Đội ngũ GV THPT tại các trường Tư thục này tuy đã được đầu tư xây dựng và phát triển song vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập cần phải quan tâm như: Số lượng, chất lượng đội ngũ, sự đồng bộ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về luận văn của mình
Thái nguyên, tháng 7 năm 2018
Tác giả
Hà Thị Hương Giang
Trang 4Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Tình người đã trực
tiếp, tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Sở GD và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh, các trường THPT Tư thục trên địa bàn TP Hạ Long; cảm ơn các đồng chí, đồng nghiệp, đã tận tình giúp đỡ và cung cấp số liệu, đóng góp ý kiến để việc điều tra nghiên cứu và hoàn thành luận văn được thuận lợi
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả xin trân trọng tiếp thu những ý kiến chỉ bảo, góp ý xây dựng của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Hà Thị Hương Giang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG THPT TƯ THỤC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông tư thục 9
1.2.1 Trường Trung học phổ thông tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 9
1.2.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông Tư thục 10
1.2.3 Đặc điểm của đội ngũ giáo viên THPT Tư thục 11
1.3 Sử dụng đội ngũ giáo viên 16
1.3.1 Khái niệm 16
1.3.2 Quá trình hoạch định sử dụng đội ngũ 16
1.3.3 Vai trò của sử dụng đội ngũ 18
1.3.4 Nội dung của sử dụng đội ngũ 18
Trang 6iv
1.3.5 Mối quan hệ của sử dụng đội ngũ với những nội dung khác của quản lí nhân
sự 20
1.3.6 Đổi mới giáo dục và sự tác động đến đội ngũ giáo viên 20
1.4 Sử dụng đội ngũ giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục 23
1.4.1 Khái niệm 23
1.4.2 Nội dung của sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục 23
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới sử dụng đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học phổ thông Tư thục 27
1.5.1 Yếu tố chủ quan 27
1.5.2 Yếu tố khách quan 28
Kết luận chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG THPT TƯ THỤC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 30
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 30
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 31
2.2.1 Mục đích khảo sát 31
2.2.2 Nội dung khảo sát 32
2.2.3 Phương pháp khảo sát 32
2.2.4 Địa bàn và khách thể khảo sát 33
2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học phổ thông tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 33
2.3.1 Quy mô, mạng lưới 34
2.3.2 Số lượng đội ngũ giáo viên 35
2.3.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên 36
2.3.4 Cơ cấu đội ngũ giáo viên 37
2.4 Thực trạng sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 41
2.4.1 Thực trạng tuyển dụng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 41
2.4.2 Thực trạng bố trí sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 43
Trang 72.4.3 Thực trạng đánh giá đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 45
2.4.4 Thực trạng đề bạt và thuyên chuyển giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 46
2.4.5 Thực trạng tác động của công tác bồi dưỡng và tạo môi trường làm việc đến sử dụng đội ngũ giáo viên 48
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 53
2.5.1 Những yếu tố chủ quan 54
2.5.2 Những yếu tố khách quan 55
2.6 Đánh giá chung 57
2.6.1 Những ưu điểm 57
2.6.2 Những hạn chế 58
2.6.3 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế 58
Kết luận chương 2 59
Chương 3 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG THPT TƯ THỤC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 59
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 60
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 60
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 60
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 60
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 60
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 61
3.2 Các biện pháp 61
3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên các trường THPT Tư thục ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về việc đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐT 61
3.2.2 Lập quy hoạch phát triển và xây dựng kế hoạch tuyển chọn đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 63
Trang 8vi
3.2.3 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh 66
3.2.4 Xây dựng vị trí việc làm, làm cơ sở cho việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng và đánh giá giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 73
3.2.5 Phân công nhiệm vụ đội ngũ giáo viên phù hợp với năng lực tại các trường Trung học phổ thông Tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 74
3.2.6 Tạo môi trường làm việc thuận lợi cho đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 76
3.2.7 Thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ cho đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học phổ thông Tư thục, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 78
3.2.8 Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng nhằm tạo động lực làm việc cho đội ngũ giáo viên tại các trường Trung học phổ thông Tư thục, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 81
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 84
3.4.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 85
3.4.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường THPT Tư thục thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 88
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 10v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lượng và quy mô các trường THPT Tư thục trên địa bàn
TP Hạ Long (số liệu năm học 2017 - 2018) 34 Bảng 2.2: Thống kê số lượng GV, HS tại các trường THPT Tư thục TP Hạ Long
qua các năm học 35 Bảng 2.3: Số lượng GV THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh chia theo
trình độ đào tạo, bồi dưỡng (số liệu năm học 2017 - 2018) 36 Bảng 2.4: Cơ cấu GV THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về giới tính,
thâm niên công tác, độ tuổi và đảng viên 38 Bảng 2.5: Ý kiến đánh giá về các phương pháp tuyển dụng đội ngũ GV ở các
trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 41 Bảng 2.6: Thống kê tỉ lệ % các nội dung đánh giá của CBQL và của GV về công tác
tuyển dụng tại các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh QN 42 Bảng 2.7: Thống kê số lượng và tỉ lệ % các vị trí việc làm của GV 43 Bảng 2.8: Ý kiến đánh giá về công tác bố trí, sử dụng đội ngũ GV ở các trường
THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 44 Bảng 2.9: Thống kê mức độ thường xuyên và hiệu quả của các hình thức đánh
giá năng lực GV 46 Bảng 2.10: Thống kê mức độ tham gia thường xuyên của GV với các khóa bồi dưỡng 50 Bảng 2.11: Thống kê mức độ tác động của công tác bồi dưỡng với việc sử dụng
đội ngũ ở các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 51 Bảng 2.12: Thống kê mức độ hài lòng của GV về tạo môi trường làm việc 52 Bảng 2.13: Thống kê mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng đội ngũ
GV tại các trường THPT Tư thục TP Hạ Long 53 Bảng 3.1: Kết quả đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp được đề xuất 85 Bảng 3.2: Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp được đề xuất 88
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Biểu diễn tỉ lệ % về cơ cấu độ tuổi của GV các trường THPT Tư
thục TP Hạ Long 38 Biểu đồ 2.2: Biểu diễn tỉ lệ % về thâm niên giảng dạy của GV các trường THPT
Tư thục TP Hạ Long 39 Biểu đồ 2.3: Biểu diễn tỉ lệ % GV theo cơ cấu giới tính 40
Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1: Mô hình phát triển nguồn nhân lực theo Leonard Nadle 20
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định: “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [25] Để thực hiện thành công mục
tiêu đó thì việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung, chất lượng đội ngũ GV nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng Platon - Nhà triết gia cổ đại Hi
Lạp đã nói: “Nếu người thợ giày là một người thợ tồi thì quốc gia sẽ không quá lo lắng
về điều đó, dân chúng sẽ phải xỏ những đôi giày kém một chút, nhưng nếu thầy giáo là người dốt nát, vô luân thì trên đất nước sẽ xuất hiện cả một thế hệ kém cỏi và những con người xấu xa” (dẫn theo [20]) Hay Tago - nhà hiền triết và thi hào của Ấn Độ viết:
"GD một người đàn ông thì được một con người, GD một người đàn bà thì được một gia đình, GD một người thầy giáo thì được một thế hệ" ([20]) Điều đó cho thấy, chất
lượng đội ngũ GV luôn là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành bại của sự nghiệp trồng người
Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII đề ra 4 giải pháp, trong đó có giải pháp xây
dựng đội ngũ GV, tạo động lực cho người dạy và học; các giải pháp đã nhấn mạnh “GV
là nhân tố quyết định chất lượng GD và được xã hội tôn vinh Chăm lo xây dựng đội ngũ GV và CBQL GD sẽ tạo được sự chuyển biến về chất lượng GD, đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước; đào tạo GV gắn với địa chỉ và có chính sách sử dụng hợp
lý để khắc phục nhanh chóng tình trạng thiếu GV ” [22] Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định “Phát triển GD và đào tạo là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững”
[23] Quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn
bản và toàn diện GD và đào tạo (Nghị quyết 29-NQ/TW) tiếp tục khẳng định: “GD và
đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho GD là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội” Một trong các nội dung của biện pháp phát triển đội
ngũ nhà giáo: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và
CBQL GD gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo” Giải pháp cũng đề cập đến cơ chế tuyển chọn đội ngũ: “có cơ chế tuyển sinh
và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm” [26] Cùng với nội dung trên, Chính phủ đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ-TW (NQ số 44/NQ-CP), chương trình hành động đã đề cập đến nhiều giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo trong đó có nội dung
“xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất
Trang 13lượng….chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD các cấp” là một trong những giải pháp quan trọng mang tính đòn bẩy Thực tế cho thấy,
đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũ GV và CBQL các cấp học, song nghiên cứu về sử dụng đội ngũ trong bối cảnh đổi mới GD Việt Nam - lực lượng trực tiếp triển khai mục tiêu, nội dung, chương trình…của đổi mới GD chưa thực sự được quan tâm đúng mức
Trong mỗi nhà trường, việc sử dụng đội ngũ GV một cách hợp lí, khoa học, hiệu quả có ý nghĩa vô cùng to lớn Nó không chỉ góp phần tăng năng suất lao động, tạo ra một tập thể nhà trường đoàn kết, một môi trường làm việc thân thiện, có sự hài hòa giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lợi ích và trách nhiệm, mà còn góp phần tạo nên sự chuyển biến vượt bậc trong chất lượng GD và đào tạo ở các nhà trường Do đó, việc tuyển dụng những GV có phẩm chất, năng lực tốt, đánh giá, phân công hợp lý, giúp đỡ động viên thúc đẩy họ làm việc một cách nhiệt tình, trách nhiệm là nhiệm vụ quan trọng của người lãnh đạo nhà trường Nếu làm tốt công tác này, sẽ góp phần thúc đẩy nhà trường phát triển, qua đó, góp phần củng cố thương hiệu và uy tín của nhà trường trước nhân dân và xã hội
Trên địa bàn TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh hiện có 05 trường Tư thục có cấp THPT Đó là các trường: TH, THCS&THPT Văn Lang, TH, THCS&THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, TH, THCS&THPT Đoàn Thị Điểm, THPT Lê Thánh Tông, THPT Hạ Long Đội ngũ GV THPT tại các trường Tư thục này tuy đã được đầu tư xây dựng và phát triển song vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập cần phải quan tâm như: Số lượng, chất lượng đội ngũ, sự đồng bộ về cơ cấu tổ chức trong đội ngũ, năng lực thích ứng với đổi mới và tính ổn định của đội ngũ… Trong những năm qua, công tác sử dụng đội ngũ
GV của Hiệu trưởng các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tuy có nhiều cố gắng, song nhìn từ góc độ khoa học Quản lý GD thì vẫn thiếu tính đồng bộ, còn nhiều hạn chế và bất cập Yêu cầu đặt ra là phải có những biện pháp sử dụng đội ngũ GV phù hợp với tình hình thực tế nhằm thúc đẩy các trường THPT Tư thục phát triển
Qua quá trình thực tiễn làm công tác quản lý tại một trường THPT Tư thục là trường THPT Hạ Long, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và quá trình học tập, nghiên cứu
về khoa học Quản lý GD, tôi cho rằng việc đề ra các biện pháp sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD ở các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là rất cần thiết Hơn nữa, hiện nay ở Quảng Ninh mặc dù có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu các đề tài về đội ngũ GV, phát triển đội ngũ GV, bồi dưỡng đội ngũ GV, phát triển cơ cấu đội ngũ GV…vv nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu
về vấn đề sử dụng đội ngũ, lại càng không có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề sử dụng đội ngũ ở các trường THPT Tư thục
Trang 143
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi
mới GD ở các trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý GD
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đội ngũ GV và sử dụng đội ngũ
GV ở các trường Tư thục, đề tài đề xuất các biện pháp quản lí nhân sự đảm bảo việc
sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đạt mục tiêu chất lượng, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn nhà trường và đáp ứng yêu cầu đổi mới GD
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý đội ngũ GV THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi
mới GD ở các trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, tại các trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, việc sử dụng đội ngũ GV đã có những kết quả đáng ghi nhận, song trước yêu cầu của đổi mới
GD, việc sử dụng đội ngũ ở các trường này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa khai thác và phát huy hết tiềm năng của đội ngũ nhân sự trong các nhà trường Vì vậy, nếu nghiên cứu đề xuất và áp dụng được các biện pháp sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD ở các trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thì sẽ phát huy tốt hơn chất lượng đội ngũ tại các nhà trường, giúp công tác quản lí của Hiệu trưởng tại đơn vị này đạt được nhiều kết quả tốt và các nhà trường sẽ ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài
Trang 156.3 Về đối tượng và địa bàn khảo sát
CBQL 05 trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (16 người); GV
trong 05 trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (148 người)
6.4 Về thời gian nghiên cứu
Đề tài dự kiến nghiên cứu về sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm học 2014 - 2015 đến năm học 2017 - 2018
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan, các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo của các ngành, các cấp có liên quan Từ
đó hệ thống hóa, khái quát hóa để xây dựng cơ sở lý luận, xây dựng các khái niệm
cơ bản của đề tài Trên cơ sở đó xây dựng các phương pháp nghiên cứu để khảo sát
và đánh giá thực trạng sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra với mục đích chủ yếu là thu thập những thông tin nhằm xác định thực trạng sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT Tư thục
TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, phân tích các nguyên nhân thành công và hạn chế của các biện pháp đang thực hiện
7.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Thu thập thông tin qua việc quan sát việc sử dụng đội ngũ GV của các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thông qua hồ sơ sổ sách của nhà trường, hoạt động của Ban giám hiệu, các tổ chuyên môn và đội ngũ GV
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi trực tiếp với lãnh đạo, chuyên viên các phòng ban của Sở GD và Đào tạo Quảng Ninh, các CBQL và GV các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để thu thập thông tin cho đề tài
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Nghiên cứu, phân tích các tài liệu, văn bản, hồ sơ lưu trữ về quá trình sử dụng đội ngũ GV tại các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm học
2014 - 2015 đến nay; tổng hợp các tài liệu, minh chứng, những thuận lợi, khó khăn về
sử dụng động ngũ GV tại các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh của hiệu trưởng Từ đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến công tác quản lý này
7.2.5 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của lãnh đạo, chuyên viên Sở GD và Đào tạo, các đồng chí hiệu trưởng, GV giảng dạy lâu năm, các nhà quản lý,… để có thêm thông tin tin cậy đảm bảo tính khách quan cho các kết quả nghiên cứu
Trang 165
7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm
Tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất để khẳng định tính khoa học, cần thiết, khả thi của các biện pháp sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD
ở các trường THPT Tư thục, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Thực hiện bằng một số thuật toán của toán học thống kê áp dụng trong nghiên cứu GD Phương pháp này được sử dụng với mục đích định lượng các kết quả điều tra, nghiên cứu, đồng thời đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra, trên cơ sở đó rút ra nhận xét khoa học mang tính khái quát
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung luận văn chia làm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD
ở các trường THPT tư thục
Chương 2: Thực trạng sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD ở các
trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD ở các
trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG THPT TƯ THỤC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề bồi dưỡng, phát triển và sử dụng đội ngũ GV là một vấn đề cơ bản trong
GD, được các quốc gia trên thế giới rất coi trọng Vì vậy, việc tạo mọi điều kiện cho đội ngũ cán bộ, GV có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm đáp ứng và phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội luôn được coi là phương châm hành động của các cấp quản lý GD ở mọi quốc gia
Hội nghị Unesco tổ chức tại Nê-pan vào năm 1998 về tổ chức quản lý nhà trường
đã khẳng định: Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GV là vấn đề cơ bản trong phát triển GD Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đạo tạo lại cho đội ngũ GV, CBQL GD là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng
GV được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện GD cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội Các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada… hầu hết đều thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng GV nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho GV tham gia học tập để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu quản lý GD như: M.I.Kônđacốp, P.V.Khuđominxki… đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ GV có năng lực chuyên môn Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều việc sử dụng hiệu quả đội ngũ
GV
Quản lý nhân sự là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của một cơ quan, đơn vị Quan điểm về nhân sự của các nhà quản lý sẽ tác động trực tiếp lên các quyết định nhân sự như: Nên tuyển dụng ai? Phân công nhiệm
vụ như thế nào và sử dụng người nào cho phù hợp, hiệu quả với từng công việc? Mặt khác, quan điểm về con người của các nhà quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến bầu không khí tâm lý của tập thể, đến hiệu quả làm việc của mỗi cá nhân và của cả đơn vị Nghiên cứu quản lý nhân sự trong nhà trường giúp các nhà quản lý biết cách giao tiếp một cách có hiệu quả với người khác, thấu hiểu và nắm bắt được chính xác năng lực, phẩm chất, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đội ngũ mình quản lý, từ đó có những đánh giá chính xác về đội ngũ và những chỉ đạo đúng đắn để nâng cao chất lượng công việc, nâng cao hiệu quả trong hoạt động của nhà trường
Trang 187
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến phát triển sự nghiệp GD và phát triển đội ngũ nhà giáo Trong tác phẩm “Về vấn đề cán bộ” [47] Bác Hồ đã đề cập đến xây dựng và phát triển đội ngũ Nhà giáo Việt Nam một cách toàn diện từ quan điểm, đánh giá, đào tạo, bồi
dưỡng và sử dụng cán bộ Bác Hồ đã dạy: Mọi việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hoặc kém Nghị quyết Hội nghị trung ương 3 khóa VIII tiếp tục khẳng định: “… Cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong xây dựng Đảng” [22] Trong Đại hội Đảng IX, Đảng ta xác định: “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội”, cho nên việc nghiên cứu về công tác quản lý con người, quản lý nhân sự là rất cần thiết đối với các CBQL nói chung, CBQL GD nói riêng Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của CNTT, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và kinh tế tri thức, đòi hỏi GD và đào tạo phải thực sự là “quốc sách hàng đầu” Do đó, phải coi GD và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Phát triển GD và đào tạo phải gắn với phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy CNH - HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người mới, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương và chính sách cụ thể để phát triển đội ngũ nhà giáo, những chủ trương đó là: “Chiến lược phát triển
GD Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010” nêu rõ phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng; nâng tỷ lệ GV THPT có trình độ Thạc sỹ lên 10%; chú trọng đầu tư cho việc xây dựng đội ngũ GV cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, cho đồng bào các dân tộc thiểu số [15] Chỉ thị số 40 - CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư đã nêu rõ những tồn tại, hạn chế, bất cập của đội ngũ nhà giáo và CBQL
GD, đề ra mục tiêu “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD được chuẩn hóa, đảm bảo
chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo ” [1]; Quyết định số 09/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và CBQL GD giai đoạn 2006 - 2010” nêu rõ mục tiêu, giải pháp để xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL GD đến năm 2010 [17] Dự thảo lần thứ
14 “Chiến lược phát triển GD Việt Nam 2009 - 2020” nêu rõ giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL GD đủ số lượng, đồng bộ và chuẩn hóa, vững vàng về kiến thức khoa
mạnh công tác xã hội hóa lính vực GD, y tế, văn hóa, thể dục thể thao đã chỉ đạo: “chuyển phần lớn hoạt động GD sang cơ chế cung ứng dịch vụ” [16] Sự chuyển đổi này đã đặt ra yêu cầu mới cho nhà trường: muốn phát triển và cạnh tranh có hiệu quả, buộc phải cải thiện tổ chức, trong đó yếu tố con người là quyết định Việc tìm đúng người phù hợp để
Trang 19giao đúng việc nhằm khai thác tốt tiềm năng của họ và đem lại hiệu quả cao cho đơn vị sẽ tạo lợi thế cạnh tranh cho mỗi cơ sở GD trong điều kiện đa dạng hóa các loại trường
Trong những năm gần đây, nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu các vấn đề về đội ngũ giáo viên ở các khía cạnh khác nhau, đi sâu nghiên cứu giải quyết các vấn đề vướng mắc trong thực tiễn công tác quản lý, xây dựng, quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở các địa phương, các cấp học khác nhau Đặc biệt là vấn
đề sử dụng đội ngũ giáo viên cũng đã được một vài luận văn đề cập đến Ví dục như:
“Sử dụng đội ngũ giáo viên cốt cán trong phát triển nghề nghiệp giáo viên THCS huyệ Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” năm 2012 của tác giả Nguyễn Văn Ty; “Sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn mới” năm 2017 của tác giả Đỗ Thị Thủy;
Hệ thống các trường ngoài công lập đã được hình thành và phát triển từ rất sớm
ở nước ta cũng như trên thế giới Các trường này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển nền GD ở mỗi quốc gia Để duy trì sự phát triển của các trường ngoài công lập một cách vững chắc cần phải không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn, và xây dựng đội ngũ GV có tay nghề giỏi, sử dụng đội ngũ GV một cách khoa học, hợp lý Đã
có một số công trình nghiên cứu về các trường ngoài công lập như: luận văn “Các giải pháp cải tiến cơ chế quản lý trường THPT dân lập TP Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Mai năm 2000; luận văn “Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởng trường THPT bán công TP Hà Nội” của tác giả Đỗ Thị Dung năm 2004; luận văn “Biện pháp quản lý đội ngũ GV trường THPT ngoài công lập trên địa bàn TP Nam Định” của tác giả Tô Thị Thơm năm 2011; luận văn “Các biện pháp tăng cường quản lý đội ngũ
GV trường THPT ngoài công lập trên địa bàn TP Hà Nội” của tác giả Trần Thị Thanh Hà; công trình nghiên cứu “Về công tác quản lý các trường THPT Tư thục trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh” đăng trên Tạp chí Khoa học - ĐH Đồng Nai, số 03 - 2016 của tác giả Lê Văn Khoa
Các công trình nghiên cứu trên thực sự là những công trình có giá trị và đã đóng góp không nhỏ trong việc đề ra các giải pháp, biện pháp quản lý và phát triển trường THPT ngoài công lập Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn ít những công trình nghiên cứu về quản
lý, sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT ngoài công lập, đặc biệt là các trường THPT tư thục cho hiệu quả Bởi vậy giải pháp sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT
Tư thục đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay là một vấn đề có tính mới, có tính thực tiễn trong hoạt động quản lý nhà trường
Quảng Ninh đã có một số nghiên cứu về quản lý, phát triển đội ngũ GV THPT Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến giải pháp sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD ở các trường THPT tư thục một cách đầy đủ
và hệ thống
Trang 209
Với luận văn này, tác giả là người đầu tiên nghiên cứu về vấn đề sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD ở các trường THPT tư thục tại Quảng Ninh Đề tài nhằm mục đích đánh giá đúng thực trạng sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT
Tư thục, từ đó đề xuất các giải pháp sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới
GD ở các trường THPT tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay
1.2 Đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông tư thục
1.2.1 Trường Trung học phổ thông tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Phổ thông là thông thường, không phải chuyên
sâu, hợp với số đông” [59, tr.1341] Như vậy, có thể hiểu, các trường phổ thông trang
bị những kiến thức cơ bản cho tất cả HS, tức là các trường trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết, sát thực để HS có thể áp dụng trong cuộc sống, thích nghi và hòa nhập với xã hội Đây là cơ sở của sự nghiệp GD - ĐT
Hệ thống trường phổ thông ở nước ta hiện nay bao gồm các trường tiểu học, THCS và THPT
Để đưa ra khái niệm trường THPT Tư thục cần làm rõ các khái niệm “công lập”,
“dân lập”, “tư thục”
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “công lập” là do Nhà nước lập ra [59, tr.5546];
“dân lập” là do Nhân dân lập ra, tự trang trải và đài thọ các khoản chi phí [59, tr.5519];
“tư thục” là trường tư, của tư nhân [59, tr.1757]
Như vậy, các trường THPT công lập do Nhà nước lập ra, mọi hoạt động của nhà trường từ ngân sách Nhà nước, GV, nhân viên của nhà trường và cán bộ, công chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Mọi hoạt động của trường theo quy định của Nhà nước và chính quyền tỉnh; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng nhà nước, trước hết là của chính quyền tỉnh…
Đối với các trường THPT dân lập và tư thục, các hoạt động GD của nhà trường phải theo Luật GD và quy định của chính quyền tỉnh; các hoạt động khác phải theo pháp luật và sự chỉ đạo, kiểm tra của chính quyền tỉnh Tuy nhiên, kinh phí cho các hoạt động của nhà trường và chi trả lương, bảo hiểm xã hội, y tế của GV, người lao động trong nhà trường do nhân dân hoặc cá nhân đảm nhiệm, nhưng cũng phải tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước, nhất là về đóng góp của gia đình HS
Theo Thông tư số 13 /2011/TT-BGD ĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng
BGD ĐT về “Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường THCS, trường
THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục” [11]:
Trường phổ thông tư thục là cơ sở GD phổ thông thuộc hệ thống GD quốc dân, do
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân tự đảm bảo kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước; được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động GD
Trang 21Trường phổ thông tư thục có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại
Trường phổ thông tư thục chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật GD và các quy định có liên quan khác; chịu sự quản lý trực tiếp của phòng GD và đào tạo đối với trường tiểu học, trường THCS và trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là THCS, của sở GD và đào tạo đối với trường THPT
và trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là THPT
Về nhiệm vụ và quyền hạn:
Trường phổ thông tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập theo quy định tại Điều lệ trường tiểu học; Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học; Quy chế về tổ chức và hoạt động của trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp tương ứng đối với mỗi cấp học (sau đây gọi tắt là Điều lệ trường phổ thông) trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp
GD và các quy định liên quan đến giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, công nhận tốt
nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ và các quy định tại Quy chế này
Trường phổ thông tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về thực hiện quy hoạch,
kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động GD, xây dựng và phát triển đội ngũ GV, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu GD phổ thông
Trường phổ thông tư thục có trách nhiệm báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định và yêu cầu của các cơ quan quản lý
Trường phổ thông tư thục thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Qua đó có thể thấy, trường phổ thông tư thục là cơ sở GD phổ thông thuộc hệ thống GD Việt Nam, vừa có những đặc điểm về cơ cấu tổ chức, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ giống trường phổ thông công lập, đồng thời mang những đặc thù riêng biệt mà trường công lập không có: phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm về thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động GD, xây dựng và phát triển đội ngũ
GV, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu GD phổ thông
Từ phân tích trên, có thể hiểu: các trường THPT Tư thục ở nước ta hiện nay là một bộ phận rất quan trọng của hệ thống các trường phổ thông, do Tư nhân thành lập
và bảo đảm các điều kiện hoạt động, hoạt động theo quy định của Pháp luật, chịu sự quản lý nhà nước của chính quyền Tỉnh và sự quản lí chuyên môn của Sở GD và đào tạo, là các trường ở bậc cuối cùng của GD phổ thông, trang bị cho HS những kiến thức,
kỹ năng cơ bản sau khi HS hoàn thành chương trình GD ở các trường tiểu học, THCS,
để HS có thể hoạt động trong thực tiễn đạt kết quả hoặc tiếp tục học tập chuyên sâu ở bậc học cao hơn (ĐH hoặc CĐ) đạt kết quả cao, đạo đức tốt, chuyên môn sâu phục vụ
có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.2.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông Tư thục
Trang 2211
1.2.2.1 Khái niệm về đội ngũ giáo viên
Đội ngũ là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng
Theo luật GD, chương IV nói về “Nhà giáo”: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ
giảng dạy, GD trong nhà trường hoặc các cơ sở GD khác” “Nhà giáo dạy ở cơ sở GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp gọi là GV” [53]
Như vậy, GV là lực lượng chủ yếu tham gia vào hoạt động giảng dạy - GD HS,
là người có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường Thông qua các hoạt động giảng dạy, GD, ngoại khóa…đội ngũ GV đã, đang và sẽ là người thực hiện mục tiêu GD: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Họ cùng làm theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần, trong khuôn khổ quy định của pháp luật, nội quy, quy định của đơn vị, của ngành
Từ đó có thể hiểu: Đội ngũ GV là một tập hợp những người làm nghề dạy học -
GD, được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức), cùng chung một nhiệm vụ, có đầy
đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo, cùng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật GD và các luật khác được nhà nước quy định Đội ngũ GV là lực lượng quyết định nhất đối với chất lượng GD và đào tạo của mỗi nhà trường
1.2.2.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên THPT Tư thục
Đội ngũ GV THPT Tư thục là một tập hợp những người làm nghề dạy học - GD trong các trường THPT Tư thục, được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức), cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo, ngoài phải thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật GD và các luật khác được nhà nước quy định thì còn phải tuân theo các quy định, nhiệm vụ và hưởng các quyền lợi theo đặc thù của các nhà trường Tư thục
1.2.3 Đặc điểm của đội ngũ giáo viên THPT Tư thục
1.2.3.1 Đặc điểm của giáo viên THPT Tư thục
GV THPT Tư thục mang những đặc điểm chung về lao động sư phạm của người thầy giáo:
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhanh chóng
bộ mặt của các nhà trường truyền thống Nhà trường không còn là nơi duy nhất đem đến cho HS tri thức mới Song không phải vì thế mà vai trò của người thầy giáo bị xem nhẹ đi, ở cương vị mới này, thầy giáo trở thành nhà trọng tài, nhà tổ chức, điều khiển
và hướng dẫn các hoạt động sư phạm diễn ra trong nhà trường Hơn nữa GV còn có khả năng tạo ra sự dịch chuyển các định hướng giá trị, hình thành và phát triển các cảm xúc, hành vi, thái độ tương ứng của HS GV phải là người luôn có trong mình nhu cầu
và tiềm năng không ngừng tự hoàn thiện bản thân mình về các mặt đạo đức, nhân cách, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và những phẩm chất ý chí, tình cảm tốt đẹp khác
Trang 23Đặc điểm lao động của người thầy giáo thể hiện rõ nét thông qua con đường
“thân giáo” Thầy giáo phải như tấm gương sáng tác động trực tiếp đến HS, vì vậy nhân cách của người thầy là một trong những nhân tố đảm bảo và quyết định chất lượng GD:
“trong việc GD, tất cả đều phải dựa vào nhân cách của người GV, vì sức mạnh của
GD chỉ bắt nguồn từ nhân cách của con người” (Usinxki) Trong nhà trường, người
thầy giáo giữ vai trò rất quan trọng bởi vì họ là người được xã hội tin tưởng giao cho trách nhiệm GD thế hệ trẻ - nguồn nhân lực tương lai của đất nước Lao động của người thầy giáo không phải là lao động sản xuất trực tiếp mà là lao động tái tạo ra sức lao động cho toàn xã hội Lao động sư phạm không cho phép tạo ra phế phẩm dù ở tỷ lệ rất nhỏ bé Chính vì thế, hơn ai hết đội ngũ GV phải đảm đương trách nhiệm vinh quang
và nặng nề mà xã hội tin tưởng giao phó cho mình Đội ngũ GV phải có sự hợp nhất, đồng tâm, cùng làm, cùng chung vai gánh vác trách nhiệm, cùng chia sẻ và trao đổi những thành quả lao động của bản thân Mặc dù để có được kết quả ấy, GV phải chờ đợi không chỉ năm năm, mười năm, hai mươi năm mà có khi là cả cuộc đời mình Chất lượng đội ngũ GV thể hiện ở hệ thống các phẩm chất và năng lực của bản thân đội ngũ
ấy Chất lượng GV gắn với những yêu cầu, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Đặc điểm lao động sư phạm đòi hỏi phải coi trọng chất lượng của từng GV nhưng đồng thời cũng phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng của toàn thể đội ngũ Đó cũng là một trong những yêu cầu cơ bản của sự phân công lao động đối với hoạt động
sư phạm Mỗi GV vừa chịu trách nhiệm GD toàn diện nhân cách HS và đồng thời cũng chịu trách nhiệm về mỗi công đoạn cụ thể trong quá trình hình thành nhân cách người học Chính vì vậy càng cần thiết phải có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng trong hoạt động của đội ngũ GV
Đối với nghề dạy học thì lòng yêu trẻ là một phẩm chất đạo đức cao quý đặc trưng nhất Tình yêu trẻ là định hướng cho con người lựa chọn nghề dạy học Nghệ thuật dạy học và bí quyết thành công của mỗi GV bắt nguồn từ tình cảm đầy nhân tính
ấy Đặc biệt, GV cần phải tôn trọng và đề cao nhân cách HS, biết tổ chức hoạt động và hợp tác với HS trong lớp học Trên cơ sở khai thác tối đa những tiềm năng sáng tạo còn ẩn chứa tiềm tàng trong tâm hồn mỗi HS, nhằm đạt được mục tiêu GD với hiệu quả cao nhất Lòng yêu thương con người là động lực mạnh mẽ giúp cho GV vượt qua mọi khó khăn thử thách để trở thành người “kỹ sư tâm hồn”như sự đánh giá trân trọng
mà xã hội dành cho chức danh người thầy giáo
Khi nói đến năng lực người thầy giáo là nói đến khả năng thực hiện các hoạt động dạy học và GD Năng lực bộc lộ và thể hiện thông qua lao động sư phạm của GV Đối với lao động sư phạm thì khả năng sáng tạo là một đặc điểm không thể thiếu ở mỗi
GV Năng lực này giúp cho người thầy giáo trở nên nhạy bén và linh hoạt trước mọi tình huống dạy học và GD
Trang 24GV theo yêu cầu đổi mới và vận động không ngừng của xã hội
Hai là, hoàn cảnh và điều kiện lao động sư phạm của GV: Cơ hội tốt nhất để GV thể hiện năng lực của mình là trong môi trường sư phạm tốt, có đủ điều kiện tối thiểu cần thiết phục vụ cho hoạt động sư phạm CBQL nhà trường có hiệu quả là người biết cách tổ chức hợp lý hoạt động sư phạm cho GV, biết tạo ra môi trường sư phạm thuận lợi và các điều kiện cơ bản để giúp cho GV có được sự nhiệt tình và lòng đam mê hơn với công việc, sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau Đó chính là việc xây dựng môi trường tinh thần lành mạnh cho hoạt động sư phạm của đội ngũ GV
Ba là, ý chí, thói quen và năng lực tự học của GV: Sự phát triển, đổi thay mạnh
mẽ hiện nay của xã hội đòi hỏi GD nhà trường cũng phải đổi mới GV là nhân tố năng động cơ bản nhất để thực hiện sự cách tân trong GD Xây dựng và quản lý đội ngũ GV, đặc biệt là vấn đề nâng cao và hoàn thiện dần chất lượng đội ngũ thông qua việc trau dồi ý chí, thói quen năng lực tự học cho mỗi GV là một trong những biện pháp cơ bản, trọng tâm và thực sự có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động quản lý nhà trường của người hiệu trưởng trong giai đoạn hiện nay
Ngoài những đặc điểm chung về lao động sư phạm của người thầy giáo như đã phân tích ở phần trên, đối với các trường THPT Tư thục, lao động sư phạm của người
GV còn có những đặc điểm tương đối khác biệt như:
- Người thầy giáo phải thực sự có tâm huyết với công việc của mình, phải đầu tư nhiều hơn về mặt thời gian và công sức trong khi thực hiện nhiệm vụ
- Người GV THPT Tư thục phải chịu nhiều áp lực trong công việc: Áp lực từ dư luận xã hội - ít sự tôn trọng hơn GV Công lập; áp lực từ đòi hỏi của phụ huynh khi phải nộp tiền học phí cao; áp lực từ chất lượng đầu vào thấp của HS
- Người GV THPT Tư thục chịu ảnh hưởng rõ rệt của nền kinh tế thị trường
- GV THPT Tư thục có số lượng không nhỏ GV thỉnh giảng tham gia giảng dạy, đội ngũ này thường xuyên thay đổi, mang tính thời vụ, thiếu sự ổn định Do đó gây khó khăn cho việc điều hành, chỉ đạo các hoạt động chuyên môn
- Một số GV THPT Tư thục còn có tư tưởng làm thuê, thiếu tâm huyết, chưa đầu
tư tốt cho hoạt động dạy học và GD, chưa thực sự cố gắng tu dưỡng, rèn luyện phẩm
Trang 25chất đạo đức và năng lực chuyên môn, chậm đổi mới phương pháp dạy học, do đó chất lượng dạy học còn chưa cao
- Người GV THPT Tư thục phải gánh trách nhiệm khá nặng nề trong công tác
GD HS do thiếu sự phối hợp của phụ huynh (Do phụ huynh mải làm ăn hoặc phụ huynh bất lực trong việc nuôi dạy con cái)
- Người thầy giáo trên mặt trận này, thường xuyên phải là người cha, người mẹ, lại đồng thời là người anh, người chị, người bạn tâm giao cần thiết của các em HS
Chính vì những đặc điểm khác biệt đó mà vấn đề xây dựng, phát triển, quản lí
và sử dụng đội ngũ GV, nhất là nhiệm vụ nâng cao nhận thức ý thức về lao động sư phạm của đội ngũ GV nhà trường THPT Tư thục không chỉ cho đội ngũ GV đang công tác trong các nhà trường này, mà cho toàn xã hội là công việc rất cần thiết
1.2.3.2 Đặc điểm của đội ngũ giáo viên THPT Tư thục
Nói đến đội ngũ GV nói chung, đội ngũ GV THPT Tư thục nói riêng, phải đề cập đến các yếu tố: Quy mô, số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ
a Số lượng đội ngũ giáo viên THPT Tư thục
Theo quy định của Thông tư số 13 /2011/TT-BGD ĐT ngày 28 tháng 3năm 2011 của Bộ trưởng BGD ĐT [11], số GV và nhân viên của trường phổ thông tư thục phải bảo đảm không thấp hơn quy định của Nhà nước về định mức GV đối với từng cấp học về
GV, nhân viên Do đó, đội ngũ GV THPT Tư thục được xác định trên cơ sở số lớp học và định mức biên chế theo quy định của Nhà nước Hiện tại Nhà nước quy định định mức 2,25 GV đứng lớp cho một lớp học cấp THPT Đơn thuần về số lượng thì việc xác định số
GV cần có cho một trường của cấp THPT cả Công lập và Tư thục là giống nhau và theo công thức:
Số GV cần có = Số lớp học x 2,25
Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch phát triển số lớp học của các trường THPT tư thục,
ta dễ dàng xác định được ngay số lượng GV cần có cho một trường Từ đó, căn cứ vào số
GV hiện có; sau khi trừ đi số GV nghỉ hưu, chết, bỏ việc, thuyên chuyển ra bên ngoài; ta
xác định được số GV cần bổ sung cho nhà trường
Một nội dung quan trọng khi xem xét về số lượng GV là những biến động liên quan chi phối đến việc tính toán số lượng, chẳng hạn như: Việc bố trí sắp xếp đội ngũ, tình trạng sĩ số HS/lớp cũng như định mức về giờ dạy, định mức về lao động của GV, chương trình môn học,… đều có ảnh hưởng chi phối đến số lượng đội ngũ GV
b Chất lượng đội ngũ giáo viên THPT Tư thục
Là một khái niệm rộng, chất lượng đội ngũ GV nó bao hàm nhiều yếu tố: Trình
độ được đào tạo, bồi dưỡng của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên làm việc trong tổ chức, thâm niên trong vị trí làm việc mà người đó đã và đang đảm nhận, sự hài hoà giữa các yếu tố,… Ở đây, vì liên quan đến việc đề xuất các biện pháp sử dụng đội
Trang 26c Cơ cấu đội ngũ giáo viên THPT tư thục
Cơ cấu đội ngũ GV THPT tư thục sẽ được nghiên cứu trên các tiêu chí có liên quan đến các biện pháp sử dụng đội ngũ Các nội dung cơ bản gồm:
- Cơ cấu chuyên môn (theo môn dạy) hay còn gọi là cơ cấu bộ môn:
Đó là trình trạng tổng thể về tỷ trọng GV của các môn học hiện có ở các nhà trường THPT tư thục, sự thừa, thiếu GV ở môn học Các tỷ lệ này vừa phải, phù hợp với định mức quy định thì ta có được cơ cấu chuyên môn hợp lý Ngược lại thì phải điều chỉnh, nếu không ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động GD
- Cơ cấu theo trình độ đào tạo:
Cơ cấu GV theo trình độ đào tạo là sự phân chia GV theo tỷ trọng ở các trình độ đào tạo Các trình độ đào tạo của GV ở các trường THPT tư thục có thể có là: ĐH, thạc
sỹ, tiến sĩ Xác định một cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo và thực hiện các hoạt động liên quan để đạt đến cơ cấu đó cũng là một giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GV
Số GV chưa đạt chuẩn đào tạo, đương nhiên phải nâng chuẩn Nhưng xác định một tỷ
lệ thích đáng số GV đào tạo vượt chuẩn là một vấn đề cần xem xét, để vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế, vừa nâng cao chất lượng đội ngũ Trong điều kiện nguồn kinh phí các trường THPT Tư thục còn hữu hạn như hiện nay, một đội ngũ ngang tầm nhiệm vụ của cấp học có lẽ sẽ tốt hơn một đội ngũ vượt tầm yêu cầu, mà trước mắt chưa thể sử dụng hết trình độ chuyên môn của họ
- Cơ cấu đội ngũ GV theo độ tuổi:
Việc phân tích GV theo độ tuổi, nhằm xác định cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi, là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng phát triển của tổ chức, đặc biệt là xác định chính xác “dòng nhân viên ra đi”, làm cơ sở cho việc tuyển dụng và đào tạo
Trang 27bổ sung Đối với GV THPT Tư thục ta có thể cơ cấu nhóm tuổi theo các mốc sau: Dưới
30 tuổi, 30 - 50 tuổi và trên 50 tuổi
- Cơ cấu giới tính của đội ngũ:
Chỉ xét mặt tỷ trọng của cơ cấu giới tính đội ngũ GV trong trường THPT Tư thục,
có thể không nói lên điều gì sự phát triển về giới Bởi vì, khác với thị trường lao động các khu vực khác, ở đây GV nữ thường chiếm một tỷ lệ cao hơn nam giới
Tuy nhiên, về các khía cạnh như: Điều kiện để đào tạo nâng cao, bồi dưỡng thường xuyên, thời gian học tập của cá nhân, thời gian nghỉ dạy do sinh đẻ, do con ốm,… lại là các yếu tố có tác động đến chất lượng đội ngũ Mà những yếu tố này phụ thuộc vào giới tính cá nhân Do đó, cơ cấuvề giới tính của 2 đội ngũ khác nhau thì biện pháp liên quan đến từng nơi một cũng phải khác nhau
Tóm lại, nghiên cứu cơ cấu giới tính đội ngũ là để có những tác động cần thiết thông qua quản trị nhân sự, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu suất công tác của từng cá nhân và của cả đội ngũ
- Cơ cấu Đảng viên:
Nghiên cứu cơ cấu đảng viên ở các trường THPT Tư thục cho thấy trình độ lý luận chính trị cũng như công tác phát triển đảng viên ở các trường Đơn vị nào làm tốt việc phát triển cơ cấu đảng viên thì công tác GD tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cũng như GD nhận thức của đội ngũ GV sẽ đạt hiệu quả và chất lượng cao
1.3 Sử dụng đội ngũ giáo viên
1.3.1 Khái niệm
Sử dụng đội ngũ GV là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho đội ngũ đó nhằm đạt được mục đích
đủ số lượng theo tỷ lệ quy định, phù hợp về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có
đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm
1.3.2 Quá trình hoạch định sử dụng đội ngũ
* Phân tích môi trường quản lý
Phân tích môi trường quản lý là cơ sở cho việc xác định mục tiêu, chiến lược của cơ sở GD nói chung và hoạch định nguồn nhân sự nói riêng
Mục tiêu là đích mà các cơ sở phấn đấu để đạt đến Các mục tiêu ngắn hạn đúng đắn là điểm cốt lõi xác định sự thành công hay thất bại của một chiến lược Các mục tiêu ngắn hạn có thể xem như nền tảng, hay viên gạch để từ đó các mục tiêu chiến lược được thực hiện Từ mục tiêu chiến lược chung của cơ sở GD, sẽ có những mục tiêu chiến lược bộ phận như mục tiêu chất lượng sử dụng đội ngũ, mục tiêu nhân sự, mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học…
Khi lập kế hoạch nhân sự, các nhà quản lý phải xem xét những điều kiện của môi trường bên ngoài (vĩ mô) và môi trường bên trong nhà trường (vi mô)
Trang 2817
Môi trường bên ngoài tuy nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ sở GD nhưng có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu và chiến lược của cơ sở GD Môi trường bên ngoài có rất nhiều yếu tố như: tình hình kinh tế của đất nước, đặc biệt là tình hình kinh tế của địa phương
có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của nhà trường; Các chế độ chính sách của Đảng, nhà nước và của ngành GD ; Sự phát triển của khoa học công nghệ; Yếu tố văn hóa -
xã hội; Điều kiện tự nhiên; Các loại trường học cùng đóng trên địa bàn, Điều kiện của
HS và phụ huynh HS
Môi trường bên trong bao gồm tất cả các yếu tố và hệ thống bên trong của nhà trường gọi là môi trường nội bộ hoặc môi trường kiểm soát được như: đội ngũ cán bộ, GV, công nhân viên với số lượng và trình độ chuyên môn, tay nghề; nề nếp, truyền thống, bầu không khí văn hóa của nhà trường; cơ sở vật chất, khả năng tài chính…
* Phân tích đánh giá đội ngũ
Phân tích đánh giá thực trạng tài nguyên nhân sự là xác định điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức về đội ngũ của nhà trường Cần phân tích một số mặt như:
- Số lượng cán bộ, GV, nhân viên
- Trình độ đào tạo:
- Chất lượng đội ngũ: Kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, khả năng hoàn thành nhiệm vụ và các phẩm chất cá nhân như: mức độ nhiệt tình, sự tận tâm, sáng kiến trong công việc…
- Cơ cấu đội ngũ
- Cơ cấu tổ chức: Loại hình tổ chức, phân công chức năng, quyền hạn giữa các
bộ phận trong cơ sở GD
- Các chính sách tuyển dụng, đào tạo - bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật…
* Dự báo nhu cầu đội ngũ
Sau khi đánh giá xong những khả năng hiện có, nhà quản lý tiến hành dự báo nhu cầu sử dụng đội ngũ tương lai dựa trên những yếu tố:
- Khối lượng công việc sẽ thực hiện của cơ sở GD
- Sự thay đổi về chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, thiết bị dạy học, công nghệ, kỹ thuật…
- Sự thay đổi về tổ chức, cơ cấu của cơ sở GD
- Tỷ lệ thuyên chuyển, nghỉ hưu, nghỉ việc, thai sản…
- Khả năng tài chính để thu hút nhân lực chất lượng cao trên thị trường
* Lập kế hoạch sử dụng đội ngũ
Sau khi thực hiện các công việc trên, nhà quản lý tiến hành lập kế hoạch nhân
sự cho cơ sở GD Để giải quyết tốt vấn đề nhân sự, một vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có nhiều phương án, kế hoạch để từ đó có thể lựa chọn các phương
án tối ưu Nghiên cứu và xây dựng phương án là sự tìm tòi và sáng tạo của các nhà
Trang 29quản lý Sự tìm tòi, nghiên cứu càng công phu, càng sáng tạo, càng khoa học bao nhiêu thì càng có khả năng xây dựng được nhiều phương án hoạch định đúng đắn và hiệu quả bấy nhiêu
Khi các kế hoạch càng lớn, càng quan trọng thì việc tìm kiếm và xây dựng càng nhiều phương án nhân sự càng tốt Các nhà quản lý không nên vội vàng hoặc đại khái, qua loa trong khâu xây dựng phương án
Trong công tác lập kế hoạch nhân sự, vai trong của người lãnh đạo là hết sức quan trọng Những yêu cầu cơ bản đối với người lãnh đạo trong công tác hoạch định là: Làm việc có khoa học, có nguyên tắc và có kế hoạch; Quyết đoán; Dám chịu trách nhiệm; Có khả năng nhìn xa trông rộng; Có năng lực; Đoàn kết, động viên và khơi dậy được trí tuệ, nhiệt tình, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, GV, nhân viên trong cơ sở GD; Biết lắng nghe ý kiến của người khác; Có bản lĩnh và kiến thức vững vàng về chuyên môn và nghiệp vụ lập kế hoạch
1.3.3 Vai trò của sử dụng đội ngũ
Người lãnh đạo làm nên sự nghiệp, thành công chính là nhờ ở chỗ biết dùng người Tuyển dụng được người tài, tìm được người phù hợp vối công việc là rất khó khăn, nhưng vấn đề quan trọng là người lãnh đạo phải sử dụng nguồn nhân sự này như thế nào để phát huy tốt nhất khả năng của học, giúp họ thành công trong công việc, mang lại hiệu quả tốt cho nhà trường
Nghệ thuật dùng người là biết phân công, sắp xếp, sử dụng đúng người vào đúng việc, là phát huy được tối đa khả năng, mặt mạnh, sở trường của mỗi người Đó là việc phức tạp và khó nhất của người lãnh đạo, nó có quan hệ lớn đến sự hưng, suy, thành, bại của nhà trường và sự nghiệp của người lãnh đạo Vì vậy, mỗi người lãnh đạo phải chủ động dồn tinh thần, sức lực vào việc quản lý và sử dụng cán bộ dưới quyền
Phân công và sử dụng tốt người lao động là điều kiện quan trọng để lãnh đạo có hiệu quả Có thể liệt kê rất nhiều nội dung trong chức trách của người lãnh đạo, nhưng điều quan trọng nhất, là mục tiêu mà người lãnh đạo hướng tới đó là dùng người Mục tiêu là tiền đề của việc dùng người, còn dùng người đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu đã định ra
Trong thời đại ngày nay, sự cạnh tranh trên các lĩnh vực đang diễn ra ngày càng quyết liệt, sự tồn tại và phát triển của cơ sở GD, của đơn vị, sự thành công hay thất bại của người lãnh đạo, vấn đề then chốt vẫn là sự cạnh tranh về nhân tài, chính sách thu hút người tài, biết dùng người của các nhà lãnh đạo
1.3.4 Nội dung của sử dụng đội ngũ
Đội ngũ GV là người trực tiếp thực hiện quyết định đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề cao Do vậy, đội ngũ GV là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của cơ sở GD
Trang 3019
Đội ngũ GV là những người trực tiếp thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá và quyết định đổi mới, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, GD HS trong các nhà trường Nếu không chú trọng đến đội ngũ GV thì không thể nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra
Trong xu thế hội nhập hiện nay thì nhà trường chỉ có thể đáp ứng được nhanh nhạy các yêu cầu đặt ra khi có đội ngũ GV đủ mạnh, luôn sẵn sàng thích ứng, điều chỉnh một cách linh hoạt trong điều kiện mới: đó là sự phát triển của khoa học - công nghệ, sự phát triển của kinh tế - xã hội, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa nền kinh tế tri thức
Đội ngũ GV bằng năng lực, sự tận tâm với nghề nghiệp và khả năng thích ứng cao mới có thể đảm bảo cung cấp cho xã hội loại sản phẩm có giá trị nhất, quyết định sự phát triển, đó là nguồn nhân lực được đào tạo, nguồn lực có hàm lượng chất xám cao
Để có một đội ngũ GV mạnh trong nhà trường, đòi hỏi mỗi thầy giáo, cô giáo phải có trình độ chuyên môn cao, có đạo đức trong sáng, có lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo Do vậy, trong nhà trường, người hiệu trưởng phải có kế hoạch sử dụng đội ngũ như: Lãnh đạo việc thu hút đội ngũ, tạo môi trường học tập, lãnh đạo các hình thức học tập định kỳ, quá trình tự học, tự bồi dưỡng, việc ứng dụng CNTT vào dạy học và tự bồi dưỡng Có kế hoạch hỗ trợ GV, đánh giá và khen thưởng đội ngũ GV để tạo ra động lực phấn đấu trong môi trường sư phạm
Sử dụng đội ngũ là việc tạo ra hiệu quả của mỗi thành viên và hiệu quả chung của tổ chức đội ngũ gắn với việc không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng của đội ngũ Xây dựng đội ngũ GV là góp phần tạo ra một đội ngũ có phẩm chất đạo đức tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu để đảm nhận thực hiện các hoạt động GD, giảng dạy trong các nhà trường THPT một cách toàn diện và có chất lượng
Quá trình sử dụng đội ngũ GV một mặt có ý nghĩa là củng cố, kiện toàn đội ngũ hiện có, mặt khác còn phải định hướng cho việc phát triển về số lượng, về cơ cấu và nâng cao chất lượng cho đội ngũ GV trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài Bên cạnh đó, việc sử dụng đội ngũ GV phải tạo ra một môi trường liên nhân cách để phát triển nhân cách: nhân cách HS, nhân cách GV, nhân cách người quản lý
Leonard Nadle (dẫn theo [20]) đã diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công việc quản lí nguồn nhân lực qua sơ đồ sau:
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Trang 31Sơ đồ 1.1: Mô hình phát triển nguồn nhân lực theo Leonard Nadle
Mô hình về Phát triển nguồn nhân lực của Leonard Nadle cho thấy sử dụng đội ngũ có thể bao gồm các nội dung như: tuyển dụng, bố trí sử dụng, đánh giá và đề bạt thuyên chuyển Nghiên cứu này vận dụng môhình của Leonard Nadle để phân tích các nội dung sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu của đổi mới GD ở các trường THPT tư thục và tìm mối quan hệ của sử dụng đội ngũ với đào tạo, bồi dưỡng và tạo môi trường phát triển
1.3.5 Mối quan hệ của sử dụng đội ngũ với những nội dung khác của quản lí nhân
1.3.6 Đổi mới giáo dục và sự tác động đến đội ngũ giáo viên
1.3.6.1 Đổi mới giáo dục
Đổi mới GD là làm cho hệ thống GD tốt hơn, tiến bộ hơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Nước ta đang đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu, rộng, đòi hỏi ngành GD phải tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD sâu sắc, triệt để và toàn diện hơn Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế QLGD, phát triển đội ngũ GV và CBQL là khâu then chốt” [25, tr.130] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đã xác định rõ quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện GD &ĐT là: GD &ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho GD là đầu tư phát triển, được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH; Đổi mới căn bản, toàn diện GD &ĐT là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự LĐ của Đảng, sự QL của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ ở GD &ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người
Trang 3221
học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD &ĐT; Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học GD và khoa học QL [26, tr.125-142] Nghị quyết chỉ rõ:
- Đối với GD mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm
mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập GD mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển GD mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở GD
- Đối với GD phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và BD năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng GD toàn diện, chú trọng GD lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và KN thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình GD phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho HS có trình độ THCS có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS; THPT phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông
có chất lượng Nâng cao chất lượng phổ cập GD, thực hiện GD bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020 Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ GD THPT và tương đương
Điều đó đòi hỏi ngành GD &ĐT phải đổi mới cách tổ chức, QL; tư duy, từ nhận thức đến hành động trong mọi hoạt động GD và người GV phải có những phẩm chất
và năng lực mới đáp ứng yêu cầu của thời đại
1.3.6.2 Sự tác động đến đội ngũ giáo viên
Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện GD Việt Nam đã xác
định: “GV chính là lực lượng xung kích trên mặt trận đổi mới, là người đi đầu quyết
định tới chất lượng GD ” [26] Sức mạnh của một trường học phụ thuộc chủ yếu vào
đội ngũ GV - nhân tố quan trọng quyết định chất lượng GD Họ là những người trực tiếp giảng dạy, GD, hướng dẫn và truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho HS Bởi vậy, xây dựng được đội ngũ GV có đủ phẩm chất và năng lực sẽ là yếu tố then chốt để thực hiện cải cách, đổi mới GD Cho dù chúng ta có được những chương trình GD tốt,
có những bộ sách giáo khoa hoàn hảo và cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, nhưng chất lượng người thày ở trình độ trung bình thì có thể khẳng định chắc chắn rằng, đó là một nền GD không có tương lai Chính vì thế, Hội nghị quốc tế về GD lần thứ 45 họp tại
Giơ-ne-vơ (Thụy sĩ) bàn về GD cho thế kỷ XXI đã nhấn mạnh: “Muốn có một nền GD
tốt, cần phải có những GV tốt”
Trang 33GS J.Hattie, nhà nghiên cứu GD người New Zealand, dựa trên dữ liệu hơn 50 triệu HS mọi lứa tuổi, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để khảo sát ảnh hưởng tương đối của các yếu tố tác động đến chất lượng GD, như: trình độ, khả năng tiếp thụ, tinh thần ham học của người học, năng lực, phương pháp giảng dạy của thầy, chất lượng và sự phong phú các phương tiện hỗ trợ học tập, đặc biệt là về CNTT…Tác giả đã đi đến kết luận là ngay cả trong nhà trường hiện đại, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của CNTT thì vai trò quyết định nhất đối với chất lượng GD vẫn thuộc về năng lực của người thầy
Kiến thức và năng lực của người thầy, phẩm chất và nhiệt huyết của người thầy
sẽ luôn là yếu tố quyết định Sự tương tác giữa thầy và trò là những giá trị không thể đo lường được trong GD Bất kể thế nào, không có thầy giỏi cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức thì khó có thể có một nền GD thật sự có chất lượng Chính bởi vậy, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ GV phổ thông là một trong những giải pháp thiết yếu, cơ bản để công cuộc đổi mới GD thành công
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, năng lực đội ngũ GV phổ thông đang là vấn đề đáng lo ngại trước yêu cầu đổi mới GD Tài liệu “Tập huấn cán bộ, giảng viên các cơ sở đào tạo GV phổ thông về phát triển chương trình đào tạo” (năm 2015) đã đánh giá tổng quát năng lực của gần 200 GV phổ thông ở 12 môn (không dựa vào bằng cấp): “Đạt yêu cầu: 75,3%; chưa đạt yêu cầu: 16,6% và khó đánh giá được là 8,0%”(2) Như vậy, còn khoảng 25% số GV chưa đạt yêu cầu về năng lực dạy học, GD theo chương trình hiện hành Nếu Chương trình GD phổ thông mới được triển khai trong thời gian tới với định hướng và yêu cầu chuyển từ trang bị nội dung kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học bằng việc dạy học tích hợp và lồng ghép, dạy học phân hóa, trải nghiệm sáng tạo…thì năng lực của đội ngũ GV phổ thông đang đứng trước những thách thức mới
1.3.6.3 Yêu cầu đặt ra đối với sử dụng đội ngũ giáo viên
Trước bối cảnh đổi mới GD, đòi hỏi việc sử dụng đội ngũ giáo viên phải được thực hiện một cách đồng bộ, bài bản các khâu, các công đoạn nhằm phát huy tối đa khả năng làm việc của GV, tạo ra sự gắn bó trung thành của họ với nhà trường
Sử dụng đội ngũ GV phải được thực hiện một cách khách quan, khoa học nhằm hướng tới mục tiêu chung là góp phần duy trì, phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo phù hợp, chất lượng và hiệu quả, đáp ứng thực tiễn nhà trường và yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT
Sử dụng đội ngũ GV phải được thực hiện trên cơ sở tăng cường phân cấp quản
lý, tăng quyền chủ động cho các cơ sở GD trong việc xây dựng, thực hiện kế hoạch từ
bố trí, phân công nhân sự; đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển; đến đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá đội ngũ GV nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của các cơ sở GD trong việc sử dụng đội ngũ GV
Trang 3423
Sử đụng đội ngũ GV phải gắn bó chặt chẽ với các yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp
GV và chuẩn Hiệu trưởng theo định hướng cập nhật, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới
Sừ dụng đội ngũ GV phải thực hiện song song với hoạt động thanh kiểm tra, giám sát để có phương án chấn chỉnh, xử lí kịp thời những vi phạm, tăng cường hiệu quả của công tác sử dụng đội ngũ
Sử dụng đội ngũ GV phải đi liền với việc tôn vinh, đãi ngộ và thực hiện chế độ, chính sách đối với GV và CBQLGD nhằm tạo động lực cho đội ngũ trong việc hoàn thành nhiệm vụ
1.4 Sử dụng đội ngũ giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường
Trung học phổ thông Tư thục
1.4.1 Khái niệm
Sử dụng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường THPT Tư thục là một trong những chức năng quản trị nhân lực của người hiệu trưởng trường THPT Chức năng này hướng đến sự phát huy tối đa khả năng làm việc của GV, tạo ra
sự gắn bó trung thành của họ với nhà trường thông qua hệ thống những nhiệm vụ: Bố trí, phân công nhân sự; đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển; đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và tạo lập các chính sách liên quan đến khuyến khích, động viên đúng đắn, góp phần duy trì, phát triển đội ngũ GV, đảm bảo phù hợp, chất lượng và hiệu quả
1.4.2 Nội dung của sử dụng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Trung học phổ thông Tư thục
1.4.2.1 Tuyển dụng giáo viên ở các trường THPT Tư thục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Việc tuyển dụng phải căn cứ vào tình hình thực tế sử dụng nguồn nhân lực của các trường
Việc tuyển dụng phải phù hợp chức năng, nhiệm vụ và định hướng phát triển của các trường THPT Tư thục
Để đảm bảo chiến lược xây dựng trường THPT tư thục chất lượng cao, việc tuyển GV phải đạt chuẩn hoặc trên chuẩn theo quy định Năng lực thực tế phải đáp ứng được yêu cầu của nhà trường
Tuyển dụng GV cần được thực hiện công khai, có quy trình và các tiêu chí cụ thể, rõ ràng để lựa chọn những người có trình độ, năng lực thực sự đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ phát triển nhà trường
Trang 351.4.2.2 Bố trí sử dụng đội ngũ giáo viên ở các trường THPT Tư thục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bố trí sử dụng là đảm bảo đủ số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu hoạt động của nhà trường Nhưng phải đảm bảo đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, vị trí, chức năng, thời hạn, đảm bảo tính linh hoạt trong sử dụng nhân lực
Bố trí sử dụng đội ngũ GV là vấn đề cấp thiết ở mỗi cơ sở GD, nhất là các trường THPT Tư thục Việc bố trí sử dụng không phải chỉ tiến hành khi mới thành lập mà vẫn được tiến hành khi thấy chưa hợp lí Công tác này luôn song song với quá trình phát triển, hoạt động của các trường THPT Tư thục Do đó, việc bố trí, sử dụng, sắp xếp nhân lực là vấn đề then chốt, đóng vai trò vô cùng to lớn và ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hoạt động, duy trì ổn định của nhà trường Ngoài ra, nó còn giúp trường THPT Tư thục
ổn định được cơ cấu bộ máy làm việc của mình nhằm dễ dàng trong công tác quản lí và điều hành, nhất là trong giai đoạn đổi mới quản lí GD hiện nay
Việc bố trí sử dụng đội ngũ GV khoa học, hiệu quả sẽ giúp lãnh đạo nhà trường quan tâm sát sao tới cán bộ, GV của mình hơn Bản thân cán bộ, GV cũng thấy họ là một mắt xích quan trọng trong nhà trường, có vai trò, vị trí rõ ràng, từ đó sẽ có tinh thần trách nhiệm cao hơn với công việc, hăng say, nhiệt tình hơn trong thực hiện nhiệm
vụ Từ đó, góp phần gắn kết mối quan hệ giữa GV và nhà trường, tăng tính gắn bó của
GV với nhà trường
Từ việc bố trí sử dụng đội ngũ, lãnh đạo nhà trường sẽ tìm ra được những cán
bộ, GV có chất lượng cao để bồi dưỡng, nâng cao tay nghề chuyên môn Từ đó tạo ra được nguồn cán bộ chủ chốt trong nhà trường Đồng thời, qua thực tế bố trí sử dụng đội ngũ, lãnh đạo nhà trường có thể phát hiện ra những điểm còn hạn chế, từ đó kịp thời đề ra những giải pháp để khắc phục những yếu kém về nhân lực của đơn vị Từ đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nhà trường
Bố trí sử dụng đội ngũ là việc làm hết sức quan trọng, có tính chất quyết định đến hiệu quả hoạt động của các trường THPT Tư thục Việc bố trí sử dụng đội ngũ phù hợp với năng lực của từng cá nhân, phát huy được điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của từng người trong các vị trí việc làm sẽ góp phần khẳng định năng lực của nhà lãnh đạo và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường
1.4.2.3 Đánh giá đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Trong mỗi cơ sở GD, việc đánh giá đội ngũ GV là khâu không thể thiếu trong công tác quản lý Đánh giá đúng sẽ có phương hướng và biện pháp giải quyết đúng, làm cho GV phấn khởi, tin tưởng, phấn đấu trong công tác Đánh giá sai hoặc không đúng sẽ có tác hại khôn lường, làm mất niềm tin và nhiều khi gây thất vọng đối với
GV, từ đó khiến GV mất động lực để phấn đấu và cống hiến Đánh giá đội ngũ GV giúp cho CBQL có những cơ chế, chính sách bố trí, sử dụng, đãi ngộ và sa thải đúng người, đúng việc, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ của nhà trường
Trang 3625
Có nhiều hình thức đánh giá:
- Cấp trên trực tiếp đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới
- Đồng nghiệp đánh giá lẫn nhau
- Tự đánh giá
- Đánh giá tổng hợp
Đây là các hình thức đánh giá phổ biến, có tác dụng phát huy năng lực của từng
cá nhân và tập thể Đánh giá cần có tiêu chí, tiêu chuẩn thống nhất và phải đảm bảo tính khách quan, công bằng và dân chủ
Có nhiều phương pháp đánh giá: Theo bảng điểm, xếp hạng, đánh giá bằng các sự kiện quan trọng, đánh giá bằng tường thuật, đánh giá theo hành vi, tiến trình công việc
Các hình thức và phương pháp đánh giá đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, người quản lý phải biết vận dụng linh hoạt, phối hợp các hình thức và phương pháp đánh giá vào những tình huống cụ thể
Đánh giá mức độ hoàn thành công việc là căn cứ vào kết quả công việc chứ không quy kết về nhân cách, không căn cứ vào các mối quan hệ Mục đích đánh giá là giúp GV thấy được điểm mạnh, điểm yếu, từ đó tìm ra nguyên nhân vào hướng khắc phục
1.4.2.4 Đề bạt và thuyên chuyển giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Đề bạt là việc đưa người lao động vào một vị trí việc làm có tiền lương cao hơn,
có uy tín và trách nhiệm lớn hơn, có các điều kiện làm việc tốt hơn và có các cơ hội phát triển nhiểu hơn
Thuyên chuyển là việc chuyển người lao động từ công việc này sang công việc khác hoặc từ bộ phận này sang bộ phân khác Mục đích của việc thuyên chuyển là điều hòa nhân lực giữa các bộ phận, lấp các vị trí việc làm còn trống do các lý do như: chuyển đi, nghỉ hưu, chết, chấm dứt hợp đồng…
Đối với các trường THPT Tư thục, việc đề bạt các chức vụ đối với đội ngũ GV cần căn cứ trên trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm và sự nhiệt tình của họ, tránh tình trạng thiên vị, chủ quan khi xem xét, đề bạt các chức vụ Việc đề bạt chức vụ đối với người GV cũng cần dựa trên nhu cầu thực tế của nhà trường
Đối với việc thuyên chuyển, người quản lý cũng cần phải chú ý những vấn đề sau: Cần đảm bảo sự phù hợp giữa trình độ người GV và vị trí việc làm mới Cần phải thực hiện các hoạt động đào tạo và bồi dưỡng để cung cấp các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho họ, đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ mới
Cần quy định rõ về người có quyền đề xuất thuyên chuyển và người có quyền chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định thuyên chuyển
Trang 371.4.2.5 Sử dụng đội ngũ trong mối quan hệ với bồi dưỡng và tạo môi trường làm việc cho giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
a Sử dụng đội ngũ và công tác bồi dưỡng giáo viên
Trong quá trình sử dụng đội ngũ, cần đặc biệt chú ý tới việc bồi dưỡng cán bộ,
GV Bồi dưỡng GV sẽ giúp đội ngũ nâng cao năng lực, trình độ, hiểu biết về công tác giảng dạy và GD trong nhà trường
Việc bồi dưỡng GV có thể được thực hiện thường xuyên, định kì theo năm học Ngoài các chương trình bồi dưỡng này, học nâng cao trình độ cũng là một hình thức phổ biến, nhất là trong sự phát triển của trường THPT Tư thục, cần có những GV có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của xã hội
Công tác bồi dưỡng GV có ảnh hưởng nhiều mặt đến việc sử dụng đội ngũ của người lãnh đạo Cụ thể:
Tác động đến việc phân công công việc, bố trí việc làm cho đội ngũ GV Những
GV có trình độ, năng lực tốt sẽ được giao nhiệm vụ nhiều hơn Ngược lại, những GV
có trình độ, năng lực chưa cao sẽ cần được trau dồi, rèn luyện và bồi dưỡng thường xuyên hơn để hoàn thiện những phẩm chất, năng lực của bản thân Ngoài ra, lãnh đạo nhà trường cũng cần chú trọng bồi dưỡng cho những GV trẻ, GV thâm niên giảng dạy còn ít
Tác động đến việc lập kế hoạch phát triển đội ngũ và quy hoạch cán bộ Trong
sự phát triển của bất kỳ cơ sở GD nào cũng đều phải chú ý đến nguồn nhân lực trong các giai đoạn Mỗi một nhiệm kỳ đều có những sự thay đổi lớn về mặt nhân sự Do đó,
để đảm bảo tính kế thừa, người lãnh đạo luôn phải lập kế hoạch phát triển đội ngũ và xem xét những trường hợp cụ thể để sắp xếp vào trong quy hoạch cán bộ nguồn Vối những đối tượng này, để họ có thể kế thừa được công việc, trọng trách sau này thì cần phải được trải qua thử thách và được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là
vị trí công việc sau này của mình
Ngoài ra, việc bồi dưỡng GV còn có tác động đến việc đề bạt, thuyên chuyển cán bộ, tới việc đánh giá chất lượng đội ngũ trong các trường THPT Tư thục
b Sử dụng đội ngũ và tạo môi trường làm việc cho giáo viên
Sử dụng đội ngũ và môi trường làm việc có quan hệ chặt chẽ với nhau và Môi trường làm việc là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của đội ngũ, cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhà trường Tư thục Môi trường làm việc tốt sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng hiệu quả đội ngũ GV Môi trường làm việc của GV sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ của GV, ảnh hưởng gián tiếp đến việc bố trí, sắp xếp vị trí việc làm trong nhà trường
Trang 3827
Biểu hiện của môi trường làm việc hiệu quả gồm:
Thứ nhất là các điều kiện về cơ sở vật chất như: phòng làm việc, bàn ghế, điện thoại, máy vi tính… và các văn phòng phẩm khác phục vụ cho việc thực hiện nhiệm
vụ chuyên môn
Thứ hai là việc thực hiện các chế độ, chính sách theo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về: tiền lương, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ
Thứ ba là quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên là một nội dung hết sức quan trọng đòi hỏi người lãnh đạo phải có tầm nhìn xa, trông rộng, là người công tâm, có tâm huyết với công việc, có đầu óc tổ chức để có thể xây dựng đơn vị vững mạnh
Thứ tư là tâm lý của người lãnh đạo cũng hết sức quan trọng, đòi hỏi người lãnh đạo phải biết lắng nghe, biết kìm chế trong mọi hoàn cảnh, luôn giữ được mối quan hệ mật thiết với nhân viên, nếu nhân viên làm sai thì từ từ uốn nắn, tránh tình trạng bức xúc, quát mắng… ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc của cá nhân
Thứ năm là mối quan hệ đoàn kết giữa cán bộ, GV với nhau Đây là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong công tác cán bộ Có đoàn kết, thống nhất thì mới hoàn thành được nhiệm vụ chung của đơn vị Nội dung này đòi hỏi lãnh đạo đơn
vị phải thường xuyên quan tâm, tạo cho mọi người ý thức làm việc tập thể, biết quan tâm lẫn nhau, cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống và công tác Phát hiện những mâu thuẫn cá nhân bên trong đơn vị để kịp thời giải quyết Thường xuyên để mọi người gắn
bó với nhau cùng phấn đấu
Tóm lại, xây dựng môi trường làm việc tốt là một trong những nội dung, nhiệm
vụ hàng đầu mà cơ quan, tổ chức hay đơn vị phải quan tâm thực hiện Có môi trường làm việc tốt thì mỗi cá nhân mới có điều kiện làm việc, phát huy khả năng của mình, chung sức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị Việc sử dụng đội ngũ có hiệu quả hay không phụ thuộc nhiều vào môi trường làm việc cho người GV
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới sử dụng đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học phổ
thông Tư thục
1.5.1 Yếu tố chủ quan
Sử dụng đội ngũ của người lãnh đạo cơ sở GD chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó, những yếu tố chủ quan gồm: Phẩm chất, năng lực quản lý và trình độ chuyên môn của người quản lý là những yếu tố có tác động mạnh mẽ và rõ nét nhất
Để có hiệu quả cao trong công tác quản lý sử dụng đội ngũ, người quản lý trước hết phải có phẩm chất chính trị vững vàng để thực hiện đúng đường lối, mục tiêu GD của Đảng và Nhà nước Là người gương mẫu thực hiện những chính sách pháp luật, thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ, chức năng của người quản lý trong nhà trường
Hiệu trưởng phải là người có kinh nghiệm, năng lực, uy tín về chuyên môn, biết thu hút, động viên những lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường tham gia có hiệu quả vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ và sử dụng hiệu quả đội ngũ
Trang 39Hiệu trưởng trường THPT Tư thục phải không ngừng nâng cao trình độ của mình
để đáp ứng yêu cầu của GD Quản lý GD nói chung và quản lý sử dụng đội ngũ tại các trường THPT Tư thục nói riêng cũng luôn vận động đổi mới, người quản lý cần linh hoạt, không nên máy móc, cứng nhắc Muốn làm được như vậy, Hiệu trưởng phải có năng lực quản lý tốt, trình độ chuyên môn và bản lĩnh vững vàng
Hiệu trưởng nhà trường phải biết huy động các tổ chuyên môn, các GV cùng tham gia xây dựng tổ chuyên môn vững mạnh Các tổ chuyên môn mạnh, GV giỏi, phong trào thi đua tốt sẽ giúp ích rất nhiều cho Hiệu trưởng trong việc sử dụng đội ngũ
và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường
Bên cạnh đó, các yếu tố thuộc về chủ quan đội ngũ giáo viên như: Lòng yêu nghề, ý chí phấn đấu, tinh thần trách nhiệm… cũng là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến sử dụng đội ngũ giáo viên ở các trường THPT Tư thục
1.5.2 Yếu tố khách quan
Ngoài những yếu tố chủ quan của chính bản thân người quản lý ảnh hưởng đến công việc còn có những yếu tố khách quan bên ngoài tác động đến quản lý sử dụng đội ngũ của người quản lý trong trường THPT Tư thục
Trước hết là những yếu tố về đội ngũ GV và HS trong nhà trường Số lượng và chất lượng đội ngũ GV, HS là yếu tố quan trọng chi phối kết quả quản lý sử dụng đội ngũ của người quản lý Chất lượng tuyển chọn đội ngũ tác động trực tiếp tới việc sử dụng đội ngũ ở các trường THPT Tư thục
Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ sử dụng đội ngũ là yếu tố có tác động quan trọng đến công tác quản lý Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ cho hoạt động giảng dạy của
GV, học tập của HS như: phòng học, thư viện, phòng thí nghiệm, thực hành…
Những yếu tố về môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương cũng tác động mạnh mẽ tới sử dụng đội ngũ của Hiệu trưởng nhà trường Việc tác động kinh tế - xã hội cũng tác động trực tiếp tối sử dụng đội ngũ của GV và hiệu quả hoạt động của nhà trường
Yếu tố yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay cũng là một yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến việc sử dụng đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường THPT Tư thục
Sở GD và đào tạo, Ủy ban nhân dân tỉnh phải luôn định hướng chính các cho hoạt động quản lý của các trường THPT Tư thục Đồng thời, qua kiểm tra, thanh tra của cấp trên sẽ giúp cho Hiệu trưởng điều chỉnh kịp thời công tác quản lý sử dụng đội ngũ của mình
Trang 4029
Kết luận chương 1
Trên cơ sở phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài, chỉ rõ những yêu cầu về nội dung đổi mới căn bản và toàn diện GD - đào tạo, những điểm đặc thù của trường THPT Tư thục, tác giả đã xác định các nội dung sử dụng đội ngũ GV để làm căn cứ cho việc để ra những giải pháp sử dụng đội ngũ một cách có hiệu quả, góp phần quan trọng trong quản lí nhân sự ở các trường THPT Tư thục
Sử dụng đội ngũ GV là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho đội ngũ đó nhằm đạt được mục đích
đủ số lượng, theo tỉ lệ quy định, phù hợp về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có
đủ phẩm chất về năng lực chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm
Sử dụng đội ngũ GV là một nội dung quan trọng trong quản lí nhân sự ở các cơ
sở GD, được thể hiện qua các mặt như: tuyển dụng, bố trí sử dụng, lập kế hoạch phát triển đội ngũ, dự báo nhu cầu, phân tích, đánh giá đội ngũ Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ và cũng là con đường đúng đắn để nâng cao chất lượng GD và đào tạo ở đơn vị trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai
Các khái niệm, nội dung, các quan điểm về vai trò, vị trí của đội ngũ GV cũng như các quy định về định mức GV THPT và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác quản lí, sử dụng và phát triển đội ngũ GV được nêu ra
ở Chương I sẽ là cơ sở khoa học để tác giả khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp nhằm sử dụng đội ngũ GV ở các trường THPT Tư thục TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các GV THPT Tư thục trong toàn quốc nói chung đáp ứng yêu cầu của đổi mới GD, qua đó góp phần tăng chất lượng GD và đào tạo