MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Việt Nam có khoảng 10% người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) so với dân số cả nước khoảng 90 triệu người, đứng hàng thứ 14 về quy mô dân số, đứng thứ 8 tại châu Á và thứ 3 ở Đông Nam Á. Theo số liệu mới công bố thì bình quân trong đời người có khoảng trên 10 năm ốm đau. Bệnh tật thường phát sinh từ tuổi già. Nhưng không phải già là bệnh tật, tuổi cao là điều kiện để bệnh phát sinh, phát triển. Già hóa dân số cũng là vấn đề đặt ra ở một số quốc gia, là xu hướng chung của các nước phát triển và đang phát triển. Việt Nam hiện nay đang ở ngưỡng cửa bước vào giai đoạn già hóa dân số, già hóa dân số phải được gắn liền với các chính sách đối với NCT đó là các vấn đề an sinh xã hội phù hợp với khả năng và nhu cầu của từng quốc gia để góp phần nâng cao chất lượng sống nói chung trong đó có việc chăm sóc sức khỏe, phát huy vai trò vị trí của NCT đối với cộng đồng. Luật NCT có hiệu lực từ ngày 1/7/2010 đã nói lên tất cả sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối với lớp NCT, đánh giá đúng mức, biết ơn với công lao đóng góp cho gia đình và xã hội của lớp người này trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ của lớp người đi trước đối với thế hệ trẻ. Chăm sóc phụng dưỡng NCT nói chung, CSSK NCT nói riêng có nhiều nội dung mà xã hội lâu nay đang thực hiện. Nhưng một trong những nội dung quan trọng được đặt lên hàng đầu đó là việc chăm sóc sức khỏe (CSSK). Nhìn chung cần có nhận thức quĩ thời gian của NCT không còn nhiều, từ đó việc tự chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật “chung sống hòa bình” với một số bệnh mãn tính của NCT cần được đặt ra đúng mức không những đối với bản thân NCT mà còn là việc của gia đình và xã hội. Chỉ có khoảng 25% người già có thể tự nuôi sống bản thân bằng các nguồn thu nhập như lương hưu, trợ cấp, còn lại phụ thuộc vào người thân hoặc các tổ chức xã hội. Có 18% NCT sống trong các hộ gia đình nghèo, khó khăn. 95% trong số họ có bệnh mãn tính, thậm chí có bệnh kép. CSSKNCT tại cộng đồng mục đích là phổ biến những kiến thức cơ bản về y học dự phòng để tự chăm sóc sức khỏe hàng ngày, bồi dưỡng một số kỹ năng thực hành để tự chăm sóc bản thân, đồng thời đào tạo một đội ngũ tình nguyện viên (TNV) chăm sóc NCT yếu thế tại nhà (già yếu, neo đơn, nghèo, bệnh tật kéo dài, suy kiệt...). Tâm lý chung là khi về già, con người càng hết sức quan tâm đến sức khỏe của mình, sức khỏe là tài sản vô giá, sức khỏe quí hơn vàng. Do đó cần nắm vững diễn biến tâm lý và tạo điều kiện cho NCT sống vui, sống khỏe, sống hữu ích và sống thọ, đây là mục tiêu phấn đấu của chúng ta đối với thế hệ cha ông để tỏ lòng biết ơn đối với lớp người này, làm cho NCT không mặc cảm, luôn được sống trong tình cảm quí trọng của gia đình và xã hội, NCT tự biết chăm sóc sinh hoạt, tập thể dục hàng ngày, đề phòng một số tai nạn thường gặp như tai nạn giao thông, ngã, bệnh tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường, xương, khớp, cột sống, u xơ tiền liệt tuyến (nam), giảm trí nhớ... nếu đã mắc một số bệnh mãn tính thì cần biết cách điều trị, đề phòng biến chứng. Mặt khác đội ngũ tình nguyện viên đã được đào tạo kỹ năng thực hành sẽ đến tận nhà để trợ giúp cho NCT theo định kỳ được phân công hàng tuần và có sổ ghi chép theo dõi sức khỏe. Chính vì vậy đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn giữa báo chí với vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay với mục tiêu đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đáp ứng nhu cầu của thực tiễn. Với những lý do trên, em xin chọn đề tài: “Báo in với vấn đề chăm sóc người cao tuổi hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp lớp Cao học Báo chí
Trang 1DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSSKNCT: Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi CSSKBĐ : Chăm sóc sức khỏe ban đầu
TYT : Trạm y tế
NCT : Người cao tuổi
TNV : Tình nguyện viên
KCB : Khám chữa bệnh
THA : Tăng huyết áp
DVYT : Dịch vụ y tế
Trang 2MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA BÁO CHÍ THAM GIA GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Người cao tuổi
1.1.2 Sức khỏe người cao tuổi
1.1.3 Cuộc sống người cao tuổi
1.1.4 Chăm sóc người cao tuổi
1.1.5 Vai trò báo chí trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
1.2.1 Cơ sở pháp lý của vấn đề chăm sóc người cao tuổi
1.2.2 Cơ sở đạo lý của vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
1.2.3 Vấn đề huy động nguồn lực và các hình thức chăm sóc người cao tuổi
1.3 VẤN ĐỀ THỰC TIỄN ĐẶT RA TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
1.3.1 Chăm sóc sức khỏe về mặt tinh thần
1.3.2 Chăm sóc sức khỏe về mặt dinh dưỡng hàng ngày
1.3.3 Chăm sóc sức khỏe về thể dục – thể thao
1.3.4 Chăm sóc sức khỏe về du lịch – an dưỡng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BÁO CHÍ THAM GIA VẤN ĐỀCHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI HIỆN NAY
2.1 GIỚI THIỆU CÁC TỜ BÁO THUỘC DIỆN KHẢO SÁT
2.1.1 Báo Sức khỏe & Đời sống
2.1.2 Báo Hà Nội mới
2.1.3 Báo Sài Gòn giải phóng
2.1.4 Báo Lao Động
Trang 32.2 NỘI DUNG BÁO CHÍ ĐỀ CẬP VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
2.2.1 Báo chí đối đề cập đến vấn đề chăm sóc sức khỏe về mặt tinh thần cho
người cao tuổi
2.2.2 Báo chí đối đề cập đến vấn đề chăm sóc sức khỏe về mặt dinh dưỡng hàng
ngày cho người cao tuổi
2.2.3 Báo chí đối đề cập đến vấn đề chăm sóc sức khỏe về thể dục – thể thao
cho người cao tuổi
2.2.4 Báo chí đối đề cập đến vấn đề chăm sóc sức khỏe về du lịch – an dưỡng
cho người cao tuổi
2.2.4 Báo chí đối đề cập đến vấn đề sự bền vững của hệ thống an sinh xã hội
cho người cao tuổi
2.3 PHƯƠNG THỨC THÔNG TIN
2.3.1 Báo chí trong ngày quốc tế người cao tuổi trên thế giới
3.3.1 Báo chí trong ngày quốc tế người cao tuổi ở Việt Nam
2.3.2 Báo chí tuyên truyền sức khỏe của người cao tuổi Việt Nam
2.3.3 Báo chí tuyên truyền nhận thức của giới trẻ đối với chăm sóc người cao tuổi Việt Nam
2.3.4 Báo chí thông tin chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước đến với người cao tuổi Việt Nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
CHƯƠNG III:VẤN ĐỀ VÀ KHUYẾN NGHỊ KHOA HỌC NHẰM NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ THAM GIA VẤN ĐỀ CHĂM SÓC
NGƯỜI CAO TUỔI HIỆN NAY
3.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ THAM GIA VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI HIỆN NAY
3.1.1 Quan điểm của Nhà nước về chăm sóc người cao tuổi hiện nay
Trang 43.1.2 Phương hướng nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi trên báo chí hiện nay
3.2 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ THAM GIA VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
3.2.1 Nhóm giải pháp về đẩy mạnh truyền thông nhằm chuyển đổi nhận thức, thái độ chăm sóc người cao tuổi trên báo chí hiện nay
3.2.2 Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách và chăm sóc người caotuổi trên báo chí hiện nay
3.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người caotuổi trên báo chí hiện nay
3.2.4 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc vật chất người caotuổi trên báo chí hiện nay
3.2.5 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc đời sống tinh thần
và phát huy vai trò người cao tuổi trên báo chí hiện nay
3.2.6 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ hỗ trợ NCT, đẩy mạnh phát triểncác mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng trên báo chí hiện nay
3.2.7 Triển khai các nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu tác nghiệp
về người cao tuổi ở Việt Nam trên báo chí hiện nay
3.3 Về điều kiện thực hiện
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài
Việt Nam có khoảng 10% người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) so với dân số
cả nước khoảng 90 triệu người, đứng hàng thứ 14 về quy mô dân số, đứng thứ 8tại châu Á và thứ 3 ở Đông Nam Á
Theo số liệu mới công bố thì bình quân trong đời người có khoảng trên 10năm ốm đau Bệnh tật thường phát sinh từ tuổi già Nhưng không phải già làbệnh tật, tuổi cao là điều kiện để bệnh phát sinh, phát triển Già hóa dân số cũng
là vấn đề đặt ra ở một số quốc gia, là xu hướng chung của các nước phát triển vàđang phát triển Việt Nam hiện nay đang ở ngưỡng cửa bước vào giai đoạn giàhóa dân số, già hóa dân số phải được gắn liền với các chính sách đối với NCTđó là các vấn đề an sinh xã hội phù hợp với khả năng và nhu cầu của từng quốcgia để góp phần nâng cao chất lượng sống nói chung trong đó có việc chăm sócsức khỏe, phát huy vai trò vị trí của NCT đối với cộng đồng Luật NCT có hiệulực từ ngày 1/7/2010 đã nói lên tất cả sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối vớilớp NCT, đánh giá đúng mức, biết ơn với công lao đóng góp cho gia đình và xãhội của lớp người này trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nướcđồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ của lớp người đi trước đối với thế hệ trẻ
Chăm sóc phụng dưỡng NCT nói chung, CSSK NCT nói riêng có nhiềunội dung mà xã hội lâu nay đang thực hiện Nhưng một trong những nội dungquan trọng được đặt lên hàng đầu đó là việc chăm sóc sức khỏe (CSSK) Nhìnchung cần có nhận thức quĩ thời gian của NCT không còn nhiều, từ đó việc tựchăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật “chung sống hòa bình” với một số bệnhmãn tính của NCT cần được đặt ra đúng mức không những đối với bản thânNCT mà còn là việc của gia đình và xã hội Chỉ có khoảng 25% người già có thể
tự nuôi sống bản thân bằng các nguồn thu nhập như lương hưu, trợ cấp, còn lạiphụ thuộc vào người thân hoặc các tổ chức xã hội Có 18% NCT sống trong các
hộ gia đình nghèo, khó khăn 95% trong số họ có bệnh mãn tính, thậm chí cóbệnh kép
Trang 6CSSKNCT tại cộng đồng mục đích là phổ biến những kiến thức cơ bản về
y học dự phòng để tự chăm sóc sức khỏe hàng ngày, bồi dưỡng một số kỹ năngthực hành để tự chăm sóc bản thân, đồng thời đào tạo một đội ngũ tình nguyệnviên (TNV) chăm sóc NCT yếu thế tại nhà (già yếu, neo đơn, nghèo, bệnh tậtkéo dài, suy kiệt ) Tâm lý chung là khi về già, con người càng hết sức quantâm đến sức khỏe của mình, sức khỏe là tài sản vô giá, sức khỏe quí hơn vàng
Do đó cần nắm vững diễn biến tâm lý và tạo điều kiện cho NCT sống vui, sốngkhỏe, sống hữu ích và sống thọ, đây là mục tiêu phấn đấu của chúng ta đối vớithế hệ cha ông để tỏ lòng biết ơn đối với lớp người này, làm cho NCT khôngmặc cảm, luôn được sống trong tình cảm quí trọng của gia đình và xã hội, NCT
tự biết chăm sóc sinh hoạt, tập thể dục hàng ngày, đề phòng một số tai nạnthường gặp như tai nạn giao thông, ngã, bệnh tim mạch, cao huyết áp, tiểuđường, xương, khớp, cột sống, u xơ tiền liệt tuyến (nam), giảm trí nhớ nếu đãmắc một số bệnh mãn tính thì cần biết cách điều trị, đề phòng biến chứng Mặtkhác đội ngũ tình nguyện viên đã được đào tạo kỹ năng thực hành sẽ đến tận nhà
để trợ giúp cho NCT theo định kỳ được phân công hàng tuần và có sổ ghi chéptheo dõi sức khỏe Chính vì vậy đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu sắc hơn nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn giữa báo chí với vấn đề chăm sóc sức khỏe người caotuổi hiện nay với mục tiêu đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin
về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đáp ứng nhu cầu của thực tiễn
Với những lý do trên, em xin chọn đề tài: “Báo in với vấn đề chăm sócngười cao tuổi hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp lớp Cao học Báo chí
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay với đề tài chăm sóc sức khỏe cho NCT không phải là mới, đã córất nhiều công trình khoa học, hội thảo trong nước, quốc tế về vấn đề chăm sócsức khỏe cho người già Ngoài ra còn có nhiều bài báo cũng như luận văn, khóaluận đã nghiên cứu vấn đề này trong nhiều năm qua như:
- Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2013), Hội thảo Phổ biến luậtbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Trang 7- Tư vấn Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Hà Nội
- Chương trình Vinamilk Hội thảo "Sống khỏe - Sống lâu" sẽ được tổ chức trang trạng tại "Hội trường trụ sở hội CCB thành phố Hà Nội" - 35 Đường
hồ Mễ Trì - Quận Thanh Xuân - Hà Nội
- Phạm Kiều Nga (2012) “Trung tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
An Bình” Trường đại học kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
- Lâm Hồng Quang (2011), Thực trạng người cao tuổi và giải pháp chămsóc cho người cao tuổi ở Việt Nam, Đại học Y Hà Nội
- Nguyễn Liên Hương (2010) Khảo sát nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngườicao tuổi tại phường Phú Nhuận thành phố Huế
Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào nói đến vấn đề báochí đối với chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đặc biệt lại là khảo sát trên BáoSức khỏe &Đời sống, Báo Hà Nội mới, Báo Sài Gòn giải phóng, Báo Lao động
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hình thành nhận thức lý luận về vai trò của báo chí trong quá trình tham gia vấn đề chăm sóc người cao tuổi ở nước ta hiện nay.
- Khảo sát thực tế vấn đề báo chí tham gia chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (Báo Sức khỏe &Đời sống, Báo Hà Nội mới, Báo Sài Gòn giải phóng, Báo Lao động) năm 2014, đưa ra tổng hợp các bài báo viết về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi hiện nay
Phân tích đánh giá về các bài báo, nêu ý nghĩa đẩy mạnh chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trên báo chí.
Trang 8Nhiệm vụ cụ thể:
Thứ nhất, Hình thành khung lý thuyết về quan niệm, vai trò của báo chí,trước nhất là báo in trong quá trình tham gia vấn đề chăm sóc sức khỏe ngườicao tuổi;
Thứ hai, trên cơ sở quan niệm, nhận thức vai trò của báo in trong vấn đềchăm sóc sức khỏe người cao tuổi, luận văn khảo sát thực trạng báo chí in ấntham gia vấn đề này như thế nào;
Thứ ba, qua khảo sát, có thê nhìn nhận, nêu ra những vấn đề đặt ra trongviệc báo chí tham gia giải quyết vấn đề sức khỏe người cao tuổi; từ đó đề xuấtnhững giải pháp nhằm nâng cao năng lực và sức tác động của báo chí in ấn trongvấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là vai trò báo chí in ấn trong việc tham gia giải quyết vấn đề sức khỏengười cao tuổi hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu, khảo sát
Phạm vi nghiên cứu khảo sát chủ yếu trên báo in; phạm vi khảo sát cácbài viết về chuyên mục chăm sóc sức khỏe của Báo Sức khỏe& Đời sống, Báo
Hà Nội mới, Báo Sài Gòn giải phóng, Báo Lao động, trong năm 2014
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn
Làm rõ lý luận về chăm sóc người cao tuổi, đặc điểm chăm sóc người caotuổi cũng như quan điểm lý luận về việc đề xuất các biện pháp tâm lý tăngcường sức khỏe cho người cao tuổi hiện nay đặc biệt trên báo chí hiện nay
Đã xác định được rõ đặc điểm chăm sóc người cao tuổi của người nghỉ hưu,người già trên 65 tuổi, đối tượng chăm sóc người cao tuổi chủ yếu là người thântrong gia đình và bạn bè là những người quen biết cũ chủ yếu về vấn đề sức khỏe
Nghiên cứu đã đề xuất một số biện pháp tâm lý tăng cường chăm sócngười cao tuổi thông qua nhận thức, cải thiện mối quan hệ trong GĐ, nâng cao
Trang 9hiệu quả hoạt động của tổ chức XH dành cho người nghỉ hưu ở cụm dân cư quacác tờ báo được khảo sát
Những kết quả lý luận và thực tiễn của đề tài có thể sử dụng làm tài liệutham khảo cho các nhà hoạch định chính sách xã hội ở Việt Nam (đặc biệt lànhững chính sách về an sinh xã hội và những chính sách về người nghỉ hưu)cũng như việc chăm sóc người cao tuổi ở nước ta hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Phương pháp chuyên gia
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp nghiên cứu trường hợp
6 Đóng góp mới của đề tài
Luận văn góp phần vào quá trình nâng cao hiểu biết về chăm sóc sứckhỏe cho người cao tuổi, cũng như tài liệu quý giúp các nhà báo viết về vấn đềchăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, góp phần giúp sinh viên báo chí sắp ratrường viết về đề tài sức khỏe, đặc biệt đối với việc CSSK người cao tuổi ởnước ta hiện nay
7 Ý nghĩa và giá trị thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Việt Nam cần quá trình tổng thể để nâng cao chất lượng chăm sóc ngườicao tuổi đáp ứng nhu cầu người cao tuổi, với vấn đề chăm sóc sức khỏe trên báochí hiện nay
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 10- Tăng cường sự giám sát của các bộ ngành trong quá trình triển khaichương trình, chính sách chăm sóc người cao tuổi Đẩy mạnh sự tham gia củaHội người cao tuổi tại địa phương trong quá trình giám sát thực hiện Luật ngườicao tuổi.
- Đổi mới phương thức tuyên truyền nâng cao chất lượng chăm sóc ngườicao tuổi từ phương thức truyền thông giáo dục sang phương thức truyền thôngchuyển đổi hành vi theo nhóm đối tượng đích và hành vi cụ thể
- Khi hệ thống an sinh xã hội mới tập trung hỗ trợ cho một bộ phận ngườicao tuổi qua bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội, bên cạnh việc cải cách bảo hiểm
xã hội và đầu tư có hiệu quả Quỹ bảo hiểm xã hội, tổ chức ”Qũy tiết kiệm chotuổi già” trên đóng góp bắt buộc của mỗi công dân sẽ tăng cường trách nhiệm cánhân, đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi
- Tổ chức triển khai mô hình “Trung tâm chăm sóc người cao tuổi banngày” tại cộng đồng đặc biệt tại các thành phố lớn, khuyến khích hình thứcchăm sóc người cao tuổi hỗn hợp kết hợp giữa chăm sóc lâu dài tại nhà và chămsóc ngắn hạn tại các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng
- Đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng chăm sóc người cao tuổitrong mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng nhằm xác định chuẩn mực
về dịch vụ cung cấp
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, vànhững nội dung chính được bố trí trong 3 chương với những nội dung chínhnhư sau:
Chương I:
Chương II:
Chương III:
Trang 11CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA BÁO CHÍ THAM GIA GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
1.2 Những khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
Báo chí tham gia giải quyết vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi:Người cao tuổi là một khái niệm lịch sử, gây nhiều tranh cãi trên bình diện tiếpcận của các khoa học, trình độ phát triển của xã hội và các nền văn hóa Trongcuốn Bách khoa quốc tế về xã hội học (International encyclopedia of sociology)phần Người cao tuổi và sự quan tâm của các tổ chức xã hội khi đưa ra khái niệm
về người cao tuổi các tác giả phân chia theo độ tuổi như sau: + 65 – 74: ngườicao tuổi trẻ; 75 – 84: trung cao tuổi; > 84: nhóm già Tổ chức Y tế thế giới(WHO) lại phân chia các lứa tuổi của người già: + 60 - 74: người cao tuổi; 75 -90: người già; > 90: người già sống lâu Về mặt Pháp luật chung, theo Điều 2trong Luật Người cao tuổi (11/2009) qui định người cao tuổi là “Công dân ViệtNam từ đủ 60 tuổi trở lên” Gần đây ở Việt Nam, khái niệm người cao tuổi được
sử dụng phổ biến, tuy nhiên, về khoa học thì người già hay người cao tuổi đềuđược dùng với ý nghĩa như nhau Tổng điều tra Dân số năm 2009 cho thấy có72,9% NCT sống ở nông thôn Trong số NCT, chỉ có khoảng 16 - 17% đượchưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% hưởng trợ cấp người có công vớinước Như vậy, còn trên 70% NCT hiện nay sống bằng lao động của mình, bằngnguồn hỗ trợ của con cháu và gia đình Trong khi đó, ở nông thôn ruộng đất ít,năng suất, thu nhập thấp, ít có tiết kiệm phòng khi bất trắc tuổi già Thực tế nàyđòi hỏi chính sách đối với NCT cần hướng đến nông thôn, cần xây dựng và triểnkhai chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân, đẩy mạnh nghiên cứu các hìnhthức hoạt động phù hợp cho NCT ở nông thôn, đặc biệt NCT cô đơn, không nơinương tựa, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn… Xét theo vùng kinh tế - xãhội, người cao tuổi nước ta phân bố không đồng đều, tập trung ở 3 vùng có đôngdân cư nhất trong cả nước là đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long
Trang 12và Bắc Trung bộ Đồng bằng sông Hồng có số lượng người cao tuổi cao nhấttrong cả nước (chiếm 25,41% số NCT), tiếp đến là đồng bằng sông Cửu Long(chiếm 20,95%) và Bắc Trung bộ 15,2% Sự gia tăng dân số NCT sẽ dẫn đếnnhiều hệ luỵ, điều đó đang là một thách thức lớn đặt ra cho gia đình và toàn xãhội Vì vậy, cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu quá trình già hóa từ đótiên lượng tình trạng và chủ động nghiên cứu kinh nghiệm của các nước nhằmnâng cao chất lượng sống cho NCT ở Việt Nam Các bệnh thường gặp ở ngườicao tuổi thách thức lớn nhất đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiệnnay là mô hình và nguyên nhân bệnh tật của NCT đang thay đổi nhanh chóngkhiến cho gánh nặng “bệnh tật kép” ngày càng rõ Một mặt, NCT đang phải chịunhiều bệnh do lão hóa gây ra; mặt khác, NCT cũng phải chịu các bệnh phát sinh
do thay đổi lối sống dưới tác động của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh
tế Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi là các bệnh mạn tính như: bệnhmạch vành, tăng huyết áp (THA), đột quỵ, đái tháo đường, các bệnh này lànguyên nhân chính gây giảm sút sức khoẻ ở người cao tuổi Nghiên cứu về môhình bệnh tật của NCT Việt Nam thì mô hình chuyển từ bệnh lây nhiễm sangbệnh mạn tính, không lây nhiễm Đây đang là một thách thức lớn vì các bệnhkhông lây nhiễm thường có thời gian tiềm tàng kéo dài với các tình trạng tiềnbệnh như thừa cân, béo phì, tăng huyết áp, rối loạn glucose máu và một số rốiloạn chuyển hóa khác Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 cho thấy tỷ lệkhuyết tật của người cao tuổi tăng lên khi tuổi cao hơn Tổng Điều tra Dân số vàNhà ở năm 2009 Nghiên cứu của Đàm Hữu Đắc và cộng sự (2010) cho thấy95% người cao tuổi có bệnh và chủ yếu là các bệnh như: xương khớp (40,62%);tim mạch và huyết áp (45,6%); tiền liệt tuyến (63,8%); rối loạn tiểu tiện (35,7%)
và phổi phế quản tắc nghẽn mãn tính (12,6%) Những bệnh tật phát sinh do thayđổi lối sống như sa sút tâm thần và trầm cảm lại có xu hướng tăng và tỷ lệ ngườicao tuổi mắc các bệnh này tăng lên khi tuổi cao
1.2.1 Người cao tuổi
Trang 13Người cao tuổi hay người cao niên hay người già là những người lớn tuổi,thường có độ tuổi khoảng từ 60 trở lên Pháp lệnh người cao tuổi ở ViệtNam (số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/04/2000) nhận định: "người caotuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai tròquan trọng trong gia đình và xã hội".
1.2.2 Sức khỏe người cao tuổi
Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là khả năng và mức độ được cơ sở y tế(CSYT) cung ứng các dịch vụ chăm sóc, phát hiện và điều trị bệnh khác nhautheo nhu cầu và mức độ bệnh của mỗi người dân khi ốm đau Điều này khôngchỉ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng,giá thành, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận của người dân Cácyếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ CSSK là kinh tế, người sử dụngdịch vụ và người cung cấp dịch vụ - Kinh tế: Đây là yếu tố đóng vai trò quyếtđịnh nhất đối với người có thu nhập thấp Kết quả nghiên cứu tại Nam Sách (HảiDương), các nhà xã hội học đã cho thấy 95,7% số người già có nhu cầu KCB,song 76,6% số NCT trả lời không có đủ tiền để đi khám chữa bệnh; chủ yếungười bệnh tự mua thuốc về điều trị hoặc tìm đến các thầy thuốc gần nhà (chiếm
tỷ lệ 50- 65%) Số lượng người giàu đến bệnh viện KCB gấp 1,75 lần ngườinghèo Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi, theonghiên cứu nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tình hình sử dụng DVYT, những yếu
tố tác động đến việc lựa chọn dịch vụ của NCT, giúp cho việc tổ chức hệ thốngcung ứng DVYT phù hợp hơn và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của ngườidân Một điều rất quan trọng là người sử dụng DVYT sẽ có tác động đến hoạtđộng của hệ thống cung ứng DVYT, chứ không phải do những người cung ứngDVYT quyết định Tự điều trị và đến cơ sở y tế tư nhân là hình thức sử dụngDVYT phổ biến trong xử trí ban đầu của NCT khi bị ốm Kết quả này có sự daođộng lớn giữa các cuộc điều tra Người cao tuổi có triệu chứng bệnh/ốm khôngchữa gì và tự chữa (44,69%), đến TYT xã (17,67%), đi khám tư nhân (16,74%)
và đến bệnh viện (15,59%) Các lý do lựa chọn dịch vụ CSSK là đến y tế xã chủ
Trang 14yếu do gần nhà (35,95%), do quen biết (30,07%), chọn bệnh viện là do chuyênmôn tốt (50,37%), do bệnh nặng (36,3%) Lý do ở nhà chưa có sự khác biệt rõgiữa người nghèo và người giàu, chủ yếu cũng do suy nghĩ là bệnh nhẹ, khôngcần chữa trị; nhưng nhóm nghèo nhất có xu hướng mua thuốc tự chữa (35,8%)cao hơn nhóm giàu nhất (28,6%) Tình hình sử dụng trạm y tế xã trong KCB,CSSKBĐ có sự khác nhau giữa các địa bàn nghiên cứu và phụ thuộc nhiều vàotình trạng có BHYT của NCT Về tình hình sử dụng DVYT tư nhân, nghiên cứucủa Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2006) cho thấy có 34% NCT đến KCBtại các cơ sở y tế tư nhân Tỷ lệ này thấp hơn trong Điều tra y tế quốc gia là63,7% ở khu vực nông thôn và 66,2% ở khu vực thành thị Lý do chủ yếu NCTlựa chọn cơ sở y tế tư nhân là do thuận tiện, gần nhà hoặc có thể trực tiếp mờithầy thuốc tư đến thăm khám tại nhà cho người cao tuổi Một lý do khác giảithích cho việc NCT có xu hướng tự điều trị hoặc sử dụng y tế tư nhân nhiều hơn
là do bệnh nhẹ (25,3%) hoặc là triệu chứng đã bị mắc nhiều lần (21,7%) Môhình sử dụng DVYT có sự khác biệt tương đối giữa nam và nữ Phụ nữ cao tuổikhi bị ốm có xu hướng tự điều trị và sử dụng DVYT tư nhân cao hơn nam giới(43% so với 32,2%); có 27,3% NCT nữ đến KCB ở các cơ sở y tế tư nhân, trongkhi tỷ lệ này ở NCT nam là 19,3% Bên cạnh đó, xu hướng lựa chọn cơ sở KCB
là bệnh viện cũng không giống nhau ở các nhóm tuổi khác nhau Tuổi càng cao
xu hướng KCB tại bệnh viện ít hơn Những người trên 85 tuổi có tỷ lệ KCB tạibệnh viện thấp hơn nhóm tuổi 60-64 tuổi hơn 2 lần Qua các nghiên cứu trên tathấy số lượng NCT được KCB, sử dụng các DVYT chưa nhiều Mức độ sử dụngDVYT không đồng đều giữa các khu vực, vùng, miền và đặc điểm kinh tế nênchưa đáp ứng được yêu cầu về sự công bằng trong CSSK NCT Vì vậy, vấn đềquan trọng là cần phải tìm ra giải pháp nhằm nâng cao sức khỏe cho NCT, nhất
là người cao tuổi sống ở vùng nông thôn, vùng xa trung tâm, miền núi, NCT côđơn không nơi nương tựa Khả năng đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ngườicao tuổi của trạm y tế Khả năng đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là tổng hợpcác điều kiện, nguồn lực sẵn có của các cơ sở y tế tạo nên các DVYT nhằm thỏa
Trang 15mãn nhu cầu CSSK của nhân dân Khả năng đáp ứng nhu cầu CSSK của các cơ
sở y tế bao gồm các yếu tố: Nhân lực y tế (cán bộ y tế, nhân viên y tế) về cả sốlượng và chất lượng; các điều kiện đảm bảo DVYT (cơ sở vật chất, hạ tầng…);trang thiết bị y tế (thuốc, hóa chất, dụng cụ…); ngân sách y tế (bao gồm ngânsách của nhà nước, địa phương và nguồn ngân sách xã hội hóa…); cơ chế, chínhsách Ở Việt Nam, hệ thống y tế được chia thành 4 tuyến: Trung ương, tỉnh,huyện, xã, trong tuyến xã có trạm y tế xã và y tế thôn bản với các chức năngnhiệm vụ khác nhau nhưng chưa đề cập đến nhiệm vụ CSSK người cao tuổi Như vậy, hệ thống chăm sóc Lão khoa ở nước ta hiện nay vẫn chưa được tổchức thành mạng lưới từ Trung ương đến cơ sở như những lĩnh vực khác Mặtkhác, nhiệm vụ CSSK cho người cao tuổi là một yêu cầu bắt buộc cần có để đạtChuẩn y tế quốc gia theo bộ tiêu chí mới được ban hành Trong định hướngchiến lược chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân đến năm 2020 nêu rõ: "Ứngdụng các kỹ thuật thích hợp có thể phổ cập ở các tuyến tỉnh, huyện, xã để nângcao chất lượng khám chữa bệnh Tăng cường chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng
và tại gia đình", "Đổi mới công tác y tế để đáp ứng tốt CSSK nhân dân", "Cungứng thuốc thiết yếu cho đối tượng chính sách, người nghèo" Cùng với sự hỗ trợngân sách của Nhà nước, các TYT xã/phường về cơ bản đã đi vào hoạt động ổnđịnh, thực hiện được các nhiệm vụ dự phòng, điều trị, cấp cứu ban đầu và phụchồi chức năng Khi cơ cấu kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, việc CSSK được thực hiện theo phương châm "Nhànước và nhân dân cùng làm" Thực hiện xã hội hoá công tác y tế và đa dạng hoácác loại hình dịch vụ CSSK, nhà nước cho phép thu một phần viện phí (từ năm1989), bảo hiểm y tế (từ năm 1992), các DVYT tư nhân được hoạt động vàngười dân có quyền lựa chọn cơ sở DVYT nào phù hợp, đáp ứng được nhu cầutrong chăm sóc sức khỏe của họ
1.2.3 Cuộc sống người cao tuổi
Trang 16Người Việt Nam có truyền thống hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ NgườiViệt nào cũng xem mình có bổn phận đền đáp công lao sinh thành dưỡng dụccủa cha mẹ
“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”,
Do truyền thống tốt đẹp đó mà gia đình trở thành đơn vị gốc của xã hội.Người già có một chỗ dựa nào đó trong cái đơn vị gốc này Những người thiếumay mắn, không con cái, thì vẫn có thể nhờ vả bà con nội ngoại
Cũng do truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà cuộc sống chung giữa ngườigià và người trẻ dưới mái ấm của gia đình thường rất hài hòa, ổn định Trong xãhội Tây phương sự sống chung này không nhiều vì mỗi bên đều muốn có sựriêng tư Khi cả hai vợ chồng đều đi làm thì các cụ trở thành quản gia cho họ.Khi họ có con nhỏ, các cụ kiêm luôn việc giữ trẻ, đôi khi phụ trách cả công việcbếp núc Các cụ vui vẻ làm những công việc đó cho con cái, không than phiền
Sự xung khắc do khoảng cách tuổi tác ít khi xẩy ra, chỉ trừ một số rất nhỏ trongđó hoặc dâu, rể đã tiêm nhiễm nặng chủ nghĩa cá nhân Âu Mỹ
Trong trường hợp này, các cụ tuy bị khổ tâm không ít, nhưng vì thươngcháu nên không nỡ đoạn tuyệt với dâu rể Sự khổ tâm, chịu đựng này có thể đưađến những hậu quả tâm thần trầm trọng Một số các cụ cảm thấy cô đơn vìkhông có bạn đồng trang lứa để hàn huyên, trao đổi Các cụ không thích đến cáctrung tâm cao niên để giải trí như người địa phương, đôi khi vì thiếu phương tiện
di chuyển Mà các trung tâm này cũng chỉ có ở các thành phố có đông ngườimình định cư, và số người tham dự vẫn ít oi Nói tóm lại, môi trường thích hợpnhất đối với các cụ vẫn là gia đình trong đó các cụ sống thoải mái giữa đông đảocon cháu Tâm lý chung là các cụ thường chọn ở với con trai vì theo quan niệmĐông phương, dâu là con mà rể là khách, các cụ thà nhờ vả nương tựa con trai
và con dâu hơn.Quan niệm này khác với quan niệm Tây phương, đặc biệt làngười Mỹ Họ cho rằng con trai chỉ là con cho tới khi nó lấy vợ, còn con gái thì
là con của họ suốt đời (A son is a son until he gets a wife, a daughter is a
Trang 17daughter all her life ) Quả thật khi người con trai Mỹ lấy vợ thì đương sự đặttrọng tâm sinh hoạt vào nhà vợ, tách khỏi cha mẹ trong nhiều khía cạnh củacuộc sống.
Sống dưới mái ấm đại gia đình, các cụ ta hưởng được sự chăm sóc cả vậtchất lẫn tinh thần Trong các gia đình Việt Nam còn giữ được nền nếp cổ truyền,các cụ do tuổi tác được con cháu trọng nể, đương nhiên trở thành những nhânvật tiêu biểu cho trật tự và tình đoàn kết của các thành phần trong gia đình Cáccụ giữ vai trò xúc tác cho mọi hoạt động của các con cháu nhằm thăng tiến,hướng thượng và xây dựng hạnh phúc cho mọi người Vai trò của các cụ trongviệc tiếp tay giáo dục trẻ con không bị hạn chế, chống đối như các cụ già trong
xã hội Âu Mỹ
1.2.4 Chăm sóc người cao tuổi
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là trách nhiệm của mỗi cá nhân, giađình, cộng đồng và xã hội Hiện, nhà nước đã có những chính sách ưu đãi vềkhám chữa bệnh cho nhóm người này Nhưng, về tổng thể chúng ta vẫn chưađáp ứng được nhu cầu được chăm sóc một cách toàn diện bởi lối sống hiện đại
và sự ô nhiễm môi trường, gánh nặng bệnh tật của người dân nói chung, đặcbiệt là NCT nói riêng đang có sự thay đổi một cách mạnh mẽ Theo một nghiêncứu gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), những người cao niên bị mắcbệnh nan y như tim mạch, đột quỵ và bệnh phổi ở những nước có thu nhậptrung bình và thấp sẽ bị thiệt thòi, giảm tuổi thọ 3 lần so với người già ở nhữngquốc gia phát triển Ngoài ra nhóm người già ở những nước nghèo còn phátsinh thêm các bệnh về mắt và tai do chi phí y tế thấp, thiếu thuốc men và chấtlượng thuốc kém…
Trước thực tế, số lượng người già tăng, tuổi thọ kéo dài và các bệnh nan ymãn tính ngày càng gia tăng đòi hỏi chúng ta phải có một chính sách hợp lý vàhữu hiệu để cải thiện và nâng cao sức khỏe cho NCT Đặc biệt, công tác khám,chữa bệnh cho NCT vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức Mặc dù, cáctrung tâm chăm sóc sức khỏe NCT được xây dựng khá nhiều, song tình trạng
Trang 18thiếu hụt nhân lực chăm sóc NCT ở các trung tâm này là một vấn đề đáng quantâm, xuất phát từ quan niệm cho rằng việc chăm sóc NCT ở nước ta chưa phải làmột nghề, do đó người điều dưỡng chưa được trang bị đầy đủ về tâm lý, kỹ năngtiếp cận cũng như chăm sóc người già Và vì nhiều lý do khác nhau, tình trạngcác cụ phải tự bỏ tiền để khám chữa bệnh vẫn còn phổ biến, do vậy chi phí khámchữa bệnh đã, đang là một gánh nặng cho người cao tuổi và gia đình Không chỉcó vậy, Hội Xã hội học Việt Nam, cho đến nay ở phạm vi quốc tế cũng như ởnước ta tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về sức khỏe của NCT Tuy nhiêncác nghiên cứu đó thường chỉ tập trung vào việc nghiên cứu bệnh tật của NCT(rất nhiều nghiên cứu về bệnh tim mạch, về dinh dưỡng, về các bệnh mà NCTthường gặp phải) Hiện nay còn rất thiếu vắng những nghiên cứu xã hội học mộtcách toàn diện về nhóm NCT, bản thân ông cũng đã tiến hành vài chục côngtrình nghiên cứu khoa học về các nhóm xã hội khác nhau như nghiên cứu vềcông nhân, nông dân, phụ nữ, trí thức, thanh niên, thiếu niên, trẻ em … nhưngchưa có công trình nghiên cứu nào về nhóm xã hội đặc thù này Một trongnhững lý do dẫn đến việc có ít công trình nghiên cứu toàn diện về trước hết vềmặt nhận thức, vai trò to lớn của NCT trong xã hội đã không được nhìn nhậnđúng mức Hầu như sự đầu tư của nhà nước, của các tổ chức xã hội và hỗ trợquốc tế cho nghiên cứu khoa học về NCT rất ít Cũng chính vì vậy mà hoạt động
hỗ trợ, chăm sóc và phát huy vai trò của NCT đã không được chú trọng Cũngtheo nhận xét của TS Chung Á, tuy Hội NCT đã được thành lập từ lâu và pháttriển thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở, nhưng nội dung và hình thức hoạtđộng còn rất nghèo nàn, chủ yếu là một số hoạt động câu lạc bộ, là chăm lo thămhỏi ốm đau và tang lễ cho những NCT qua đời…
Vai trò báo chí trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Năm 1982, lần đầu tiên Liên Hợp Quốc triệu tập Đại hội thế giới về ngườicao tuổi họp tại Vienna (Thủ đô nước Cộng hòa Áo) đã đưa ra “Chương trìnhhành động quốc tế về người cao tuổi” trong 50 năm Chương trình hành động đãthống nhất đưa ra 50 điều khuyến cáo, bao quát 6 mục tiêu lớn về người cao tuổi
Trang 19trong đó mục tiêu về sức khỏe và dinh dưỡng của NCT được đề cập đầu tiên.Văn kiện này đã định hướng cho tư duy và hành động về NCT với nhiều chínhsách và sáng kiến quan trọng Ngày 14/12/1990, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
đã bỏ phiếu tán thành việc lấy ngày 01/10 hàng năm là Ngày quốc tế NCT (Nghịquyết số 45/106) Ngày quốc tế NCT được tổ chức để nâng cao nhận thức về cácvấn đề ảnh hưởng đến NCT Trên cơ sở rà soát những kết quả đạt được, LiênHợp Quốc tiếp tục thông qua “Nguyên tắc đạo lý của Liên Hợp Quốc đối vớingười cao tuổi” (Nghị quyết số 45/91) bao gồm 5 nguyên tắc về đảm bảo cácquyền của NCT trong đó quyền được chăm sóc khi cần thiết cũng được đề cậpđến Năm 1992, Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua Nghị quyết số 4/86 nêu lênnhững mục tiêu toàn cầu về NCT trong giai đoạn 1997-2001 Tuyên ngônBrasillia của TCYTTG (năm 1996) cũng chỉ rõ CSSK cho NCT là công việc củamọi cấp, mọi ngành “Tuổi già khỏe mạnh là nguồn lực của gia đình, của cộngđồng và toàn xã hội” TCYTTG cho rằng già hóa dân số không tác động xấu tới
sự phát triển của một quốc gia nếu chính phủ và các tổ chức quốc tế có chínhsách và chương trình “Già hóa tích cực” nhằm tăng cường sức khỏe, đảm bảotham gia xã hội và an ninh cho các công dân cao tuổi Năm 2002, Đại hội đồngLiên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị thế giới lần thứ 2 về NCT tại Madrid (TâyBan Nha) thông qua văn kiện chiến lược mới (Chương trình hành động) nhằmhướng dẫn các hoạt động chính sách về người cao tuổi trong thế kỷ 21 Mục tiêucủa chương trình hành động bao gồm: (1) nhận thức đầy đủ về nhân quyền vàcác quyền tự do cơ bản của NCT, tạo điều kiện để NCT có thể tham gia mộtcách đầy đủ và hiệu quả vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, kể cả các hoạtđộng có thu nhập hoặc tình nguyện; (2) nhận thức được tầm quan trọng của giađình, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thế hệ, sự đoàn kết và tương trợ vì sự pháttriển xã hội, cung cấp việc chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ và bảo trợ xã hội cho NCT
kể cả y tế dự phòng và phục hồi chức năng; (3) tăng cường và bảo vệ quyền conngười, tự do ở bản thân và bảo vệ nhân phẩm là yếu tố cơ bản đảm bảo sự tôntrọng và NCT đáng được hưởng Đây là một văn kiện quan trọng của Liên Hợp
Trang 20Quốc giúp cho việc hoạch định các chính sách cho NCT Chính sách chăm sócngười cao tuổi ở Việt Nam hiện nay đang là một thách thức không nhỏ đối vớitoàn nhân loại trong thế kỷ XXI Đó là vấn đề chăm sóc sức khỏe cho một sốlượng lớn người cao tuổi trong cộng đồng Nhận thức rõ được ý nghĩa và tầmquan trọng của công tác CSSK NCT, phát huy truyền thống tốt đẹp của nhân dân
ta, Đảng và Nhà nước coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất, tinh thầncủa NCT trong đó có chăm sóc sức khỏe là đạo lý của dân tộc, là trách nhiệmcủa toàn Đảng, toàn dân và các cấp chính quyền Điều này đã được thể hiện quaviệc ban hành nhiều văn bản chính sách của Nhà nước trong công tác chăm sócngười cao tuổi Từ năm 1946, Điều 14 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủCộng hòa đã khẳng định “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm đượcviệc thì được giúp đỡ” Qua các lần sửa đổi, bổ sung, các bản Hiến pháp vẫn kếthừa và phát triển những quy định đó Điều 64, Hiến pháp năm 1992 quy định
“Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” Điều 67 cũngghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhànước và xã hội giúp đỡ” Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Chăm sóc và bảovệ sức khỏe nhân dân trong đó tại Chương VII đề cập đến vấn đề bảo vệ sứckhỏe NCT, tại điều Điều 41 ghi rõ: “NCT được ưu tiên trong khám bệnh, chữabệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏecủa mình” Ngay sau khi nhận được Nghị quyết 45/106 ngày 26/8/1991 về việclấy ngày 01 tháng 10 hàng năm là ngày quốc tế NCT của Đại hội đồng Liên HợpQuốc, ngày 01/10/1991 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (nay là Chủ tịchnước) đã ra lời kêu gọi các cụ phụ lão cũng như đồng bào cả nước nhiệt liệthưởng ứng quyết định của Liên Hợp Quốc Lời kêu gọi đã khẳng định “Chămsóc sức khỏe người cao tuổi là một chính sách rất quan trọng và nhất quán củaĐảng và nhà nước ta” Chỉ thị số 59–CT/TW ngày 27/9/1995 của Ban Chấphành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về chăm sóc NCT yêu cầu các cấp,các ngành: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi làtrách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội”; “Nhà nước cần dành ngân
Trang 21sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người caotuổi” Pháp lệnh về NCT số 23/2000 PL-UBTVQH ngày 28/04/2000 của Ủyban thường vụ Quốc hội khẳng định rằng “Việc phụng dưỡng người cao tuổi làtrách nhiệm chủ yếu của gia đình có người cao tuổi, người cao tuổi cô đơn,không nơi lương tựa, không có nguồn thu nhập được Nhà nước và xã hội trợgiúp” Pháp lệnh là cơ sở pháp lý cho các hoạt động xã hội về NCT Nghị định
số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Thủ tướng chính phủ về chính sách trợgiúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, ngày27/02/2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP.Các chính sách này quy định rõ các hình thức hỗ trợ cho NCT cô đơn, thuộc hộgia đình nghèo; NCT còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu,người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo và đặc biệt là người từ
85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội Luật NCT (số39/2010/QH12) được Quốc hội ban hành có hiệu lực từ ngày 01/07/2010 Luậtquy định NCT là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên Luật NCT đã thể hiện rất
rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của xã hội ta.Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quyđịnh, NCT sẽ được chăm sóc sức khỏe thông qua việc định kì khám, chữa bệnhtại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên Các bệnh viện sẽthành lập các khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh caotuổi Người cao tuổi được chăm sóc đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạtđộng văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, hưởng phúc lợi từ cáccông trình công cộng và giao thông công cộng do Nhà nước và xã hội đầu tư.Không chỉ có Luật NCT quy định về chăm sóc và phát huy vai trò người caotuổi, Việt Nam còn có Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật Hôn nhân và Giađình, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Phòng chống bạolực gia đình… đều có các quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa người cao tuổi Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục pháthuy vai trò của NCT vừa là nghĩa vụ và là trách nhiệm của toàn xã hội Cùng với
Trang 22sự phát triển của kinh tế - xã hội, mặc dù chưa thực sự được toàn diện nhưngnhững văn bản, chính sách trên cũng đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng,Nhà nước đối với lớp người đã có đóng góp hết sức to lớn trong suốt chiều dàidựng nước và giữ nước của dân tộc Và chính nội dung của những chính sách,Nghị định, Thông tư, Pháp lệnh của Nhà nước, của công tác xã hội đã tạo nênmột môi trường pháp lý hành chính bắt đầu cho sự nghiệp chăm sóc người caotuổi Từ khi đất nước đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm,tạo điều kiện, mở ra nhiều mô hình quản lý và CSSK cho NCT hiệu quả, phùhợp với đối tượng và từng vùng miền Để phát huy lâu dài, bền vững và hiệuquả các mô hình chăm sóc người cao tuổi, cần phải có sự quan tâm tham gia củatất cả các ban, ngành, đoàn thể và toàn thể cộng đồng
Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình khác với mô hình con cháu,người thân trong gia đình chăm sóc NCT trong xã hội truyền thống, ngày nayvới sự phát triển của kinh tế thị trường chăm sóc tại gia đình được hiểu là các
mô hình chăm sóc lưu động mang chất lượng của các gói dịch vụ nhỏ đến vớiNCT ngay tại gia đình họ Loại hình chăm sóc này ngày càng được áp dụngnhiều trong cuộc sống hàng ngày bởi tính thiết thực của nó và ngày càng hoànthiện hơn, thu hút được sự cổ vũ, ủng hộ tích cực từ phía dư luận xã hội Mỹ làmột trong những quốc gia hàng đầu về phát triển y học gia đình Ở đây y học giađình được tập trung vào người bệnh với 6 nguyên tắc: liên tục, toàn diện, phốihợp, cộng đồng, phòng bệnh và gia đình Những nguyên tắc này tạo nên sứcmạnh giúp các thành viên trong gia đình dự phòng, điều trị CSSK ở bất kỳ lứatuổi nào Khi NCT có vấn đề về sức khỏe có thể gọi điện đến các phòng khám
và được các bác sĩ chuyên khoa theo yêu cầu đến khám, cung cấp thuốc và điềutrị tại chỗ Nếu NCT có nhu cầu theo dõi bệnh hàng ngày hoặc điều trị bệnhthường xuyên như truyền, tiêm thuốc, châm cứu, hướng dẫn tập luyện các bác
sỹ sẽ lập sổ sách theo dõi, lên phác đồ điều trị và thăm khám bệnh định kỳ Đây
là mô hình CSSK tin cậy nhất không chỉ phù hợp với NCT mà còn thích hợp với
cả trẻ em, phụ nữ mang thai và đối tượng khác, hạn chế được quá trình tiến triển
Trang 23hoặc biến chứng của bệnh khi người bệnh di chuyển hoặc do bệnh tật và thời tiếtmang lại Tính ưu việt của mô hình này còn thích hợp với NCT khi tránh hoặcrút ngắn thời gian nằm viện của họ Đây còn là mô hình KCB và tư vấn hiệu quảcho NCT trong gia đình qua điện thoại hoặc trực tiếp Song, mô hình này cũngcó những hạn chế nhất định như giá của dịch vụ dao động khá nhiều, phụ thuộcvào nhu cầu và đi hỏi cung cấp dịch vụ từ phía gia đình, chỉ sử dụng và tiếp cậnđược đối với những gia đình có kinh tế khá giả Cách tiếp cận này không phùhợp với NCT ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo, đối tượng ngườinghèo Một số giải pháp định hướng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở nước
ta là lớp người đã có nhiều đóng góp to lớn trong suốt chiều dài lịch sử dựngnước và giữ nước của dân tộc Bề dày kinh nghiệm, chiều sâu trí tuệ, bản lĩnhcách mạng kiên cường, nhân hậu và sự khao khát đóng góp vào sự nghiệp đổimới của đất nước là những phẩm chất cao quí để lớp NCT trở thành chỗ dựa tincậy cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần
và tiếp tục phát huy vai trò của NCT là tình cảm, nghĩa vụ và trách nhiệm củatoàn xã hội Hiện nay, công tác CSSK cho NCT chủ yếu vẫn từ phía gia đình,vai trò của cộng đồng và xã hội vẫn còn khá khiêm tốn Việc phát huy và ứngdụng có hiệu quả các mô hình quản lý và chăm sóc NCT ở Việt Nam trong tìnhhình mới là một thách thức không nhỏ, đi hỏi sự tham gia, vào cuộc mạnh mẽcủa các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể xã hội trong chămsóc NCT Mục đích cuối cùng là làm cho người cao tuổi được sống vui, sốngkhỏe và sống có ích Bên cạnh những việc đã làm được cho NCT về cả phươngdiện vật chất lẫn tinh thần, công tác CSSK NCT vẫn còn tồn tại những khó khăn,bất cập, trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện, làm ảnh hưởng không nhỏtới hiệu quả công tác chăm sóc NCT Việt Nam trong thời gian qua Vì vậy, đểcông tác CSSK cho NCT được tốt hơn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp
và định hướng sau: - Tăng cường sức khỏe và CSSK người cao tuổi, phòng bệnhbao gồm ngăn ngừa và quản lý các loại bệnh thường xảy ra khi tuổi cao: + Đẩymạnh các hoạt động “truyền thông giáo dục sức khỏe” để nâng cao kiến thức
Trang 24cho NCT trong việc phòng, chống các bệnh thường gặp ở NCT cũng như hướngdẫn cách tự tăng cường và chăm sóc sức khỏe + Tăng cường quản lý và kiểmsoát các bệnh mạn tính; ứng dụng các kỹ thuật mới, hiện đại trong chẩn đoán vàđiều trị sớm, điều trị lâu dài các bệnh mạn tính ở NCT như: tim mạch, cao huyếtáp, thoái hóa khớp, tiểu đường, ung thư Tăng cường hỗ trợ NCT trong việc sửdụng các dụng cụ hỗ trợ - Đảm bảo cho mọi người có thể tiếp cận một cáchbình đẳng với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe: + Phân bố bình đẳng các nguồnlực về y tế và phục hồi chức năng cho NCT, đặc biệt là những NCT nghèo, côđơn, NCT ở các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa Bảo đảm sựtiếp cận bình đẳng đối với hệ thống chăm sóc chính thức qua các dịch vụ y tế và
xã hội + Khẩn trương xây dựng và củng cố mạng lưới y tế CSSK người caotuổi, đặc biệt là mạng lưới kiểm soát các bệnh mạn tính ở người cao tuổi - Tăngcường năng lực Quốc gia về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi: + Ưu tiên đầu tưphát triển Viện Lão khoa Quốc gia để chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật cho toàn
bộ hệ thống lão khoa trên phạm vi cả nước Thiết lập mạng lưới lão khoa trênphạm vi toàn quốc + Đưa nhiệm vụ kiểm soát bệnh không lây truyền, mạn tínhvào nội dung CSSK nhân dân tại tuyển cơ sở, gắn với các nhiệm vụ của công tác
y tế dự phòng, dân số và kế hoạch hóa gia đình + Xây dựng các mô hình chuẩn
“Chăm sóc cho NCT dựa vào cộng đồng”; từng bước phát triển mạng lưới vànâng cao năng lực chăm sóc NCT tại nhà Từng bước xây dựng và quản lý thốngnhất mạng lưới Trung tâm điều dưỡng người cao tuổi trên cơ sở nhu cầu thực tế
và điều kiện của từng địa phương - Tăng cường công tác đào tạo và nghiên cứuliên quan đến sức khỏe người cao tuổi: + Thành lập bộ môn Lão khoa tại các cơ
sở đào tạo y khoa Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo
“Điều dưỡng Lão khoa” phù hợp với nhu cầu nguồn nhân lực của mạng lướichăm sóc người cao tuổi và điều kiện thực tế của vùng miền trong từng giaiđoạn + Cung cấp thông tin và nội dung giáo dục về “Già hóa tích cực” vào cácchương trình đào tạo, tập huấn cho NVYT Xây dựng và tổ chức thực hiện cácchương trình đào tạo “Người chăm sóc không chính thức”; cung cấp thông 39
Trang 25tin, tập huấn về cách thức chăm sóc NCT cho các thành viên gia đình, bạn bèđồng niên và những người chăm sóc không chính thức khác + Tăng cườngnghiên cứu, giám sát thực hiện các chính sách để có những điều chỉnh thích hợp,đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, thực hiện chuyển giao công nghệ quản lý vàCSSK người cao tuổi - Xây dựng chính sách thích ứng với xã hội già: + Cảicách khu vực công sẽ tập trung vào CSSK, lương hưu và an sinh xã hội; triểnkhai các cơ chế chia sẻ trách nhiệm, hỗ trợ tài chính cho NCT + Xác định vàchuẩn hóa tốt hơn các công cụ đánh giá chức năng và mức độ tàn phế làm cơ sở
để hoạch định chính sách và lập kế hoạch can thiệp trong y học và y tế + Xâydựng và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, hợp tác quốc tế để cóthể đương đầu với sự bùng nổ của các bệnh không lây truyền, mạn tính Xâydựng và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về CSSK NCT; xác địnhmột số mục tiêu lượng hóa được, đặc trưng cho từng giới + Tập trung nỗ lực,huy động sự tham gia của cộng đồng và xã hội trong các chương trình, dự ántăng cường sức khỏe, phòng bệnh, kiểm soát gánh nặng bệnh gắn với các hoạtđộng phát triển cộng đồng + Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sáchkhuyến khích các thành phần kinh tế, cộng đồng, gia đình và cá nhân chăm sócngười cao tuổi, tham gia dịch vụ bảo hiểm nhân thọ - Xây dựng một xã hội hàihòa cho mọi lứa tuổi: + Tạo dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi +Củng cố hình ảnh của NCT trong xã hội hiện đại + Tăng cường tuyên truyền,phổ biến, giáo dục, thực hiện nghiêm pháp luật và các quy định bảo vệ và chămsóc người cao tuổi
1.2.2 Cơ sở đạo lý của vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Chăm sóc sức khỏe cho NCT là phòng, chống sự già hóa quá sớm, đểphòng và chữa trị các bệnh tuổi già sinh ra bằng nhiều biện pháp khác nhau quađó nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe (về cả thể xác lẫn tinh thần), giảm thiểucác bệnh mạn tính, tàn phế và tử vong khi bước vào tuổi già Nhu cầu CSSK ởNCT khác với những nhóm tuổi khác Các nhu cầu chăm sóc của NCT gồm:CSSK tâm thần, tâm lý, phục hồi về thính lực và thị lực, chăm sóc vệ sinh răng
Trang 26miệng, dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý và an toàn, phục hồi chức năng, nhà ở, môitrường sống và phòng, chống giảm các yếu tố nguy cơ Nhu cầu CSSK là nhữngyêu cầu cấp thiết của NCT không chỉ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà cònphụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, giá thành, mức độ bệnh, khoảng cách vàkhả năng tiếp cận với các cơ sở CSSK của từng người Ở nhiều nước trên thếgiới, việc chăm sóc NCT chủ yếu là do cá nhân NCT hoặc những người chămsóc không chính thức gồm người thân, bạn bè và làng xóm (chủ yếu là phụ nữ).Ngay cả khi đã có các dịch vụ chăm sóc chính thức phù hợp thì chăm sóc khôngchính thức vẫn đóng vai trò chủ đạo Tại các nước đang phát triển, NCT nghèo,
cô đơn, không nơi nương tựa, NCT sống ở nông thôn, vùng xa trung tâm rất ítcó cơ hội hoặc không thể tiếp cận được với các dịch vụ CSSK cần thiết Mặtkhác, ở nhiều quốc gia xu hướng dân số không kết hôn hoặc kết hôn nhưng sinhcon muộn lại đang có chiều hướng gia tăng dẫn đến mức sinh giữ ở mức thấphơn mức sinh thay thế Số con trung bình của lớp người cao tuổi tương lai giảm
đi rõ rệt, qua đó góp phần làm giảm sự hỗ trợ từ chính phía gia đình họ Ở ViệtNam, nhu cầu CSSK của người cao tuổi là rất lớn (chiếm 84,4%) trong khi điềukiện tự thân của người cao tuổi còn rất hạn chế Tình trạng NCT sống không cóvợ/chồng chiếm tỷ lệ cao (14%), trong đó NCT nữ cô đơn cao gấp 5,44 lần sovới NCT nam; phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân gấp 2,2 lần so với nam giới.Việc phải sống một mình là điều kiện rất bất lợi đối với NCT, bởi gia đình luôn
là chỗ dựa cơ bản cho mỗi thành viên khi về già Nhu cầu KCB giữa 2 khu vựcthành thị và nông thôn không có nhiều khác biệt song ở khu vực nông thôn một
tỷ lệ không nhỏ nhu cầu KCB chưa được đáp ứng Tỷ lệ NCT điều trị 1 lầntrong 12 tháng chiếm 29,6%, điều trị 2 lần chiếm 28,7%, điều trị 3 lần chiếm15,8%, điều trị 4 lần chiếm 9,3% và điều trị 5 lần trở lên chiếm 16,7% Nhu cầuchăm sóc sức khỏe ở NCT không chỉ là đơn thuần là những chăm sóc hằng ngàynhư nuôi dưỡng, chăm sóc khi ốm đau, NCT còn có nhu cầu rất cao đó là đượcchăm sóc về tinh thần Theo Nguyễn Đình Cử, về mặt tinh thần, có 13% NCTgặp trắc trở, 60% thấy bình thường, chỉ có 20% cảm thấy thoải mái Ngày nay,
Trang 27cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, gia đình nhiều thế hệ bắt đầu có xuhướng chuyển thành gia đình hạt nhân Hiện tượng này thường gặp ở khu vựcthành thị, nhưng hiện tại cũng đã trở nên phổ biến ở khu vực nông thôn Mặtkhác, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa ngày càng tăngnhanh, người dân sống ở vùng nông thôn có xu hướng di dân vào thành phố đểtìm kiếm việc làm đặc biệt là những thanh niên trẻ làm quy mô gia đình giảm,phụ nữ trở thành lao động chính, dẫn tới sự hỗ trợ từ phía gia đình trong CSSKNCT là rất hạn chế Đây là một gánh nặng đối với NCT và làm cho nhu cầuchăm sóc về tinh thần của NCT từ con cái không được đáp ứng như mong đợi.Vì vậy, nhà nước, gia đình, cộng đồng cần quan tâm hơn nữa, cải thiện đời sốngvật chất của NCT nhưng đồng thời phải chăm sóc hơn về mặt tinh thần thôngqua những việc làm cụ thể, thiết thực như giáo dục cho con cháu biết quan tâm,kính trọng ông bà, cha mẹ, xây dựng mô hình CSSK toàn diện cho NCT, đảmbảo cho NCT được chăm sóc tốt hơn ngay tại nơi họ sinh sống Khả năng tiếpcận DVYT hoàn toàn khác việc sử dụng dịch vụ y tế Việc có sử dụng DVYThay không phụ thuộc vào mức độ bệnh tật, sự sẵn có của DVYT và nhiều yếu tốkhác Tiếp cận bao gồm cả 2 phía, phía người cao tuổi và dịch vụ y tế, phụ thuộcvào nhiều yếu tố: không gian, thời gian, chi phí, sự sẵn có, chất lượng dịch vụ,văn hóa xã hội và con người Mặc dù Đảng và Nhà nước đã hết sức quan tâm tớituyến y tế cơ sở nhưng do điều kiện kinh tế nên hầu hết các TYT xã vẫn chưa cókhu vực KCB dành riêng cho NCT cũng như quy định nhiệm vụ riêng trongKCB cho người cao tuổi Tuy nhiên, phần lớn người cao tuổi từ 60 - 80 tuổi vẫnchưa có một chế độ ưu đãi riêng nào về vấn đề này Vì vậy, chi phí KCB choNCT dưới 80 tuổi cũng là vấn đề cần được quan tâm Đặc biệt, những người caotuổi sống ở khu vực nông thôn, có nguồn thu nhập thấp và chủ yếu là từ sản xuấtnông nghiệp, rất nhiều người trong số đó không đủ tiền để đến các cơ sở y tếkhám chữa bệnh - Sự sẵn có và chất lượng dịch vụ: trình độ chuyên môn,phương tiện kỹ thuật, trang thiết bị là những điểm mấu chốt trong việc lựachọn dịch vụ của NCT Mong muốn chung của NCT là được thầy thuốc giỏi, có
Trang 28kinh nghiệm KCB và CSSK Vì vậy, để nâng cao chất lượng dịch vụ CSSK choNCT tại tuyến y tế cơ sở cần phải quan tâm hơn nữa tới việc đào tạo đội ngũ cán
bộ y tế, đặc biệt là cán bộ chuyên ngành lão khoa cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng,trang thiết bị - Văn hóa xã hội: Đây là yếu tố liên quan đến thái độ ứng xử vàkhả năng giao tiếp trong CSSK cho NCT, thái độ của các thành viên trong giađình, tâm lý ngại phiền hà con cái, muốn được chết ở nhà… là những yếu tố ảnhhưởng không nhỏ đến việc lựa chọn cơ sở KCB của người cao tuổi Ở nước ta
đa phần người cao tuổi sống ở nông thôn nên số NCT phụ thuộc kinh tế vào concái là tương đối lớn Tâm lý ngại phiền hà con cái (về cả kinh tế và thời gian)thường gặp ở người cao tuổi nữ Đây cũng là đặc điểm mang tính văn hóa củaphụ nữ Việt Nam nói riêng và Á Đông nói chung - Yếu tố con người: trong đóvai trò của bình đẳng giới cũng như trình độ học vấn, hiểu biết về sức khỏe lànhững yếu tố quyết định hành vi tìm kiếm DVYT của NCT Vai trò thấp trong
xã hội cũng là yếu tố làm hạn chế tính tự chủ trong việc ra quyết định, bao gồm
cả quyết định CSSK cho chính bản thân NCT Việc lựa chọn nơi KCB thường
do chồng hoặc những thành viên chủ chốt khác trong gia đình quyết định Thờigian chờ đợi, sự bất đồng về ngôn ngữ giữa nhân viên y tế và người bệnh cũng
là những rào cản trong tiếp cận DVYT của người dân nói chung cũng như ngườicao tuổi nói riêng Bên cạnh các yếu tố trên, còn tuỳ thuộc vào từng trường hợpbệnh lý và thói quen của NCT khi lựa chọn dịch vụ CSSK, đặc biệt là những địađiểm mà NCT thường sử dụng và có niềm tin từ trước Như vậy, việc tiếp cậndịch vụ CSSK của người cao tuổi còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi niềm tin màNCT đã tạo lập trong suốt cuộc đời đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Tuy nhiên, người cao tuổi nước ta vẫn còn thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ y
tế Tỷ lệ người cao tuổi sử dụng bảo hiểm y tế thấp, hơn 30% NCT không có bất
kỳ một hình thức bảo hiểm y tế nào Tỷ lệ NCT có bảo hiểm y tế tự nguyện mớiđạt khoảng 50% Mặc dù Luật Bảo hiểm y tế đã ban hành nhưng vẫn cònkhoảng ¼ NCT từ 80 tuổi trở lên chưa được hưởng bảo hiểm y tế miễn phí, gầnmột nửa NCT không đủ tiền chi trả các dịch vụ CSSK Hơn 40% số họ vẫn phải
Trang 29tự chi trả cho việc điều trị và thuốc men cần thiết Vì vậy, một trong những ràocản khiến NCT không được tiếp cận dịch vụ y tế là không có tiền và không cóngười trợ giúp đưa tới cơ sở y tế Mặt khác, cả nước có rất ít bệnh viện có khoalão khoa, thậm chí mới có hai cơ sở chuyên khoa điều trị về lão khoa Nhận thức
về NCT của xã hội chưa đúng tầm trong khi Việt Nam đã chính thức bước vàogiai đoạn già hóa dân số Hơn 50% người cao tuổi được phỏng vấn chỉ biết vềquyền được trợ cấp, mừng thọ Cần hiểu biết về các quyền lợi khác như ưu tiên
sử dụng DVYT, giảm giá các dịch vụ công cộng, trợ giúp pháp lý, miễn thuế thunhập, ưu tiên vay vốn lãi suất thấp… khá khiêm tốn Ngày nay, do điều kiệnkinh tế phát triển, có trên 65% số hộ có xe máy, 70,6% hộ có tivi và 6,5% số hộcó điện thoại, đó là những yếu tố cần thiết làm dễ sự tiếp cận của người bệnh với
cơ sở y tế Như vậy, với chủ trương đa dạng hoá các loại hình tổ chức sức khỏe,hoạt động y tế tư nhân ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức thích hợp,tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận cácDVYT, bổ sung nguồn nhân viên y tế CSSK tại nhà, đáp ứng nhu cầu ngày càngcao trong CSSK của nhân dân
Việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi:
Là khả năng và mức độ được cơ sở y tế (CSYT) cung ứng các dịch vụchăm sóc, phát hiện và điều trị bệnh khác nhau theo nhu cầu và mức độ bệnhcủa mỗi người dân khi ốm đau Điều này không chỉ phụ thuộc vào ý muốn chủquan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, giá thành, mức độ bệnh,khoảng cách và khả năng tiếp cận của người dân Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởngđến sử dụng dịch vụ CSSK là kinh tế, người sử dụng dịch vụ và người cung cấpdịch vụ - Kinh tế: Đây là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất đối với người cóthu nhập thấp Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không luôn songhành Nghĩa là, một khi đã sử dụng thì có thể bao hàm cả yếu tố tiếp cận, songtiếp cận không có nghĩa là phải sử dụng Bởi vậy, việc có sử dụng dịch vụ chămsóc sức khoẻ hay không lại phụ thuộc vào mức độ bệnh hiện thời, sự tác động tưvấn của thầy thuốc và nhiều yếu tố khác
Trang 30Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi Nghiên cứu nhucầu chăm sóc sức khỏe và tình hình sử dụng DVYT, những yếu tố tác động đếnviệc lựa chọn dịch vụ của NCT, giúp cho việc tổ chức hệ thống cung ứng DVYTphù hợp hơn và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Một điều rấtquan trọng là người sử dụng DVYT sẽ có tác động đến hoạt động của hệ thốngcung ứng DVYT, chứ không phải do những người cung ứng DVYT quyết định.
Tự điều trị và đến cơ sở y tế tư nhân là hình thức sử dụng DVYT phổ biến trong
xử trí ban đầu của NCT khi bị ốm
Vấn đề huy động nguồn lực và các hình thức chăm sóc người cao tuổi
Phụ nữ cao tuổi khi bị ốm có xu hướng tự điều trị và sử dụng DVYT tưnhân cao hơn nam giới (43% so với 32,2%); có 27,3% NCT nữ đến KCB ở các
cơ sở y tế tư nhân, trong khi tỷ lệ này ở NCT nam là 19,3% Bên cạnh đó, xuhướng lựa chọn cơ sở KCB là bệnh viện cũng không giống nhau ở các nhómtuổi khác nhau Tuổi càng cao xu hướng KCB tại bệnh viện ít hơn Những ngườitrên 85 tuổi có tỷ lệ KCB tại bệnh viện thấp hơn nhóm tuổi 60-64 tuổi hơn 2 lần.Qua các nghiên cứu trên ta thấy số lượng NCT được KCB, sử dụng các DVYTchưa nhiều Mức độ sử dụng DVYT không đồng đều giữa các khu vực, vùng,miền và đặc điểm kinh tế nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sự công bằng trongCSSK NCT Vì vậy, vấn đề quan trọng là cần phải tìm ra giải pháp nhằm nângcao sức khỏe cho NCT, nhất là người cao tuổi sống ở vùng nông thôn, vùng xatrung tâm, miền núi, NCT cô đơn không nơi nương tựa
Khả năng đáp ứng nhu cầu CSSK của các cơ sở y tế bao gồm các yếu tố: Nhânlực y tế (cán bộ y tế, nhân viên y tế) về cả số lượng và chất lượng; các điều kiệnđảm bảo DVYT (cơ sở vật chất, hạ tầng…); trang thiết bị y tế (thuốc, hóa chất,dụng cụ…); ngân sách y tế (bao gồm ngân sách của nhà nước, địa phương vànguồn ngân sách xã hội hóa…); cơ chế, chính sách Ở Việt Nam, hệ thống y tếđược chia thành 4 tuyến: Trung ương, tỉnh, huyện, xã, trong tuyến xã có trạm y
tế xã và y tế thôn bản với các chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng chưa đề cậpđến nhiệm vụ CSSK người cao tuổi Như vậy, hệ thống chăm sóc Lão khoa ở
Trang 31nước ta hiện nay vẫn chưa được tổ chức thành mạng lưới từ Trung ương đến cơ
sở như những lĩnh vực khác Mặt khác, nhiệm vụ CSSK cho người cao tuổi làmột yêu cầu bắt buộc cần có để đạt Chuẩn y tế quốc gia theo bộ tiêu chí mớiđược ban hành Trong định hướng chiến lược chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhândân đến năm 2020 nêu rõ: "Ứng dụng các kỹ thuật thích hợp có thể phổ cập ởcác tuyến tỉnh, huyện, xã để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Tăng cườngchăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng và tại gia đình", "Đổi mới công tác y tế để đápứng tốt CSSK nhân dân", "Cung ứng thuốc thiết yếu cho đối tượng chính sách,người nghèo" Cùng với sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước, các TYT xã/phường
về cơ bản đã đi vào hoạt động ổn định, thực hiện được các nhiệm vụ dự phòng,điều trị, cấp cứu ban đầu và phục hồi chức năng Khi cơ cấu kinh tế chuyển sang
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc CSSK được thực hiệntheo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" Thực hiện xã hội hoácông tác y tế và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ CSSK, nhà nước cho phép thumột phần viện phí (từ năm 1989), bảo hiểm y tế (từ năm 1992), các DVYT tưnhân được hoạt động và người dân có quyền lựa chọn cơ sở DVYT nào phùhợp, đáp ứng được nhu cầu trong chăm sóc sức khỏe của họ
Người chăm sóc chính của người cao tuổi:
- Là thành viên trong gia đình có người cao tuổi và là người sử dụng thờigian nhiều nhất trong chăm sóc cho NCT Người chăm sóc chính sẽ do chínhNCT tự xác định sau khi có hướng dẫn của nghiên cứu viên Đối với nhữngNCT vẫn còn đang chung sống cùng vợ hoặc chồng thì người chăm sóc chính cóthể là chính NCT Trường hợp NCT sống một mình, những người đến chăm sóccho NCT từ 1 - 2 lần/ngày cũng được coi là người chăm sóc chính
VẤN ĐỀ THỰC TIỄN ĐẶT RA TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔIViệt Nam đã bắt đầu bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011với tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm hơn 7% tổng dân số Và cũng chỉ mất có
20 năm để dân số Việt Nam chuyển từ giai đoạn “già hóa” sang “dân số già”
Trang 32trong khi ở Pháp quá trình này phải mất tới 115 năm, Thụy Điển mất 89 nămhay ở Mỹ là 69 năm.
Sự biến động của dân số luôn có được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới Trong thời gian gần đây, sự thay đổi của dân số có thể thấy rõ nhất là hiện tượng dân số già hoá nhanh Già hóa dân số là một điều tất yếu sẽ xảy ra đối với mỗi quốc gia trên toàn thế giới nhưng nó đang xảy ra với một số nước có thu nhập trung bình và các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Với một nền kinh tế đang phát triển với mức thu nhập trung bình thấp, già hóa dân số thực sự là một thách thức lớn với lực lượng lao động nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung ở Việt Nam Một quốc gia có dân số trẻ sẽ năng suất hơn một quốc gia có dân số già vì nó sẽ có một lực lượng lao động tương đối so với quy mô dân số lớn hơn Nhiều người lao động hơn đồng nghĩa với việc sản xuất ra nhiều hàng hóa dịch vụ hơn, vì vậycác quốc gia có dân số trẻ thường có xu hướng phát triển nhanh hơn về kinh tế
so với các quốc gia có dân số già (Feyer 2007, Tang và MacLeod, 2006)
Những người 60 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi (Điều 2, Luậtngười cao tuổi Việt Nam) Ở một số quốc gia thì người cao tuổi là người 65 tuổitrở lên Trên thế giới cũng như ở Việt Nam người cao tuổi đang tăng nhanh cả
về số lượng và tỷ lệ Quá trình tăng dần tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân sốgọi là “già hóa dân số” Đây là một đặc điểm lớn về dân số và xã hội của nhữngnăm gần đây, được cộng đồng quốc tế rất quan tâm “Già hóa dân số” đang làmột trong những thách thức chủ yếu của quá trình phát triển đặc biệt đối với cácnước thu nhập còn chưa cao
Ở Việt Nam, dân số cao tuổi đang tăng nhanh cả về tỷ lệ và con sốtuyệt đối Cụ thể là nếu năm 1989 người cao tuổi (người trên 60 tuổi) chỉ tăngthêm 93 vạn và tỉ lệ nâng cao thêm 0,3% thì năm 1999, các con số tương ứng
là 155 vạn và 0,9% Đến năm 2011 thì số người cao tuổi đã lên đến 8.65 triệungười và tỷ lệ người cao tuổi đã chạm ngưỡng 9.9% Điều đó cho thấy tốc độ
Trang 33già hóa dân số ở Việt Nam cao chưa từng có và đã bước vào giai đoạn “bắtđầu già” từ năm 2011.
Tuy tuổi thọ con người Việt Nam được cải thiện, nhưng tuổi thọ khỏemạnh hay số năm sống mà con người không mang ốm đau bệnh tật thì vẫn thấp
ở mức khoảng 66 năm, do số năm ốm đau trung bình của một người Việt Nam làkhoảng 7,3 năm (hay 11% tổng tuổi thọ) Tuổi thọ cao nhưng gánh nặng bệnhtật cũng rất lớn, đặc biệt là đối với người cao tuổi càng dễ mắc bệnh Dẫn đếnnhu cầu chăm sóc ý tế tăng cao và tỷ lệ phụ thuộc người già tăng, gây áp lực lêndân số lao động, chính phủ và hệ thống bảo hiểm xã hội
Tuổi thọ khỏe mạnh của Việt Nam so với khu vực
Nước
Xếp hạng HDI
(1)
Tuổi thọ khi sinh (2007) (2)
Tuổi thọ khỏe mạnh khi sinh (2007) (3)
Thời gian ốm đâu tính bằng phần trăm tuổi khi sinh (4)=[(2)-(3)]/ (2)*100
1.3.1 Chăm sóc sức khỏe về mặt tinh thần
Việt Nam thời gian qua chính sách dân số ở nước ta tập trung vào vấn đềgiảm sinh nên các công trình nghiên cứu cũng mới chỉ tập trung vào mức sinh và
kế hoạch hóa gia đình, còn rất ít các công trình nghiên cứu toàn diện và sâu vềngười cao tuổi Do vậy, ngay từ bây giờ cần đẩy mạnh nghiên cứu quá trìnhchăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở nước ta làm cơ sở cho việc xây dựng vàthực thi chính sách, chiến lược quốc gia nhằm đối phó với xu hướng già hóa dân
Trang 34số diễn ra ngày càng nhanh, mạnh Nhằm nâng cao chất lượng sống của ngườicao tuổi cũng như ổn định nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Cơ cấu tuổi dân số hay cơ cấu dân số theo độ tuổi là tỷ trọng dân số ởtừng độ tuổi so với tổng số dân Dân số là chủ thể của mọi quá trình phát triểnkinh tế - xã hội, và ở mỗi độ tuổi khác nhau con người có những hành vi kinh tếkhác nhau cho nên biến đổi cơ cấu tuổi dân số sẽ có tác động lớn đến quá trìnhphân bổ nguồn lực, mức độ tăng trưởng, phát triển và sự ổn định về chính trị, xãhội của mỗi nước Một quốc gia có dân số trẻ với tỷ lệ trẻ em cao thì đất nước sẽcần nhiều nguồn lực hơn để chi tiêu cho giáo dục, y tế và nuôi dưỡng Trong khiđó, một quốc gia có tỷ lệ dân số trong tuổi làm việc lớn thì đất nước có được cơhội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ nguồn nhân lực dồi dào, tiết kiệm và đầu tưcao và hệ thống tài chính vững vàng hơn, còn nếu một quốc gia có tỷ lệ ngườicao tuổi nhiều hơn thì đất nước phải chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc y tế, tiêudùng tăng và các vấn đề về an sinh xã hội cần được giải quyết thỏa đáng
1.3.2 Chăm sóc sức khỏe về mặt dinh dưỡng hàng ngày
Với chính sách chăm sóc người cao tuổi, vấn đề này liên quan tới tăngtrưởng kinh tế, nghiên cứu đề xuất chính phủ cần đồng bộ các chính sách tăngtrưởng, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội nhằm đảm bảo duy trì đượcmức tăng trưởng trong tương lai Cụ thể, một số khuyến nghị chính sách nhằmhướng đến “già hóa thành công” tương tự như những khuyến nghị từ UNFPA(2011), đó là: Già hóa dân số có tác động đến tăng trưởng kinh tế thông quanhiều kênh, trong số đố có kênh lao động bình quân đầu người Do vậy có thểthấy Việt Nam cần có những chính sách phù hợp để chuẩn bị cho sự biến độnglớn vể dân số trong thời gian tới
1.3.3 Chăm sóc sức khỏe về thể dục – thể thao
Lồng ghép, hướng dẫn công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao tráchnhiệm và hành động của gia đình, cộng đồng về: Xây dựng nếp sống, môitrường ứng xử văn hoá phù hợp đối với người cao tuổi ở nơi công cộng.Khuyến khích gia đình, dòng họ, cộng đồng trong việc chăm sóc và phát huy
Trang 35vai trò người cao tuổi; Phối hợp với Hội Người cao tuổi hướng dẫn, tổ chứcthực hiện biểu dương, tôn vinh kịp thời các điển hình tiên tiến của người caotuổi trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “Ông
bà cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vận động con cháu thực hiện nếpsống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội”; định kỳ tổ chức tốt các hoạt độngchúc thọ, mừng thọ người cao tuổi; Phối hợp tuyên truyền vận động và tạo điềukiện thuận lợi để ngày càng nhiều người cao tuổi tập luyện thể dục thể thao,tham gia vào các sinh hoạt văn hoá văn nghệ nhằm nâng cao sức khoẻ thể chất,sức khoẻ tinh thần và hoạt động xã hội ngày một tốt hơn; đẩy mạnh hơn nữaviệc vận động xây dựng tổ chức các mô hình câu lạc bộ, hội thi thơ ca, thể dụcthể thao dưỡng sinh …phù hợp với người cao tuổi tại phường – xã, thị trấn,khu phố, ấp, tổ dân phố Hàng năm phối hợp với Hội Người cao tuổi thành phốhướng dẫn, tổ chức Hội thi thể thao, liên hoan văn nghệ trong các đợt mừng kỷniệm ngày người cao tuổi
Chăm sóc sức khỏe thể chất người cao tuổi: Đây cũng là tuổi đã trải quacống hiến sức lực trí tuệ cho xã hội và nay được hưởng sự chăm sóc của gia đình
và xã hội Vấn đề trọng tâm nhất trong chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi làchăm sóc sức khoẻ thể chất Liên quan đến sức khỏe người cao tuổi, cũng cần đềcập đến một tiến trình sinh học là tiến trình lão hóa
Quá trình này đã bắt đầu ngay từ khi con người sinh ra và liên tục cho đếnchết Đó là quá trình suy yếu các cấu trúc và chức năng của cơ thể Một số biểuhiện như giảm chuyển hóa năng lượng nên người cao tuổi hay bị lạnh
1.3.4 Chăm sóc sức khỏe về du lịch- an dưỡng
Hiện nay do cuộc sống phát triển, dù ở đâu cũng có nhiều phương tiệnhoặc cơ hội để tham gia vào các câu lạc bộ, hội thảo, sinh hoạt văn học, nghệthuật v.v Điều này làm cho người cao tuổi ít có nguy cơ rơi vào tình trạngtrống rỗng hoặc buồn nản như trước kia Tham gia các công tác xã hội, tăngcường giao tiếp, tham quan các danh lam thắng cảnh cũng là cách sống vui tươilành mạnh Ngoài ra, do người cao tuổi thường có bệnh do quá trình tích tuổi,
Trang 36nên để giữ gìn sức khỏe, người cao tuổi cần đi khám sức khỏe định kỳ để xácđịnh các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe, phòng tránh bệnh và sử dụng thuốc theohướng dẫn nâng cao được sức khỏe tâm thần Gia đình đóng vai trò chính trongviệc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Nếu nhu cầu của người chăm sóc khôngđược đáp ứng trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng xấu đến bản thân người caotuổi và cả các thành viên trong gia đình Nhờ những hoạt động thể chất và tinhthần mà người cao tuổi vẫn có hy vọng và cơ hội sống thêm nhiều tháng ngày anvui với con cháu và bạn bè thân thuộc của mình.
Tiểu kết chương I
Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, báo chí đóng vai trò quan trọng,không chỉ là vũ khí sắc bén của những người cộng sản trong tuyên truyền, thứctỉnh, giác ngộ quần chúng, giúp họ lựa chọn con đường, đi theo tiếng gọi thiêngliêng của Đảng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn là
“cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong công cuộc xây dựng CNXH
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Luật Báo chí Việt Nam khẳngđịnh: Báo chí là tiếng nói của Đảng, các cơ quan Nhà nước, của các đoàn thể và
là diễn đàn của nhân dân Tiếng nói của báo chí không chỉ phán ánh kịp thời,đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước vàocuộc sống mà còn là kênh thông tin tin cậy để nhân dân “gửi gắm” tâm tưnguyện vọng, “vũ khí” giám sát của mình đối với Đảng và Nhà nước Từ đó, tìm
ra tiếng nói chung của “ý Đảng lòng dân”, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc, đồng tâm hợp lực, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu cáchmạng đề ra
Ý thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của báo chí, sau bao năm tìmkiếm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, việc làm đầu tiên của Nguyễn ÁiQuốc khi về Quảng Châu - Trung Quốc hoạt động là sáng lập Hội Việt Namcách mạng Thanh niên, ra tờ báo Thanh Niên vào ngày 21-6-1925 - cơ quanngôn luận của Hội Tờ báo có vai trò rất lớn trong quá trình truyền bá chủ nghĩa
Trang 37Mác-Lênin vào Việt Nam, giáo dục ý thức giai cấp, lý tưởng cộng sản cho cán
bộ, đảng viên và quần chúng lao động Báo Thanh Niên không chỉ là phươngtiện tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, giác ngộ, thức tỉnh nhân dân, đưa họ rađấu tranh mà còn góp phần không nhỏ trong quá trình chuẩn bị chính trị, tưtưởng, tổ chức của Nguyễn Ái Quốc cho sự ra đời của Đảng Cộng sản ViệtNam; tập hợp mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ thành sức mạnh tổng hợp, vùnglên đấu tranh giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ của Đảng Vì vậy, ngày 21-6hằng năm được lấy làm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, nhằm tôn vinhnhững người làm báo, phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng vànêu cao ý thức trách nhiệm, vai trò của báo chí trước vận mệnh dân tộc
Xuyên suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, báo chí cách mạngViệt Nam luôn thể hiện được vai trò quan trọng của mình là vũ khí sắc bén trênmặt trận tư tưởng trong cuộc chiến tranh trường kỳ và anh hùng của dân tộc.Báo chí là người tuyên truyền, cổ động, định hướng cho quần chúng làm cáchmạng Trong điều kiện chưa có chính quyền, sự thống nhất trong Đảng và trongcác tổ chức cách mạng về chính trị, tư tưởng và tổ chức giữ vai trò vô cùng quantrọng, có tính chất quyết định đối với công tác xây dựng Đảng và hoạt động lãnhđạo phong trào cách mạng của Đảng Vì vậy, báo chí là người lãnh đạo tư tưởngcủa Đảng, phát triển chân lý về lý luận và cả nguyên lý về sách lược, về tưtưởng tổ chức chung, những nhiệm vụ chung của toàn Đảng trong một thời kỳnày hay một thời kỳ khác Khi có chính quyền cách mạng, vai trò của báo chíkhông hề giảm mà tiếp tục tăng lên theo tiến trình phát triển của cách mạng Báochí vẫn tiếp tục thực hiện các chức năng tuyên truyền, cổ động và tổ chức, là vũkhí tư tưởng mạnh mẽ nhất của Đảng Báo chí cũng là người tuyên truyền nhữngcái mới, tiên tiến nảy sinh từ sự sáng tạo của quần chúng Lê-nin cho rằng: Tờbáo không chỉ có vai trò phổ biến tư tưởng, giáo dục chính trị, mà còn là nơi thuhút các đồng minh; tờ báo không những là người tuyên truyền tập thể và cổđộng tập thể mà còn là người tổ chức tập thể Và, sinh thời, Bác Hồ thường căndặn các nhà báo: Báo chí phải phục vụ nhân dân, CNXH, đại đoàn kết dân tộc
Trang 38và hòa bình thế giới Người làm báo phải là chiến sĩ xung kích trên mặt trận vănhóa, tư tưởng Chính các tờ báo là sợi dây cơ bản, dựa vào nó phong trào cáchmạng không ngừng phát triển, tổ chức tăng lên theo cả chiều rộng và chiều sâu -nhân tố làm nên thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Gần thế kỷ đã trôi qua, nền báo chí cách mạng Việt Nam không ngừngphát triển và ngày càng lớn mạnh Báo chí vẫn là “người” đi tiên phong, chủđộng, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, sự điều hành củaChính phủ về phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường an ninhquốc phòng, đối ngoại; củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối vớiĐảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh kiênquyết chống các tư tưởng thù địch, phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dântộc và nhân dân lao động Báo chí luôn sống trong lòng nhân dân, khách quan vàtrung thực chia sẻ với nhân dân về niềm hy vọng và sự lo lắng của họ, tình yêu
và lòng căm thù của họ, niềm vui và nỗi buồn của họ đối với Đảng và chế độ!Báo chí kịp thời phản ánh, đánh giá các hiện tượng và sự kiện của đời sống theolập trường của giai cấp công nhân, đại diện và bảo vệ cho quyền lợi của nhândân, trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân vì sự công bằng, dânchủ và tiến bộ xã hội Báo chí đã, đang góp phần kiến tạo bầu không khí dân chủtrong xã hội, ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò vừa hướng dẫn dư luận xã hội,tham gia có hiệu quả phản biện xã hội vừa góp phần quan trọng vào sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong hoạt động báo chí, những tác phẩm thông tin, lý giải các sự kiệnnóng hổi, những vấn đề sát sườn đặt ra từ đời sống dưới ánh sáng đường lối,quan điểm của Đảng, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân trởthành những tác phẩm gây được tiếng vang lớn, có hiệu quả cao đối với xã hội,được đông đảo quần chúng lao động đồng tình Vì vậy, báo chí cách mạng phảiluôn là người đầu tiên được tiếp nhận thông tin từ Đảng, đòi hỏi Đảng phảithông tin những vấn đề cần thiết cho báo chí một cách kịp thời và chính xác, coi
Trang 39thông tin đó cũng là thông tin cho toàn Đảng và cho xã hội Được cung cấp cácthông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời là cơ sở để báo chí đảm bảo tính đảng, tínhchân thật ngay từ khâu đầu tiên và làm tốt chức năng thông tin đại chúng củamình, giúp quần chúng cập nhật thông tin, đánh giá đúng bản chất sự việc, hiểuđược đầy đủ các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến các thành tíchhoặc khuyết điểm, biết nên đưa tin, ý kiến bình luận như thế nào là đúng Việccung cấp thông tin đầy đủ chính xác, kịp thời cho báo chí, hiệu quả lãnh đạo củaĐảng đối với xã hội sẽ cao hơn, các thông tin của Đảng kịp thời đến với ngườidân, từ đó, Đảng sẽ nhận được thông tin phản hồi ngược chiều, nhiều chiều từngười dân qua báo chí, các quyết định của Đảng sẽ phản ánh kịp thời, đúng quyluật hơn, đảm bảo tính hiện thực, tính khả thi cao, ý Đảng sẽ luôn phù hợp vớilòng dân.
Vì vậy, để báo chí cách mạng phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình cho
sự nghiệp cách mạng, thực sự là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân,thời gian tới các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể quan tâm tạo điều kiện cả về vậtchất và tinh thần để báo chí giữ vững định hướng của Đảng, là ngọn cờ tiênphong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; tuyên truyền chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân; cổ vũ, động viên kịpthời những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến Bên cạnh đó, các cơ quan báo chícần tiếp tục nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa,thông tin nhanh, chính xác, đa dạng, chủ động cập nhật, sáng tạo trong lĩnh vựcthông tin tuyên truyền, đóng góp tích cực vào định hướng dư luận, tăng cườngniềm tin trong nhân dân với Đảng
Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO CHÍ THAM GIA VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI HIỆN NAY
Trang 402.1 Giới thiệu các tờ báo thuộc diện khảo sát
2.1.1 Báo Sức khỏe & Đời sống
Báo Sức khoẻ & Đời sống là Cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế - Diễn đàn vì
sự nghiệp bảo vệ sức khỏe toàn dân, có chức năng tuyên truyền về những chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe nhân dân; thông tin về mọi mặt hoạt động của ngành Y tế vàđời sống xã hội
Báo Sức khoẻ & Đời sống có các nhiệm vụ sau:
- Tuyên truyền các đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước trong lĩnh vực y tế và các lĩnh vực khác liên quan đến sức khoẻcộng đồng
- Thông tin về mọi mặt hoạt động trong lĩnh vực y tế và các vấn đề có liênquan; về chiến lược, chính sách và các kế hoạch hoạt động hàng năm của ngành
y tế
- Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội trên lĩnh vực y tế, tạo diễn đàncho các nhà quản lý, các nhà khoa học, các cán bộ làm công tác chuyên môntrong ngành y tế và quần chúng nhân dân trao đổi thông tin về lý luận và thựctiễn, kinh nghiệm, đề xuất ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan tronglĩnh vực y tế
- Phát hiện, nêu gương người tốt, nhân tố mới trong ngành y tế; phản ánh,đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trongngành y tế và xã hội
- Giới thiệu các thành tựu trong lĩnh vực y học, dược học, văn hoá, xã hội
và các lĩnh vực khác liên quan tới y tế trong nước và quốc tế để góp phần nângcao kiến thức và đáp ứng nhu cầu của bạn đọc
- Tổ chức các hoạt động, cung cấp và phục vụ thông tin dưới các hìnhthức xuất bản các ấn phẩm, hội thảo khoa học, …giới thiệu các thành tựu và sảnphẩm trong lĩnh vực y tế
- Tổ chức nghiên cứu để phục vụ công tác thông tin tuyên truyền