Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng NinhSử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng NinhSử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng NinhSử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng NinhSử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng NinhSử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng NinhSử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng NinhSử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Văn Hảo
THÁI NGUYÊN – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, không sao chép ở bất kì một công trình hoặc một luận văn, luận án của các tác giả khác Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các trích dẫn, các số liệu và kết quả tham khảo dùng để so sánh đều có nguồn trích dẫn rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
Chíu Trần Dinh
Xác nhận Xác nhận
của trưởng khoa chuyên môn của người hướng dẫn khoa học
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn khoa học TS
Đỗ Văn Hảo là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để em thực hiện luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, tập thể các thầy cô trong khoa Địa lí, phòng sau Đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở một số trường THPT tỉnh Quảng Ninh như: trường THPT Ba Chẽ, trường THPT Tiên Yên, trường PTDTNT Tỉnh Quảng Ninh và các em HS các trường thực nghiệm đã tham gia trả lời các phiếu điều tra, nhằm giúp tôi có một cơ sở thực tiễn để nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tuy đã có những cố gắng nhất định nhưng luận văn vẫn còn những hạn chế Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, đánh giá của quý thầy cô
để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
Chíu Trần Dinh
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
Danh mục các chữ viết tắt vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu của đề tài 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
7 Những đóng góp của đề tài 10
8 Cấu trúc của đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 – THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TỈNH QUẢNG NINH 12
1.1 Cơ sở lí luận dạy học 12
1.1.1 Quan niệm về kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12
1.1.2 Một số định nghĩa phương pháp dạy học 13
1.1.3 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 13
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16
1.2.1 Đặc điểm chương trình Địa lí 12 16
Trang 61.2.2 Đặc điểm kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12 17
1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 18
1.2.4 Thực trạng dạy học Địa lí hiện nay 20
1.2.5 Định hướng đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Địa lí ở trường THPT 25
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2 SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 - THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TỈNH QUẢNG NINH……… 29
2.1 Nguyên tắc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 - THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh 29
2.1.1 Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức đối với HS 29
2.1.2 Đảm bảo tính hệ thống và liên hệ với thực tiễn 30
2.1.3 Đảm bảo tính giáo dục 31
2.1.4 Đảm bảo nguyên tắc tự lực và phát triển tư duy cho HS 32
2.2 Các loại kênh hình trong chương trình Địa lí lớp 12 33
2.2.1 Hệ thống lược đồ trong sách giáo khoa Địa lí 12 33
2.2.2 Các loại biểu đồ, bảng số liệu thống kê trong chương trình Địa lí lớp 12 33
2.2.3 Sơ đồ, lát cắt địa lí 34
2.2.4 Atlat Địa lí Việt Nam 35
2.2.5 Các loại tranh ảnh, phim và video clip 35
2.3 Phương pháp sử dụng các kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS 36
2.3.1 Phương pháp sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam 36
2.3.2 Phương pháp khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ Địa lí lớp 12 42
2.3.3 Phương pháp khai thác kiến thức Địa lí từ bảng số liệu thống kê 47
2.3.4 Phương pháp khai thác kiến thức Địa lí từ biểu đồ 49
2.3.5 Phương pháp khai thác kiến thức Địa lí qua sơ đồ, lát cắt địa hình 53
Trang 72.3.6 Phương pháp sử dụng các loại tranh ảnh, phim và video clip trong việc
dạy học Địa lí 12 56
2.4 Ý nghĩa của phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 - THPT theo định hướng phát triển năng lực HS 58
2.5 Kĩ năng sử dụng kênh hình trong các khâu của quá trình dạy học Địa lí 60 2.5.1 Trong khâu soạn giáo án 60
2.5.2 Trong quá trình giảng bài mới 60
2.5.3 Sử dụng kênh hình trong kiểm tra đánh giá 61
2.5.4 Sử dụng kênh hình trong quá trình tự học của HS 61
2.5.5 Sử dụng kênh hình trong củng cố kiến thức 62
2.6 Một số giáo án minh họa về sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 - THPT theo định hướng phát triển năng lực HS 62
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương pháp tiến hành thực nghiệm 63
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 63
3.1.3 Nguyên tắc thực nghiệm 63
3.1.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 64
3.2 Tổ chức thực nghiệm 64
3.2.1 Chọn trường thực nghiệm 64
3.2.2 Chọn lớp thực nghiệm 65
3.2.3 Chọn giáo viên dạy thực nghiệm 66
3.2.4 Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 66
3.2.5 Thời gian tiến hành thực nghiệm 67
3.3 Nội dung thực nghiệm 67
3.4 Kết quả sau khi tiến hành thực nghiệm 67
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 73
Trang 83.5.1 Đánh giá về mặt định lượng 73
3.5.2 Đánh giá về mặt định tính 74
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Sự biến động diện tích rừng qua một số năm 47Bảng 2.2 Số dân, diện tích gieo trồng, sản lượng và bình quân lương thực có hạt theo đầu người của ĐBSH và cả nước năm 1995 – 2005 48Bảng 3.1 Tổng hợp điểm kiểm tra của HS các lớp thức nghiệm 69Bảng 3.2 Tổng hợp điểm kiểm tra của HS các lớp đối chứng 69Bảng 3.3 Đánh giá xếp loại học lực của HS các lớp thực nghiệm theo từng trường 70Bảng 3.4 Đánh giá xếp loại học lực của HS các lớp đối chứng theo từng trường 70Bảng 3.5 Đánh giá xếp loại học lực của HS cả 3 trường 72
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 1.1 Định hướng chức năng và cấu trúc đa thành tố của năng lực 16Hình 2.1 Lược đồ hành chính khu vực Đông Nam Á 45Hình 2.2 Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng, giai đoạn 1986 – 2005 50Hình 2.3 Cơ cấu sử dụng đất của hai đồng bằng lớn nhất nước ta năm 2005 (%) 51Hình 2.4 Sản lượng than, dầu mỏ và điện của nước ta trong giai đoạn 1990 -
2005 51Hình 2.5 Tỉ lệ gia tăng dân số trung bình năm qua các giai đoạn 52Hình 2.6 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ công nghiệp 54Hình 2.7 Lát cắt địa hình Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ 55Hình 3.1 Biểu đồ xếp loại học lực của HS các lớp thực nghiệm theo từng trường 71Hình 3.2 Biểu đồ xếp loại học lực của HS các lớp đối chứng theo từng trường 71Hình 3.3 Biểu đồ xếp loại học lực của HS cả 3 trường theo lớp thực nghiệm
và đối chứng 72
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNTT Công nghệ thông tin
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay ngành Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đang tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở các bậc học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm của quá
trình dạy học và giáo dục
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo định hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [19] Điều
này đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương pháp trong công tác giảng dạy của người GV, trong đó phương pháp trực quan và phương pháp thực hành là các phương pháp dạy học tích cực đang được nhiều GV quan tâm áp dụng trong giảng dạy Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị cho HS những kiến thức đã có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hình thành ở HS tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành áp dụng, tức là đào tạo những người lao động không chỉ có kiến thức mà phải có năng lực hành động,
kĩ năng thực hành, Bởi vì:
Trong chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 12, ngoài kiến thức địa lí được tàng trữ ở kênh chữ dưới dạng các khái niệm, thì các kiến thức địa lí còn được tàng trữ ở trong kênh hình rất đa dạng, các kênh hình có tính trực quan cao và tính diễn giải lôgic các hiện tượng trong dạy học Địa lí
Trang 13Hệ thống kiến thức địa lí tàng trữ ở kênh hình rất phong phú bao gồm: Bản đồ, lược đồ, các loại tranh ảnh, bảng số liệu, biểu đồ, các loại phim ảnh, video clip,… Khi lên lớp, GV cần phải hướng dẫn HS khai thác sâu hơn kiến thức ở kênh chữ và kênh hình Do đó, HS cần phải hiểu rõ và nắm chắc kiến thức mà GV đã hướng dẫn ở trên lớp Sự phối hợp biểu hiện kiến thức trên kênh chữ của các nhà biên soạn SGK và sự khai thác triệt để kiến thức ở kênh chữ
và kênh hình của GV và HS đã tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức kiến thức địa lí trực quan sinh động hơn, giúp cho quá trình tiếp thu kiến thức địa lí dễ dàng hơn và lưu giữ kiến thức trong kí ức lâu bền hơn
Thực tế việc dạy học môn Địa lí tại các trường THPT hiện nay cho thấy: Việc khai thác kênh hình trong SGK mới chỉ dừng lại ở mức độ đơn thuần là minh họa cho bài giảng mà chưa hướng dẫn cho HS khai thác hết nguồn tri thức phong phú và bổ ích này, nên HS tiếp thu bài giảng một cách máy móc, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế còn hạn chế Vì vậy tác
giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí
12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Trên thế giới
Trước đây, các nhà phương pháp dạy học Địa lí và các nhà Địa lí học nổi tiếng của Liên Xô như: N.Nbaranxiki, A.C Barcov, V.P Buđanov… Và nhiều người khác cho rằng: Muốn dạy học Địa lí có kết quả tốt thì tính trực quan trong dạy học là điều rất cần thiết
Gần đây, các nhà phương pháp nổi tiếng của các nước khác như: I.I.Alecne, I.D.Dvere…,khi nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực họ cũng cho rằng, phương pháp trực quan tích cực hơn phương pháp dùng lời, phương pháp thực hành tích cực hơn phương pháp trực quan trong dạy học
Địa lí N.Baranxki đã nhận định: “Cái đối tượng, hiện tượng nghiên cứu mà
Trang 14các phương tiện trực quan có thể tiến hành một cách nhẹ nhàng sinh động,
có kết quả tốt trong mười lăm phút thì khi thiếu các phương tiện trực quan phải mất một giờ, hay hai giờ, hay hơn nữa mới nhận thấy được, lại làm cho
HS vất vả, đồng thời cũng không làm cho HS lĩnh hội được rõ ràng và chắc chắn” [32]
Một số nhà phương pháp dạy học Địa lí nổi tiếng khác như: David Lambert, David Balderstone, Francis C Hardwick, R Robinson, P.Smith…,khi nghiên cứu về phương pháp giảng dạy Địa lí cũng cho rằng việc
sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí không những tạo ra hình ảnh trực quan
rõ nét về đối tượng nhận thức mà còn có vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, đặc biệt là khả năng phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của HS
Nhiều tác giả đã xác định các loại kênh hình và khẳng định được vai trò
quan trọng của chúng: Francis C Hardwick trong cuốn “Teaching History and Geography” (1964), David Lambert và David Balderstone trong “learning to teach geography in the secondary School” (2000), các tác giả trên tạp chí
“Teaching Geography”, “Teaching and Learning Geography” [32] Các tác
giả cho rằng các loại kênh hình như: tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ…,là những tài liệu quan trọng hàng đầu và trong dạy học Địa lí chúng có khả năng mang những địa phương rất xa vào trong lớp học Họ cũng đề cao vai trò của kênh hình trong quá trình giúp HS khám phá tri thức, phát triển vốn từ, khả năng giải thích các hiện tượng địa lí, đánh giá các quan điểm Tác giả David Lambert và David Balderstone còn đề cập đến việc khai thác và sử dụng kênh hình trong giảng dạy Các tác giả này quan tâm nhiều đến việc phát huy và kích thích sự tìm tòi khám phá của HS thông qua khai thác kênh hình Theo David Lambert,
Hội Địa lí Anh: Việc sử dụng những hình ảnh địa lí có chất lượng cao được ví như là đồ ăn, thức uống trong dạy và học Địa lí, mang lại lợi ích cho cả GV và
HS [32]
Trang 15Như vậy, đa số các tác giả đều cho rằng kênh hình trong dạy học địa lí là một nguồn lực vô cùng phong phú và có thể giúp cho GV đưa ra nhiều ý tưởng cho việc tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS chiếm lĩnh tri thức mới Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa đề cập sâu tới việc sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí theo định hướng phát triển năng lực HS một cách tổng thể khi chiếm lĩnh
sự vật hiện tượng địa lí
2.2 Ở Việt Nam
Ở trong nước, từ những năm 90 của thế kỉ XX, một số nhà giáo dục đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại, phương pháp dạy học trực quan cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Địa lí Tiêu biểu như:
“Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học Địa lí” (Nxb ĐHQG Hà Nội, năm 2000), “phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học Địa lí ở trường phổ thông” (Nxb Giáo dục, năm 1998), “phương pháp sử dụng số liệu thống kê trong dạy học Địa lí kinh tế - xã hội” (Nxb ĐHQG Hà Nội, năm 1997) của PGS – TS Nguyễn Trọng Phúc; “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK Địa lí 10” (Nxb Giáo dục, năm 2007) của PGS-TS Lâm Quang Dốc, Nguyễn Quang Vinh; “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK Địa lí 11” (Nxb Giáo dục, năm 2010) của PGS-TS Lâm Quang Dốc, Nguyễn Đình Tám; “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK Địa lí 12” (Nxb Giáo dục, năm 2010) của PGS-TS Lâm Quang Dốc, Nguyễn Quốc Lập; “Lý luận dạy học Địa lí” (năm 2000) của của tác giả Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc; “Phương tiện kĩ thuật dạy học Địa lí” (năm 2001) của Nguyễn Trọng Phúc; “lý luận dạy học Địa lí” (năm 2006) của Đặng Văn Đức; “Rèn luyện kỹ năng địa lí” (năm 2001) của Mai Xuân San; “Đổi mới dạy học Địa lí THCS” (chủ biên, năm 2005) của Nguyễn
Đức Vũ… Các tác giả đều khẳng định vai trò to lớn của phương tiện dạy học nói chung và kênh hình nói riêng và coi đó là một điều kiện để đổi mới dạy học Địa lí ở nhà trường trung học phổ thông
Trang 16Các cuốn sách trên đều đề cấp đến khả năng sử dụng kênh hình trong dạy học môn Địa lí ở các mức độ khác nhau Tác giả Mai Xuân San, quan tâm nhiều đến rèn luyện kĩ năng cho HS khai thác một số loại kênh hình như: bản đồ, lược
đồ, biểu đồ, tranh ảnh Tác giả Nguyễn Đức Vũ đề cập tới phương pháp sử dụng, các kĩ năng cần hình thành cho HS thông qua khai thác các phương tiện trong dạy học như: bản đồ giáo khoa, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh địa lí… Tác giả Nguyễn Trọng Phúc thống kê tất cả các loại phương tiện và chức năng vai trò
và cách sử dụng Tác giả Đặng Văn Đức nhấn mạnh vai trò của các phương tiện trực quan trong dạy học Địa lí trong phát triển năng lực quan sát cho HS
Tuy vậy, các đánh giá trên thường chung cho mọi cấp học, lớp học và các tác giả chưa có đánh giá về hiện trạng của việc sử dụng kênh hình ở nhà trường phổ thông hiện nay Để xác định tính khả thi và tính hiệu quả của việc
sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh cần có thực nghiệm sư phạm và điều tra thực
tế Từ đó có thể xây dựng được quy trình phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS và đưa ra các đề xuất kiến nghị để việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí có hiệu quả hơn Đây là hướng nghiên cứu đúng đắn, đáp ứng nhu cầu dạy và học Địa
lí hiện nay Tác giả luận văn đã đi theo hướng nghiên cứu này
Thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh và học viên cao học đã quan tâm tới việc đổi mới phương pháp dạy học trong dạy
học Địa lí ở trường phổ thông như: “Vận dụng phương pháp Graph vào giảng dạy Địa lí lớp 6 và lớp 8” (luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 1993) của Hoàng Việt Anh; “Sử dụng kênh hình để tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học Địa lí lớp 9 theo hướng tích cực” (luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 2010) của Ngô Thị Hải Yến; "Ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy học Địa lí địa phương tỉnh Thái Nguyên” (luận án
Tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 2015) của Đỗ Văn Hảo
Trang 17“Phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Địa lí ở lớp 7 THCS” (luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, 2005) cuả Nguyễn Hữu Huấn; “Phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 11 THPT theo hướng tích cực” (luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, 2005) của Nguyễn Thị Dung; “Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong môn Địa lí 10 THPT tại tỉnh Yên Bái” (luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, 2009) của Hà Phúc Thuận;
“Phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 10 THPT tỉnh Thái Nguyên theo hướng tích cực” (luận văn Thạc sĩ, 2010) của Đỗ Thúy Nga
Kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, tác giả thấy rằng cần phải có cái nhìn tổng thể về vai trò, chức năng các loại kênh hình thường được sử dụng trong dạy học bộ môn Địa lí ở nhà trường phổ thông Đặc biệt là gắn kênh hình với sự phát triển năng lực của HS như thế nào trong mỗi bài học Địa lí, để HS dễ dàng chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện cho
HS năng lực tư duy, tính tích cực, bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, có các quan điểm khoa học, nhân sinh quan đứng đắn trước các vấn đề đang đặt ra đối với đất nước và toàn cầu Cùng với mong muốn trên, đồng thời tạo cho kênh hình một vị trí xứng đáng hơn trong dạy học Địa lí, tác giả đã lựa chọn đề
tài nghiên cứu:“Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh”
3 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh để xây dựng phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh, nhằm giúp HS chiếm lĩnh tri thức địa lí một cách hứng thú, độc lập, dễ dàng và đạt được các mục tiêu của giáo dục đề ra
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 18- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng kênh hình
trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh
ở tỉnh Quảng Ninh
- Phân tích mục tiêu, đặc điểm, nội dung chương trình Địa lí lớp 12 và
đề xuất những nguyên tắc và kĩ năng cần thiết của GV khi sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực HS
- Điều tra và khảo sát, trao đổi, thảo luận với GV và HS các trường THPT
tỉnh Quảng Ninh về tình hình sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12
- Xây dựng các phương pháp sử dụng kênh hình trong việc giảng dạy
Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh
- Thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT tỉnh Quảng Ninh để khẳng
định tính đúng đắn và tính khả thi của đề tài
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Kênh hình và phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung đề tài chỉ tập trung vào thiết kế xây dựng phương pháp sử dụng kênh hình trong SGK Địa lí 12 – THPT
+ Giới hạn về không gian lãnh thổ: Nghiên cứu và thực nghiệm trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh
+ Giới hạn về thời gian: Luận văn thực hiện từ năm 2016 – 2018
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng những quan điểm
và phương pháp nghiên cứu chính sau:
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm hệ thống
Quá trình sư phạm bao gồm những thành tố có quan hệ với nhau trong một hệ thống, có cấu trúc nhất định và cùng vận động Các thành tố đó là mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, nhà
Trang 19giáo dục, người được giáo dục, môi trường giáo dục…,các yếu tố trên vận động, phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau trong cùng một hệ thống Trong đó, sự thay đổi thành phần này sẽ kéo theo sự thay đổi thành phần khác Mục tiêu của giáo dục hiện nay là trang bị cho HS khả năng độc lập, năng động, sáng tạo, do đó, nội dung dạy học, phương pháp dạy học cũng phải thay đổi và cải tiến Xu hướng cải tiến các phương pháp dạy học hiện nay là nhằm phát huy hơn nữa vai trò chủ động của người học, tìm cách giúp cho HS có động cơ, thái
độ, và phương pháp học tập đúng đắn Ngoài ra, khi lựa chọn phương pháp dạy học cần phải chú ý đến lứa tuổi bậc học, mức độ mục tiêu, hoạt động nhận thức của người học, môn học, nội dung bài học mà lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học hợp lí
Vận dụng quan điểm hệ thống để nhìn nhận vai trò, vị trí, chức năng của kênh hình trong hệ thống các phương tiện dạy học, hệ thống các phương pháp dạy học và quá trình dạy học, thông qua đó tìm ra phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS nhằm phát huy tính tích cực của HS và đạt được các mục tiêu đào tạo của giáo dục [32]
6.1.2 Quan điểm công nghệ dạy học
Công nghệ dạy học là sự sắp xếp công việc dạy và học theo một hệ thống đặc biệt được thiết kế nhằm cung cấp kiến thức cho người học theo một kết quả
đã dự đoán trước; điều hành quá trình dạy học một cách có hiệu quả để đưa người học đạt đến mục tiêu học tập đặc biệt Và công nghệ dạy học coi quá trình dạy học như một quy trình công nghệ, có mục đích rõ ràng, có đầu vào, đầu ra và có quá trình tác động Hiện nay công nghệ dạy học đang là một hướng tiếp cận quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học Địa lí trong nhà trường phổ thông GV cần thiết phải vận dụng quan điểm này vào quá trình sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
Trang 20HS như trong quá trình lựa chọn kênh hình phù hợp với năng lực nhận thức của HS…
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp lí thuyết: Trên cơ sở phân tích chọn lọc từng mặt, từng bộ phận thông tin từ lí thuyết đã thu thập được để tổng hợp tạo ra một
hệ thống lí thuyết mới đầy đủ về vấn đề nghiên cứu [9], [32]
6.2.2 Phương pháp điều tra
Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng nhằm phát hiện những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của đối tượng nghiên cứu Các tài liệu điều tra là những thông tin quan trọng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ để đề ra những giải pháp khoa học hay thực tiễn Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng cả hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học để tìm hiểu về thực trạng sử dụng kênh hình của GV trong dạy học Địa lí hiện nay ở nhà trường THPT Để điều tra khảo sát, tác giả đã dùng mẫu phiếu điều tra với các thông số và chỉ tiêu cần làm sáng tỏ, đặc biệt tác giả đã dùng hệ thống các câu hỏi Ankét đóng và mở để lấy ý kiến của GV
và HS về vấn đề sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí ở nhà trường THPT
hiện nay (mẫu điều tra ở phần phụ lục)
6.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức sự vật, hiện tượng nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu, đặt giả thiết và kiểm chứng giả thiết Quan sát là một hình thức quan trọng của nhận thức kinh nghiệm thông tin, nhờ quan sát
mà ta có thông tin về đối tượng, trên cơ sở đó tiến hành các bước tìm tòi và
Trang 21khám phá tiếp theo Trong luận văn này phương pháp quan sát sử dụng dưới hình thức quan sát trực tiếp, dự giờ tiết học Địa lí của một số GV để nhằm tìm hiểu xem GV và HS đã sử dụng kênh hình trong giờ học Địa lí như thế nào?
6.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm là phương pháp đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu Thực nghiệm thành công sẽ cho kết quả khách quan và tạo ra khả năng vận dụng nhanh chóng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đồng thời tạo ra những phương hướng nghiên cứu mới Ở đề tài này tác giả đã dùng phương pháp thực nghiệm để thu nhận thông tin nhằm kiểm tra tính khả thi của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS
ở tỉnh Quảng Ninh
6.2.5 Phương pháp toán - tin
Để kết quả nghiên cứu chính xác và đảm bảo độ tin cậy, việc sử dụng nhóm phương pháp toán học trong nghiên cứu là rất cần thiết Việc sử dụng Toán thống kê như một công cụ xử lí các tài liệu đã thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: quan sát, điều tra hay thực nghiệm nhằm tăng tính khách quan của kết quả nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã ứng dụng CNTT vào quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn của mình, như
để lưu trữ và xử lí số liệu, thiết kế kênh hình (Microsoft Office, Mapinfo…), khai thác thông tin địa lí (Internet…)
Nhờ các quan điểm và phương pháp nghiên cứu trên, tác giả nhìn nhận, đánh giá, thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài [32]
Trang 22- Xác định được các nguyên tắc của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh
- Đưa ra một số kĩ năng sử dụng kênh hình trong các khâu của quá trình dạy học Địa lí 12 – THPT
- Đã xây dựng được quy trình về phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh
- Thiết kế một số giáo án mẫu về việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS
- Đã tiến hành thực nghiệm để xác định tính khả thi và tính hiệu quả của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh
- Kết luận và khuyến nghị để việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa
lí có hiệu quả hơn
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2 Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo
định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh
- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 23NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 – THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TỈNH QUẢNG NINH 1.1 Cơ sở lí luận dạy học
1.1.1 Quan niệm về kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí
Trong sách giáo khoa Địa lí nói chung và trong sách giáo khoa Địa lí lớp
12 nói riêng, kiến thức được trình bày bằng nhiều loại ngôn ngữ: Ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ đồ họa, ngôn ngữ toán học… Ngôn ngữ văn học (chữ viết) được trình bày thông qua kênh chữ, ngôn ngữ toán học được trình bày thông qua công thức, bảng biểu, số liệu… còn các ngôn ngữ khác được trình bày thông qua kênh hình Tất cả các hình vẽ, bao gồm các sơ đồ, lược đồ, bản đồ, và các sản phẩm khoa học của bản đồ, tranh ảnh và các hình vẽ, các bảng biểu (biểu
đồ, đồ thị hoặc bảng số liệu gắn với biểu đồ, với bản đồ hoặc được diễn giải gắn với một quá trình tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định, gọi chung là bảng biểu) trong sách giáo khoa được gọi chung là kênh hình Chúng có tính trực quan cao và diễn giải lôgic các hiện tượng trong dạy học Địa lí [17]
Hệ thống các kiến thức chứa đựng trong kênh chữ giúp học sinh hình thành kiến thức cơ bản, phát triển tư duy địa lí, tư duy trừu tượng, hình thành thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng Hệ thống kiến thức này được xích lại gần thực tế hơn nếu biết khai thác những kiến thức trong kênh hình phục vụ bài học địa lí Ngoài kiến thức địa lí minh họa cho kênh chữ, những kiến thức tàng trữ trong kênh hình có khả năng nâng cao và mở rộng tầm hiểu biết của học sinh mà kênh chữ chưa đề cập đến hoặc điều kiện thời gian không cho phép
Trong dạy học Địa lí, giáo viên và học sinh cần coi trọng đúng mức vai trò của kênh hình trong các sách giáo khoa Do đó vấn đề sử dụng kênh hình ở
Trang 24lớp 12 cần được các nhà giáo và nhà nghiên cứu trình bày những sáng kiến kinh nghiệm của mình để mọi người học tập áp dụng
1.1.2 Một số định nghĩa phương pháp dạy học
Định nghĩa thứ nhất: Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Như vậy phương pháp dạy học bào gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học [7], [11]
Định nghĩa thứ hai: Phương pháp dạy là cách thức giáo viên trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học Theo quan điểm công nghệ dạy học, phương pháp dạy học là phương pháp thiết kế và góp phần thi công quá trình dạy học của người giáo viên [7], [11]
Định nghĩa thứ ba: Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt được các nhiệm
vụ dạy học cũng có thể nói phương pháp là cách thức tự thiết kế và thi công quá trình học tập của người học sinh nhằm đạt được nhiệm vụ dạy học [7], [11]
1.1.3 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.1.3.1 Khái niệm năng lực
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng
- Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định Chẳng hạn, khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh… Thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ [28]
- Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ, một hành động
cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng,
kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động [28]
Trang 25Người học có năng lực hành động về một lọai, lĩnh vực hoạt động nào
đó cần hội tụ đầy đủ các dấu hiệu cơ bản sau:
- Có kiến thức hay hiểu biết về hệ thống, chuyên sâu về loại hoặc lĩnh vực hoạt động đó Biết cách tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích (bao gồm xác định mục tiêu cụ thể, cách thức, phương pháp thực hiện hành động, lựa chọn được các giải pháp phù hợp… Và cả các điều kiện, phương tiện để đạt được mục đích)
- Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc
Từ đó, có thể đưa ra một định nghĩa về năng lực hành động, đó là:
Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định [28]
Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống Có thể xem xét riêng một cách tương đối phẩm chất và năng lực, nhưng năng lực hiểu theo nghĩa rộng (năng lực người) bao gồm cả phẩm chất và năng lực hiểu theo nghĩa hẹp
1.1.3.2 Cấu trúc của năng lực
Khái niệm năng lực hành động và kĩ năng là hai khái niệm không có sự tương đồng Kĩ năng chỉ được định nghĩa như là khả năng thực hiện dễ dàng, chính xác một hành động có tính phức hợp và khả năng thích ứng trong các điều kiện đang thay đổi Trong khi năng lực hành động được định nghĩa như là một khái niệm định hướng theo chức năng, một hệ thống phức hợp hơn, toàn diện hơn, có sự kết hợp của nhiều thành tố như các khả năng nhận thức, kĩ năng, thái độ và chứa cả các thành phần phi nhận thức như động cơ, xúc cảm, giá trị, đạo đức… Trong một bối cảnh có ý nghĩa
Trang 26Cấu trúc của năng lực được trình bày trong sơ đồ (1.1)
Hình 1.1 Định hướng chức năng và cấu trúc đa thành tố của năng lực
[Nguồn 28]
- Vòng tròn nhỏ ở tâm là năng lực (định hướng theo chức năng)
- Vòng tròn giữa bao quanh vòng tròn nhỏ là các thành tố của năng lực:
kiến thức, các khả năng nhận thức, các khả năng thực hành, năng khiếu, thái
độ, xúc cảm, giá trị và đạo đức, động cơ
- Vòng tròn ngoài là bối cảnh (điều kiện, hoàn cảnh có ý nghĩa)
Ví dụ: Năng lực sử dụng ngôn ngữ gồm các năng lực thành phần như đọc hiểu, nghe hiểu, nói , viết… Định hướng thực hiện chức năng giao tiếp, tư duy, kết nối trong nó cả thái độ và các thành tố khác nhau như xúc cảm, giá trị, niềm tin… Trong một bối cảnh có ý nghĩa
Như vậy, năng lực là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng… Mà cả niềm tin, giá
Bối cảnh
Xúc cảm
Kiến thức Động cơ
Giá trị và đạo đức
Các khả năng nhận thức
Thái độ
Các khả năng thực hành, năng khiếu Năng
lực
Trang 27trị, trách nhiệm xã hội, thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi
1.1.3.3 Năng lực học sinh
Năng lực của học sinh (HS) là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… Phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống [28]
Có ba dấu hiệu quan trọng cần lưu ý về năng lực của HS:
- Năng lực không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức, kĩ năng học được…, mà còn là khả năng hành động, ứng dụng, vận dụng tri thức,
kĩ năng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra với các
em
- Năng lực không chỉ là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi mà là sự kết hợp hài hòa của cả ba yếu tố này, thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện) hiệu quả muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục đích
đề ra (gồm động cơ, ý chí, sự tự tin, trách nhiệm xã hội…)
- Năng lực được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và ở ngoài lớp học Nhà trường là môi trường giáo dục chính thống giúp HS hình thành những năng lực chung, năng lực chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi, song đó không phải là nơi duy nhất Những môi trường khác như gia đình, cộng đồng… Cùng góp phần bổ sung và hoàn thiện các năng lực của các em
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Đặc điểm chương trình Địa lí 12
Chương trình môn Địa lí lớp 12 cung cấp hệ thống kiến thức về Địa lí tổ quốc Về cấu trúc, chương trình gồm 5 phần: Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư, Địa
lí các ngành kinh tế, Địa lí các vùng và Địa lí địa phương Mỗi phần có vai trò nhất định trong việc trang bi kiến thức cho học sinh để tạo nên chương trình
Trang 28tổng thể, nội dung phần Địa lí tổ quốc tương đối hoàn chỉnh trên cơ sở kế thừa
và phát triển chương trình Địa lí ở THCS [26]
Nội dung và hình thức trình bày của SGK Địa lí 12 được thiết kế thành các bài học tương đối độc lập ứng với mỗi bài là 1 tiết Trong trường hợp có một số đơn vị kiến thức khó chia tiết thì chấp nhận phương án có bài tiếp theo Điều này chủ yếu gặp ở phần Địa lí tự nhiên Việt Nam như: Đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam, vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên Trong SGK có 2 loại bài là: Bài lí thuyết và bài thực hành
Bài lí thuyết chiếm khoảng 80% thời lượng, đều có kênh chữ, kênh hình, các câu hỏi ở giữa bài và cuối bài
Bài thực hành chiếm khoảng 20% thời lượng tập trung vào các bài: Vẽ khung lược đồ lãnh thổ Việt Nam, đọc bản đồ trong SGK Địa lí 12, vẽ bản đồ
và phân tích bảng số liệu…
1.2.2 Đặc điểm kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12
Trước đây SGK Địa lí nói chung và SGK Địa lí 12 nói riêng chủ yếu được
in dưới dạng khổ nhỏ và chủ yếu là kênh chữ, kênh hình rất ít Hiện nay, qua nhiều cuộc cải cách chương trình và SGK thì kênh hình đã được chú trọng đặc biệt, trung bình mỗi bài có 4 – 5 kênh hình Không chỉ về số lượng mà chất lượng kênh hình cũng được tăng lên rõ rệt và phù hợp với hệ thống kênh chữ, tạo điều kiện cho giáo viên tiến hành giảng dạy và hướng dẫn học sinh khai thác tri thức địa lí thông qua kênh hình
Nhìn chung các kênh hình được bố trí trên khổ giấy với kích thước rộng cho nên không những đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ mà còn kích thích hứng thú học tập của học sinh Dựa vào hệ thống kênh hình được cung cấp, học sinh trí giác nhanh, phát hiện ra các xu thế chính, các đặc điểm chủ yếu của sự vật hiện tượng Ngoài ra một số sơ đồ, biểu đồ còn thể hiện các mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng, các quá trình địa lí, các lược đồ trong SGK Địa lí 12 được khái quát hóa nhằm nhấn mạnh các kiến thức quan trọng nhất
Trang 29Kênh hình trong chương trình Địa lí lớp 12 được bố trí không chỉ trong những bài học lí thuyết mà còn được thể hiện trong các bài học thực hành, nên việc rèn luyện các kĩ năng địa lí với kênh hình cũng chiếm vị trí quan trọng Lúc này việc rèn luyện kĩ năng địa lí được chuyển hóa sang việc xây dựng một
số loại kênh hình phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Ngoài ra, ngay dưới mỗi kênh hình đều có những câu hỏi đòi hỏi mức độ tư duy của học sinh Qua hệ thống câu hỏi này khi quan sát kênh hình học sinh có những định hướng
cụ thể cho việc tự lực tìm ra tri thức địa lí [2]
Như vậy, với những đổi mới về chương trình và SGK theo quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực đã tạo ra nhiều tình huống học tập Kiến thức được trình bày bằng nhiều hình thức khác nhau thông qua kênh hình
và kênh chữ Điều này tạo nên hứng thú học tập bộ môn, kích thích lòng ham hiểu biết giúp việc học bộ môn Địa lí trở nên dễ dàng hơn
1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12
Đề tài nghiên cứu: “Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT
theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh”, đối tượng
nghiên cứu ở đây là học sinh lớp 12 các em đang học cuối cấp 3 bậc học THPT
Ở lứa tuổi này vào khoảng từ 17 đến 18 tuổi, các em đã có sự hoàn thiện cơ bản
về thể chất về tâm sinh lí và khả năng nhận thức Vì vậy việc tìm hiểu tâm sinh lí
và trình độ nhận thức ở lứa tuổi này là hết sức cần thiết [8], [16]
1.2.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí
Theo các nhà nghiên cứu cho rằng, tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 đã đạt đến sự hoàn thiện về mặt thể chất, các em nhận thức nhanh hơn và đã biết suy luận trước mọi sự vật hiện tượng
+ Về mặt sinh lí: Các em phát triển như người lớn, sức khỏe dồi dào có
thể học tập với cường độ cao và trong thời gian tương đối dài
Trang 30+ Về tính cách: Do các em đã có sự hoàn thiện về thể chất và nhân cách
nên không muốn chấp nhận những cái gì đơn giản mà luôn muốn khám phá những điều phức tạp Vì vậy trong những tiết học đòi hỏi giáo viên phải chuẩn
bị công phu hơn, để làm sao cho cả giao viên và học sinh đều được hoạt động chứ không phải là cách học “đọc và chép” truyền thống Các em luôn muốn được thể hiện những suy nghĩ, những ý tưởng của mình trong quá trình học tập
Vì vậy GV cần phải biết khai thác những điểm mạnh này để HS có thể lĩnh hội được nguồn tri thức tốt nhất
1.2.3.2 Đặc điểm về trình độ nhận thức của học sinh lớp 12
+ Về mặt trí lực: HS lớp 12 có năng lực quan sát tốt hơn và có tư duy
nhạy bén hơn, có khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa tốt hơn nhiều so với học sinh lớp 10, 11 Ngoài ra tính tích cực và độc lập nhận thức của các em tăng lên rõ rệt, các em không thích chấp nhận một cách đơn giản các yêu cầu của giáo viên, các em sẽ có biểu hiện thờ ơ hoặc kém hứng thú trong tiết học nếu chỉ nghe GV giảng bài và ghi chép [18]
+ Về tính cách: Các em đều thể hiện cá tính rõ rệt, các em thích tranh
luận, thích bày tỏ ý kiến của bản thân mình [8]
Từ những đặc điểm tâm sinh lí trên đòi hỏi trong quá trình dạy học phải có những cải tiến cho phù hợp Lúc này GV có vai trò quan trọng trong việc kích thích hứng thú học tập của HS, thay vì những tiết giảng chỉ sử dụng phương pháp truyền thụ theo lối thuyết trình giảng giải, giáo viên nên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực kết hợp với kênh hình Khi đó quá trình dạy học không còn là quá trình nhồi nhét kiến thức mà học sinh có cơ hội được tự lực khám phá tri thức, được quyền bày tỏ quan điểm, ý kiến cá
nhân Vì vậy mà đề tài nghiên cứu: “Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa
lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng
Ninh” là một điều kiện tốt để các em tự mình lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo
Trang 311.2.4 Thực trạng dạy học Địa lí hiện nay
1.2.4.1 Thực trạng dạy học Địa lí ở trường THPT
Thực trạng cho thấy việc giảng dạy môn Địa lí của GV trong nhà trường phổ thông rất phức tạp vừa phải truyền thụ kiến thức, vừa phải truyền thụ kĩ năng cho HS trong khoảng thời gian đã được quy định sẵn Đặc biệt SGK mới
có nội dung rất phong phú thể hiện các kênh hình kênh chữ và hệ thống câu hỏi Mặc dù những nội dung này đã được chọn lọc cho phù hợp với nhận thức của HS nhưng việc truyền đạt cho các em hiểu đòi hỏi người GV phải lựa chọn được phương pháp dạy học thích hợp thực tế việc giảng dạy địa lí ở các trường THPT cho thấy phần lớn GV vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, chủ yếu là phương pháp thuyết trình, GV giảng HS ghi chép bài vào vở, GV chủ động truyền đạt kiến thức làm sẵn – HS thụ động tiếp thu và ghi nhớ những nội dung GV đã giảng dạy Trong khi hiện nay nội dung, chương trình SGK đổi mới yêu cầu người GV phải biết sử dụng linh hoạt các phương pháp lấy HS làm trung tâm nhằm kích thích tính tích cực, tự giác, chủ động lĩnh hội tri thức của HS [17]
Về phía HS, sau khi được học môn Địa lí với phương pháp dạy học tích cực đa số các em có hứng thú và thích học môn Địa lí, thái độ học tập thay đổi theo chiều hướng tích cực Các em có kĩ năng khai thác kiến thức từ kênh hình một cách hiệu quả Tuy nhiên một số học sinh vẫn còn coi môn Địa lí là môn phụ nên thái độ học tập không nghiêm túc, học tập mang tính chất chống đối
và ít khi duy trì hứng thu học tập lâu dài với môn học
1.2.4.2 Thực trạng dạy học Địa lí lớp 12 - THPT ở tỉnh Quảng Ninh
Để có cơ sở đánh giá việc Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh, chúng tôi tiến hành điều tra GV và HS ở nhiều trường THPT khác nhau trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 32Mục đích công tác điều tra nhằm đánh giá tình hình dạy học môn Địa lí nói chung, việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí nói riêng Kết quả điều tra là cơ sở quan trọng để chúng tôi nắm bắt được thực trạng việc sử dụng kênh hình trong dạy học môn Địa lí ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh hiện nay
và đề xuất các biện pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT một cách hiệu quả
Đối tượng và địa bàn điều tra là GV và HS các trường THPT ở tỉnh Quảng Ninh
Nội dung điều tra gồm:
- Đối với GV: Hiểu biết và khả năng sử dụng kênh hình của GV trong dạy học Địa lí; điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, mức độ ủng hộ của nhà trường khi GV sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí; hiệu quả của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí và mong muốn của GV trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng kênh hình (phiếu điều tra 1a, phần phụ lục)
- Đối với HS: Mức độ thích thú và khả năng ghi nhớ kiến thức của HS khi GV sử dụng kênh hình trong học tập môn Địa lí; mức độ, tần suất sử dụng các loại kênh hình của HS trong học tập môn Địa lí (phiếu điều tra 1b, phần phụ lục)
Hình thức, phương pháp điều tra gồm: dự giờ chuyên môn, thăm quan trường học, nói chuyện – trao đổi với GV và HS… Biện pháp chủ yếu là phát phiếu điều tra cho GV và HS để lấy thông tin
Tổng hợp các nguồn thông tin đã thu thập, chúng tôi rút ra một số kết luận chung về tình hình sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí nói chung, tình hình sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh nói riêng
Dưới đây là kết quả xử lí số liệu điều tra của từng nhóm câu hỏi của 15
GV Địa lí và 245 HS ở 6 trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Tác giả
đã ưu tiên điều tra ở 3 trường THPT mà tác giả lựa chọn để thực nghiệm và 3
Trang 33trường THPT khác đó là: trường THPT Cửa Ông, trường THPT Hòn Gai, trường THPT Hoành Bồ
Số liệu này giúp chúng tôi thấy rõ thực trạng việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục
* Kết quả điều tra đối với GV ở từng nhóm câu hỏi
- Hiểu biết và khả năng sử dụng kênh hình của GV trong dạy học Địa lí (câu hỏi 1,3,6,7 trong phụ lục 1a) Thông qua kết quả điều tra câu hỏi số 1: có 12/15 GV (chiếm 80%) đã được trang bị bản đồ, lược đồ, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh trong dạy học Địa lí; có 3/15 GV (chiếm 20%) đã được trang bị các loại kênh hình bên trên và được trang bị thêm phim giáo khoa trong dạy học Địa lí Qua điều tra câu hỏi số 3: có 13/15 GV (chiếm 86.7%) sử dụng kênh hình để minh họa cho nội dung bài học, gây hứng thú cho HS; nhưng có 2/15 GV (chiếm 13.3%) sử dụng kênh hình để minh họa cho nội dung bài học, gây hứng thú cho
HS và rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho HS nữa; không có GV nào sử dụng kênh hình để thiết kế các hoạt động phát triển năng lực cho HS
Trong câu hỏi số 6: kết quả cho thấy có 5/15 GV (chiếm 33%) tự đánh giá mức độ sử dụng rất thành thạo kênh hình trong dạy học Địa lí; 9/15 GV (chiếm 60%) tự đánh giá mình sử dụng kênh hình thành thạo; nhưng còn 1/15 GV (chiếm 6.7%) tự đánh giá kĩ năng sử dụng kênh hình của bản thân ở mức bình thường; đặc biệt không có GV nào cần bồi dưỡng thêm Ở câu hỏi số 7: mức độ quan trọng của ứng dụng CNTT trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng kênh hình, có 4/15 GV (chiếm 26.7%) cho rằng rất cần thiết; 11/15 GV (chiếm 73.3%) cho rằng cần thiết; đặc biệt không có một GV nào có lựa chọn khác
- Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, mức độ ủng hộ của nhà trường khi GV sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí (câu hỏi 2,8 phần phụ lục 1a) Câu hỏi số 2: điều tra về cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ cho giảng dạy,
Trang 34có 10/15 GV (chiếm 66.7%) khẳng định là đầy đủ; nhưng có 5/15 GV (chiếm 33%) cho rằng bình thường; không có GV nào lựa chọn phương án khác
Đến câu hỏi số 8: mức độ ủng hộ của nhà trường khi thầy cô sử dụng kênh hình, có 10/15 GV (chiếm 66.7%) cho biết nhà trường rất ủng hộ; tuy nhiên có 5/15 GV (chiếm 33%) cho biết nhà trường ủng hộ bình thường; không
có nhà trường nào ít ủng hộ và không ủng hộ
- Hiệu quả của sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí và mong muốn của GV trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng kênh hình (câu hỏi 4,5,9 phần phụ lục 1a) Đầu tiên là câu hỏi 4: hiệu quả của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí, có 5/15 GV (chiếm 33%) cho rằng hiệu quả rất cao; 9/15 GV (chiếm 60%) cho rằng hiệu quả cao; 1/15 GV (chiếm 6.7%) cho rằng bình thường; đặc biệt không có GV nào cho rằng ít hiệu quả Đến câu hỏi số 5: mức
độ hứng thú cuả HS khi GV sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí, có 6/15
GV (chiếm 40%) cho rằng HS rất hứng thú; đặc biệt có 9/15 GV (chiếm 60%) cho rằng HS hứng thú; không có GV nào có lựa chọn khác Trong câu hỏi số 9: mong muốn của GV về nâng cao hiệu quả việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí, có 10/15 GV (chiếm 66.7%) mong muốn trang bị thêm cơ sở vật chất về kênh hình; nhưng 3/15 GV (chiếm 20%) lại mong muốn mở các lớp bồi dưỡng sử dụng kênh hình; 2/15 GV (chiếm 13.3%) mong muốn cả trang bị cơ
sở vật chất và mở các lớp bồi dưỡng sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí
* Kết quả điều tra đối với HS ở từng nhóm câu hỏi
- Mức độ thích thú và khả năng ghi nhớ kiến thức khi GV sử dụng kênh hình trong học tập Địa lí (câu hỏi 1,2,3 phần phụ lục 1b) Đầu tiên là câu hỏi 1: điều tra về mức độ thích thú của HS khi GV sử dụng kênh hình trong học tập môn Địa lí; có 126/245 HS (chiếm 51.4%) tỏ ra rất thích thú; có 52/245 HS (chiếm 21.2%) thích thú; có 55/245 HS (chiếm 22.5%) tỏ ra bình thường; đặc biệt có 12/245 HS (chiếm 4.9%) tỏ ra ít thích thú Trong câu hỏi số 2: điều tra mức độ thích thú và khả năng ghi nhớ kiến thức của HS khi GV sử dụng kênh
Trang 35hình trong học tập môn Địa lí, có 95/245 HS (chiếm 38.8%) rất hiểu và nhớ bài; 132/245 HS (chiếm 60%) cảm thấy hiểu và nhớ bài; tuy nhiên vẫn có 18/245 HS (chiếm 7.3%) cảm thấy bình thường và không có HS nào phủ nhận tác dụng của kênh hình trong học tập môn Địa lí
- Mức độ, tần suất sử dụng các loại kênh hình của HS trong học tập môn Địa lí (câu hỏi 3 phần phụ lục 1b) Trong câu hỏi số 3 này, kết quả điều tra cho thấy hầu hết HS các trường đều có mức độ sử dụng bản đồ, lược đồ, Atlat, sơ
đồ, biểu đồ, tranh ảnh trong học tập môn Địa lí ở mức độ rất thường xuyên và thường xuyên đạt trên 60%, còn dưới 40% HS hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng bản đồ, lược đồ, Atlat, sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh trong học tập môn Địa lí; còn các loại kênh hình khác như video có nội dung địa lí, bản đồ treo tường, hình vẽ của GV trên lớp thì chỉ có dưới 30% HS sử dụng rất thường xuyên và thường xuyên, còn lại trên 70% HS hiếm khi sử dụng, thậm chí không bao giờ
sử dụng
Tóm lại: Qua việc thăm dò lấy ý kiến của các thầy, cô giáo và các em HS tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, chúng tôi có thể kết luận rằng:
- Về phía GV: Các thầy, cô giáo tại các trường THPT tỉnh Quảng Ninh
có sự hiểu biết cơ bản về kênh hình, khả năng sử dụng kênh hình của GV trong dạy học Địa lí khá tốt Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường khá đầy đủ, tuy nhiên vẫn cần đầu tư và hiện đại hóa hơn ở một số trường, đặc biệt là nhà trường rất ủng hộ việc sử dụng kênh hình của GV trong dạy học Địa lí, đây là một lợi thế rất lớn của GV các trường Việc sử dụng kênh hình của GV trong dạy học Địa lí đạt hiệu quả khá cao, hiệu quả dạy học Địa lí sẽ rất cao nếu GV sử dụng kênh hình một cách hợp lí hơn Hầu hết GV các trường THPT tỉnh Quảng Ninh đều mong muốn nhà trường trang bị thêm cơ sở vật chất về kênh hình và mở các lớp tập huấn về sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Trang 36- Về phía HS: Hầu hết các em đều tỏ ra thích thú khi GV sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí; việc sử dụng kênh hình trong học tập môn Địa lí làm cho các em cảm thấy hiểu và nhớ bài hơn; về cơ bản các em thường xuyên sử dụng bản đồ, lược đồ, sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh và video có nội dung địa lí trong học tập
Nguyên nhân của hiện trạng trên khi được phỏng vấn, trao đổi, có nhiều
GV cho rằng:
- Trong các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh chưa chú trọng nhiều tới việc nâng cao hiệu quả việc sử dụng kênh hình trong dạy và học Địa
lí, nên khả năng khai thác kênh hình cuả GV và HS còn nhiều hạn chế
- Mặt khác do điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều loại kênh hình được sử dụng trong dạy học Địa lí vẫn chưa được cập nhật, bổ sung Ngoài ra còn do một số lí do chủ quan và khách quan khác
Từ những điều kiện và thực tiễn tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói trên, dẫn đến sự chênh lệch về hiệu quả việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh Những nhận xét rút ra từ kết quả khảo sát có ý nghĩa quan trọng, góp phần định hướng những chủ trương, giải pháp hợp lí để đẩy mạnh việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS nói chung, và sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng
1.2.5 Định hướng đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Địa lí ở trường THPT
1.2.5.1.Yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học Địa lí được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí Thực tế điều này được thể hiện qua nhiều phong trào đổi mới phương pháp dạy học tại hầu hết các trường THPT; những nghiên
Trang 37cứu đổi mới phương pháp được tiến hành theo nhiều định hướng khác nhau rất
đa dạng và phong phú… Tuy nhiên, theo Thái Duy Tuyên, các hoạt động đổi mới nói chung diễn ra theo ba hướng chính là phát triển năng lực nội sinh của người học, đổi mới quan hệ thầy trò theo hướng lấy HS làm trung tâm; đưa công nghệ hiện đại vào nhà trường với tư cách là những phương tiện hỗ trợ quá trình dạy học Những biện pháp dưới đây sẽ góp phần đổi mới căn bản phương pháp dạy học [31]
1.2.5.2 Tích cực hóa hoạt động tự học của học sinh
Trong quá trình dạy học, hoạt động nhận thức của HS đóng vai trò chủ đạo và quyết định tới chất lượng dạy học Nếu HS không phối hợp thì quá trình dạy học sẽ không có kết quả
Thực tế hiện nay cho thấy rằng, GV thường phải dạy quá nhiều tiết, lượng thông tin được đưa ra quá nhiều trong một tiết học Điều này sẽ đưa HS vào trạng thái bị động ghi nhớ, không tạo điều kiện cho các em phát triển khả năng
tư duy độc lập, sáng tạo kết quả là khi bắt gặp những khó khăn, những vấn đề mới lạ, các em sẽ bỡ ngỡ lúng túng, không đủ phương pháp áp dụng những vấn
đề đã học và bản lĩnh để giải quyết những vấn đề phức tạp trong cuộc sống hàng ngày
Vì thế, vai trò của GV trong quá trình dạy học chỉ là để tổ chức hướng dẫn, giúp đỡ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhận thức, từng bước nâng cao khả năng tự học của HS Để tăng cường hoạt động tự học của HS, hoạt động này không chỉ được tổ chức khi học tập ở nhà mà cần được coi trọng ngay cả giờ học trên lớp Bên cạnh đó, cần tổ chức thêm nhiều hoạt động độc lập của
HS thông qua nhiều hình thức khác nhau như; đọc sách, làm thực hành, thảo luận nhóm, hoạt động ngoại khóa… GV cần khuyến khích HS sử dụng sáng tạo
và kết hợp các hoạt động học tập để đạt kết quả cao nhất, giải quyết được các nhiệm vụ học tập
Trang 381.2.5.3 Tăng cường thực hành, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống
Kết hợp học với hành là một trong những quan điểm giáo dục quan trọng
của Đảng
Việc nắm vững lí thuyết chỉ là để biết, để nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng… Vận dụng được, làm được ra sản phẩm cụ thể mới là mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục
Do vậy, tăng cường tổ chức các hoạt động nhận thức của HS dựa trên cơ
sở sử dụng kênh hình sẽ là một hướng quan trọng cần được quan tâm nghiên cứu khi đổi mới phương pháp dạy học trong thực tiễn hiện nay
1.2.5.4 Khuyến khích sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại
Thực tiễn trong xã hội hiện nay cho thấy, với sự phát triển của nền kinh
tế và khoa học công nghệ cũng như các thành tựu về khoa học sư phạm thì các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại ngày càng được sử dụng phổ biến và đã góp phần giải quyết được nhiều khó khăn trong quá trình nhận thức của người học Các phương tiện kĩ thuật hiện đại như là các loại máy chiếu (máy chiếu bản trong, máy chiếu vật thể, máy chiếu slide, máy chiếu đa phương tiện…), máy tính xách tay… Các phương tiện này không những giúp GV cung cấp cho
HS những kiến thức cơ bản, phong phú và sinh động mà còn thể hiện được những hình ảnh và âm thanh, các phương tiện truyền thông như bản đồ, mô hình… Không thể biểu diễn được bằng phương pháp truyền thống Vì vậy việc
sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại nói chung và phương tiện truyền thống nói riêng trong trường học cần phải được xem là một phương tiện quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
Trang 39Tiểu kết chương 1
Đề tài nghiên cứu việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT
theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh, cần phải dựa
trên cơ sở tâm lí học và lí luận dạy học địa lí
Cơ sở tâm lí học chính là cơ sở chính để xây dựng các khái niệm trong dạy học môn Địa lí Từ đó tùy vào khả năng nhận thức của từng lứa tuổi HS
mà các nhà sư phạm địa lí biến Khoa học Địa lí thành một môn học trong nhà trường – môn Địa lí phổ thông Môn Địa lí được cấu tạo bằng các bài học sắp xếp một cách có hệ thống và nó được xây dựng bởi hệ thống khái niệm Trong mỗi khái niệm lại bao gồm cả kênh chữ và kênh hình Cho nên khi GV Địa lí muốn hình thành kiến thức cho HS nhất thiết phải sử dụng kênh chữ song song với sử dụng kênh hình trong bài giảng Cơ sở lí luận dạy học Địa lí, trong đó
có các phương pháp và phương tiện dạy học môn Địa lí, đây chính là các kĩ năng sư phạm cần thiết của GV Địa lí để chuyển hệ thống kiến thức từ trong SGK vào trong đầu HS và hình thành các khái niệm địa lí cho các em
Tuy vậy việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí cũng cần phải dựa vào tình hình thực tế ở địa phương và cơ sở vật chất của nhà trường Qua nghiên cứu cơ sở thực tiễn về tình hình dạy học và cơ sở thiết bị dạy học môn Địa lí cùng với mục tiêu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực HS cuả tỉnh Quảng Ninh , tác giả nhận thấy đề tài hoàn toàn có khả năng thực thi ở tỉnh Quảng Ninh
Trang 40Chương 2
SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 - THPT THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Ở TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Nguyên tắc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 - THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Quảng Ninh
Việc sử dụng kênh hình trong dạy học là một trong những điều kiện góp phần thực hiện có kết quả việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm giúp nhà trường phổ thông nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Địa lí ở nhà trường phổ thông Để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, việc sử dụng kênh hình không chỉ nhằm minh họa cho nội dung bài giảng mà còn có tác dụng thúc đẩy quá trình nhận thức, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng học tập cho HS Tuy nhiên, nếu sử dụng kênh hình không dựa trên cơ sở khoa học và những nguyên tắc nhất định, tiến hành tùy tiện, không có sự chuẩn
bị chu đáo sẽ khiến cho kết quả học tập không cao và phản tác dụng, lãng phí thời gian, sức lực của GV và HS Chính vì vậy khi sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực HS, cần phải quan tâm và tuân thủ các nguyên tắc dạy học quan trọng trong giảng dạy Địa lí như: Bảo đảm tính khoa học và tính vừa sức đối với HS, đảm bảo tính hệ thống và mối liên hệ với thực tiễn, đảm bảo tính giáo dục, đảm bảo tính tự lực và phát triển tư duy của HS [32]
2.1.1 Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức đối với HS
Nguyên tắc này trước hết chỉ đạo việc lựa chọn nội dung và sau đó là phương pháp dạy học của bộ môn Các hoạt động nhận thức được tổ chức trong bài cần phải thâu tóm được nội dung cơ bản của bài học Dó đó, khi thiết kế bài học GV cần phải lựa chọn cân nhắc kỹ khối lượng, mức độ kiến thức, hệ thống hoạt động, các nhiệm vụ đặt ra, sao cho HS trên cơ sở nhận thức của mình, nắm được tri thức, phát triển năng lực trí tuệ Vì vậy, khi sử dụng kênh hình trong