Do vậy, cần thiết phải có những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này để đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời góp phần hiện thực hóa mục tiêu gi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đàm Văn Thấm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn quý thầy (cô) Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Tâm lý Giáo dục, phòng Quản lý khoa học trường Đại học sư phạm, Đại học Thái Nguyên đã giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu chương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục khóa
2016 - 2018
Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, người
thầy tận tình, chu đáo, đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn, các đồng chí cán
bộ quản lý và giáo viên các trường THCS huyện Ba Bể, các bạn đồng nghiệp đã cung cấp cho tôi những tư liệu bổ ích giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 26 tháng 4 năm 2018
Tác giả
Đàm Văn Thấm
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 Các khái niệm liên quan 7
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.2 Khái niệm tư vấn, tư vấn hướng nghiệp 11
1.1.3 Kỹ năng, kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 14
1.1.4 Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở 16
1.2 Mục tiêu và tầm quan trọng của bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS 17
1.3 Nội dung bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS 18
1.4 Phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở 20
1.5 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở 22
1.5.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng 22
Trang 61.5.3 Chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng 24
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng 26
1.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở 27
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN 32
2.1 Khái quát về huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 32
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Ba Bể 32
2.1.2 Khái quát tình hình phát triển giáo dục và công tác tổ chức tư vấn hướng nghiệp trên địa bàn huyện Ba Bể cho học sinh Trung học cơ sở 33
2.2 Mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp khảo sát thực trạng 35
2.2.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 35
2.2.2 Đối tượng khảo sát 36
2.2.3 Nội dung, phương pháp khảo sát 36
2.3 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên Trung học cơ sở huyện Ba Bể về kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 36
2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên THCS huyện Ba Bể về những yêu cầu đối với cán bộ làm công tác tư vấn hướng nghiệp 36
2.3.2 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên THCS huyện Ba Bể về mức độ cần thiết của các kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 38
2.4 Thực trạng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp của giáo viên THCS huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 40
2.4.1 Thực trạng kỹ năng lắng nghe của giáo viên Trung học cơ sở huyện Ba Bể 43
2.4.2 Thực trạng kỹ năng giao tiếp không lời của giáo viên THCS huyện Ba Bể 44 2.4.3 Thực trạng kỹ năng phản hồi của giáo viên Trung học cơ sở huyện Ba Bể 44
2.4.4 Thực trạng kỹ năng thu thập thông tin của giáo viên THCS huyện Ba Bể 45
Trang 72.4.5 Kỹ năng thông đạt của giáo viên THCS huyện Ba Bể tình Bắc Kạn 46
2.4.6 Thực trạng kỹ năng nói của giáo viên THCS huyện Ba Bể 46
2.4.7 Thực trạng kỹ năng sử dụng các công cụ tư vấn của giáo viên THCS huyện Ba Bể 47
2.5 Thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn 47
2.5.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên 47
2.5.2 Thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể 49
2.5.3 Chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THCS huyện Ba Bể 53
2.5.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THCS huyện Ba Bể 54
2.5.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể 55
2.6 Đánh giá chung 58
2.6.1 Thành tựu 58
2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 59
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN THCS HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN 61
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 61
3.1.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính mục đích 61
3.1.2 Nguyên tắc 2: Đảm bảo phù hợp với thực tế công việc 62
3.1.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính toàn diện 62
3.1.4 Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính hiệu quả 62
3.2 Giải pháp bồi dưỡng KN TVHN cho GV THCS huyện Ba Bể 63
3.2.1 Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng để lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể 63
Trang 83.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho
Cán bộ quản lý, Giáo viên, Phụ huynh và Học sinh về tư vấn hướng nghiệp 65
3.2.3 Xây dựng lực lượng báo cáo viên bồi dưỡng KN TVHN cho giáo viên THCS huyện Ba Bể 69
3.2.4 Chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp theo hướng phát huy vai trò chủ thể của giáo viên THCS 71
3.2.5 Đầu tư về tài chính, cơ sở vật chất cho hoạt động bồi dưỡng nâng cao kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS 74
3.2.6 Tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức bồi dưỡng và đánh giá kết quả bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS 75
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 77
3.4 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 78
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 78
3.4.2 Nội dung, đối tượng khảo nghiệm 78
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 78
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, GV THCS về mức độ cần thiết của các
yêu cầu đối với cán bộ làm công tác TV hướng nghiệp 37Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL huyện Ba Bể về mức độ cần thiết của các
kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 38Bảng 2.3 Nhận thức của Giáo viên THCS huyện Ba Bể về mức độ cần
thiết của các kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 39Bảng 2.4 Đánh giá của CBQL huyện Ba Bể về thực trạng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp của GV THCS 41Bảng 2.5 Tự đánh giá của GV THCS huyện Ba Bể về thực trạng kỹ năng
tư vấn hướng nghiệp 42Bảng 2.6 Thực trạng công tác lập kế hoạch tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ
năng tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho GV THCS huyện Ba Bể 48Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL, GV về các nội dung bồi dưỡng KNTVHN
cho GV THCS huyện Ba Bể 50Bảng 2.9 Biện pháp chỉ đạo thực hiện kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể 53Bảng 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng
nghiệp cho GV THCS huyện Ba Bể 56Bảng 3.1 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ cấp thiết của các biện pháp
bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCShuyện Ba Bể 79Bảng 3.2 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ khả thi của các biện pháp
bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCShuyện Ba Bể 80
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Đánh giá của CBQL Huyện Ba Bể về thực trạng kỹ năng tư
vấn hướng nghiệp của GV THCS 41Biểu đồ 2.2 Tự đánh giá của GV THCS huyện Ba Bể về thực trạng kỹ
năng tư vấn hướng nghiệp 42Biểu đồ 2.3 Đánh giá của CBQL, GV về các nội dung bồi dưỡng
KNTVHN cho GV THCS huyện Ba Bể 50Biểu đồ 3.1 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ cấp thiết của các biện pháp bồi
dưỡng KNTVHNcho giáo viên THCS huyện Ba Bể 81Biểu đồ 3.2 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ khả thi của các biện pháp
bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCShuyện Ba Bể 81
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Nghề nghiệp là một phần quan trọng trong cuộc đời mỗi con người Nghề nghiệp cũng thể hiện sự thành đạt và hạnh phúc của mỗi cá nhân Khi cá nhân chọn được những nghề phù hợp với sở trường, năng lực của bản thân thì
họ sẽ phấn khởi, hăng say và sáng tạo trong lao động, từ đó năng suất và hiệu quả lao động sẽ cao và như vậy sẽ giúp cá nhân phát triển tối đa khả năng của bản thân và thúc đẩy xã hội phát triển Đối với người lao động hiện nay, vấn đề không chỉ là có nghề, mà là có nghề nghiệp phù hợp
Tuy nhiên, muốn xây dựng được một nền tảng vững chắc, ổn định trong
sự nghiệp, thì không phải là điều mà ai cũng làm được Bản thân người lao động không dễ dàng làm tốt công việc lựa chọn nghề này, họ cần có sự trợ giúp của các nhà chuyên môn - người làm công tác tư vấn hướng nghiệp
Đối với học sinh THCS, việc lựa chọn đúng nghề nghiệp là nền tảng đầu tiên giúp các em xác định được công việc tốt và phù hợp để xây dựng cuộc
sống trong tương lai Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay thì vấn đề lựa chọn được một ngành nghề phù hợp với khả năng và trình độ học vấn của bản thân là một việc không hề dễ, nếu không có sự định hướng, dẫn dắt từ nhà trường thông qua các hoạt động tư vấn hướng nghiệp tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động
không mới, là vấn đề không chỉ học sinh THCS phải lo mà cũng là lo lắng chung của gia đình, ngành giáo dục và toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay
Với mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh chọn nghề một cách có cơ
sở, giúp họ có được nhận thức đúng đắn hơn về nghề nghiệp và phát huy được tối đa năng lực sáng tạo, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội thì tư vấn hướng nghiệp đã và đang trở thành là bước khởi đầu quan trọng để xây dựng cho các em một hành trang tri thức nghề nghiệp trên con đường hướng tới tương lai
Trang 13Cũng chính từ những vai trò to lớn trên, từ năm 1981 đến nay đã có rất nhiều quyết định, nghị định, thông tư, công văn liên quan tới công tác hướng nghiệp cho học sinh THCS được Đảng và Nhà Nước ban hành, mở đầu là Quyết định số 126 - CP ngày 19 tháng 03 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ
“Về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường”
Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản
Việt Nam (2011) cũng nhấn mạnh: "Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương; đồng thời nhằm góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh trước khi vào đời là một nhiệm
vụ hết sức quan trọng, cấp bách của sự nghiệp giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay” [14]
Vì thế, có thể khẳng định rằng GDHN là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của GD&ĐT, góp phần tích cực và có hiệu quả trong việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động GDHN tại các trường THCS nói chung
và của các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn nói riêng hiện nay còn rất nhiều hạn chế GDHN chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với nhiệm vụ định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nhìn một cách tổng quát thì GDHN vẫn chưa giành được nhiều sự quan tâm và đầu tư từ các nhà quản lý Thông thường, khi gần đến kỳ thi tuyển sinh hàng năm, các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp mới kết hợp với các cơ quan truyền thông, các tổ chức chính trị, xã hội để tổ chức tư vấn tuyển sinh tại các trường THCS Điều này chỉ mới cung cấp được một số thông tin cơ bản về trường thi, khối thi, điểm thi….cho học sinh, chứ chưa đủ cơ sở để giúp các em có được một quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn nghề nghiệp Sự hiểu biết về nghề nghiệp hạn chế đã làm cho một bộ phận học sinh có những suy nghĩ sai lệch
Trang 14Trước nhu cầu lớn về tư vấn hướng nghiệp ở nước ta hiện nay, một số trung tâm tư vấn hướng nghiệp đã được thành lập tại trường phổ thông ở một
số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế Những cố gắng ban đầu của các nhà tư vấn đã được học sinh, phụ huynh, giáo viên và nhà quản
lý giáo dục đón nhận rất nhiệt tình Song, do mới được thành lập trong mấy năm gần đây, các trung tâm phát triển theo hình thức tự phát là chủ yếu, thiếu
cơ chế quản lý mang tính pháp lý, phần lớn cán bộ tư vấn chưa được đào tạo một cách bài bản đúng chuyên ngành, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu, thời gian và kinh phí cho hoạt động tư vấn còn hạn hẹp Do vậy, cần thiết phải có những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này để đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời góp phần hiện thực hóa mục tiêu giáo dục phổ thông được thể hiện trong luật giáo dục: “Học sinh có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
Từ những lý do trên, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề GDHN tại các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, đồng thời tìm ra được một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn hướng
nghiệp , tôi đã chọn đề tài : “Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng
nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn" làm đề tài
luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng
tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Luận văn đề xuất một số biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng tư vấn hướng nghiệp tại các trường THCS
3 Đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể, Bắc Kạn
Trang 153.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể, Bắc Kạn
4 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh các trường THCS huyện Ba Bể phụ thuộc một phần vào kỹ năng tư vấn hướng nghiệp của đội ngũ giáo viên, nếu đánh giá đúng kỹ năng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp của đội ngũ giáo viên và đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các nhà trường và đặc điểm hoạt động tư vấn hướng nghiệp của học sinh THCS thì sẽ nâng cao năng lực tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
5 Phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: : Khảo sát tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp cho giáo viên THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Về thời gian: Các khảo sát đánh giá dựa trên số liệu và kết quả tổ chức
bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp tại các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể trong năm học 2017-2018
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng
nghiệp cho giáo viên THCS
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể Xác định những thành tựu cũng như các tồn tại, yếu kém và nguyên nhân của những tồn tại đó trong công tác chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả tổ chức bồi dưỡng
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các nhóm phương pháp lý luận
7.2 Các nhóm phương pháp thực tiễn
7.3 Phương pháp bổ trợ
Tác giả sử dụng toán thống kê để xử lý kết quả khảo sát
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng để điều tra trên đối tượng CBQL Sở GD&ĐT, GV, HS trường THPT để tìm hiểu thực trạng công tác bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV trường THPT
* Phương pháp đàm thoại
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập một số thông tin qua giáo viên chủ nhiệm lớp, GV làm cán bộ Đoàn và học sinh để giúp cho việc phân tích thực trạng và lý giải nguyên nhân, đồng thời nhằm làm tăng thêm tính khác quan của kết quả thu được từ phương pháp khác
* Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát quá trình tổ chức, công tác bồi dưỡng đồng thời quan sát việc tổ chức hoạt động tư vấn hướng nghiệp của giáo viên THPT để thu thập thêm các cứ liệu làm rõ thực trạng công tác bồi dưỡng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT
* Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài để thu thập ý kiến kinh nghiệm quản lý bồi dưỡng của các chuyên gia để từ đó xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các biện pháp bồi dưỡng tư vấn hướng nghiệp cho sát với đối tượng, sát với thực tế
Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ cơ sở
lý luận và thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể trong giai đoạn hiện nay
Trang 178 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phục lục, kết cấu của luận văn gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng hướng nghiệp
cho giáo viên THCS
Chương 2: Thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
cho giáo viên THCS huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp cho giáo viên THCS huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.1 Trên thế giới
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng giáo viên
là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ xã hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển KT-XH là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục nhất là tư vấn hướng nghiệp có vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực của đất nước
Pháp là một trong những nước rất đề cao công tác hướng nghiệp cho học sinh và công việc này do những nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp đảm nhiệm, thuộc biên chế của Bộ Giáo dục và làm việc tại các trung tâm độc lập với các trường phổ thông Công tác hướng nghiệp tại Pháp phân biệt rõ hai loại: định hướng học đường (thường dành cho học sinh và thanh thiếu niên) và định hướng nghề dành cho người trưởng thành đã đi làm Mục tiêu của định hướng học đường nhằm giúp cho thanh thiếu niên có những lựa chọn tốt cho đường hướng tương lai, phát triển bản thân; về mặt xã hội làm giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thanh thiếu niên, cũng như đảm bảo sự phân bố nguồn lực trong cơ cấu xã hội Triết lý của công tác hướng nghiệp ở Pháp là “làm cho cá nhân nhận thức được những đặc tính, năng lực của cá nhân và phát triển các đặc tính đó để chọn ngành học và các hoạt động chuyên môn trong các hoàn cảnh của đời sống với mong muốn được phục vụ xã hội và phát triển trách nhiệm của mình” Có 3 cách thức định hướng học đường: hướng nghiệp ban đầu trong hệ thống trường phổ thông; Học nghề dưới dạng hợp đồng lao động chuyên biệt dành cho nhóm
Trang 19thanh niên từ 16 đến 25 tuổi Cơ sở sử dụng lao động phải tổ chức việc đào tạo thực hành nghề và chỉ định người hướng dẫn Sau khi làm việc, học viên được cấp chứng chỉ nghề Học viên được trả lương theo qui định của pháp luật Kinh phí cho học nghề được lấy kinh phí của cơ sở sử dụng lao động, nhà nước và địa phương Ba là, thanh niên từ 16-25 tuổi rời trường phổ thông nhưng không đạt được bằng cấp hoặc chứng chỉ nào được hưởng những hỗ trợ đặc biệt của chính quyền (kí hợp đồng dự thính, hợp đồng làm thế chỗ) nhằm cung cấp cho
họ các kỹ năng nghề cơ bản và giúp họ xâm nhập vào thị trường lao động Các nhà tâm lý tư vấn định hướng có trình độ tương đương Thạc sĩ chuyên về tư vấn định hướng Nhiệm vụ của họ là: 1 Tham gia giám sát liên tục học sinh
và thành công học tập của các em 2 Đảm bảo thông tin về qui trình định hướng, đào tạo và nghề nghiệp cho học sinh và gia đình; 3 Đảm bảo công tác đặc biệt là tham vấn cá nhân cho học sinh và phu huynh học sinh; 4 Với tư cách là người hỗ trợ, thực hiện công việc đánh giá học sinh; 5 Hỗ trợ học sinh thực hiện các dự định học tập và nghề nghiệp; 6 Đóng vai trò
cố vấn chuyên môn cho Hiệu trưởng, các nhà quản lý trong việc xây dựng các kế hoạch giáo dục liên quan đến hướng nghiệp Hiện ở Pháp có trên
4400 nhà tâm lý tư vấn định hướng
Tại Pakistan, có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quy định trong thời gian 3 tháng, gồm các nội dung như giáo dục nghiệp vụ dạy học, cơ sở tâm lý giáo dục, phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh, đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm
Ở Philippin, công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng vào các khoá học trong thời gian học sinh nghỉ hè
Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá trong giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kĩ
Trang 20năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy sách giáo khoa, sách tham khảo,…
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và giáo viên THPT quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy theo thực tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định
Cụ thể là mỗi trường cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học
Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội
Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và nghiệp vụ chuyên môn theo quy định Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả trong thập kỉ vừa qua; đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn tại nước ngoài
Tư vấn hướng nghiệp luôn là một vấn đề được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm và bồi dưỡng tư vấn hướng nghiệp đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng với bất kỳ quốc gia dân tộc nào bởi việc bồi dưỡng hướng nghiệp cho giáo viên tốt hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau này của cả quốc gia đó
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Ngay sau năm 1975, việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nói chung được thực hiện trong bối cảnh cả nước phải khắc phục hậu quả khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ, nên gặp rất nhiều khó khăn Chương trình đào tạo giáo viên ở các vùng miền được tổ chức theo các hình thức khác nhau, nội dung đào tạo khác nhau dẫn tới trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên cũng khác nhau Để đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo dục, Đảng và Nhà nước
Trang 21ta có những chủ trương cấp bách để đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tư vấn hướng nghiệp theo nhiều loại hình khác nhau đặc biệt là đội ngũ GVTHPT như: đào tạo chính quy, tại chức, ngắn hạn và cấp tốc theo các hệ khác nhau dẫn đến trình độ của GV THPT không đồng đều
Từ năm 1986, cả nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu CNH-HĐH, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng phát triển giáo dục nhằm tạo động lực phát triển KT-XH Bắt đầu từ đây, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đã có những chuyển biến tích cực nhằm dần dần chuẩn hoá đội ngũ này, mặc dù nguồn ngân sách giáo dục còn rất hạn hẹp Hai chu kì bồi dưỡng thường xuyên 1992-1996 và 1997-2000 đã cho phép đúc rút được những kinh nghiệm bổ ích về hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên phổ thông nói chung và GV THPT nói riêng; đồng thời cũng bộc
lộ nhiều điều bất cập về nội dung, chương trình, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất, tài liệu, thời gian, và đặc biệt cho thấy những hạn chế trong các công tác quản lý của các cấp, dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên chưa cao, chưa đáp ứng kịp với sự phát triển giáo dục
Do đó vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên nói chung và GV tư vấn hướng nghiệp nói riêng còn cần phải tiếp tục nghiên cứu để đề ra những biện pháp hữu hiệu và có tính khả thi đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới
Khái quát các kết quả nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra kết luận:
- Cùng với những nghiên cứu về GDHN, TVHN cho học sinh đã được
quan tâm nghiên cứu với tư cách là một nội dung của GDHN cho học sinh Tuy vậy, những nghiên cứu về TVHN cho học sinh cũng có bước thăng trầm Các công trình nghiên cứu không được thường xuyên và có giai đoạn (giữa những năm 90 trở đi) vắng bóng các công trình nghiên cứu về vấn đề này
- Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã có những tác động
Trang 22phổ thông ở các cấp độ, các bình diện khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu những công trình đi sâu vào bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT trong giai đoạn nền kinh tế thị trường hiện nay, gắn với một khu vực, một vùng, miền nhất định Điều này, một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của việc triển khai nghiên cứu luận văn
1.1.2 Khái niệm tư vấn, tư vấn hướng nghiệp
Trong các sách báo nước ngoài, khái niệm tư vấn hàm chứa hai ý nghĩa:
tư vấn thông tin và tư vấn tâm lý (tham vấn) Tư vấn thông tin nặng về cung cấp thông tin chuyên môn còn tư vấn tâm lý mang nhiều ý nghĩa của sự trợ giúp mang tính cá nhân và riêng tư về những vấn đề riêng của con người
Bản thân khái niệm tư vấn cũng được hiểu rất khác nhau Nghiên cứu của Kell & Burown (1998) đã viện dẫn một số minh hoạ như sau: Good - một nhà biên soạn Từ điển Giáo dục đã định nghĩa: “Tư vấn là một loại trợ giúp mang tính cá nhân và riêng tư về những vấn đề riêng của con người về vấn đề giáo dục, vấn đề nghề nghiệp” Định nghĩa này nhấn mạnh đến cơ sở của nhận thức và vận dụng sự hỗ trợ của các nguồn lực bên ngoài trong quá trình tư vấn Một quan niệm khác lại cho rằng: Tư vấn là một mối quan hệ trong đó có một người cố gắng giúp người khác hiểu biết và giải quyết vấn đề cần được điều chỉnh của mình Lĩnh vực cần điều chỉnh thường là trong tư vấn tâm lý giáo dục, tư vấn xã hội Như vậy, tư vấn là một công việc hai chiều, quan hệ đến cả hai người: người tư vấn (tư vấn viên) và người được tư vấn (thân chủ) [3] [2]
Định nghĩa được coi là có giá trị và được sử dụng khá phổ biến trong trường học là định nghĩa của nhà Tâm lý học Wrenn: Tư vấn là một cuộc đặt quan hệ có mục đích giữa hai người, trong đó các cách thức đối xử thường thay đổi theo tính chất nhu cầu của học sinh, nhưng luôn có sự tham gia tương hỗ giữa tư vấn viên và học sinh tập trung vào việc phân biệt (tự làm cho rõ ràng, trong sáng) và tự quyết định của học sinh [37, tr 15]
Trang 23Mặc dù có những quan niệm khác nhau về tư vấn, nhưng nhìn chung các quan điểm này đều thừa nhận tư vấn là một tiến trình định hướng học hỏi, hoàn thành một tương tác xã hội đơn giản, một người với một người Trong đó tư vấn viên là người có nghiệp vụ cao với những kỹ năng thành thạo và hiểu biết, tìm cách giúp thân chủ bằng những phương pháp thích hợp đối với nhu cầu thân chủ trong phạm vi tổng thể nghiên cứu về chính bản thân họ
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: Tư vấn là một hoạt động thông tin, là một tương tác xã hội giữa nhà tư vấn và người được tư vấn, trong
đó nhà tư vấn đưa ra những lời khuyên hoặc các gợi ý giúp đối tượng cần tư vấn có được những thông tin và những tri thức cần thiết về những vấn đề mà
họ quan tâm
Công tác tư vấn hướng nghiệp cũng giống như định hướng nghề và tuyển
chọn nghề được tiến hành trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, có những quy luật phát triển đặc thù, đồng thời được xem là biện pháp tác động trực tiếp đến con người Tư vấn hướng nghiệp là một trong những nhân tố hình thành ở con người hệ thống thái độ đối với thế giới nghề nghiệp và đối với bản thân mình
Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà ở mỗi nước có cách nhìn và cách gọi khác nhau về tư vấn hướng nghiệp ví dụ như ở Mỹ, Canada thì gọi là “Hướng dẫn chọn nghề” hay “Hướng dẫn con đường mưu sinh” và cho rằng: “Hướng dẫn chọn nghề là quá trình giúp đỡ học sinh chọn nghề, là quá trình chuẩn bị cho học sinh đi làm, cũng tức là quá trình giúp con người có cơ thành đạt trong nghề” Ở Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu hướng nghiệp cho rằng: “Hướng nghiệp gồm ba khâu là: định hướng nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề, có nhiệm vụ chuẩn bị về tư tưởng và thực tế cho học sinh tốt nghiệp trung học sẵn sàng tham gia lao động và lựa chọn nghề nghiệp [30, tr20]
Trong từ điển Tâm lý học của Đức cũng cho rằng tư vấn hướng nghiệp là hoạt động tư vấn giúp cá nhân, đặc biệt là thanh niên trong quá trình định hướng, tìm chọn cũng như thay đổi nghề
Trang 24Ở Việt Nam, tư vấn hướng nghiệp đã được đề cập đến nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Tư vấn hướng nghiệp là một khâu nằm trong công tác hướng nghiệp Những năm gần đây do nhu cầu của xã hội, trước tình hình thực tế sự phân công lao động trong xã hội có nhiều bất cập nên công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề đang là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm
Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ: “Tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của một cá nhân hay của một nhóm người muốn hiểu biết về một đối tượng, hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện tiếp cận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh” [19]
Theo tác giả Đặng Danh Ánh: “Tư vấn nghề (hướng nghiệp) được hiểu
là hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục và y học nhằm phát hiện và đánh giá nhân cách của học sinh, giúp các em chọn nghề trên cơ sở khoa học Nói cách khác, tư vấn nghề là việc đối chiếu yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường lao động với hứng thú, khuynh hướng của học sinh rồi cho các em lời khuyên nên học nghề nào thì phù hợp” [3]
Từ những khái niệm trên cho thấy, tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động cung cấp thông tin về nghề nghiệp, trong đó chủ thể tư vấn phải giúp cho đối tượng tư vấn (có thể là một cá nhân hoặc một nhóm người) hiểu được về hoạt động nghề nghiệp nào đó mà họ chưa có điều kiện hiểu biết một cách cặn
kẽ Giúp cho đối tượng tư vấn nhận thức được đặc điểm tâm sinh lý vốn có của bản thân và những nhu cầu xã hội, từ đó họ có sự lựa chọn nghề nghiệp một cách phù hợp Tư vấn nghề dựa trên cơ sở nghiên cứu nhân cách và những kiến thức về nhu cầu nền kinh tế quốc dân Tư vấn hướng nghiệp được tiến hành đối với tất cả những đặc điểm toàn diện của nhân cách học sinh, những hình thức, phương pháp giúp đỡ sư phạm cho học sinh trong lựa chọn nghề
Từ sự phân tích trên, chúng tôi quan niệm: Tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động thông tin nhằm cung cấp cho đối tượng tư vấn về một hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện hiểu biết một cách cặn kẽ, trên cơ sở đối chiếu
Trang 25với năng lực, hứng thú của cá nhân, nhu cầu của xã hội, giúp đối tượng tư vấn lựa chọn nghề phù hợp [19]
1.1.3 Kỹ năng, kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
1.1.3.1 Kỹ năng
Trong Tâm lý học, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kỹ năng
- Quan niệm thứ nhất chú trọng khía cạnh cách thức hành động, coi việc nắm được cách thức hành động là có kỹ năng Tác giả: A.G Covaliôp cho rằng
kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động đã được con người nắm vững [1]
- Quan niệm thứ hai: Coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người Kỹ năng theo quan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích Tác giả: A.V Pêtrôpxki xem kỹ năng là năng lực sử dụng các tri thức, các dữ kiện hay khái niệm đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra [2]
- Quan niệm của các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam: Kỹ năng thường được coi là khả năng của con người thực hiện có hiệu quả hành động tương ứng với các mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Kỹ năng bao giờ cũng
có tính khái quát và được sử dụng trong những tình huống khác nhau.[21]
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2000 (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”[28] Nói khác đi, kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc hay một hoạt động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu cụ thể, nhằm đạt được mục đích nhất định trong những điều kiện nhất định
Những định nghĩa trên thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của nhà nghiên cứu Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận
rằng kỹ năng được hình thành khi con người áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng
Trang 261.1.3.2 Kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
Mục đích cuối cùng của TVHN là học sinh lựa chọn được ngành, nghề phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của bản thân và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Để trợ giúp học sinh đạt được mục tiêu đó, thì hoạt động tư vấn phải bắt đầu từ người được tư vấn.Người được tư vấn (học sinh) đến với nhà tư vấn vì họ đang gặp khó khăn để lựa chọn một nghề Có thể họ chưa có hiểu biết gì về bản thân, về nghề nghiệp hay về thị trường lao động; hoặc họ có hiểu một chút nhưng chưa đúng và đầy đủ; hoặc là họ đang gặp mâu thuẫn giữa năng lực và hứng thú, giữa cái bản thân muốn nhưng gia đình không cho phép, giữa nghề họ hứng thú nhưng lại khó xin việc…Từ đó, có nhiều quan điểm khác nhau về tư vấn hướng nghiệp cho học sinh từ các nhà tâm lý học trong và ngoài nước
Năm 1942, cuốn sách “Tư vấn và tâm lý trị liệu” của Carl R Rogers được xuất bản, với phương pháp “tư vấn thân chủ trọng tâm” là nguyên nhân để xem xét lại toàn bộ những giả định đã được thiết lập trước đây trong TVHN [6] Những người theo C Roger cho rằng: (1) các khái niệm như tình cảm, động lực hành động cần được xem xét trong quá trình tư vấn, (2) thân chủ tự chấp nhận bản thân và tự hiểu bản thân là những mục tiêu cơ bản, (3) điều quan tâm nữa
là mối tương tác giữa thân chủ - nhà tư vấn và chia sẻ của thân chủ trong quá trình tư vấn Thực chất, mối quan hệ tư vấn là sự tôn trọng lẫn nhau, trực tiếp hướng tới việc thân chủ đạt được sự tự hiểu biết bản thân và từng bước điều khiển được chính mình.Trung tâm của mối quan hệ tư vấn thay đổi về phía thân chủ và kỹ thuật tư vấn, với sự giảm đi việc dùng bài kiểm tra (test), ghi chép hồ
sơ và quyền uy của nhà tư vấn Tư vấn nghề nghiệp theo một qúa trình cần tập trung vào việc tạo cho các cá nhân khả năng tận dụng thế mạnh của họ để tự đưa ra quyết định và để có ảnh hưởng tới những lựa chọn trong tương lai hơn là chỉ thích nghi với những áp lực của khách quan Như vậy: kỹ năng tư vấn hướng nghiệp là sự hướng dẫn, trợ giúp của giáo viên giúp học sinh chọn được một nghề phù hợp với bản thân, đáp ứng yêu cầu xã hội.[30], 21]
Trang 271.1.4 Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở
1.1.4.1 Khái niệm bồi dưỡng
Theo Từ điển Tiếng Việt "Bồi dưỡng có nghĩa là làm cho tăng thêm trình
độ, năng lực hoặc phẩm chất"[28]
Theo nghĩa rộng Bồi dưỡng có nghĩa" là quá trình nhằm hình thành những nhân cách và phẩm chất riêng biệt của cá nhân theo định hướng mục đích đã chọn" Theo nghĩa hẹp Bồi dưỡng "là trang bị kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể"
Ví dụ: Bồi dưỡng đạo đức lý luận, bồi dưỡng NVSP
Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước Hoạt động bồi dưỡng là hoạt động thường xuyên liên tục cho mỗi giáo viên để không ngừng nâng cao trình độ của mình để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế Nội dung bồi dưỡng được triển khai ở các mức
độ khác nhau cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể.Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng, nhằm nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó mà người ta đã có một trình độ chuyên môn nhất định Bồi dưỡng được coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc văn hoá hoặc bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố những kĩ năng về chuyên môn hay nghiệp vụ sư phạm theo các chuyên đề Đối với giáo viên, hoạt động bồi dưỡng nhằm tạo điều kiện cho người giáo viên và giáo viên THCS quản lý giáo dục có cơ xã hội củng cố và mở rộng một cách có
hệ thống những tri thức, kĩ năng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm hoặc quản
lý giáo dục sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn; mặt khác cũng qua bồi dưỡng người học biết chọn lọc, tiếp thu phát huy các mặt mạnh, khắc phục bổ sung những mặt còn hạn chế, bồi dưỡng kịp thời, động viên họ làm việc tự giác với tinh thần trách nhiệm đạt hiệu suất cao
Như vậy theo chúng tôi "Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó"
Trang 281.1.4.2 Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS
Bồi dưỡng kỹ năng là trang bị thêm kiến thức, nhằm nâng cao năng lực tư vấn của giáo viên để quá trình tư vấn đạt kết quả cao Dưới vai trò tổ chức, hướng dẫn của báo cáo viên, giáo viên cần tự giác, tích cực tự rèn luyện để hình thành kỹ năng tư vấn cho bản thân Do đó trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên cần nhận thức đúng ý nghĩa, vai trò của kỹ năng tư vấn đối với nghề nghiệp của mình trong tương lai, có động cơ rèn luyện đúng đắn, phải biến quá trình bồi dưỡng thành quá trình tự bồi dưỡng Có như vậy, quá trình bồi dưỡng kỹ năng tư vấn của giáo viên THCS mới đạt kết quả cao Hay nói cách khác, quá trình bồi dưỡng kỹ năng
tư vấn là quá trình cần sự tự giác, tính độc lập cao
Như vậy có thể hiểu: Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS là quá trình tổ chức các hoạt động nhằm bổ sung, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, rèn luyện kỹ năng của giáo viên làm công tác hướng nghiệp ở trường THCS một cách có kế hoạch, có hệ thống thông qua các sự kiện, chương trình, khóa tập huấn, hội thảo, lớp học ngắn hạn theo chuyên đề, đảm bảo cho giáo viên đạt được các trình độ kiến thức, kỹ năng để thực hiện công tác tư vấn hướng nghiệp một cách hiệu quả
Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp nhằm bổ sung những những kiến thức chuyên đề khuyết thiếu cho giáo viên, hướng dẫn về phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động tư vấn hướng nghiệp, phát huy những năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm và các mối quan hệ xã hội của bản thân để thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của công tác tư vấn hướng nghiệp
1.2 Mục tiêu và tầm quan trọng của bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS
Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng KH-CN, sự phát triển kinh tế tri thức, xu hướng toàn cầu hoá và xã hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ và toàn diện đối với đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của xã hội Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng cũng ngày càng được rút ngắn
Trang 29Con người được coi là trung tâm của sự phát triển Một xã hội dựa vào sức mạnh của tri thức, bắt nguồn từ sự khai thác tiềm năng của con người, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền vững Những đặc trưng trên dẫn đến những yêu cầu mới về nhiệm vụ cho giáo dục nói chung và tư vấn hướng nghiệp nói riêng không những chỉ trang bị kiến thức mà phải chăm lo hình thành trong lớp trẻ các hành
vi về tình cảm, thái độ, khả năng thích ứng đề góp phần xây dựng mái nhà chung của thế giới, ngăn chặn các hiểm hoạ, nhằm phát triển xã hội bền vững
và ổn định
Trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, nhiều ngành nghề mới xuất hiện, nhiều nghề bị mai một Đối với HS THCS, khi chuẩn bị “vào đời” học sinh thường rất ngỡ ngàng trước thế giới nghề nghiệp phức tạp và đa dạng Các em thiếu hiểu biết về nghề, thiếu cái nhìn thực tế về tình hình đất nước, đánh giá về bản thân mình lại chưa chính xác, nên rất dễ bị ảnh hưởng từ
dư luận xã hội, từ những thành kiến về nghề nghiệp Các em rất cần sự hướng dẫn, giúp đỡ của những người đi trước, đặc biệt là các thầy cô giáo Để làm tốt được công việc “trợ giúp” cho HS, GV cần có vốn hiểu biết về ngành nghề trong xã hội, cần biết cách tư vấn, hướng dẫn HS, giúp các em biết được năng lực của bản thân, hiểu được “chính mình”, nắm được nhu cầu của xã hội, từ đó chọn cho mình một hướng đi đúng Chính vì vậy, việc tổ chức bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực tư vấn hướng nghiệp cho đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp trong các trường THCS là một việc làm quan trọng, cần thiết trong giai đoạn hiện nay, góp phần làm tốt công tác phân luồng học sinh sau THCS, đáp ứng mục tiêu giáo dục, yêu cầu xã hội
1.3 Nội dung bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS
Một số kỹ năng quan trọng đối với người làm công tác tư vấn nói chung
và làm công tác tư vấn hướng nghiệp nói riêng đã được nhiều tác giả đưa ra bàn
Trang 30luận trong một thời gian dài, đây chính là những kỹ năng cần bồi dưỡng cho
GV để họ có thể làm tốt công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS trong nhà trường THCS bao gồm:
- Kỹ năng lắng nghe:
Nghe không đơn thuần chỉ là sử dụng thính giác mà còn phải biết kết hợp quan sát và thể hiện sự cảm thông của mình với thân chủ Nghe cũng là một cách tìm hiểu để nắm bắt những ý kiến, cảm xúc, đồng thời theo dõi những sắc thái tình cảm hoặc thái độ của người đó qua giọng nói và cách nói Nghe trước hết là nắm bắt thông tin, sau nữa phải khuyến khích được sự thoải mái và sự chân thật của thân chủ để họ diễn đạt suy nghĩ, băn khoăn, lo lắng
- Kỹ năng giao tiếp không lời:
Kỹ năng giao tiếp không lời có thể là những biểu hiện về trạng thái nội tâm của thân chủ Không chỉ có vậy người làm công tác tư vấn tâm lý nói chung và tư vấn nghề nói riêng cũng phải biết sử dụng ngôn ngữ giao tiếp không lời Nếu sử dụng giao tiếp không lời hiệu quả sẽ tạo điều kiện giao tiếp bằng lời từ đó xây dựng được mối quan hệ tư vấn tâm lý Qua ngôn ngữ cử chỉ, nét mặt, giọng nói,… người làm công tác tư vấn tâm lý thể hiện được thái độ với thân chủ và ngược lại
- Kỹ năng phản hồi:
Là khả năng tiếp nhận thông tin và truyền lại thông tin bằng hành vi
Đó là nói lại bằng ngôn ngữ của mình hoặc nhắc lại lời thân chủ một cách cô đọng hoặc làm rõ hơn điều thân chủ vừa bày tỏ và được sự tán thành của thân chủ
- Kỹ năng thu thập thông tin:
Giúp người làm công tác tư vấn tâm lý có thể thu thập đầy đủ thông tin
về thân chủ và cả cảm xúc của họ từ đó sẽ giúp thân chủ Kĩ năng thu thập thông tin gồm có: + Kĩ năng đặt câu hỏi + Kĩ năng tóm lược:
- Kỹ năng thông đạt:
Thể hiện sự hiểu biết một cách nồng hậu, trung thực không lấn át thân chủ Khả năng thông đạt là hiểu biết và thông cảm những gì bộc lộ để giúp thân
Trang 31chủ thấy được nội dung các sự kiện, thấy rõ cảm xúc của mình, thấy được giá trị của mình qua đó giúp họ đương đầu với vấn đề họ gặp phải Đây cũng là cơ
sở tạo lòng tin
- Kỹ năng nói:
Nói là truyền đạt hay chuyển tới đối tác một lượng thông tin, một ý tưởng, một ý kiến, một cảm xúc bằng lời nói Nói cung cấp thông tin đến thân chủ, giúp thân chủ hiểu rõ nguyên nhân và nguồn gốc sự lo lắng của vấn đề họ quan tâm giúp họ giải quyết vấn đề dựa trên lí trí và tình cảm Nói còn biểu hiện sự thiện chí, cảm tình và nói lên sự đảm bảo đối với đối tượng Khi nói cần dùng ngôn ngữ đơn giản có tính phổ thông, nói phải rõ ràng, có sức biểu cảm, thu hút thân chủ, nói những điều mà thân chủ cần nghe, tránh những từ làm thân chủ sợ hãi sẽ làm ảnh hưởng tới trạng thái tâm lí và tinh thần của thân chủ ảnh hưởng tới hiệu quả tư vấn
- Kỹ năng sử dụng các công cụ tư vấn:
Sử dụng các Test đo đặc điểm nhân cách (khí chất, xu hướng, năng lực, tính cách), sử dụng dụng cụ đo đặc điểm sinh lý…
1.4 Phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở
Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THCS cần được thực hiện thông qua nhiều phương pháp và hình thức khác nhau, đảm bảo tính đa dạng, phong phú, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn
1.4.1 Phương pháp bồi dưỡng
- Sử dụng phương pháp thuyết trình cung cấp kiến thức chuyên đề, phân tích, giải thích, lý giải về kiến thức mới những vấn đề thuộc chuyên môn các lĩnh vực khác nhau
- Phương pháp thực hành, cho GV trực tiếp thực hành xử lý tình huống,
tự tổ chức các hoạt động, trên cơ sở đó phân tích rút ra kinh nghiệm về tổ chức hoạt động tư vấn hiệu quả
Trang 32- Phương pháp cùng tham gia: có sự tác động luân phiên và tương hỗ giữa người giảng viên và học viên, giảng viên đóng vai trò là người điều hành, dẫn dắt, định hướng, nêu vấn đề; học viên là người thảo luận, thực hành, rút ra những kinh nghiệm, kiến thức cho bản thân (đối thoại, thảo luận nhóm, hỏi đáp, trò chơi )
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: giúp GV nhận diện và thảo luận
về các tình huống, các hoạt động thực tế, một vấn đề hay loạt vấn đề nào đó để
từ đó GV có thể khái quát, rút ra được kinh nghiệm hay nhận ra được vấn đề rộng hơn từ một tình huống, trường hợp cụ thể
- Phương pháp xử lý tình huống và phương pháp dự án
1.4.2 Hình thức bồi dưỡng
- Cử GV tham gia các khóa bồi dưỡng về kỹ năng tại Bộ Giáo dục và đào tạo, tại Sở Giáo dục và Đào tạo
- Mời các chuyên gia bồi dưỡng tại trường Trong đó các nội dung tập
huấn cho giáo viên bám sát vào 3 năng lực hướng nghiệp là nhận thức bản thân, tìm hiểu thế giới nghề nghiệp và lập kế hoạch nghề nghiệp
- Tổ chức và phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn tập huấn cho
Trang bị tài liệu cho GV tự nghiên cứu, tự học, tự rèn luyện
Trang 331.5 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở
1.5.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng
Trong hoạt động bồi dưỡng TVHN cho GV ở THCS thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là vấn đề trước nhất và mang tính định hướng cho mọi hoạt động Kế hoạch đó phải thể hiện được các yêu cầu chủ yếu sau:
Thứ nhất, khảo sát tình hình đội ngũ giáo viên để phân loại thành các nhóm khác nhau nhằm định hướng các nội dung và hình thức bồi dưỡng cho mỗi nhóm
Có thể tổ chức việc khảo sát và phân loại theo các cách tiếp cận sau:
- Phân loại theo nội dung bồi dưỡng: bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; bồi dưỡng năng lực, phương pháp sư phạm; bồi dưỡng việc thực hiện và đảm bảo chương trình và sách giáo khoa mới; bồi dưỡng việc sử dụng phương tiện
- Phân loại theo tính chất và quy mô: bồi dưỡng giáo viên giỏi, bồi dương giáo viên cốt cán, bồi dưỡng đại trà,
- Phân loại theo kế hoạch thời gian: bồi dưỡng dài hạn; ngắn hạn; bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ; bồi dưỡng theo chuyên đề,
Thứ hai, xác định mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng
Cần chỉ ra hoạt động bồi dưỡng nhằm vào đối tượng nào, bồi dưỡng để người tham dự bồi dưỡng thu nhận được những kiến thức, kỹ năng và có thái
độ như thế nào Nói cụ thể hơn là sau bồi dưỡng thì đội ngũ giáo viên đạt được mức độ như thế nào so với mục tiêu đề ra
Trang 34Thứ ba, dự kiến các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động bồi dưỡng
Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng được chọn ai, ở đâu để làm giảng viên, chi phí cho mọi hoạt động bồi dưỡng sẽ ở nguồn nào, tài liệu và phương tiện vật chất khác (như hội trường máy móc thiết bị, ) được khai thác ở đâu, thời lượng để thực hiện chương trình bồi dưỡng và tổ chức vào thời gian nào trong năm học,
Thứ tư, dự kiến các biện pháp thực và hình thức hiện mục tiêu bồi dưỡng
Dự kiến các biện pháp và hình thức tổ chức là việc làm cũng không kém phần quan trọng Việc này được thực hiện khi thực hiện chương trình bồi dưỡng Nó thể hiện việc tổ chức bồi dưỡng tập trung cả thời gian, hay tập trung từng giai đoạn, tổ chức thành lớp hay theo nhóm, ở tại huyện hay tổ chức kết hợp với tham quan thực tế, và cuối cùng là biện pháp đánh giá như thế nào?
1.5.2 Tổ chức hoạt động bồi dưỡng
Tổ chức bồi dưỡng là quá trình triển khai, thực hiện một hoạt động cụ thể trong kế hoạch bồi dưỡng đã được xác định Tổ chức bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi cơ bản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả?Tổ chức sao cho chi phí phù hợp để kết quả cao?
Do đó, để tổ chức bồi dưỡng tốt, cần phân tích kế hoạch bồi dưỡng thành các công việc cụ thể: Ra quyết định tổ chức khóa bồi dưỡng, triệu tập học viên,
in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá kết quả đầu vào, kết thức, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán
- Mối quan hệ phối hợp chỉ đạo giữa Giám đốc Sở GD&ĐT, nhà trường
và giáo viên trong hoạt động tổ chức bồi dưỡng năng lực tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học phổ thông
- Thực hiện quy trình hóa: Mỗi công việc hay hoạt động được phân chia logic theo các bước, trình tự nhất định
- Phân công trách nhiệm thực hiện từng công việc cụ thể
Trang 35- Phối hợp các đơn vị, bộ phận và các cá nhân trong quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
- Tiến hành thực hiện các hoạt động bồi dưỡng (tổ chức bồi dưỡng)
- Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả kế hoạch bồi dưỡng
1.5.3 Chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng
Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người tham gia bồi dưỡng nhằm đạt tới các mục tiêu và chất lượng bồi dưỡng đặt ra
Chỉ đạo là chức năng thứ ba trong quá trình quản lý hoạt động bồi dưỡng, có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động bồi dưỡng nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng
và hiệu quả Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của nhà trường và Giám đốc Sở GD&ĐT tới những GV THCS nhằm biến đổi những yếu tố chung của tổ chức, hệ thống và nhà trường thành nhu cầu của mọi giáo viên, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng để tập luyện, rèn luyện nâng cao năng lực cá nhân Do vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu bồi dưỡng góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS
Chức năng chỉ đạo là một chức năng quản lý quan trọng và cần thiết cho việc thực hiện hoá các mục tiêu bồi dưỡng, do đó trong chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng phải quát triệt phương châm “duy trì - ổn định - đổi mới - phát triển” trong các hoạt động bồi dưỡng từ đó chức năng chỉ đạo trong hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS cần thực hiện các nội dung sau:
(1) Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ bồi dưỡng của nhà trường tới giáo viên
Trang 36(2) Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích các giáo viên tích cực triển khai, duy trì các hoạt động bồi dưỡng một cách hệ thống nhằm nâng cao năng lực cho lực lượng giáo viên tư vấn hướng nghiệp
(3) Giám sát hoạt động bồi dưỡng, đánh giá những kết quả đã đạt được
và những kết quả chưa đạt được và có biện pháp sửa chữa những tồn tại trong hoạt động bồi dưỡng để nâng cao chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng
(4) Thúc đẩy các hoạt động phát triển, Giám đốc Sở GD&ĐT phối hợp ban Giám hiệu các trường khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để giáo viên tích cực tham gia bồi dưỡng kỹ tư vấn hướng nghiệp
Chức năng chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ Directing (điều hành)
và thuật ngữ Leading (lãnh đạo), do đó, chỉ đạo vừa có ý nghĩa ra chỉ thị để điều hành vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ (ảnh hưởng tới quá trình hình thành động cơ làm việc) của giáo viên tham gia bồi dưỡng trong toàn
bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản lý
Thực hiện quyền chỉ huy (giao việc) và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ bồi dưỡng cũng như tác động có ảnh hưởng tới các thành viên khác phải đảm bảo phù hợp, thiết thực và cụthể với khả năng và trình độ của từng giáo viên
Việc thực hiện thường xuyên, đôn đốc, động viên và kích thích đối tượng tích cực tham gia bồi dưỡng có tác dụng như quá trình như quá trình tạo động
cơ bồi dưỡng cho mọi thành viên
Giám sát (tương ứng với thuật ngữ Supervision) là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ của cấp dưới, khi thấy có sự sai lệch, lúng túng thì giúp sửa chữa hoặc hỗ trợ, giúp đỡ mọi đối tượng thực hiện tốt các nhiệm vụ bồi dưỡng đặt ra
Việc cần thiết trong quá trình chỉ đạo của Giám đốc Sở GD&ĐT là tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, thiết bị cũng như các điều kiện khác nhằm giúp cho bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THCS, nâng cao năng lực hoạt động của giáo viên
Trang 37- Xử lý thông tin liên quan đến việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, thảo luận, bàn bạc dân chủ, công khai, phát huy sức mạnh của tập thể trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng
Kiểm tra trong quản lý là quá trình xem xét thực tiễn để thực hiện các nhiệm vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích những nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch và đưa ra những quyết định điều chỉnh nhằm giúp các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới một trình độ cao hơn
Kiểm tra là chức năng cuối cùng của một quá trình quản lý, có vai trò giúp cho chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức tốt, vừa, xấu như thế nào, đồng thời cũng biết được những quyết định bồi dưỡng ban hành có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động bồi dưỡng để nâng cao hiệu quả, giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, tập thể đạt được các mục tiêu bồi dưỡng đã đề ra Như vậy, chức năng kiểm tra thể hiện rõ vai trò cung cấp thông tin và trợ giúp các cá nhân và đơn vị hoàn thành nhiệm vụ bồi dưỡng theo mục tiêu kế hoạch đã xác định
Với những vai trò đặc biệt như vậy, chức năng kiểm tra không chỉ đơn thuần là chức năng cuối cùng trong một quá trình bồi dưỡng mà còn là tiền đề cho một quá trình bồi dưỡng và quản lý mới tiếp theo
Chức năng kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của quá trình quản lý có nhiều vai trò trong việc giúp hoàn thành các nhiệm vụ của các đối tượng quản lý
Kiểm tra cần thực hiện các nội dung sau:
(1) Phát hiện thực hiện những điểm tốt và những điểm còn tồn tại của hoạt động bồi dưỡng nói chung và của từng cá nhân tham gia bồi dưỡng nói riêng
(2) Điều chỉnh: Bao gồm; tư vấn (uốn nắm, sửa chữa); thúc đẩy hoạt động bồi dưỡng (phát huy thành tích tốt); hoặc xử lý Theo dõi, đốn đốc tiến
Trang 38trình thực hiện kế hoạch.Có các biện pháp điều chỉnh nhằm đạt kết quả cao so với mục tiêu đề ra
Đánh giá bao gồm: Xác định chuẩn đạt được của kết quả bồi dưỡng của mỗi giáo viên Trung học cơ sở; thu thập thông tin; so sánh sự phù hợp của việc thực hiện với chuẩn mực Đánh giá phải đảm bảo tính khách quan (đánh giá đầu vào, đánh giá ngay sau khi kết thúc hoạt động bồi dưỡng và đánh giá tác động của hoạt động bồi dưỡng trong triển khai nhiệm vụ tại địa phương sau khi được bồi dưỡng )
1.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học cơ sở
Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình TVHN theo hướng chuẩn hóa, tiếp cận với tình độ kinh tế - xã hội của khu vực và thế giới đồng thời thích ứng với nhu cầu nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế của đất nước của từng vùng và từng địa phương để hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp diễn ra hiệu quả hơn
- Sự pha ́ t triển của khoa học - công nghệ
Trong thời gian vừa qua, trên thế giới đang tiếp tục diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sự chuyển biến từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ
Trang 39nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Sự ra đời của các công nghệ cao
đã giúp các nước phát triển tái công nghiệp hoá, và giúp các nước đang phát triển rút ngắn con đường công nghiệp hoá, làm thay đổi cơ cấu công nghiệp
nhiều nước Thế giới bước sang kỷ nguyên của xã hội thông tin Cách mạng thông tin đã thúc đẩy sự ra đời của nền kinh tế tri thức (knowledge economy)
Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải,
nâng cao chất lượng cuộc sống Nền kinh tế tri thức đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao, có thể thích ứng với nhiều loại hình nghề nghiệp Từ đó, giáo
dục nghề nghiệp phải chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhân lực phải đa năng… Người lao động phải biết di chuyển kĩ năng, di chuyển cảm xúc… khi chuyển đổi công việc Đây là vấn đề khó khăn đặt ra cho giáo dục nghề nghiệp hiện đại
Trước thực trạng này, con người đối diện với tương lai không chắc chắn:
sự không ổn định trong nghề nghiệp Vấn đề đặt ra trong hướng nghiệp là: làm thế nào để giúp con người đối mặt và giải quyết những khó khăn trong nghề nghiệp, giúp họ dịch chuyển một cách tốt nhất? Tư vấn hướng nghiệp trong thời đại hiện nay phải giúp cá nhân đương đầu với những thay đổi bằng việc phân tích các tình huống Nhà tư vấn hay GV tư vấn trong trườ ng THCS cần giúp cá nhân thích ứng với hoàn cảnh mới, vượt qua khó khăn, hình thành lại niềm tin
Hoạt động tư vấn nghề nghiệp và bồi dưỡng tư vấn hướ ng nghiêp trong trường THCS cần phải hiểu và đánh giá đúng các năng lực của học viên và người được đào tạo, và phải giúp họ khám phá các lựa chọn nghề nghiệp
- Nội dung chương trình TVHN ở trường THCS
Nội dung chương trình phong phú, đa dạng cập nhật được các thông tin
mở rộng kiến thức tư vấn sẽ làm cho học sinh hào hứng, có tác dụng tác động đến tư tưởng giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân
Trang 40Lứa tuổi học sinh THCS có khả năng tư duy tốt, TVHN nên khơi dậy ở các em nhu cầu ham học hỏi, tự tìm tòi kiến thức như vậy nội dung kiến thức sẽ được mở rộng, phong phú và cập nhật Hơn nữa, nội dung cũng cần đảm đảo sự cân đối giữa kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa liên quan đến thực tiễn học tập phù hợp với lứa tuổi bám sát từng chủ đề hoạt động Có như vậy, TVHN mới đáp ứng mục tiêu của từng hoạt động, mục tiêu chung của giáo dục Nếu nội dung nghèo nàn, đơn điệu sẽ khó thu hút các thành viên tham gia hoạt động, kết quả hạn chế
Thời gian thực hiện chương trình TVHN phải đảm bảo cân đối, phù hợp với hoạt động khác của nhà trường
- Cơ sở vật chất để thực hiện hoạt động bồi dưỡng
Cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật là điều kiện và phương tiện tất yếu để thực hiện hoạt động bồi dưỡng giáo viên Không thể tổ chức hoạt động bồi dưỡng khi không có các điều kiện như kinh phí, tài liệu tham khảo, phòng học, thiết bị dạy học, phương tiện giao thông, điện, nước, sân vườn, bãi tập, Cần xây dựng các chế độ chính sách, khuyến khích về vật chất và tinh thần, chế độ thưởng phạt nghiêm minh đối với việc tự giác thực hiện việc bồi dưỡng của
mỗi giáo viên nhằm tạo động lực để giáo viên tích cực tự giác tham gia vào
hoạt động bồi dưỡng
1.5.5.2 Các yếu tố chủ quan
- Nhận thức của các lực lượng giáo dục về TVHN
TVHN nó được diễn ra trong và ngoài nhà trường, để việc thực hiện chương trình TVHN đạt hiệu quả thì nhận thức của lực lượng giáo dục có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình tổ chức Lực lượng giáo dục bao gồm: các đoàn thể, tổ chức trong và ngoài nhà trường, phụ huynh, giáo viên, giáo viên quản lí
Trong quá trình tổ chức để thực hiện chương trình, thì người tổ chức và chủ thể học sinh có mối quan hệ hợp tác, tác động qua lại với nhau Người tổ chức không những phải là người có uy ín, có năng lực cố vấn, điều hành mà còn phải có nhận thức đúng và am hiểu về lĩnh vực mình tổ chức