinh thái đất ngập nước tương đối đa dạng Rừng ngập mặn ở đầm Thị Nại có diện tích khoảng 185ha với khoảng hơn 49 loài cây ngập mặn như: Mắm trắng, Đước đôi, Đưng, Đâng, Giá, Bần trắng, Tra lâm vồ, Tra nhớt Trong thời gian tới tỉnh Bình Định đang có kế hoạch trồng mới 60ha rừng ngập mặn tại vùng bãi triều thuộc đầm Thị Nại trong giai đoạn 2010 - 2015 đến năm 2020 với diện tích 220 ha Khu vực Cồn Chim đã xác định được 5 loài cỏ biển phân bố trên nền đáy bùn cát và cát bùn dọc theo vùng nước nông ven bờ các cồn, với sinh lượng dao động
từ 24 - 65 gam khô/m2 và độ phủ có nơi đạt tới 75 % Tổng diện tích thảm cỏ biển khoảng 50 ha Sau khi có dự án phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm cỏ biển dưới tán rừng ngập mặn cũng dần phục hồi
+ Khoáng sản
Do cấu trúc địa chất, trong thành phần trầm tích vịnh Quy Nhơn hàm lượng khoáng vật nặng Ilmenit, Zircon, Rutin khá cao, chúng phân bố ở độ sâu không quá 20m nước Tuy nhiên, Trong diện tích vùng đầm Thị Nại theo các kết quả điều tra khảo sát của Dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng
Trang 2919
sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Thừa Thiên Huế - Bình Định (0-60m nước) tỷ lệ 1:100.000 do Trung tâm Điều tra tài nguyên – môi trường biển thực hiện Trong khu vực đầm Thị Nại ít có triển vọng về mặt khoáng sản [15]
1.4.6 Đặc điểm về kinh tế xã hội
+ Đặc điểm về dân số
Tổng dân số toàn vùng là 152.985 người, mật độ dân số là 818 người/km2, năm 2016 Nhìn chung dân cư khu vực quanh đầm có mật độ dân số đông do đầm nằm ở khu vực dân cư đô thị thuộc TP Quy Nhơn
Tổng lao động toàn vùng là 61.522 người, trong đó ngành nông – lâm - thủy sản là 30.718 người (chiếm 49,9%); công nghiệp, xây dựng là 20.079 người (chiếm 32,6%); thương mại – dịch vụ 10.725 người (chiếm 17,5%) Nhìn chung, cơ cấu lao động trong vùng còn nhiều về lao động nông – lâm – thủy sản
+ Đặc điểm về kinh tế
Thực hiện đường lối đổi mới, phát triển các thành phần kinh tế, đa dạng hóa các hình thức, trong những năm vừa qua nền kinh tế xã hội của vùng đã từng bước được ổn định, hội nhập vào cơ chế thị trường và đạt mức tăng trưởng tương đối mạnh
Tính đến nay, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ yếu trong nền kinh tế địa phương Tình hình phát triển các khu công nghiệp khu vực xung quanh đầm Thị Nại
có làng nghề Bánh tráng Kim Tây (thôn Kim Tây, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước), Khu kinh tế Nhơn Hội gồm có khu phi thuế quan, khu công nghiệp, kinh tế cảng biển, thương mại dịch vụ, du lịch, Khu đô thị mới, vận hành theo cơ chế ưu đãi đặc biệt, là động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định và của khu vực miền Trung
Hệ thống cảng biển tại Quy Nhơn gồm 3 cảng là Quy Nhơn, Thị Nại và Đống Đa, thuận lợi trong việc giao lưu đường biển với các tỉnh trong nước cũng như với các nước trong khu vực và ngoài khu vực Cảng Quy Nhơn là cảng lớn nhất, chỉ cách phao Số 0 khoảng 5 hải lý, đón tàu tải trọng 3 vạn tấn cập bến; có
Trang 3020
7.500 m2 kho, 36.000 m2 bãi Khối lượng hàng hoá qua cảng tăng liên tục với mức tăng bình quân 21,3%/năm Hiện tại, hàng hoá qua cảng chủ yếu là hàng rời gồm: clinker, gỗ, bột mỳ, phân bón, hàng nông sản
1.4.7 Các loại hình sản xuất trong khu vực đầm Thị Nại
+ Nuôi trồng thủy sản
Ngành thủy sản là ngành kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế đầm Thij Nại bên cạnh phát triển công nghiệp ở Nhơn Hội, giao thông – cảng ở phường Hải Cảng
Nghề nuôi trồng thủy hải sản có từ lâu ở đầm Thị Nại Nuôi trồng thủy sản (NTTS) trong đầm phá hiện là hoạt động kinh tế quan trọng, chi phối cơ cấu thu nhập ở mức độ nhất định Nghề NTTS chủ yếu là nuôi tôm cá; nghề nuôi cá lồng Các hồ tôm thường rộng từ 2 - 20ha, dựa vào đê Đông và các công trình tháo lũ của đê để xây dựng
hồ tôm Vùng các cửa sông như An Lợi, Gò Bồi, Hà Dơi, Tân Đề có điều kiện tự nhiên thuận lợi là nơi được xây dựng nhiều hồ tôm nhất
Hiện nay, việc NTTS ven biển chủ yếu tồn tại ở 4 mô hình: Nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Các hình thức nuôi tôm này
đã có tác động của con người ở các mức độ khác nhau, thông qua việc cải tạo môi trường ao nuôi, nguồn thức ăn, giống và các kỹ thuật khác Trong quá trình nuôi tôm người dân luôn có xu hướng tăng mật độ con tôm trên đơn vị diện tích mặt nước và thêm vào đó là lượng thức ăn cho tôm cũng được tính toán sát thực, nên chất bã của thức ăn thừa và chất thải của tôm tích tụ lại đầm làm ô nhiễm nguồn nước và trong trầm tích gây bệnh cho tôm Thực tế trong nhiều năm qua ở nhiều nơi đã xảy ra hiện tượng này Bên cạnh, người dân thường phá rừng để mở rộng mặt nước nuôi tôm Điều này làm cho diện tích rừng ngày một giảm không đảm bảo môi trường sinh thái và khả năng phòng hộ và điều tiết của rừng, dẫn đến hiện tượng rừng ngày càng bị suy thoái và giảm tính cân bằng sinh thái trong vùng
Trang 3121
Bảng 1.2 Tình hình sử dụng đất, mặt nước tại đầm phá Thị Nại phục vụ NTTS năm
2016
TT Hình thức sử dụng đất
và mặt nước Hình thức nuôi Diện tích (ha)
1 Nuôi cá Nuôi kết hợp nhiều đối tượng 506,80
+ Sản xuất nông nghiệp
Tổng diện tích đất sản xuất tại đầm Thị Nại là 4.191,20ha, Một số cây trồng chính được trồng trong vùng: lúa (3.649,04 ha), rau (372,5 ha), ngô (33ha), lạc (55ha), đậu tương (37,5ha), dừa (16ha) và khoai (2ha) Tổng số lượng vật nuôi trong khu vực là 124.222 con, trong đó số lượng đàn gà là lớn nhất 97.918 con
+ Lâm nghiệp
Diện tích rừng khu vực xung quanh đầm Thị Nại năm 2016 là 993,21ha, độ che phủ 5,53% So với năm 2005 diện tích rừng năm 2016 giảm 4.471,89ha Diện
Trang 32và thảm cỏ biển rộng hơn 200 ha Hiện nay, rừng ngập mặn và thảm cỏ biển đang được bảo vệ và phục hồi
+ Hoạt động du lịch trên đầm phá
Đầm Thị Nại là đầm lớn nhất Bình Định, có hệ sinh thái rừng ngập mặn độc đáo, có Cồn Chim và nhiều loại hải sản ngon nổi tiếng Cây cầu Thị Nại được khánh thành vào cuối năm 2006, đi ngang qua đầm làm tăng thêm giá trị du lịch của đầm Hiện tại, trung tâm du lịch Thành phố Quy Nhơn, Phương Mai - Núi Bà Nà khu vực đầm Thị Nại là trọng điểm phát triển du lịch của tỉnh
Trang 33cụ thể vùng nghiên cứu được thể hiện qua hình sau:
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến địa hóa môi
Trang 3424
trường nước và trầm tích, đặc biệt là các yếu tố địa hình và thủy văn, các hoạt động nhân sinh ảnh hưởng đến sự phân bố của các nguyên tố hóa học trong môi trường nước và trầm tích khu vực đầm Thị Nại
2 Nghiên cứu đặc điểm địa hóa môi trường nước và trầm tích đầm thị nại, sự phân bố của thành phần vật chất đặc biệt là kim loại nặng trong môi trường nước và trầm tích khu vực đầm Thị Nại
3 Đánh giá hiện trạng môi trường nước và trầm tích đầm Thị Nại
4 Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết các vấn đề về đặc điểm địa hóa môi trường nước và trầm tích của đầm Thị Nại cần phải đề xuất hệ phương pháp nghiên cứu phù hợp bên cạnh việc áp dụng hướng tiếp cận vấn đề Để có cái nhìn tổng quan, toàn thể về các vấn
đề địa hóa của đầm và thu thập mẫu vật cần phải tiến hành các phương pháp cụ thể như sau:
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu
Thu thập các số liệu, tài liệu đã có liên quan đến vùng nghiên cứu Các báo cáo về tài nguyên thiên nhiên và môi trường khu vực đầm Thị Nại, đặc biệt là các báo cáo kết quả địa hóa môi trường, các kết quả phân tích mẫu nước và trầm tích đã thực hiện trong các đề tài dự án từ trước đến nay liên quan đến đầm Thị Nại,
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Các công tác nghiên cứu thực địa phục vụ cho công tác nghiên cứu địa hóa môi trường đầm Thị Nại bao gồm các nội dung sau:
2.3.2.1 Khảo sát nghiên cứu địa hoá - cảnh quan đới ven bờ
Khảo sát nghiên cứu địa hóa – cảnh quan đới ven bờ đầm Thị Nại được thực hiện trước và trong quá trình điều tra, khảo sát lấy mẫu môi trường nước và trầm tích của đầm Thị Nại Trong quá trình khảo sát nghiên cứu địa hoá - cảnh quan đới ven bờ đầm Thị Nại khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới đặc điểm địa hoá môi trường đới ven bờ của đầm như địa hình, thực vật, thủy động lực, hoạt động nhân sinh…
Trang 3525
nhằm có hệ thống thông tin kinh tế- xã hội phục vụ cho nghiên cứu như: các khu vực đổ thải ra đầm Thị Nại, các hoạt động kinh tế đã và đang diễn ra, các dự án phát triển sẽ thực hiện, các nguồn ô nhiễm, hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên, các vấn đề môi trường và các giải pháp bảo vệ môi trường, tài nguyên của khu vực đầm Thị Nại
2.3.2.2 Phương pháp lẫy mẫu ngoài thực địa
+ Lấy mẫu nước và trầm tích
Các mẫu nước được lấy theo tiêu chuẩn TCVN 5998 – 1995 (ISO 5667 – 9:1992) và theo TCVN 6663-3:2008
Các mẫu trầm tích được lấy theo TCVN 6663-13:2015;TCVN 6663-19:2015
và theo TCVN 6663-15:2004
Tổng số vị trí lấy mẫu nước và trầm tích (điểm) đã lấy: 35 điểm (Hình 2.2) Tại các vị trí này lấy các loại mẫu như: Các chỉ tiêu hóa lý (nhiệt độ, pH, Eh, độ muối, dầu, TSS…), các anion trong nước và trong trầm tích, các kim loại nặng trong môi trường nước và trong trầm tích (Cu, Pb, Hg, Zn v.v…) Vị trí cụ thể được thiết kế như sau:
Vị trí lấy mẫu được thiết kế theo mặt rộng của đầm Thị Nại, khoảng cách giữa các vị trí lấy mẫu trung bình khoảng 0,8×1,5km Với tổng số vị trí lấy mẫu theo mặt rộng là: 28 điểm
Ngoài ra, tại các khu vực đổ thải ra đầm như cửa sông, các khu vực nuôi trồng thủy hải sản, các khu vực có khả năng bị ảnh hưởng bởi các hoạt động dân sinh trên đất liền… Vị trí lẫy mẫu nước được đan dầy hơn với số lượng mẫu lấy là:
7 điểm Cụ thể tại các vị trí sau:
Khu vực cửa sông Kôn: 3 điểm
Khu vực cửa sông Hà Thanh: 2 điểm
Khu vực cảng Thị Nại, cảng Cá: 2 điểm
+ Lấy mẫu nước phân tích các chỉ tiêu sinh hóa trong môi trường nước
Đây là các chỉ tiêu cơ bản dùng để đánh giá chất lượng nước (DO, COD, BOD5, Coliform) Trong thủy vực tự nhiên và trong các ao nuôi cá, bên cạnh quá trình
Trang 36+ Lấy mẫu trầm tích phân tích các hợp chất OCPs và PCBs
Các chất ô nhiễm hữu cơ bền OCPs và PCBs là những chất hóa học tồn lưu lâu dài trong môi trường Do bản chất bền vững được tích tụ lâu dài trong môi trường đất được vận chuyển ra biển tham gia vào quá trình lắng đọng của trầm tích hiện đại như vậy chúng được sử dụng làm hợp chất “đánh dấu” trong mẫu trầm tích
và thường được sử dụng để đánh giá sự dư thừa của các hợp chất có trong thuốc bảo
vệ thực vật dùng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp (OCPs) và chất thải của hoạt động sản xuất công nghiệp (PCBs) có khả năng tích lũy sinh học thông qua chuỗi thức ăn và tác động xấu đến sức khỏe con người như ngộ độc, ung thư và đột biến gen Do tính bền vững cao và các hợp chất này thường có hàm lượng thường rất nhỏ
cỡ ng/g và tồn lưu nhiều trong môi trường trầm tích nên thường được đánh giá trong môi trường trầm tích
Vị trí lấy mẫu trầm tích để đánh giá các hợp chất này là các khu vực trầm tích ít bị biến động Các khu vực gần các khu vực dân sinh có hoạt động sản xuất nông nghiệp và các khu vực có hoạt động xả thải của hoạt động sản xuất công nghiệp ra đầm Cụ thể vị trí lấy mẫu tại các vị trí sau: ven bờ Lạc Điền (xã Phước Thắng), phía tây Cồn Chim (xã Phước Sơn), phía đông khu vực Nhân Ân (xã Phước Trạch), phía tây Hội Sơn (3 điểm), phía Đông Nam núi Hang Dơi (Hình 2.2)
Trang 3727
2.3.3 Các phương pháp phân tích mẫu trong phòng
+ Các phương pháp phân tích mẫu nước
Các phương pháp phân tích mẫu nước được thực hiện theo hướng dẫn trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển (QCVN 10-MT:2015/BTNMT) Cụ thể như sau:
- Xác định nhiệt độ theo TCVN 4557 - 1998;
Hình 2.2 Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước và trầm tích
Trang 3828
- Xác định pH theo TCVN 6492 – 1999 (ISO 10523 – 1994);
- Xác định chất rắn lơ lửng (TSS) – Phương pháp lọc theo TCVN 6625 –
2000 (ISO 11923 – 1997);
- Xác định oxy hòa tan – phương pháp Winkler - TCVN 5499 – 1995;
- Xác định nhu cầu oxy hóa học - TCVN 6491 – 1999 (ISO 6060 – 1989);
- Xác định các anion: PO43-, SO42-, NO3- bằng sắc ký lỏng ion theo TCVN 6494-1:2011 (ISO 10304-1:2007)
- Xác định Cu, Zn, Cd, Pb – phương pháp hấp thụ nguyên tử theo TCVN
+ Các phương pháp phân tích mẫu trầm tích
Các phương pháp phân tích mẫu trầm tích được thực hiện theo hướng dẫn trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích (QCVN 43 : 2012/BTNMT) Cụ thể các phương pháp phân tích mẫu áp dụng như sau:
- Xác định các anion: PO43-, SO42-, NO3- bằng sắc ký lỏng ion theo TCVN 6494-1:2011 (ISO 10304-1:2007);
- Xác định Cu, Pb, Mn, Zn theo TCVN 6496:2009 - Chất lượng đất - Xác định crom, cadimi, coban, đồng, chì, mangan, niken, kẽm trong dịch chiết đất phá mẫu bằng nước cường thủy Các phương pháp hấp thụ nguyên tử;
Trang 3929
- Xác định As, Sb theo TCVN 8467:2010 (ISO 20280:2007) Chất lượng đất - Xác định asen, antimon và selen trong dịch chiết đất phá mẫu bằng nước cường thủy - phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử theo kỹ thuật nhiệt điện hoặc tạo hydrua
- Xác định Hg theo TCVN 8882: 2011 (ISO 16772: 2004) Chất lượng đất - Xác định thủy ngân trong dịch chiết đất phá mẫu bằng nước cường thủy dùng quang phổ hấp thụ nguyên tử hơi - lạnh hoặc quang phổ hấp thụ nguyên tử huỳnh quang hơi - lạnh
- Xác định các hợp chất OCPs và PCBs theo TCVN 8601: 2009 (ISO 10382: 2002) Chất lượng đất - Xác định hóa chất bảo vệ thực vật clo hữu cơ và polyclo biphenyl - Phương pháp sắc ký khí với detector bẫy electron
2.3.4 Phương pháp thống kê xử lý kết quả nghiên cứu
Từ các tài liệu thu thập và tổng hợp đã có áp dụng các phương pháp thống kê trong việc tổng hợp, xử lý các tài liệu phục vụ cho luận giải các kết quả nghiên cứu của luận văn;
+ Sử dụng các phương pháp thông kê toán học bằng phần mềm tin học để xử
Trang 4030
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH ĐẦM THỊ NẠI
3.1.1 Đặc điểm địa hóa môi trường nước đầm Thị Nại
3.1.1.1 Đặc điểm các thông số hóa - lý môi trường nước đầm Thị Nại
Các thông số hóa - lý của môi trường nước mặt ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật thủy sinh Sau đây là đặc điểm một số
thông số hóa lý tiêu biểu trong môi trường nước tầng mặt đầm Thị Nại
+ Nhiệt độ nước tầng mặt
Nhiệt độ của nước ảnh hưởng đến khả năng hòa tan, làm gia tăng tốc độ phản ứng tăng hoạt tính của các chất gây ô nhiễm Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của hầu hết thủy sinh vật trong khoảng 20 – 300C Trong đầm Thị Nại nhiệt độ nước tầng mặt dao động trong khoảng từ 23 – 29,50
C Nguồn cung cấp nhiệt cho đầm chủ yếu từ bức xạ mặt trời và nhiệt độ không khí Tuy nhiên, nhiệt độ nước trong đầm cũng bị ảnh hưởng bời lượng nước mùa mưa lũ làm cho nhiệt độ trong đầm vào
mùa mưa thấp hơn mùa khô
Sinh vật thủy sinh thường thích ứng tốt trong môi trường nước có giá trị pH
từ 6,5 - 8,5 Giá trị pH trong môi trường nước tầng mặt tại Đầm Thị Nại biến đổi từ môi trường axit yếu (khu vực cửa sông Kôn và sông Hà THanh) và tăng dần ra khu vực cửa đầm tại đây nước biển có môi trường kiềm yều (pH=8,0) Trong toàn vùng
pH dao động trong khoảng 6,5-8,4, đạt giá trị trung bình 7,64 còn giá trị Eh trong