1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ triết học tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của nguyễn bỉnh khiêm

103 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 545,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tư tưởng triết học là tinh hoa của tư tưởng nhân loại. Nghiên cứu tư tưởng triết học cho ta cái nhìn sâu sắc về sự hình thành phát triển của thế giới nói chung và của xã hội loài người nói riêng. Song ở mỗi giai đoạn, mỗi thời đại và mỗi dân tộc có cách xây dựng và nhìn nhận khác nhau về triết học. Ở Việt Nam khi bàn luận về lịch sử tư tưởng triết học có nhiều ý kiến khác nhau. Trong đó có thể hiểu theo hai cách nhìn nhận. Thứ nhất, nhiều người cho rằng Việt Nam không có triết học, chẳng hạn như Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng trước đây cho rằng: Việt Nam chỉ bắt chước, Khổng Mạnh nói thế nào thì ta nói lại thế, thậm chí nói không đầy đủ, chỉ một phần nào đó thôi. Trần Quốc Vượng cũng cho rằng: Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam không có khả năng sáng tạo một hệ tư tưởng xứng đáng với nhân dân vĩ đại. Không có sáng tạo chỉ vay mượn, chỉ có áp dụng, chỉ có thích nghi, đó là tư tưởng Đại Việt. Song cũng có nhiều người khẳng định Việt Nam có triết học như Lê Hữu Tầng nhận định: Việt Nam có triết học. Còn Giáo sư Vũ Khiêu xem việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sử triết học Việt Nam. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam không phải là lịch sử tư tưởng nói chung càng không phải là lịch sử trong hệ ý thức, mà cơ bản là lịch sử tư tưởng triết học và những tư tưởng có quan hệ với tư tưởng triết học. Bản thân tôi cũng cho rằng Việt Nam có triết học. Nếu như triết học phương Tây thường gắn liền với những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị, đạo đức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam hướng chủ yếu đến vấn đề nhân sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước. Nếu như triết học phương Tây có khuynh hướng trội là đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan (từ bản thể luận đến nhận thức luận, lô gíc học), thì triết học Việt Nam lại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan. ở Việt Nam, vấn đề trung tâm, hàng đầu là vấn đề con người, đạo lý làm người (nhân sinh quan), sau đó các nhà tư tưởng mới đi tìm cách lý giải , đặt cơ sở cho những vấn đề trên (thế giới quan). Điều này bị qui định bởi phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam. Tư tưởng triết học Việt Nam là sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc; nó phát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh, vũ trụ lên trình độ lý luận, song do khuynh hướng trội nêu trên nên nó thiếu tính hệ thống chặt chẽ và thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyết được du nhập từ bên ngoài nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước. Cũng chính vì khuynh hướng trội nêu trên mà vấn đề cơ bản của triết học, tức vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong triết học Việt Nam là rất mờ nhạt, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không trải ra trên khắp mọi vấn đề, nhưng nhìn chung, khuynh hướng duy tâm tôn giáo có vẻ nổi trội hơn khuynh hướng duy vật vô thần. Khi nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam, ta không thể không kể đến những tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn... Họ giống như những ngôi sao sáng trên bầu trời triết học nước nhà. Những tư tưởng của họ đã tạo nên tiền đề vững chắc cho nền triết học Việt Nam. Trong số đó phải kể đến tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cây đại thụ tư tưởng tỏa bóng mát cho triết học nước ta đâm chồi. Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân đã nhận định “Trên trăm năm về trước, dưới trăm năm về sau không ai hơn được tiên sinh... khắp thiên hạ từ quân vương đến bậc hiền nhân kể cũng nhiều lắm. Nhưng đều vinh hiển lúc sống, chết đi là hết. Duy tiên sinh truyền đến nay 7, 8 đời rồi, mà sĩ thứ các nơi càng chiêm ngưỡng như núi Thái Sơn, sao Bắc đẩu, nghìn năm như một ngày vậy”. Không chỉ 7, 8 đời mà cho đến nay đã gần năm thế kỉ trôi qua những tư tưởng của ông vẫn còn nguyên giá trị cho các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, xưa nay khi nói về ông người ta thường bàn nhiều đến giá trị văn học nghệ thuật và triết lý nhân sinh. Trong khi đằng sau những tư tưởng ấy là cả một thế giới quan triết học và những tư tưởng biện chứng tiến bộ. Đó là tư tưởng triết học duy vật về vũ trụ, về mối liên hệ lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và sự vận động biến đổi của tự nhiên, xã hội và tư duy được diễn đạt thông qua những cặp phạm trù biện chứng. Khác với triết học Phương Tây chỉ chuyên sâu vào giải thích thế giới. Triết học Việt Nam nói chung, triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng là sự đan xen những tư tưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và được thể hiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ. Đây là nét đặc sắc của nền triết học Việt Nam mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển nó. Chính vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tư tưởng triết học là tinh hoa của tư tưởng nhân loại Nghiên cứu tưtưởng triết học cho ta cái nhìn sâu sắc về sự hình thành phát triển của thế giớinói chung và của xã hội loài người nói riêng Song ở mỗi giai đoạn, mỗi thờiđại và mỗi dân tộc có cách xây dựng và nhìn nhận khác nhau về triết học

Ở Việt Nam khi bàn luận về lịch sử tư tưởng triết học có nhiều ý kiếnkhác nhau Trong đó có thể hiểu theo hai cách nhìn nhận Thứ nhất, nhiềungười cho rằng Việt Nam không có triết học, chẳng hạn như Ngô Đức Kế vàHuỳnh Thúc Kháng trước đây cho rằng: Việt Nam chỉ bắt chước, Khổng -Mạnh nói thế nào thì ta nói lại thế, thậm chí nói không đầy đủ, chỉ một phầnnào đó thôi Trần Quốc Vượng cũng cho rằng: Giai cấp địa chủ phong kiếnViệt Nam không có khả năng sáng tạo một hệ tư tưởng xứng đáng với nhândân vĩ đại Không có sáng tạo chỉ vay mượn, chỉ có áp dụng, chỉ có thíchnghi, đó là tư tưởng Đại Việt

Song cũng có nhiều người khẳng định Việt Nam có triết học như LêHữu Tầng nhận định: Việt Nam có triết học Còn Giáo sư Vũ Khiêu xemviệc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sửtriết học Việt Nam Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam không phải làlịch sử tư tưởng nói chung càng không phải là lịch sử trong hệ ý thức, mà

cơ bản là lịch sử tư tưởng triết học và những tư tưởng có quan hệ với tưtưởng triết học

Bản thân tôi cũng cho rằng Việt Nam có triết học Nếu như triết họcphương Tây thường gắn liền với những thành tựu của khoa học, đặc biệt làkhoa học tự nhiên, triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốcgắn liền với chính trị, đạo đức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộcxây dựng và bảo vệ đất nước Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Namhướng chủ yếu đến vấn đề nhân sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm

Trang 2

là yêu nước Nếu như triết học phương Tây có khuynh hướng trội là đi từ thếgiới quan đến nhân sinh quan (từ bản thể luận đến nhận thức luận, lô gíc học),thì triết học Việt Nam lại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đếnthế giới quan ở Việt Nam, vấn đề trung tâm, hàng đầu là vấn đề con người,đạo lý làm người (nhân sinh quan), sau đó các nhà tư tưởng mới đi tìm cách lýgiải , đặt cơ sở cho những vấn đề trên (thế giới quan) Điều này bị qui địnhbởi phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam Tư tưởng triết học Việt Nam là

sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc; nóphát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh, vũ trụ lên trình độ

lý luận, song do khuynh hướng trội nêu trên nên nó thiếu tính hệ thống chặtchẽ và thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyết được

du nhập từ bên ngoài nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước Cũngchính vì khuynh hướng trội nêu trên mà vấn đề cơ bản của triết học, tức vấn

đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong triết học Việt Nam là rất mờ nhạt,cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không trải ra trênkhắp mọi vấn đề, nhưng nhìn chung, khuynh hướng duy tâm tôn giáo có vẻnổi trội hơn khuynh hướng duy vật vô thần.

Khi nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam, ta không thể không kể đếnnhững tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, LêQuý Đôn Họ giống như những ngôi sao sáng trên bầu trời triết học nướcnhà Những tư tưởng của họ đã tạo nên tiền đề vững chắc cho nền triết họcViệt Nam Trong số đó phải kể đến tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm - câyđại thụ tư tưởng tỏa bóng mát cho triết học nước ta đâm chồi Ôn Đình Hầu

Vũ Khâm Lân đã nhận định “Trên trăm năm về trước, dưới trăm năm về saukhông ai hơn được tiên sinh khắp thiên hạ từ quân vương đến bậc hiền nhân

kể cũng nhiều lắm Nhưng đều vinh hiển lúc sống, chết đi là hết Duy tiênsinh truyền đến nay 7, 8 đời rồi, mà sĩ thứ các nơi càng chiêm ngưỡng như núi

Trang 3

cho đến nay đã gần năm thế kỉ trôi qua những tư tưởng của ông vẫn cònnguyên giá trị cho các thế hệ mai sau

Tuy nhiên, xưa nay khi nói về ông người ta thường bàn nhiều đến giátrị văn học nghệ thuật và triết lý nhân sinh Trong khi đằng sau những tưtưởng ấy là cả một thế giới quan triết học và những tư tưởng biện chứng tiến

bộ Đó là tư tưởng triết học duy vật về vũ trụ, về mối liên hệ lẫn nhau giữacác sự vật, hiện tượng và sự vận động biến đổi của tự nhiên, xã hội và tư duyđược diễn đạt thông qua những cặp phạm trù biện chứng Khác với triết họcPhương Tây chỉ chuyên sâu vào giải thích thế giới Triết học Việt Nam nóichung, triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng là sự đan xen những tưtưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và được thểhiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ Đây là nét đặc sắc củanền triết học Việt Nam mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và pháttriển nó

Chính vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” làm đề tài luận

văn thạc sĩ triết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tư tưởng lớn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn,niềm tự hào của dân tộc ta Tư tưởng của ông ảnh hưởng sâu sắc đến các thế

hệ con người Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp tri thức Trong lịch sử đã từng cónhững công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của ông một cách côngphu và sâu sắc Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnhkhiêm đều là sự tập hợp những tác phẩm thơ, văn hoặc sấm mà ông đã viết vàphân tích chúng dưới góc độ văn học nghệ thuật hoặc tư tưởng nhân sinh Cònnhững công trình nghiên cứu mang tính triết học thì ít hơn Cho đến nay cómột số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau

Nhóm công trình nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp thơ văn của

Nguyễn Bỉnh Khiêm: Đầu tiên đó là cuốn sách Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn

Trang 4

công Văn Đạt phả ký do Vũ Khâm Lân biên soạn năm 1743 Cuốn sách được

sưu tập với sự giúp đỡ của người cháu trực hệ bảy đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm

là Nguyễn Thì Đương Tuy đây là cuốn sách sớm nhất nhưng cũng được ghi

chép sau khi ông mất 190 năm Đến thế kỷ XIX, Lịch triều hiến chương loạn chí của Phan Huy Chú cũng ghi chép được một số tài liệu ít ỏi về Nguyễn Bỉnh

Khiêm nhưng phần lớn là dựa vào phả ký của Vũ Khâm Lân Hai công trìnhnày giống như chiếc chìa khóa mở ra kho tàng tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm,

là nguồn tư liệu quý giá cho các công trình nghiên cứu sau này

Năm 1943, cuốn Tuyết Giang phu tử của Chu Thiên Hoàng Minh Giám

ra đời, đây là một công trình khá đặc sắc và công phu quy tụ những nét chính

về thời đại và cuộc đời của danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Cuốn sách đã trởthành tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà khoa học sau này

Từ sau Cách mạng Tháng 8 đến nay, những công trình nghiên cứu về

Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện nhiều hơn, tiêu biểu như các tác phẩm: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn,

Nxb Văn học, năm 1983 Cuốn sách này tập trung 161 bài thơ Nôm và gần

100 bài thơ văn Việt Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tập sách có lời giới thiệuchung của tác giả với những lời nhận xét chung rất thuyết phục về nội dung tưtưởng của thơ văn Trạng Trình

Sau hội thảo khoa học kỷ niệm 400 năm ngày mất Nguyễn Bỉnh Khiêm

tại Hải Phòng (1985) chúng ta có thêm cuốn “Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, kỷ yếu hội thảo” với tập hợp nhiều bài viết sâu sắc về Nguyễn Bỉnh

Khiêm dưới nhiều góc độ khác nhau của các nhà khoa học

Năm 1991, Bộ Văn hóa thông tin và truyền thông cùng viện khoa học

xã hội công bố cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh nhân văn hóa” do

Nguyễn Huệ Chi chủ biên Đây cũng là công trình được đánh giá rất cao, lànguồn tư liệu vô cùng quý giá cho các công trình nghiên cứu sau này Tác

phẩm “Tâm sự Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập”, Nguyễn

Trang 5

Nguyên Nghiệp, nhà xuất bản văn hóa thông tin (2004); “Tuyết giang phu tử”, Trần Tuấn Tiến, nhà xuất bản sân khấu (2011).

Gần đây nhất là công trình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia vàtác phẩm của Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh Huyền tuyển chọn và giớithiệu Công trình tập trung những bài viết từ trước đến nay của nhiều nhà khoahọc lớn về Nguyễn Bỉnh Khiêm được tập hợp một cách hệ thống và khoa học

Gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỉ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm tư tưởng

và nhân cách; Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa và nay Những bài viết này bao gồm những lời bình thú vị và

sâu sắc về con người, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nhóm công trình nghiên cứu về triết học có một số công trình nghiên

cứu như sau: Trước hết là cuốn sách Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý của

Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà xuất bản năm 1957 Cuốn sách là cái nhìnmới về tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Các tác giả đã chỉ ra được một sốvấn đề mang tính triết học trong tư tưởng của Trạng Trình mà đến nay nó vẫnmang nhiều giá trị Năm 1992 trung tâm Hán Nôm TP Hồ Chí Minh xuất bản

cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử triết học Việt Nam” do Phan

Văn Các biên soạn cũng là một cách nhìn mang tính triết học về tư tưởng của

Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trong các cuốn sách về Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập

1 của Nguyễn Tài Thư xuất bản năm 1993 và Lịch sử tư tưởng Việt Nam (văn

tuyển) của Trần Nguyên Việt xuất bản năm 2004, đã đề cập đến những tưtưởng triết học Việt Nam trong đó có tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ngoài ra còn nhiều bài viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lý,

triết học của Trần Nguyên Việt như: tư tưởng về triết học tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, vấn đề con người trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và các bài viết của PGS TS Nguyễn Tài Thư về yếu tố Kinh dịch, lý

học trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm… được đăng trên các tạp chí triếthọc đáng để chúng ta đọc và suy ngẫm

Trang 6

Những công trình nghiên cứu kể trên đã phần nhiều nói đến con ngườichính trị, con người tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, góp phần phân tích lý giảilàm sâu sắc hơn tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm để những tư tưởng của ôngngày càng gần chúng ta hơn Tuy nhiên, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêmcũng giống cuộc đời, con người ông vẫn là một ẩn số mà chúng ta cần nghiêncứu tìm tòi nhiều hơn nữa để đạt đến giá trị đích thực Vì vậy việc nghiên cứu

đề tài “Tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” sẽ góp phần nào đó trong việc nâng cao hiểu biết về tư tưởng Nguyễn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn trình bày hoàn cảnh ra đời một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, phân tích nội dung tư tưởng biện chứng trong các tác phẩm đó

và rút ra ý nghĩa của nó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài hướng vào việc nghiên cứu những tư tưởng biện chứng củaNguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số tác phẩm của ông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Những tác phẩm cũng như tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đồ

sộ Do những giới hạn nhất định mà luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vinhững tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số sáng

tác chủ yếu nhất của ông (Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Sấm Trạng Trình và một số bài văn bia).

Trang 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của triết học Mác – Lênin Đó là những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử

Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứngnhư logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, khái quáthóa, hệ thống nhằm sắp xếp, hệ thống, luận giải, phân tích một cách đúngđắn và khoa học các tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của NguyễnBỉnh Khiêm

6 Đóng góp mới của đề tài

Tư tưởng biện chứng là một trong những thành tựu vĩ đại trong tưtưởng nhân loại Ở phương Tây tư tưởng triết học mang tính chất duy lí và nóthường được trình bày một cách rõ ràng, cụ thể Còn ở phương Đông tư tưởngtriết học lại ẩn đằng sau những tư tưởng về chính trị, xã hội hoặc những tácphẩm mang tính kinh nghiệm của tác giả Ở Việt Nam cũng vậy, tư tưởngbiện chứng có từ rất lâu trong ca dao, tục ngữ của người dân lao động, qua tưtưởng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn Tuy nhiên, nó không được biểu hiện ra bên ngoài một cách cụ thể, rõ ràng mà

ẩn sâu bên trong những giá trị nhân văn, tư tưởng chính trị - xã hội Lâu naychúng ta thường quan tâm tìm hiểu những giá trị mang tính nghệ thuật, tínhhiện thực hoặc hơn nữa là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc trong tư tưởngcủa các ông chứ ít quan tâm tới tư tưởng triết học Từ việc nghiên cứu để chỉ

ra tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tácgiả muốn góp thêm cách nhìn sâu sắc về nền triết học Việt Nam

Trang 8

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người yêu mếnNguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nói chung

và các sinh viên ngành khoa học xã hội, đặc biệt là sinh viên ngành triết học

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 9

NỘI DUNG

Chương 1

NGUYỄN BỈNH KHIÊM - CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

1.1 Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam thế kỉ XVI

1.1.1 Điều kiện chính trị

Nguyễn Bỉnh Khiêm được ví như cây đại thụ của thế kỉ XVI, là mộttrong những nhà trí thức có uy tín nhất thế kỉ Ông sống gần trọn cuộc đời vớinhững thăng trầm biến đổi của thế kỉ XVI (1491 - 1585) Vì vậy tư tưởng, thái

độ của ông đều mang dấu ấn sâu đậm của thời cuộc Do đó muốn hiểu mộtcách sâu sắc những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta không thểkhông tìm hiểu đôi nét về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam đươngthời

Nếu như thời Lê Thánh Tông là thời kì hoàng kim của nhà Lê thì cuốithế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, nhà Lê bắt đầu bước vào thời kì suy thoái, kéo theo

sự rối ren của tình hình kinh tế, chính trị xã hội với sự tranh chấp quyền lựccủa các thế lực phong kiến khác nhau Trong vòng 24 năm (1503 - 1527) nhà

Lê thay đổi đến sáu ông vua, có người (Quang Trị) ở ngôi đúng được 3 ngày.Trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị sự mâu thuẫn ngày càng trầmtrọng, chúng luôn gây nên chiến tranh để tranh giành quyền lực và địa vị lẫnnhau Bản thân những người đứng đầu vương triều - các hoàng đế nhà Lê lạiđều là những kẻ bất tài vô hạnh Xã hội Việt Nam đương thời vô cùng rối ren

và phức tạp “Lê mạt, Trịnh - Nguyễn phân tranh” Chính điều này đã có sựtác động sâu sắc đến quá trình nhận thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đặc biệt,giai đoạn ông bắt đầu trưởng thành và miệt mài kinh sử Nho giáo với nhữngđạo lí vua tôi tốt đẹp và mong ước:

“Hà phần phụ cập cộng tòng si (sư)Khí nghiệp tương tương viễn đại kỳ”

(Ký hữu nhân)

Trang 10

“Cắp cặp sách cùng theo học ở đất Hà PhầnHẹn ước con đường công danh sự nghiệp xa rộng”

(Gửi bạn)

Song đây lại chính là thời kì trị vì của hai ông vua “thối nát” nhất tronglịch sử phong kiến nước ta mà các sử gia sau này gọi là “nỗi kinh hoàng” củalịch sử Việt Nam đó là Lê Uy Mục và Lê Tương Dực Và cũng chính sự “vôdụng” của hai ông vua này dẫn đến hàng loạt những rối ren binh biến sau đócủa đất nước Lê Uy Mục được Thái Hậu Nguyễn Thị và hoạn quan NguyễnNhư đưa lên làm vua sau khi Lê Thuần (Túc tôn) qua đời không có con nốingôi Thời gian này, triều chính hoàn toàn lọt vào tay bọn ngoại thích, đồngbọn của Thái Hậu Nguyễn Thị và Hoàng Hậu Trần Thị kết cấu với bọn hoạnquan Chúng chuyên quyền, lũng đoạn, tìm mọi cách hãm hại những ngườikhông về phe chúng Ngay cả bà nội, chú ruột và các anh em của Lê Uy Mụccũng bị sát hại Mặt khác sau khi lên ngôi, Lê Uy Mục ăn chơi sa đọa, chỉ chútrọng đến rượi chè, đàn hát, mặc việc triều chính, không đúng ý là Y sẵn sàngchém giết Trước tình hình đó Kinh Vương Kiến là con út của vua ThánhTông sợ hãi phải trốn biệt tích Giản tu công Lê Oanh là anh em thúc bá với

Lê Uy Mục cũng bị chúng nhốt lại Chúng còn sai Lê Uy Mục đuổi tất cả tônthất và công thần vào Thanh Hóa cho chúng tiện bề thao túng triều chính.Trước sự bê bối của triều chính và sự ngu dốt, độc ác của Lê Uy Mục, cuốinăm 1509 Nguyễn Văn Lang cùng bọn quý tộc bị trục xuất khỏi triều đìnhbèn nổi quân ở Thanh Hóa và rước Lê Oanh mới trốn ngục lên làm minh chủ.Sau đó tiến ra Đông đô bắt giết Lê Uy Mục lập Lê Oanh lên làm vua tứcTương Dực Đế (1509 - 1516) Tuy nhiên, Lê Tương Dực cũng không hơn gì

Uy Mục, giết hại anh em, hoang dâm vô độ Thậm chí trong thời Lê TươngDực, còn có những việc xa xỉ chưa từng có: “Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tôđốc thúc nhân dân phải xây một ngôi điện một trăm nóc và xây một ngôi đài

Trang 11

hàng mấy năm không xong Theo sử sách cũ: Việc xây dựng điện trăm nóc vàCửu Trùng Đài đã làm chết rất nhiều dân Không những thế nhân dân cònphải đóng rất nhiều thuyền đẹp cho vua để nhà vua bắt những mỹ nữ chèothuyền cho hắn đi dong chơi trên Hồ Tây” [15, 11] Ngoài ra chúng còn choxây dựng nhiều công trình khác như chùa, điện và bao quanh bởi hàng ngàntrượng tường càng làm cho nhân dân khốn khổ mọi bề Thậm chí không đủnhân công để phục dịch cho sự xa xỉ của vua chúa phong kiến chúng còn bắtquân lính ở năm phủ phải làm thêm trong mấy năm liền Tất cả những điềunày làm cho triều chính nhiễu nhương, nhân dân căm hận, đất nước suy yếu

về mọi mặt Sự xa xỉ vô lối này đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm phác họa:

“Thói tà ích hoang dâm lưu lêSang thì quen thói kiêu căng,Giầu thì xa xỉ há rằng một ai

Sửa sang những tường dài nhà rộng,Nào kẻ hoa trạm bóng vẽ vời

Đường đem chát chõa đồ xôiSáp đem làm củi đủ mùi xa hoa

Ăn uống phí tiêu pha lại quá,Nào khinh cừu, phi mã rủi rong”

(Bài văn bia quán Trung Tân)

Có lẽ chính lối trị vì thối nát này của những ông “vua quỷ, vua lợn” củatriều Lê mà Nguyễn Bỉnh Khiêm mặc dù đã mang trong mình “một bồ kinhsách” và tấm lòng “ưu đời ái quốc” sâu sắc nhưng ông không ra thi thố và làmquan mà chấp nhận ở quê nhà dạy học, trong những áng thơ của ông ta thấynhững nỗi niềm mơ ước về một thời đại “Ước một tôi hiền chúa thánh minh”nhưng điều đó thật khó trước bối cảnh thời đại bấy giờ

Chính sự ăn chơi vô độ và sự bạo tàn của Lê Tương Dực nên lên ngôiđược không lâu hắn bị Trịnh Duy Sản giết và lập Quang Trị lúc bấy giờ mới 8tuổi lên làm vua, Quang Trị lên ngôi chưa kịp đổi niên hiệu thì anh Duy Sản

Trang 12

là Duy Mại đưa Quang Trị vào Tây Kinh (Thanh Hóa) và sau đó không lâu thì

bị giết Nguyễn Hoàng Dụ nghe tin Duy Sản đã giết vua, rút quân trở về để uyhiếp Trước tình thế đó Duy Sản lại họp các tôn thất đại thần nhà Lê và lậpmột người con trong tôn thất là Ỷ, 14 tuổi lên làm vua, tức là Chiêu Tông(1516 - 1522) Song điều đó cũng không làm dịu được tình hình, kinh đô đã bịphá hủy, Duy Sản lại đem Lê Ỷ vào Tây Kinh

Trong triều, Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy là những phe phái lớn,chúng tìm mọi cách tranh chấp quyền vị nên gây chiến lẫn nhau làm cho cụcdiện triều chính càng trở nên căng thẳng Vua Chiêu Tông còn trẻ tuổi khôngnắm hết quyền hành nên trước tình thế khó khăn đó tháng 8 năm 1517, LêChiêu Tông đành phải giao cả binh quyền cho Mạc Đăng Dung mong dẹp yênloạn thần Mạc Đăng Dung lúc này cũng nắm quyền bính khá lớn trong triềunên thừa cơ đánh Nguyễn Hoằng Dụ về Thanh Hóa nhưng một nhóm quầnthần là Trần Chân, Trịnh Tuy và Hoàng Duy Nhạc nổi lên đánh chiếm KinhThành, Mạc Đăng Dung lại phối hợp với Nguyễn Hoàng Dụ đánh lại chúng.Đến cuối năm 1519 Mạc Đăng Dung đem vua Lê trở về kinh đô và đượcphong tước Quốc công thao túng cả triều đình, Chiêu Tông lúc này chỉ là bùnhìn Tuy nhiên trong thời gian làm phụ chính Mạc Đăng Dung đã thi hànhmột số chính lệnh tốt và được dân chúng ngưỡng mộ Lê Chiêu Tông lo sợbèn mưu với một số triều thần tìm cách ám hại Mạc Đăng Dung Sự việc bại

lộ Mạc Đăng Dung bắt giết Lê chiêu Tông lập Lê Thung lên làm vua Ít lâusau Mạc Đăng Dung bắt Lê Thung phải nhường ngôi cho mình, rồi giết luôn

cả Lê Thung và Thái hậu Hành động này của Đăng Dung gây phẫn nộ lớncho nhiều người đặc biệt là những cựu thần nhà Lê

Vì vậy, sau khi Mạc Đăng Dung lên ngôi, mâu thuẫn giữa Lê - Trịnh vàMạc càng trở nên quyết liệt Cuộc đấu tranh của các cựu thần nhà Lê nổi lên ởnhiều nơi chống lại kẻ thoán đoạt Trong đó có những thế lực to lớn như anh

em nhà Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên chiếm cứ cả một vùng Tây Bắc, đặc biệt

Trang 13

Trịnh Kiểm giúp đỡ nên lập nên nhà Lê Trung Hưng Vì nhà Lê ở Thanh Hóanên sau này được các sử gia gọi là Nam triều để đối lập với nhà Mạc đóng ởThăng Long được gọi là Bắc triều Từ năm 1545, sau khi Nguyễn Kim mất thìmâu thuẫn giữa Trịnh Kiểm và hai con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Uông vàNguyễn Hoàng lại nảy sinh Năm 1558 Nguyễn Hoàng thấy Nguyễn Uông bịTrịnh Kiểm ám hại bèn biện cớ xin vào Thuận Hóa để giữ mình Thỉnh cầu đóđược chấp nhận có lẽ cũng vì Trịnh Kiểm muốn Nguyễn Hoàng đi xa để dễchuyên quyền hơn Kể từ đây Nam triều lấy danh nghĩa nhà Lê nhưng thựcquyền lại thuộc họ Trịnh, vua nhà Lê chỉ là bù nhìn Cuộc nội chiến giữa Namtriều tức Lê - Trịnh và Bắc triều tức nhà Mạc kéo dài hơn năm thập kỉ Trướccảnh triều chính đất nước suy tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau xót mà rằng:

“Thái hòa vũ trụ bất Ngu, Chu

Hỗ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù

Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu,Uyên ngư tùng tước vị thùy khu

Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,Hậu hoạn tu phòng nhập thất khu

Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước,Túy ngôn trạch bạn nhậm nhàn du”

Trang 14

Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi”

Chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên đâu đâucũng cảnh “núi xương sông máu thảm đầy nơi”, đất nước chia lìa, tan tác.Nguyễn Bỉnh Khiêm càng đau đời bao nhiêu chứng tỏ ông càng yêu đời bấynhiêu, thực tại đau thương của đất nước chính là chất xúc tác cho những tưtưởng nhân nghĩa mang tính biện chứng của ông

Bọn quan lại triều chính tìm mọi cách bóc lột nhân dân dẫn đến chínhsách chiếm hữu ruộng đất của nông dân được tiến hành ráo riết, làm cho đờisống nhân dân ngày càng khốn đốn:

“Cư ốc triết vi tânCanh ngưu đồ nhi thực

Nhượng đoạt phi kỉ hóa,Hiếp dụ phi kỉ sắc”

(Thương loạn)

Dịch:

“Nhà ở đem bẻ làm củiTrâu cày đem mổ thịt ăn

Cướp đoạt tài sản không phải là của mìnhHiếp dỗ người không phải là vợ mình”

Chính vì vậy phong trào đấu tranh của các tầng lớp nông dân diễn raliên miên khắp nơi Thợ thủ công và nhà buôn nhỏ cũng bị ảnh hưởng nhiều

vì chính sách chiếm đoạt đó Những người thợ thủ công bị bắt làm côngtượng, không còn được làm công việc của mình mà phải phục dịch cho bọnquan lại Còn lại những người thợ thủ công không bị bắt đi làm công tượngthì quay ra làm ruộng nhưng “đồng ruộng chỉ còn mạ khô” , mà thuế khóa lạinặng nề Những người buôn bán không thể kinh doanh vì nhân dân nghèođói, không đủ tiền để trao đổi mua bán Đồng thời việc buôn bán lớn tậptrung chủ yếu vào tay bọn quan lại có quyền lực Triều đình không chăm lo

Trang 15

thương, sĩ thứ đều chung lòng căm hận triều đình Triều chính bê tha bọn thốngtrị đua nhau tranh giành quyền chiếm đoạt ruộng đất xung đột diễn ra liên miên.

Để thỏa mãn cho sự xa hoa trụy lạc chúng tăng cường bóc lột nhân dân nhiềuhơn, mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độ phong kiến ngày càng trở nên gay gắt.Dưới ách thống trị thối nát ấy và sự bóc lột cùng kiệt của bọn vua quan, phongtrào nông dân nhanh chóng loang ra rộng rãi khắp nơi Khắp đất nước các phongtrào đấu tranh của nhân dân diễn ra mạnh mẽ Chiến tranh cứ thế liên miên, giờđây không chỉ là chiến tranh của các tập đoàn phong kiến với nhau mà còn cảbọn phong kiến thống trị với nhân dân Đất nước ta như một lò lửa thương loạn.Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn mà chua chát:

“Chiến tranh hỗ tương tầmHọa loạn chí thử cực”

“Giáo và mộc tua tủa bay ra trào nước mắtNhân dân chốn chạy muốn tìm nơi an toànKhốn đốn dắt dìu nhau, thở than không có đất”

(Cảm hứng, bài 4)

Trước cảnh tình đất nước Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn đau đớn, xót xa.Ông nhìn thấy hai mâu thuẫn nổi cộm trong xã hội đương thời đó là mâu giữabọn thống trị phong kiến với nhau và mâu thuẫn giữa chúng với nhân dânđang bị bóc lột song mâu thuẫn đó không dễ dàng giải quyết được Vì vậy,xuyên suốt những áng thơ văn của ông ta luôn thấy chất chứa một nỗi niềmvới nước với dân với sự khinh rẻ lũ vua quan ngốc nghếch, hung tàn, với sự

Trang 16

chán ghét chiến tranh đến cùng cực và sự thương cảm sâu sắc trước nhân dân

vô tội Dường như bất mãn trước thời cuộc tương tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêmnhất quyết không ra làm quan mà “bên đầm say hát nhởn nhơ chơi” nhưngthực ra cái nhởn nhơ đó chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài bởi trong sâu thẳm ôngvẫn chất chứa một nỗi niềm ưu dân ái quốc Vì vậy, chưa thể lao ra mà giúpđời, giúp người, ông đứng sau để quan sát, để cảm thông và cũng để chiêmnghiệm để rồi khái quát lên thành những tư tưởng, quy luật của cuộc sống.Chính việc tận mắt chứng kiến sự đổi vần của của xã hội, sự thay đổi thoánđoạt nhanh chóng của các triều đại, nỗi khổ đau bi đát của nhân dân trướctrước nạn binh đao đã tác động không nhỏ tạo nên những tư tưởng triết họcbiện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bởi thực tiễn là cơ sở, động lực, là điểmxuất phát trực tiếp của nhận thức Chính thực tiễn xã hội đương thời đã tácđộng đến những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và những tư tưởng đóđược ông thể hiện qua những vần thơ sâu sắc

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Cùng với sự bất ổn của tình hình chính trị, đời sống kinh tế của ngườidân vô cùng khốn đốn, nền sản suất nông nghiệp bị giảm sút nhiều Bọn vuaquan không chăm lo đến sự phát triển nông nghiệp như thời vua Thái Tổ, TháiTông Đê điều không được quan tâm, tu sửa, đất đai hoặc bọn quan lại chiếmđoạt phục vụ cho mục đích riêng hoặc bị bỏ hoang Người nông dân không cóđất cày cấy “khốn đốn dìu dắt nhau, thở than không có đất” [31, 89], còn nếulàm được thuế má các loại quá nặng nề dẫn đến đời sống nhân dân vô cùng cựckhổ Nạn đói kém, thất bát mất mùa triền miên, nền nông nghiệp nhìn chung làsuy kém, cảnh chết đói bần cùng xảy ra khắp nơi:

“Đồng ruộng chỉ còn mạ khô,Kho đụn không hạt thóc thừaVất vả nghèo khổ, người nông phu than vãnĐói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc”

Trang 17

Hình ảnh “đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc” là hình ảnh có sức tốcáo mãnh liệt hậu quả của những cuộc chém giết lẫn nhau trong giai đoạn nàyđồng thời cũng là hình ảnh mang sức ám ảnh lớn với bản thân Nguyễn BỉnhKhiêm cũng như những người đọc Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tái hiện một cáchsâu sắc tình cảnh đất nước ta thế kỉ XVI vào trong thơ, văn của mình, qua đócòn muốn thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả.

Về tình hình công thương có một số điểm đặc biệt làm cho tình hìnhcông thương không đến nỗi suy yếu như nông nghiệp bởi sự xa xỉ tiêu phacủa bọn vua chúa và sự ảnh hưởng của việc buôn bán với người Phương Tây.Tuy nhiên sự phát triển cũng không đáng là bao bởi còn chịu sự chèn ép củacác thế lực phong kiến với thuế má nặng nề đã làm mất hứng thú của sự sảnxuất, chế độ thuế thổ sản lại càng phá hoại lực lượng sản suất Đời sống nhân

dân khổ cực trăm bề Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú

viết rằng: “thuế thổ sản trung thu hà lạm khiến người ta cùng kiệt không nộpnổi, khốn đốn đến phải bỏ nghề Có người vì thuế sơn mà phải chặt cây sơn,

có người vì thuế lụa mà phải hủy khung cửi, thúc thuế gỗ mà người ta bỏ rìubúa, thu thuế cá mà người ta bỏ lưới chài, thu thuế mật thì bỏ mía, thu thuếbông chè thì vườn tược bỏ hoang”[15, 14] Trong thời kì này triều Lê có pháttriển nghề khai mỏ để đúc đồng, đúc tiền, một phần phục vụ cho cuộc sống xa

xỉ của vua chúa, mặt khác để lưu thông buôn bán.Việc buôn bán với nướcngoài trong thời gian này đã đem đến một số khởi sắc cho nền thương nghiệp.Tiền tệ lưu thông được dễ dàng, những đô thị cũng mọc lên tập trung một sốphú thương mới nhưng chưa có địa vị quan trọng trong xã hội Bởi những mốilợi lớn về ngoại thương là do nhà nước nắm giữ, mặt khác những mại bảnTrung Quốc và Nhật Bản đã giành lấy đứng ra trao đổi trực tiếp với thươnggia ngoại quốc, còn thương nhân Việt Nam chỉ đóng vai trò là trung gian bậcdưới, để mua hàng của nhân dân sản xuất ra mà thôi Tầng lớp phú thươngnày chưa có một tác dụng gì đáng kể trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên Nókhông trở thành một lực lượng mới có tính chất cách mạng như ở các nước tư

Trang 18

sản thời bấy giờ Nhưng nó cũng đóng vai trò nhất định trong quá trình lưuthông, buôn bán Trong giai đoạn này, chính sự trao đổi buôn bán đã tạo nênmột diện mạo mới cho xã hội, đồng tiền đã mang một sức mạnh vô hình, nólàm đảo lộn mọi trật tự xã hội Sự ảnh hưởng của đồng tiền đã làm thay đổinhận thức, đạo đức của con người, những tôn ti trật tự, cương thường đạo lí

đã không còn nhiều, thay vào đó là lối sống vụ lợi chạy theo đồng tiền:

“Giàu sang người trọng khó ai nhìnMấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn

Thuở khó dẫu chào, chào cũng lặngKhi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen

Quen hiềm dan díu điều bè bạn,Lặng kẻo lân la nỗi bạ menĐạo nọ, nghĩa này trăm tiếng bướmNghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”

(Thơ Nôm, bài 5)

Hay:

“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười

Có của thời hơn hết mọi nhờiTrước đến tay không nào thốt hỏiSau vào nặng gánh lại vui cười”

(Thơ Nôm, bài 80)

“Còn bạc, còn tiền còn đệ tửHết cơm hết gạo, hết ông tôi”

(Thơ Nôm, bài 77)

Trước tình cảnh chiến tranh loạn lạc liên miên, đời sống vất vả cựcnhọc, sống chết lúc nào không hay dường như con người ta trở nên ích kỉ hơn,

vụ lợi hơn Đây cũng chính là kết quả của một xã hội mà triều chính đảo điên,chiến tranh xâu xé, tranh giành quyền lực lẫn nhau Nền kinh tế xã hội đương

Trang 19

chính trị của đất nước Mác và Ănghen đã nói trong bản tuyên ngôn của Đảngcộng sản “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội (cơcấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế sinh ra) là hai yếu tố cấu thành cơ sởlịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy” [28, 11] Vì vậy chính cáinền kinh tế trì trệ đương thời là cơ sở hạ tầng cho những tư tưởng triết họcthời bấy giờ Do đó, những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởngsâu sắc của tình hình kinh tế xã hội của thế kỉ XVI đầy biến động.

Trên cơ sở tình hình chính trị - xã hội rối ren và phức tạp của thế kỷXVI, ý thức hệ tư tưởng của thời đại cũng có sự biến chuyển mạnh mẽ Hoặc

là vì quyền lợi, địa vị, hoặc là vì sức mạnh của đồng tiền, vì ăn chơi dâm dậtdẫn đến khắp nơi trong nước đã xảy ra “chiến tranh hỗ tương tầm”, chém giết,tàn khốc, vô nhân đạo, Tất cả những cái đó đã phá vỡ cương thường đạo líNho giáo mà thế kỷ XV - thế kỷ toàn thịnh của phong kiến tập trung đã cốgắng xây dựng Những người còn giữ được kỉ cương phép tắc, đạo vua tôi cònrất ít Nhìn chung thì đại bộ phận đã xu thời, a phụ những kẻ có thế lực nhất

để thời mưu quyền lợi, địa vị, ăn chơi dâm dật, đục khoét nhân dân Cũng vớithời thế đảo điên, thế lực đồng tiền cũng góp phần làm giảm giá trị thiêngliêng của đạo đức, lễ nghĩa và trật tự phong kiến Tất cả như ông khái quát:

“Gió mưa gặp lúc u ám tối tămCương thường ngày một suy sụp lỏng lẻo

Lễ nghĩa than ôi ngang trái,

Mũ lọng theo đó đảo ngượcThờ vua tôi chẳng ra tôi,Thờ cha con chẳng ra con”

Cảnh trị bình ngày một sa xuống chốn nhuốc nhơ,Con người ta tự không biết liêm sỉ

(Cảm hứng)

Trang 20

Trước tình trạng ấy những người yêu nước thương dân tự thấy mình bấtlực Hoặc là họ chấp nhận ẩn mình, lánh đời hoặc mong mỏi, ước mơ về một

sự đổi mới, một vương triều mới đem lại cảnh thái bình cho nhân dân.Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã “mũ ni che tai”, thế nhưng với tấm lòng ưu thờimẫn thế, ông vẫn mong được góp sức mình cho đời, cho người, mong đem cái

“vốn” sẵn có trong mình để có thể thành “tôi hiền chúa thánh minh”, giúp đấtnước qua khỏi cơn loạn lạc và sớm xây dựng được một xã hội như thờiNghiêu Thuấn

Trong bối cảnh suy đồi, suy thoái của nhà Lê đến mức cùng cực, khắpnơi dân tình ai oán thì nhà Mạc xuất hiện Mặc dù, sự ra đời của nhà Mạc trên

cơ sở thoán đoạt nhà Lê, nó không danh chính ngôn thuận thế nhưng với cáinhìn khách quan, so với sự suy tàn, thối nát của những ông “vua lợn, vuaquỷ” đương thời và lũ lâu la nịnh thần bấy giờ thì triều Mạc là một vươngtriều mới, có nhiều mặt tiến bộ, nhất là trong giai đoạn trị vì của Mạc ĐăngDoanh và Mạc Đăng Dung Và hơn nữa sự ra đời của nhà Mạc cũng xuất phát

từ chính cái nền tảng đổ nát của nhà Lê – đó là điều tất yếu Đúng như quyluật thịnh suy mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nhắc đến trong nhiều tác phẩmcủa mình Sau những biến động, hỗn loạn của triều Lê, vào những năm 30 củathế kỉ XVI, triều Mạc đã tạo ra được một thời kì ổn định và phát triển của xãhội Ngay sử chính thống của triều Lê trên lập trường đối địch với triều Mạccũng phải ghi nhận những thành quả mà vương triều Mạc tạo ra từ năm 1532:

“Từ đấy, người buôn bán và người đi đường đều đi tay không, ban đêm không

có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng kiểm soátmột lần, hoặc có sinh đẻ cũng không thể biết là vật của mình Trong khoảngvài năm đường xá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, thường đượcmùa to, trong cõi tạm yên” [20, 126] Đây có thể nói là một xã hội mà cho đếnnay vẫn là điều mơ ước của chúng ta, mà trong bối cảnh xã hội đương thờinhà Mạc có thể làm được là một điều đáng ghi nhận và trân trọng Bởi mỗi

Trang 21

vương triều ra đời cái cốt yếu là duy trì chế độ cho nhân có cuộc sống ấm no,thanh bình

Ngoài ra trong các chính sách đối nội, nhà Mạc nói chung vẫn theo nhà

Lê, song cũng có nhiều thay đổi có ý nghĩa tiến bộ, về ruộng đất, năm 1553nhà Mạc ban hành chính sách mới quy đinh: ruộng quan và ruộng chùa củacác làng xã, ngoài phần cấp cho binh sĩ, “còn bao nhiêu ruộng sẽ theo sốngười trong xã mà chia đồng đều” [10, 280] Đây là chính sách rất tiến bộ đặcbiệt là so với chế độ quân điền của nhà Lê, nó tôn trọng truyền thống cộngđồng làng xã hơn và có lợi cho dân chúng hơn Trong triều Mạc các hoạtđộng công thương nghiệp cũng có phần khởi sắc, nhiều chính sách thôngthoáng, thương nhân được đi lại buôn thuận lợi, tiền đúc nhiều, chợ mở nhiềunhất là các thị trấn ở miền giáp ranh.Nhiều ngành nghề truyền thống đượckhôi phục, nhất là nghề gốm sứ phát triển, lò gồm được mở nhiều trong nướcnhất là ở xứ đông và còn phục vụ cho việc giao lưu buôn bán với nước ngoài

Về văn hóa, triều Mạc đặc biệt quan tâm, tuy trong hoàn cảnh đất nướckhó khăn, chiến tranh liên miên, nhưng triều đình vẫn mở đều các kì thi hội

Trong hơn 60 năm cầm quyền (1527 - 1592), triều Mạc, theo Đại Việt lục triều đăng khoa lục, đã mở 22 kỳ thi hội, lấy đỗ 483 tiến sĩ So với 100 năm

trị vì của triều Lê (1428 - 1527) mở được 31 kỳ thi hội, lấy được 647 tiến sĩ,thì tỉ lệ các kì thi và số người đỗ tiến sĩ triều Mạc chẳng kém gì Chứng tỏ sựquan tâm, cũng như tư tưởng rất tiến bộ cho sự phát triển của nước nhà Cóthể nói sau một thời gian ổn định lại tình hình nhà Mạc đã có những thành tựuđáng kể góp phần làm cho quốc thái dân an Những chính sách tiến bộ củanhà Mạc đã có tác động sâu sắc đến nhận thức của các Nho sĩ bấy giờ trong

đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm Vì vậy, năm 1535, khi đã 44 tuổi, Nguyễn BỉnhKhiêm quyết định đi thi, ông đỗ đầu các kì thi và trở thành Trạng nguyên ởtuổi ngoài 40 Sau khi đỗ Trạng nguyên, ông hăng hái ra làm quan với nhàMạc với mong muốn đem hết khả năng trí tuệ của mình để góp phần xây

Trang 22

dựng một đất nước đẹp giàu, thỏa cái ước nguyện “ước một tôi hiền chúathánh minh” để xây dựng một xã hội “thái bình thiên tử thái bình dân”.

Tuy nhiên do yêu cầu tất yếu của lịch sử cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVItình hình thế giới cũng có những bước chuyển biến có ý nghĩa bản lề trongmối quan hệ giữa phương Đông và phương Tây có ảnh hưởng to lớn đến xuthế phát triển của các nước phương Đông Ở phương Tây, cuối thế kỉ XIV đầuthế kỉ XV, mầm mống tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở một số nước Sau quátrình tích lũy nguyên thủy, đầu thế kỉ XVI chủ nghĩa Tư bản đã ra đời ởnhững nước tiến tiến của Châu Âu, tiếp đó sang thế kỉ XVI, XVII,XVII chủnghĩa Tư bản lần lượt thắng lợi ở nhiều nước tạo nên một cục diện mới trênphạm vi thế giới

Sau những phát kiến địa lí cuối thế kỉ XV, từ đầu đầu thế kỉ XVI, chủnghĩa tư bản phương Tây đã tràn sang phương Đông Từ thế kỉ XVI, nước ta bắtđầu tiếp xúc với các thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan ngoài sựtiếp xúc về kinh tế, nhiều tư tưởng văn hóa cũng bắt đầu du nhập vào

Trong khi đó như ta đã biết từ thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Namvới cơ cấu kinh tế - xã hội, thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởng Nho giáocủa nó đã bộc lộ sự trì trệ và bất cập so với xu thế chung của thời đại Xã hộiViệt bấy giờ đứng ở trạng thái lưỡng nghi, cái mới thì chưa xuất hiện hẳn, cái

cũ thì chưa mất đi hẳn, mọi thứ trở nên xáo trộn không còn cái tôn ti trật tựvốn có của Khổng Giáo, cương thường đạo lí sụp đổ, nền kinh tế hàng hóa bắtđầu manh nha, đồng tiền trở thành nguồn sức mạnh to lớn có thể điểu khiểnđược cả xã hội Những bậc Nho sĩ bấy giờ như Nguyễn Bỉnh Khiêm bất lựctrước thời cuộc đảo điên

Vì vậy trước sự sụp đổ của nhà Lê, nhà Mạc lên thay cũng không tránhkhỏi guồng quay của lịch sử Mặc dù có nhiều cố gắng, có nhiều tiến bộ trongbuổi đầu khởi nghiệp, tuy nhiên cũng không tìm ra một mô hình mới cho chế

độ phong kiến Việt Nam Những mâu thuẫn nội tại của chế độ quân chủ theo

Trang 23

chiến phong kiến kéo dài làm cho quốc gia thống nhất bị phá vỡ và đời sốngnhân dân cực khổ Thiết chế truyền thống dựa trên quan hệ cộng đồng nhà -làng - nước bị suy yếu, còn một thiết chế mới xây dựng trên cơ sở phát triểnmạnh mẽ của kinh tế hàng hóa, gắn liền độc lập dân tộc và thống nhất quốcgia lại chưa có điều kiện được hình thành.

Chính những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội trên ảnh hưởng rất sâusắc đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Sinh ra và lớn lên trongthời thế này, ông đã chứng kiến cái hiện thực rối ren của xã hội Trong cuộcđời dài ngót một thế kỷ, ông đã trải qua bao nhiêu thay đổi, hưng vong cũngnhư những người chân chính thời bấy giờ, ông không thể nào đem tài năng

mà xây dựng lại kỷ cương, thời thế Con đường xuất thế của ông là con đườngtất yếu của những bậc sĩ phu ưu thời mẫn thế trong thời buổi nổi loạn bấy giờ

Vì vậy, sau 8 năm làm quan, ông lại trở về với cuộc đời thanh bạch chốnruộng vườn, tuy nhiên đằng sau sự ẩn dật tưởng chừng như lánh đời đó,Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn dõi theo thời cuộc, vẫn đi cùng cuộc đời, thấu đượcnhững nhân tình thế thái để rồi chiêm nghiệm, đúc kết và đưa lên trình độ triếthọc đặc biệt ông đã khái quát thành những tư tưởng triết học biện chứng rấttiến bộ Những tư tưởng đó được thể hiện qua thơ văn của ông, chỉ đơn thuần

là sự trải lòng của một trí sĩ nhưng đồng thời là một kho tàng tri thức, giáodục cho nhân dân quan niệm vũ trụ nhân sinh đúng đắn, thấy được sự vậnđộng biến đổi của đất trời, thời thế Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân trong bài Phả

kí có viết: “Còn như tiên sinh: sẵn có tư chất thông tuệ, thêm vào đạo họcthánh hiền, ví thử đắc thời để mà thi thố sở học chắc sẽ tạo ra được cảnh trịbình, thay đổi phong tục phù bạc thành ra lễ nghĩa văn minh Thế mà trái lại:một người có đức đủ phò tá nghiệp vương lại sinh ra giữa thời bá giả, thành ra

sở học trở nên vô dụng, thực đáng tiếc thay” [44, 634] Song theo tôi khônghẳn là vô dụng, là đáng tiếc Nguyễn Bỉnh Khiêm không cống hiến hết tàinăng vào trí tuệ cho sự nghiệp phò vua giúp nước nhưng bằng tài năng trí tuệuyên thâm ông đã để lại cho đời những áng văn thơ bất hủ, những cấu sấm kí

Trang 24

nổi tiếng và hơn nữa là một tư tưởng triết học biện chứng có giá trị sâu sắc.Cho đến nay những tư tưởng của ông vẫn còn nguyên giá trị và đóng góp mộtphần to lớn vào dòng chảy lịch sử tư tưởng nước nhà.

1.2 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.2.1 Thân thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm tên húy là Văn Đạt, tên chữ là Hanh Phủ, hiệu làBạch Vân Cư Sĩ Ông sinh năm Tân Hợi niên hiệu Hồng Đức thứ 22 (1491),(Theo Đại Việt Sử loại tiệp lục của Vũ Khâm Lân) Ông sinh ra ở làng Trung

Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, tỉnh HảiPhòng)

Ông nội của Nguyễn Bỉnh Khiêm húy là Văn Tĩnh, được truy tặng TháiBảo Tư quận công Bà nội được truy phong là Chính Phu nhân Cha là VănĐinh, ấm phong tước Thái Bảo Anh quận công, sung chức Thái học sinh (họcsinh Quốc tử giám) Ông ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan,người làng Yên Tử, huyện Tiên Minh, tỉnh Hải Dương vốn nổi tiếng thôngminh, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tới chức Thượng thư Bộ hộ, là một vị quancương chính và hết lòng yêu dân Vì vậy người đời sau có câu:

Họ Nhữ khai hoa tự Nhữ LanTiếng lừng hai nước động Hoa, NamDanh thơm bút sử nào hay biết

Vua ban mỹ tự bút lừng thơm

Con người tài hoa, đỗ đạt này đã sinh ra người con gái mang tên NhữThị Thục, chính là mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Có lẽ khi tìm hiểu về tưtưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ là thiếu nếu không nói về người

mẹ tài ba của ông Chính bà là bước đệm cho những tư tưởng hoài bảo củaNguyễn Bỉnh Khiêm sau này Đó là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi,thông kinh sử, giỏi văn chương lại tinh thông tướng số Bà là người phụ nữđặc biệt giữa thế kỉ XVI với những ước vọng lớn và tư duy khác biệt Bà

Trang 25

vẫn không tìm được người ưng ý Đến lúc gần 30 tuổi, gặp ông Văn Định, cho

là có tướng sinh quý tử mới chịu lấy Ngay từ khi sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm

đã là cậu bé khôi ngô tuấn tú, nhanh nhẹn hơn người, cùng với sự giáo dục rất

nghiêm khắc của cha mẹ, đặc biệt là mẹ ông Trong sách “Đại Việt sử loại tiệp lục” của Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân, ghi rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc

nhỏ rất thông minh, lại nhờ sự giáo dục của mẹ, nên lúc bốn tuổi đã thuộc vàhiểu các chính văn kinh truyện Sự tinh anh của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đượcbộc lộ từ rất sớm, chưa đầy năm ông đã biết nói Theo Phả kí của Vũ KhâmLân: “một hôm, vào buổi sáng sớm Văn Định đang bế con trên tay, bỗng thấycậu nói rằng: “mặt trời mọc ở đằng đông”, ông lấy làm lạ Rồi năm lên bốntuổi phu nhân dạy cậu học kinh truyện, hễ dạy đến đâu cậu học thuộc lòngđến đấy, riêng thơ quốc âm đã nhớ được mấy chục bài Lại một hôm bà đivắng, ông ở nhà bày trò kéo dây đùa với lũ trẻ, nhân đọc bỡn một câu rằng:

“Nguyệt leo cung, nguyệt leo cung”, rồi muốn đọc tiếp câu nữa nhưng chưanghĩ kịp thì cậu đứng bên đọc luôn:’Vén tay tiên nhẫn nhẫn rung” Ông thấycậu mẫn tiệp như vậy có ý mừng thầm, đợi khi bà về thuật lại cho nghe Bàlấy làm bất mãn nói với ông rằng: “Nguyệt là tượng bề tôi cớ sao ông lại dạycon như thế”, ông cả thẹn xin lỗi, thế nhưng bà vẫn không nguôi giận rồi bỏđi” [44, 625] Trong cách giáo dục của mình bà luôn hướng ông trở thành “vịthiên tử” dựng nên nghiệp lớn mặc dù bà ở bên ông không được bao lâunhưng kho kiến thức mà bà vun đắp cho ông từ khi mới lọt lòng không phải là

ít và nó theo ông trong suốt cuộc đời Vì vậy có thể nói mẹ của Nguyễn BỉnhKhiêm có sự ảnh hưởng không nhỏ trong tư tưởng cũng như sự nghiệp củaông sau này, đặc biệt là trong những vần thơ thấm đượm tình quê hương mộcmạc lại ẩn chứa tư tưởng triết học sâu sắc

Khi lớn lên, vốn thông minh và giàu chí hướng Nguyễn Bỉnh Khiêmtìm đến người thầy nổi tiếng Lương Đắc Bằng để xin học Lương Đắc Bằng làcon cháu của Lương Như Hộc, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnhThanh Hóa, đỗ Hội nguyên Bảng nhãn, làm đến Thượng thư Bộ lại Lương

Trang 26

Đắc Bằng vốn là người nổi tiếng văn chương lại am hiểu lý số, khi đi sứ sangTrung Quốc, ông được một người tặng cho bộ Thái Ất thần kinh Ông đã giữgìn và đem sách đó truyền lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bởi tin rằng chỉNguyễn Bỉnh Khiêm mới có thể lĩnh hội được những điều trong sách Saunày, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại trở thành thầy của con trai Lương Đắc Bằng làLương Hữu Khánh, nuôi dạy Lương Hữu Khánh như con và trở thành bậchiền tài.

Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng là học giỏi tài cao, nhưng ông khôngchịu ra thi làm quan trước thời thế bấy giờ mà ở ẩn dạy học Bởi ông sinh ra

và lớn lên trong khi triều chính nhà Lê bắt đầu đổ nát, rối loạn kỷ cương, phéptắc đảo lộn Các phe phái tranh giành quyền lực lẫn nhau, vua thần chém giếtlẫn nhau, ăn chơi xa đọa dường như ngai vàng là để thỏa mãn dục vọng và sự

ăn chơi sa đọa chứ không phải để lãnh đạo đất nước Xã hội rối loạn, triềuchính chỉ toàn bọn nịnh thần, gian dối, vua không ra vua, tôi chẳng ra tôi Conngười ngay thẳng trong tình huống đó nếu không muốn xu phụ kẻ quyền thế,thì tất có thể chuốc vạ vào thân một cách vô ích Vì vậy những con người amhiểu thời thế như Nguyễn Bỉnh Khiêm, ẩn dật là điều tốt nhất Là ẩn dậtnhưng ông vẫn dõi theo cuộc đời, vẫn buồn vui với những thăng trầm biến đổicủa thời cuộc xã tắc, vẫn cánh cánh một nỗi niềm với dân với nước Trong sâuthẳm tâm trí mình ông vẫn mong muốn:

Dịch thơ:

“Giúp vua phò nước dấn gian nguyGắng gỏi xông pha há quản gì

Quặn xót dân con vòng đói rét,

Ai đương nghĩa lớn diệt gian phi

Bao năm chinh phạt quân vua rạc,Mấy độ trưng thu của nước suy

Nhân giả nào ai người chẳng nỡ,Xót thương khoan giảm bớt phân ly”

(Cảm hứng, bài 6)

Trang 27

Nguyễn Bỉnh Khiêm chán nản cho sự thù ghét, đánh giết chinh chiếnmưu phạt lẫn nhau vì quyền lợi vì địa vị mà không hiểu được cái chân lí của lẽ

tự nhiên Ông xót thương cho cảnh nhân dân đói khổ phân ly, mong muốn mộtbậc quân vương đem lại sự thái bình yên vui cho xã tắc Trước thời thế đảođiên ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ trương sống thanh nhàn và xa lánh cuộc đấutranh xã hội, nhưng lòng đâu có yên, ông vẫn xót xa cho thế sự, tiếc thương cho

sự suy đồi của xã hội và không ngừng mơ ước tới một xã hội tốt đẹp để đấtnước được thái bình nhân dân được no ấm

Sau khi nhà Mạc lên nắm quyền, tình hình đất nước ở đằng ngoài bắtđầu đi vào ổn định, Mạc Đăng Dung có nhiều chính sách tiến bộ về kinh tếcũng như văn hóa, đặc biệt rất chú trọng đến tìm kiếm nhân tài Thế nhưngNguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ở ẩn dạy học cho đến năm 1534 khi Mạc ĐăngDoanh lên ngôi Hoàng đế và Mạc Đăng Dung rút về làm Thái Thượng Hoàngông mới chủ trương nhập thế Ông ra thi đỗ Trạng nguyên và làm quan vớitriều Mạc lúc này ông đã 45 tuổi Vậy tại sao lúc này ông mới chịu ra làmquan? Có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng theo tôi có thể hiểu theo haicách sau Thứ nhất bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là người tài trí hơnngười, tinh thông kinh sử và đặc biệt lại giàu lòng yêu nước thương dân Ôngluôn canh cánh một nỗi niềm được giúp dân, giúp nước, vẫn ước muốn vềmột xã tắc tốt đẹp nhưng chưa tìm thấy cơ hội trong bối cảnh triều Lê lũngloạn đương thời Triều chính đương thời là một bầu trời đen kịt, các vua Lêđương thời vẫn tổ chức nhiều khoa thi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn khôngmàng tới bởi ông biết rõ hơn ai hết cái viễn cảnh trước mắt Vì vậy, ông chỉ

có thể ôm ấp một nỗi lòng ưu ái quốc chứ không thể ra giúp đời Thứ hai, lúcnày Mạc Đăng Doanh đã lên ngôi - một ông vua hiền tài vì nước vì dân, ông

có nhiều chính sách tiến bộ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân phù hợpvới lòng mong mỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn Mạc Đăng Dung một conngười tài giỏi nhưng vẫn là bề tôi giết vua mà với một bậc Nho học như ôngthì điều đó là không cho phép nên khi Mạc Đăng Doanh lên ngôi, triều Mạc

Trang 28

đã có những bước tiến mới, những áng mây mù đã không còn che khuất, đó

có thể là chỗ dựa để ông thi thố tài năng, thỏa ước nguyện “vua sáng tôi hiền”

và mong ước xây dựng được một đất nước “thái bình thiên tử thái bình dân”của ông Do đó ông đã quyết định ra thi thố và làm quan Ngoài ra có thể nóinguyên nhân trực tiếp khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan chính là nguy

cơ ngoại xâm đe dọa đất nước Bởi lúc này những tàn tích của nhà Lê vẫn cốtìm mọi cách để lật đổ nhà Mạc và giành lại ngôi vị, trong đó không trừ thủđoạn cầu cứu nhà Minh Nhà Minh thì luôn lăm le rình rập cướp nước ta bất

kì lúc nào Vì vậy lúc này họa mất nước vào tay ngoại xâm đang lăm le từngngày, triều đình, sĩ thứ nhân dân dồn dập lo bảo vệ tổ quốc, do đó một ngườisâu sắc như ông không thể hưởng mãi cuộc sống an nhàn mà quên đi nghĩa vụvới dân với nước được

Năm 1534, đời Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thi và đỗ giảinguyên Năm sau thi hội bốn kì đều nhất, đỗ hội nguyên vào thi đình ông đỗTrạng nguyên Vua nhà Mạc rất vui mừng, đặc cách cử ông làm Đông cáchiệu thư, sau được cử làm Hình bộ Tả thị lang, và ít lâu sau chuyển sang Lại

bộ Tả thị lang kiêm Đông Các Đại học sĩ

Ở triều được ít lâu, Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy mọi việc đều không nhưông mong muốn, không cải thiện được cuộc sống cho nhân dân, bọn gian thầnvẫn ngang nhiên hoành hành, xu nịnh Bậc “chúa thánh minh” trong mongmỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không còn trị vì nữa Trước tình cảnh triềuchính không yên Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ đàn hặc 18 tên lộng thần xinchém cả để làm gương và tránh sự nhiễu nhương của triều chính Thế nhưng

sớ tâu không được xem xét, lại nhân việc con rể là Phạm Giao cùng với cha làPhạm Quỳnh cũng thuộc vào bọn quyền thần ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyênbảo không được, bèn cáo bệnh về trí sĩ Ông làm quan được 8 năm vua PhúcHải không giữ lại được đành phải chuẩn y và gia phong làm Trình Tuyền hầu

Vì thế người đời thường quen gọi ông là Trạng Trình

Trang 29

Nguyễn Bỉnh khiêm tưởng đối với nhà Mạc, có thể thực hiện được lýtưởng của mình Nhưng ông đi vào thực tế lại khác, ông đã thấy sự phân tranhquyền lợi của bọn phong kiến không thể giải quyết một cách dễ dàng được,ông thấy được những mâu thuẫn đang diễn ra trong xã hội, hiểu được thế vậnxoay vần nhưng mình bản thân ông không thể làm gì được, ông xin cáo lui đểbảo toàn lấy danh tiết và chí khí Với tư duy sắc sảo kết hợp với những nămtháng chốn quan trường là những bài học kinh nghiệm quý giá cho kho tàngtri thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí luận

và thực tiễn trên đã tạo nên Nguyễn Bỉnh Khiêm với những tư tưởng biệnchứng vượt trội

Sau khi từ quan (giữa năm Quảng Hòa thứ 2 (1542)) Nguyễn BỉnhKhiêm lúc này mới 52 tuổi trở về quê xây Am Bạch Vân, ở làng Trung Am,dựng hai cây cầu là Nghinh Phong và Trường Xuân để làm nơi nghỉ mát vàxây một cái quán ở bên sông Tuyết giang gọi là quán “Trung Tân” (BếnThiện), ông soạn bài văn khắc vào bia đá nói lên lòng nhân đạo của mình vàkhuyên răn người đời làm điều thiện

Từ đây Nguyễn Bỉnh Khiêm sống một cuộc đời phóng khoáng Ông sửasang lại các đình chùa trong làng, trồng cây hai bên vệ đường đê, mở một chợngày hai mươi tết cho người làng và xung quanh đến buôn bán Ông lại hay chơivới các nhà sư, có khi cùng nhau thả thuyền ra bể, hoặc ra chơi cửa Kim Hải,cửa Úc môn xem đánh cá, hoặc lên chơi núi Đồ Sơn, Ngọa Vân, Kính chủ, Yên

Tử ngắm cảnh ngâm vịnh Như vậy, đằng sau sự ẩn dật tưởng trừng như quênđời đó vẫn là tấm lòng “tha thiết với đời, với người” vẫn sẵn sàng phò vua giúpnước nếu cần Mặt khác, ông vẫn đi bên cạnh cuộc đời để quan sát, để chiêmnghiệm về cuộc đời và thể hiện qua những áng thơ văn để qua đó nói lên nhântình thế thái Có lẽ phải yêu đời và hiểu đời lắm ông mới chắt lọc tất cả để nânglên thành quy luật của xã hội Có thể nói đây cũng là giai đoạn mà tư tưởng củaông đã đạt đến độ “chín” và được thể hiện một cách sâu sắc nhất đặc biệt lànhững tư tưởng biện mang tính biện chứng của ông

Trang 30

Sau khi về trí sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm mở trường dạy học với rất nhiềuhọc trò Gần xa hâm mộ tài đức của ông, kéo về học rất đông có đến hàngngàn người Có nhiều người trở thành những nho sĩ nổi tiếng, và chịu ảnhhưởng rất nhiều của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Nguyễn Dữ, Nguyễn Quyện,Giáp Hải, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh Nguyễn Dữ là tác giả

“truyền kì mạn lục”, bộ sách này có được Nguyễn Bỉnh Khiêm bổ chính vàđược Nguyễn Khâm Lân phê là “thiên cổ kỳ bút” Nguyễn Quyện là con củaNguyễn Thiến trước đã theo cha bỏ nhà Mạc theo Lê sau lại quay về nhà Mạclàm đến chức Thừa tướng Thượng tể Tước Thường quốc công Giáp Hải đỗTrạng nguyên làm quan với nhà Mạc đến Lại bộ Thượng thư, sau được phongsách quốc công Phùng Khắc Khoan đỗ Trạng nguyên thời hậu Lê, cũng nhưNguyễn Bỉnh Khiêm không chịu ra làm quan với nhà Mạc sau nghe lờikhuyên của thầy vào Thanh Hóa giúp vua Lê Lương Hữu Khánh thi hội đỗTrạng nguyên, nhưng đến thi đình thì bỏ về bảo rằng: “ta đâu phải là cầudanh, thi để thử xem học của ta thế nào đấy thôi” Triều đình nhà Mạc tìm đủmọi cách mời ông ra làm quan, lúc đầu Lương Hữu Khánh từ chối chấp nhậnnghèo túng, đi chu du khắp nơi, sau nghe theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, về giúpvua Lê, có nhiều quân công được phong Trung Hưng công thần, làm quan đếnBinh Bộ Thượng Thư Trong số học trò của ông còn nhiều người cũng đỗ đạt

và làm quan to như Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung đều đỗ tiến sĩ Đó làcống hiến rất to lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho đất nước

Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã về trí sĩ, nhưng vua tôi nhà Mạc vẫn rấttôn thờ ông như một vị quân sư và thường sai sứ đến thăm viếng và đem biếunhững vật phẩm quý giá như ngọc ngà, gấm vóc Cũng có khi vua nhà Mạcngự giá về chơi nhà Mỗi khi trong triều có việc gì quan trọng nhà Mạc đềusai sứ đến hỏi hoặc mời Nguyễn Bỉnh Khiêm về kinh đô bàn bạc Vua nhàMạc đã nhiều lần mời Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan trở lại nhưng ông đều

từ chối nhất định không chịu ra làm quan, không màng chốn quan trường

Trang 31

Chẳng những thế ông còn tỏ thái độ không thích sự chăm sóc ân cần đó.Trong bài thơ chữ Hán số 5 của mình, ông viết:

Dịch:

“Chẳng tài ơn đội được thân vinhSăn sóc làm chi luống bận mìnhThực học đủ đâu cho kẻ trọng

Hư danh càng tổ khiến người khinhNgười vui trăm hốt đua bè bạn

Ta thích tùng, quân dưỡng tính tình

Phải trái mặc đời thôi chẳng nói,

Ai rằng mây trắng kém mây xanh”

Vẫn tha thiết với cuộc đời nhưng ông không màng danh lợi khôngmuốn xu nịnh ai mà cũng chẳng muốn ai chăm sóc mình Ông hết lòng vớinhà Mạc nhưng vẫn giữ những khoảng cách nhất định Đây có lẽ là do tưtưởng kinh dịch đã ăn sâu vào ngay cách xử sự của ông, bởi cái gì quá sẽ dễtan, đó là quy luận vận động biến đổi mà được ông trình bày rất sâu sắc trongnhững vần thơ của mình

Năm 1552 vua Mạc Phúc Nguyên nghe theo lời bọn nịnh thần PhạmQuỳnh, Phạm Giao vu khống Nguyễn Chiểu và thông gia là Lê Bá Huy có âmmưu làm phản Nguyễn Thiến và con là Nguyện Quyện, cùng với NguyễnThận, Nguyễn Mãi, Lê Bá Huy bỏ nhà Mạc vào Thanh Hóa giúp vua LêTrang Tôn Được tin ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm bèn gửi vào cho ông một bàithơ chữ Hán:

Dịch:

Ta giữ kẻ côi vì chút nghĩaBan đương khi biến, há cam lòngKhí vận một vòng ly lại hợpSông dài há có hạn Nam Đông

Trang 32

Năm 1557 Nguyễn Quyện đem quân đánh nhà Mạc ở vùng Sơn Nam,vua Mạc Phúc Nguyên lo sợ, lại biết Nguyễn Bỉnh Khiêm với Nguyễn Quyện

có tình nghĩa thầy trò và Nguyễn Quyện rất mến phục Nguyễn Bỉnh Khiêmnên bèn sai sứ đến hỏi kế Nguyễn Bỉnh Khiêm hiểu rõ thời cuộc và lại vốn có

tư tưởng không tán thành chiến tranh tàn sát lẫn nhau, nên gửi cho NguyễnQuyện một bức thư với nội dung như sau:

Dịch:

“Đạo ở mình ta có khó gì?

Phương chi chí khí đã tương kỳ,Nghìn năm quân phụ cương thường đóTrung hiếu một lòng chớ đổi đi”

Sau đó, ông phân giải rõ sự nguy hại của chiến tranh và thuyết phụcNguyễn Quyện đem quân trở về với triều Mạc

Khi nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm ta không thể không nhắc đến nhữngcâu sấm truyền bất hủ của ông Có thể nói sở trường của ông là lý học Trong

“Đại Việt sử loại tiệp lục” của Vũ Khâm Lân có chép nhiều truyện: Sứ nhàThanh là Chu Sán có nói: “Nhân vật ở Lĩnh Nam, về Lý học có Trình Tuyền,truyền đến Trung Quốc ” [44, 635] Ông thừa hưởng từ tài năng lý học,tướng số của mẹ và trau dồi sách Thái ất Thần kinh từ người thầy Lương ĐắcBằng và bằng chính cuộc đời thực tiễn, bằng những hoạt động thực tiễn củamình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có tư duy rất biện chứng khi nhìn nhận về tựnhiên, xã hội và tư duy Trên cơ sở tư duy biện chứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm

đã để nhiều tiên đoán có giá trị cho đến sau này Theo tục truyền rằng, năm

1556 khi vua Trung Tông mất, không có con, Trịnh Kiểm muốn thừa cơchiếm ngôi vua, song còn ngại lòng dân, nên còn chưa dám bèn đem lễ vậtđến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông không trả lời thẳng mà bảo gia đồng rằng:

“Năm nay không được mùa vì tại lúa giống không tốt, các ngươi nên tìmgiống cũ mà trồng” Sau đó ông lại sai người ra chùa quét dọn, thắp hương,

Trang 33

tất đồ lễ cúng và nói “thờ Phật thì ăn oản” [44, 641] Chúa Trịnh hiểu ý bèn từ

bỏ ý định làm vua và đưa người cháu năm đời của Lê Trừ (tức anh ruột củavua Lê Thái Tổ) là Duy Bang lập lên làm vua tức vua Lê Anh Tông

Sau này, khi thấy tình thế khó khăn Nguyễn Hoàng cũng cho người đếnhỏi ý kiến về việc lánh nạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm thủng thỉnh đi ra sau vườn

ngắm hòn non bộ và nói: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [62, 20]

Nguyễn Hoàng hiểu ý và nhờ chị gái xin với Trịnh Tùng vào trấn Quảng Thuận

Năm Ất Dậu, Nguyễn Bỉnh Khiêm ốm nặng biết không còn sống lâu nữa,bèn thảo sớ cho vua Mạc trong đó có đoạn: Thần suy tính độ số thấy vận nướcnhà đã suy, vận nhà Lê đã đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo.Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân tích đức lấy dânlàm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công,may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng thỏa được lòng

Vua Mạc Mậu Hợp sai người về thăm bệnh, hỏi việc nước, ông chỉ nói:

“Ngày sau có biến cố gì, đất Cao Bằng dầu nhỏ cũng có thể hưởng phúc đượcmấy đời” [44, 629] Xoay quanh những nhận định trên còn nhiều vấn đề bàncãi, song ta có thể hiểu rằng bằng chính cái nhìn biện chứng nên Nguyễn BỉnhKhiêm luôn có sự phân tích mọi vấn đề mọi vấn đề một cách tổng quát và phùhợp để đưa ra những nhận định đúng đắn, do đó cũng không có gì khó vớinhững đoán định có phần khó hiểu của ông Những kế sách tham mưu nàycủa ông không chỉ có gián trị triết học mà nó còn mang ý nghĩa chính trị giúpbình ổn tạm thời giữa các phe phái Chỉ có điều trong dân gian thường li kìhóa những nhận định của ông làm cho nó thêm phần kì bí và khó hiểu, hoặcbất kì một sự tiên đoán nào đó đều gán cho tên tuổi Trạng Trình

Ngày 28 tháng 11 năm 1585 Nguyễn Bỉnh Khiêm mất, thọ 95 tuổi Ông

ra đi để lại niềm tiếc thương vô vàn đối với người thân, bạn bè sĩ thứ cũngnhư tất thảy học trò của ông và nhân dân Vua Mạc sai Khiêm vương MạcKính Điển làm khâm sai cùng với các quan ở triều về tế lễ, truy phongNguyễn Bỉnh Khiêm làm Lại bộ Thượng Thư, thái phó Trình quốc công Hai

Trang 34

đời tổ khảo tỉ đều được phong ấm Vua Mạc lại phát cho sở tại ba nghìn quantiền để lập bàn thờ và cấp một trăm mẫu ruộng tự điền Đền được làm ngaytrước cửa dinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua thân viết mấy chữ đề là: “Mạc triềuTrạng Nguyên, Tể tướng từ”.

Về gia thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo “Bạch Vân cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả kí” [44, 632] do Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân ghi lại,

Nguyễn Bỉnh Khiêm có ba vợ: Chính phu nhân là Dương Thị, hiệu là Từ Ýquê Hải Dương, thứ phu nhân họ Nguyễn hiệu là Nhu Tĩnh và á phu nhân họNguyễn hiệu Vi Tĩnh Con cái ông có cả thảy 12 người, 7 trai và 5 gái Con cảhiệu Hàn Giang cư sĩ được ấm phong Trung Trinh đại phu, làm quan đếnchức Hiến phó Con thứ hai hiệu Tùy Am tiên sinh, phong hàm Triều Liệt đạiphu, tước Quang Nghĩa hầu Con thứ ba ấm phong Hiển cung đại phu, tướcNghĩa Xuyên bá Con thứ tư Thuần Phu phong hàm Hoàng Nghị đại phu, tướcQuảng Đô hầu Con thứ năm là Thuần Đức tước Bá Thứ hầu Con thứ sáu làThuần Chính tước Thắng Nghĩa hầu tất cả các con của ông đều được triềuđình trọng dụng

Như vậy qua tiểu sử trên đây của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta thấycuộc đời của ông, trừ một thời gian ngắn ra làm quan khoảng 8 năm, còn thìsống ẩn dật ở thôn dã ruộng vườn không màng danh lợi Song trong cuộcsống ẩn dật đó ông không quên đời, lánh đời mà ông vẫn gần gũi với nhândân, vẫn dõi theo sự xoay vần, biến đổi của cuộc sống “tuy ở nhà 44 năm màlòng không lúc nào quên đời, lòng ưu thời mãn cuộc đều lộ trong thơ” [44,642] Chính vì vậy mà những tư tưởng của ông luôn mang giá trị hiện thực,triết lí nhân sinh sâu sắc trong đó có những tư tưởng có giá trị biện chứng Uythế tinh thần của ông rất lớn và có ảnh hưởng sâu xa đến sĩ phu, dân chúng

Cả vua chúa các phe phái đều coi ông như một bậc cố vấn quân sự Ảnhhưởng đó lan rộng cho đến thời nay đặc biệt là những tư tưởng triết học biệnchứng ẩn chứa trong các tác phẩm văn thơ của ông cho đến thời nay khi ta

Trang 35

nhìn lại mới thấy hết những giá trị tiềm ẩn mà suốt chiều dài của lịch sử vớiđầy những biến cố thăng trầm không thể vùi lấp được.

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận

là một trong những nhà văn hóa lớn của dân tộc Ông là một chính khách có

uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri… Nhưng ông cũng đồng thời là một tác gialớn có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc.Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú và đa dạng gồm cả chữ Hán vàchữ Nôm, cả văn lẫn thơ và sấm kí

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI Tácphẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinhthần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học

dân tộc Về thơ chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập mà theo ông là có

khoảng gần một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài Trong lời tựa tập thơchữ Hán của mình ông viết “Tuy cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữađược khỏi vậy Mỗi khi rảnh rỗi lại dậy hứng mà ngâm vịnh hoặc là ca ngợi

vẻ đẹp của cảnh sơn thủy, hoặc là tô vẽ cảnh thanh tú của hoa trúc hoặc tứccảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói

về chí, được tất cả nghìn bài biên tập thành sách, tự đặt tên là tập thơ am BạchVân [44, 400] Tập thơ không chỉ là nỗi lòng, là tâm huyết của tác giả mà cònthể hiện trong đó những tư tưởng triết học sâu sắc về vũ trụ, về sự vận động,biến đổi của tự nhiên và xã hội

Về thơ chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình

quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập), được ông sáng tác trong thời giannghỉ ở nhà, nhưng không biết được có bao nhiêu bài, hiện tại còn khoảng 180bài Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm thường làm theo thể Đường luật vàĐường luật xen lẫn lục ngôn nhưng ông thường không đặt tiêu đề cụ thể chotừng bài mà việc đó được thực hiện bởi những nhà biên soạn sau này Theo

Phả ký (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký) của Vũ Khâm Lân,

Trang 36

Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có nhiều bài phú bằng quốc âm nhưng nay đã bị thấtlạc Cũng theo Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong bài Bạch Vân am cư sĩNguyễn công Văn Đạt phả kí soạn năm 1743, có những nhận định về thơ vănNguyễn Bỉnh Khiêm: “Nay ta đọc những văn chương còn lại, khác chi nghethấy những tiếng ném ngọc gieo vàng, rực rỡ như mây năm sắc, sáng sủa nhưvừng thái dương” [44,635] và “không cần gọt dũa mà tự nhiên, giản dị mà lưuloát, thanh đạm mà có nhiều ý vị như gió mát trăng thanh, nghìn năm sau

còn tưởng thấy” [44, 632] Danh sĩ Nguyễn Huy Chú trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí ở phần Văn tịch chí cũng có những quan điểm chung với

Vũ Khâm Lân khi nhận xét về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm: “văn chương ông

tự nhiên, nói ra là thành, thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tựnhiên và đều có quan hệ đến việc dạy đời” [44, 642]

Theo PGS.TS Trần Thị Băng Thanh (Viện Văn học) đánh giá, NguyễnBỉnh Khiêm là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỉ đầu của nền văn họcViệt Nam Về số lượng mà xét thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà quán quân.Tuy nhiên vấn đề không phải là số lượng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có mộtphong cách thơ riêng không lẫn ai Một nguyên tắc quan trọng của thơ thờiTrung đại là “thơ ngôn chí”, nguyên tắc mà các nhà nghiên cứu hiện đạithường xem là làm hạn chế thẩm mỹ của thơ ngay các nhà thơ cổ cũng khôngphải đều nhất nhất tuân theo Song Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tuân theo mộtcách “triệt để” và với một cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ Với ông, đề vinh tự

sự, tự thuật cũng đều để ngôn chí và phong cách riêng của ông cũng được xácđịnh chính từ những vần thơ ngôn chí ấy Thơ văn của ông thể hiện sự ưu thờimẫn thế, đậm chất triết lí, giáo huấn nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp nhận

Còn theo nhận định của GS Nguyễn Huệ Chi trong bài tham luận

“Bước đầu suy nghĩ về văn học họ Mạc”, thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêmđánh dấu cho sự khởi đầu của một hình thức tư duy mới trong tiến trình hoànthiện thơ ca trung đại Việt Nam - đó là tư duy thế sự Thơ vẫn mang tính trữ

Trang 37

mà là tư duy lí tính, nhìn thẳng vào xã hội nên gọi là tư duy thế sự Bởi vậythơ có tính phát hiện, hiện thực rất đáng kể Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vàocác góc cạnh của xã hội để thấy bức tranh phức tạp của xã hội mà bức tranh

ấy diễn ra một cách tự nhiên bởi nó là bức tranh xã hội có thực Vì là tư duythế sự nên cũng nhìn sâu vào tâm lí con người Trong khi ở thời trước đó mọithứ trong xã hội đều được ước lệ hóa, công thức hóa, được mỹ hóa thành một

xã hội chung chung đâu cũng như nhau

Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người tiếp nối cho sự pháttriển và hoàn thiện của nền thơ ca dân tộc kể từ sau Nguyễn Trãi, đồng thời

bổ sung vào đó đậm đặc hơn, chất triết lí suy tưởng và giáo huấn,chất triết họcvới những tư tưởng biện chứng để thơ trở thành một công cụ hữu ích, phục vụcon người, phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng một cách sâusắc, với cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệmtừng trải của cá nhân ông Giàu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốnkhám phá những quy luật của thiên nhiên, xã hội và của con người, nhằm tựvượt thoát ra khỏi những bế tắc của một thời đại và có ảnh hưởng sâu sắc tớitận hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật của thơ, cả về tầm vóc văn hóa vànhân cách của một nhà thơ và những tư tưởng triết học vượt thời đại TheoPGS TS Trần Nguyên Việt (Viện Triết học) cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm làngười mở đầu cho tư duy biện chứng trong lịch sử tư tưởng việt Nam dưới cáinhìn mang đậm tính triết học thể hiện qua thơ văn của ông

Ngoài di sản văn học với hơn 800 bài thơ (cả chữ Hán và chữ Nôm)còn lưu lại đến ngày nay, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng để lại nhiều bài văn bia

nổi tiếng như Trung Tân quán bi ký, Thạch khánh ký, Tam giáo tượng bi minh Ngoài ra ông còn để lại nhiều tác phẩm kí trên văn bia Những văn bia

đó không chỉ có giá trị về mặt lịch sử hay khảo cổ mà còn chứa đựng nhiềugiá trị về mặt tư tưởng cũng như nhân sinh quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm.Trong số đó phải kể đến bài văn bia tại quán Trung Tân do Nguyễn BỉnhKhiêm soạn với nội dung: “Tôi viết biển đề tên Quán Trung Tân Có người

Trang 38

hỏi tôi: Quán tên là Trung Tân có ý nghĩa như thế nào? Tôi trả lời rằng: Trung

là đạo trung, giữ được toàn thiện là Trung, trái lại thi không phải là Trung.Còn Tân là bến để đậu, biết chỗ bến đậu đúng thì là bến chính, nếu đậu saichỗ là bến mê Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ chí Thiện xin ghi vào đá đểlưu lại lâu dài Tháng Mạnh xuân, niên hiệu Quảng Hòa thứ ba (1543) Tiến sĩcập đệ khoa Ất Mùi (1535) Lại bộ Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ Tưchính Khanh Trung Am, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn” [57,96] Qua bài văn bianày, ông không chủ trương trung với một cá nhân nào dù đó là một ông vua,

mà là trung với lẽ phải, với chân lý, với điều thiện và với nghĩa vụ mà mìnhphải thực hiện

Ngoài ra trong dân gian còn lưu hành nhiều câu sấm Trạng Các tập

sấm kí chữ Nôm thường mang tên Trạng Trình (sấm Trạng Trình) và phần lớn viết theo thể lục bát như Trình quốc công sấm kí, Trình tiên sinh quốc ngữ Sấm trạng trình là một hiện tượng vừa mang tính văn học vừa mang tính

triết học sâu sắc Bởi những dự đoán của ông đều có căn cứ, dựa trên cơ sởphân tích và tổng hợp tình hình từ quá khứ đến hiện tại bằng một phươngpháp nhận thức theo quy luật biện chứng thô sơ Những câu sấm truyền củaông ngắn gọn, xúc tích dễ thuộc và dễ hiểu, vì vậy trong dân gian còn lưutruyền khá nhiều Đôi khi có thể không phải của ông nhưng vẫn được mọingười gọi là Sấm Trạng Trình Điều đó càng chứng tỏ niềm tin yêu của nhândân dành cho Trạng Trình lớn lao đến nhường nào

Như vậy, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đồ sộ vàphong phú cả về nội dung và hình thức Những sáng tác của ông đã phản ánhmột cách sống động hiện thực xã hội đương thời, thể hiện được tâm tư, tìnhcảm của ông dành cho nhân dân, đất nước, những nỗi vui buồn trong cuộcsống cá nhân, đồng thời mang giá trị tư tưởng triết học sâu sắc Đặc biệt quanhững sáng tác của ông ta thấy hiện lên tư tưởng biện chứng mặc dù còn thô

sơ nhưng nó được phản ánh khá đầy đủ những yếu tố của phép biện chứng

Trang 39

những tư tưởng của ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị và càng lung linh hơnnếu chúng ta khám phá làm nổi bật hơn những giá trị tiềm ẩn trong đó.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

C Mác và ph Ăngghen từng nhận định “không phải ý thức của con

người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thứccủa họ” [26,15] Như vậy, quan điểm duy vật lịch sử cho ta thấy được vai tròquan trọng của tồn tại xã hội hay nói cách khác của điều kiện kinh tế, chính trị

xã hội đối với hệ tư tưởng, ý thức của xã hội đó Do đó để tìm hiểu một cáchsâu sắc những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi đã trình bày một cáchkhái quát nhất về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội dưới thời đại mà ông đangsống Đó là thế kỉ XVI, một thế kỉ với đầy những biến động, cam go của sựtrành giành quyền lực, thâu tóm lẫn nhau giữa các phe phái, các triều đại phongkiến Làm cho đất nước Việt Nam đương thời chia cắt, đâu đâu cũng chiếntranh thương loạn, nhân dân khốn đốn khổ cực Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có mộtcuộc đời thật dài đi trọn một thế kỉ đau thương đó Ông thấu hiểu hơn ai hết cáinhân tình thế thái giữa cuộc nhiễu dương loạn lạc này Và cũng chính bối cảnh

xã hội đương thời đã tác động sâu sắc vào nhận thức, sự nghiệp của NguyễnBỉnh Khiêm Chỉ tám năm ở chốn quan trường còn lại cuộc đời ông gắn bó vớiruộng vườn, thơ phú Bằng vốn hiểu biết uyên thâm và thực tiễn cuộc đời đãđem đến cho Nguyễn Bỉnh Khiêm những cái nhìn biện chứng thể hiện tư tưởngtriết học thông qua những áng văn thơ của mình

Ngoài ra khi nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm ta không thể khôngtìm hiểu về gia đình, thân thế sự nghiệp của ông Đó cũng là một trong nhữngcái nôi định hướng cho tư tưởng của ông sau này Ông thừa hưởng được sựtinh thông của người mẹ, sự rèn dũa của người cha, sự hiểu biết của ngườithầy học nổi tiếng Lương Đắc Bằng Tất cả đã tạo nên Nguyễn Bỉnh Khiêmvừa nho nhã thanh tao cũng vừa dân dã, gần gũi, vừa uyên thâm sâu sắc

Trang 40

nhưng cũng vừa phóng khoáng, tự tại, văn chương ông vừa mang tính văn họccũng đồng thời cũng đậm đà tính triết học Như vậy, chính điều kiện kinh tế,chính trị xã hội và gia đình đã đem đến cho Nguyễn Bỉnh Khiêm một cái nhìnsâu sắc trước thời cuộc và chính cái nhìn đó đã giúp ông khái quát thànhnhững tư tưởng triết học biện chứng mang ý nghĩa to lớn.

Ngày đăng: 21/09/2018, 13:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác - Lênin (2004), Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo, "Giáo trình triết học Mác - Lênin (2004)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Bộ giáo dục và đào tạo (2000), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo (2000), "Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2000
3. Phan Văn Các và nhiều tác giả (1992), Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Trung tâm Hán - Nôm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Văn Các và nhiều tác giả (1992), "Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sửtư tưởng Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Các và nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Trung tâm Hán - Nôm thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
4. Trường Chinh (1974), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Chinh (1974), "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb. Sựthật
Năm: 1974
5. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí (bản dịch) - tập 1, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Huy Chú (1960), "Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1960
6. Nguyễn Bá Cường (2011), Vấn đề con người và giáo dục con người trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm.Luận án tiến sĩ triết học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bá Cường (2011), "Vấn đề con người và giáo dục con ngườitrong tư tưởng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm
Tác giả: Nguyễn Bá Cường
Năm: 2011
7. Nguyễn Huệ Chi, Tạ Ngọc Liên (2001), Phác họa diện mạo tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm// Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huệ Chi, Tạ Ngọc Liên (2001), "Phác họa diện mạo tư tưởngNguyễn Bỉnh Khiêm// Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi, Tạ Ngọc Liên
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2001
8. Nguyễn Huệ Chi (1986), Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huệ Chi (1986), "Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn từ một nhân cách lịchsử đến dòng thơ tư duy thế sự
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1986
9. Phạm Vũ Dũng và nhiều tác giả (1991), Nguyễn Bỉnh Khiêm danh nhân văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Vũ Dũng và nhiều tác giả (1991), "Nguyễn Bỉnh Khiêm danh nhânvăn hóa
Tác giả: Phạm Vũ Dũng và nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1991
10. Lê Quý Đôn (1978): Đại Việt thông sử, Q III, thiên “Nghệ văn chí”. Bản dịch của Ngô Thế Long trong Lê Quý Đôn: Toàn tập, T.III, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn (1978):" Đại Việt thông sử, Q III, thiên “Nghệ văn chí”. Bảndịch của Ngô Thế Long trong Lê Quý Đôn: Toàn tập, T.III
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1978
11. Minh Giang (1997), Bạch Vân cư sĩ (tiểu thuyết lịch sử), Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Giang (1997), "Bạch Vân cư sĩ
Tác giả: Minh Giang
Nhà XB: Nxb ThanhNiên
Năm: 1997
12. Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên) (2002), Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (tập 1), Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên) (2002), "Đại cương lịch sử tư tưởng triếthọc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
Năm: 2002
13. Hội đồng lịch sử Hải Phòng - Viện văn học (1991), Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Hải Phòng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng lịch sử Hải Phòng - Viện văn học (1991), "Trạng Trình NguyễnBỉnh Khiêm
Tác giả: Hội đồng lịch sử Hải Phòng - Viện văn học
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
Năm: 1991
14. Trần Đình Hượu (1986), Triết lí và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tạp chí triết học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Hượu (1986), "Triết lí và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Trần Đình Hượu
Năm: 1986
15. Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà (1957),Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý.Nxb. Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà (1957),"Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý
Tác giả: Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà
Nhà XB: Nxb. Văn Hóa
Năm: 1957
16. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn (1983), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn (1983), "Thơ văn NguyễnBỉnh Khiêm
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn
Nhà XB: Nxb. Văn Học
Năm: 1983
17. Vũ Khiêu (1986), Những vấn đề khoa học trong nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm, tạp chí xã hội học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Khiêu (1986), "Những vấn đề khoa học trong nghiên cứu Nguyễn BỉnhKhiêm
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1986
18. Nguyễn Khuê (1997), Tâm sự Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch vân quốc ngữ thi tập, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuê (1997), "Tâm sự Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch vân quốcngữ thi tập
Tác giả: Nguyễn Khuê
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
19. Nguyễn Hải Kế (2002), Những giá trị bền vững với nhân dân, đất nước, thời đại, Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm, số 5/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hải Kế (2002), Những "giá trị bền vững với nhân dân, đất nước,thời đại
Tác giả: Nguyễn Hải Kế
Năm: 2002
20. Ngô Sĩ Liên (1973), Đại Việt sử kí toàn thư, T. IV, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Sĩ Liên (1973), "Đại Việt sử kí toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: nxb Khoa học xã hội
Năm: 1973

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w