Trong thời gian vừa qua, từ ngày 10 tháng 03 năm 2009 đến ngày 10 tháng 07 năm 2009 được sự phân công của khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản, cùng sự chấp nhận của quý cơ quan, tôi đã
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ BẤT ĐỘNG SẢN
TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2009
Trang 2-[ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BỘ MÔN QUY HOẠCH
LÊ TRƯƠNG TƯỜNG VY
“ĐỀ ÁN QUY HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020
Trang 3-CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
GIẤY XÁC NHẬN THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
KÍNH GỬI : Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Địa chính
Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi tên : Lê Trương Tường Vy, hiện là sinh viên khóa 31, ngành Quản Lý Đất
Đai, Khoa Quản Lý Đất Đai và Thị Trường Bất Động Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Trong thời gian vừa qua, từ ngày 10 tháng 03 năm 2009 đến ngày 10 tháng 07 năm 2009 được sự phân công của khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản, cùng sự chấp nhận của quý cơ quan, tôi đã được thực tập tốt nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Địa chính Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
với đề tài : “ Đề án Quy hoạch sản xuất Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đến
năm 2020 và định hướng đến năm 2025”
Trong quá trình thực tập tại Trung tâm, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của Ban lãnh đạo cùng các anh chị trong cơ quan, giúp tôi đã hoàn thành nội dung thực tập tốt nghiệp
Nay tôi làm đơn này kính xin Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Địa chính xác nhận cho tôi đã thực tập tốt nghiệp tại trung tâm trong thời gian qua
Rất mong được sự giúp đỡ của quý cơ quan Tôi xin chân thành biết ơn
TP.HCM, ngày 20 tháng 7 năm 2009
Xác nhận của TT Nghiên cứu & Ứng dụng CNĐC Kính đơn
Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
SV Lê Trương Tường Vy
Trang 4Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
LỜI CẢM ƠN
Con xin khắc ghi công ơn to lớn của ba mẹ, người đã dày công sinh thành, nuôi
dưỡng, dạy dỗ con nên người và có được kết quả như ngày hôm nay
Em xin ghi nhớ và tỏ lịng chân thành cảm ơn tới :
- Ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm TPHCM
- Quý thầy cô khoa Quản lý đất đai và bất động sản
đã tận tâm truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho chúng em trong
suốt thời gian học tập làm hành trang cho em bước vào đời
Đặc biệt với lòng biết ơn sâu sắc em xin gởi đến :
- Thầy Phan Văn Tự
Là người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực hiện luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn :
Tập thể các anh chị Trung tâm nghiên cứu và Ứng dụng Cơng nghệ Địa chính
đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, tạo
mọi điều kiện tốt để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên lớp Quản lý đất đai khóa 31 đã động viên và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như khi thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu ngắn, kiến thức cịn hạn chế, khả năng lý
luận cịn kém nên đề tài nghiên cứu chưa thật đầu đủ và sâu sắc Do đĩ, bài luận văn
khơng tránh khỏi những sai sĩt, kính mong quý thầy cơ cùng bạn bè đĩng gĩp những ý
kiến để luận văn được hồn thiện hơn
Chân thành cảm ơn!
Tháng 7/2009 Sinh viên
Lê Trương Tường Vy
Trang 5Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
TÓM TẮT
Sinh viên thực hiện : LÊ TRƯƠNG TƯỜNG VY, Khoa Quản Lý Đất Đai và
Bất Động Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Đề Tài : “Đề án Quy hoạch sản xuất Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”
Giáo Viên Hướng Dẫn : Thầy PHAN VĂN TỰ, Bộ môn Quy Hoạch, Khoa
Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí
Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, thương mại, văn hoá, khoa
học công nghệ có vị trí quan trọng của cả nước Quá trình đô thị hoá đã tác động mạnh
mẽ đến tình hình sử dụng đất và quá trình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Thành
phố Quy hoạch sản xuất nông nghiệp nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả tiềm năng
đất Nông nghiệp, từ đó có kế hoạch hình thành các trung tâm giống chất lượng cao tạo
ra các sản phẩm dịch vụ, sản xuất hàng hóa cung cấp lương thực thực phẩm tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu, phát triển sản xuất nông nghiệp thành phố trở thành nền nông
nghiệp đô thị tiên tiến, bền vững và đóng góp có hiệu quả vào tiến trình phát triển bền
vững kinh tế - xã hội của thành phố và khu vực
Trên cơ sở các nguồn tài liệu, số liệu, bản đồ giai đoạn 2000-2008 thu thập
được, đề tài đã nghiên cứu đánh giá có hệ thống, đầy đủ, chi tiết về các mục tiêu thông
qua nội dung sau
- Đánh giá các yếu tố, nguồn lực, điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp; tình hình và thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp
- Xác định những quan điểm, mục tiêu cụ thể gắn với phát triển sản xuất nông
nghiệp; Định hướng quy hoạch sản xuất nông nghiệp và các chương trình mục tiêu,
cùng những giải pháp thực hiện quy hoạch
Kết quả được thể hiện bằng báo cáo thuyết minh (luận văn tốt nghiệp), các sơ
đồ, bảng biểu, phụ lục, bản đồ phục vụ cho báo cáo ( bản đồ hiện trạng sử dụng đất
nông nghiệp năm 2008, bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến 2020 và định
hướng đến 2025 )
Theo Quy hoạch, diện tích đất nông nghiệp được duy trì ổn định đến năm
2020 là 82.600 ha và định hướng đến 2025 là 80.500 ha Quá trình chuyển đổi cơ cấu
sản xuất nông nghiệp – nông thôn của Thành phố trong những năm tới tập trung theo
hướng nông nghiệp đô thị; ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất
để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, hạ giá thành nông sản hàng hóa, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ; phát triển mạnh sản xuất giống, liên kết với các tỉnh -
thành; mở rộng và ổn định thị trường tiêu thụ sản phẩm; tăng cường kết cấu hạ tầng
cho ngoại thành rút ngắn khoảng cách về đời sống văn hoá, tinh thần giữa khu vực
nội ô với các huyện vùng ven
Trang 6Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I : TỔNG QUAN 3
I.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUY HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 3
I.1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu : 3
I.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài nghiên cứu: 5
I.1.3 Cơ sở thực tiễn : 7
I.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU : 8
I.3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, QUY TRÌNH THỰC HIỆN 9
I.3.1 Nội dung nghiên cứu : 9
I.3.2 Phương pháp nghiên cứu : 9
I.3.3 Các bước thực hiện : 10
PHẦN II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
II.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KT-XH. 11
II.1.1 Điều kiện tự nhiên – Môi trường : 11
1/- Vị trí địa lý 11
2/- Các yếu tố tự nhiên 11
3/- Tài nguyên thiên nhiên 14
4/- Môi trường 18
5/- Đánh giá chung 21
II.1.2 Điều kiện Kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp : 21
1/- Dân số và tỷ lệ tăng dân số : 21
2/- Lao động, việc làm và thu nhập 23
3/- Cở sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật 24
4/- Các hình thức tổ chức sản xuất Nông nghiệp : 25
II.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2000-2008 : 25
II.2.1 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Hồ Chí Minh 25
II.2.2 Tình hình biến động đất thành phố Hồ Chí Minh 26
II.2.3 Hiện trạng sử dụng đất Nông nghiệp 27
II.2.4 Tình hình biến động đất Nông nghiệp 27
II.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN SXNN GIAI ĐOẠN 2000-2008 28
II.3.1 Tăng trưởng cơ cấu kinh tế ngành Nông nghiệp 28
II.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Nông nghiệp : 29
Trang 7Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
II.3.3 Thực trạng phát triển các ngành Nông nghiệp : 30
1/- Thực trạng phát triển trồng trọt 30
2/- Thực trạng phát triển chăn nuôi : 31
3/- Thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản 32
4/- Thực trạng phát triển lâm nghiệp : 34
5/- Thực trạng phát triển diêm nghiệp : 34
6/- Kết quả thực hiện các chương trình phát triển trọng điểm của ngành: 35
II.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 37
II.4.1 Thành tựu đạt được : 37
II.4.2 Những khó khăn tồn tại : 38
II.4.3 Nguyên nhân : 39
1/- Về khách quan : 39
2/- Về chủ quan : 39
II.5 QUY HOẠCH SXNN ĐẾN 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2025 : 40
II.5.1 Một số dự báo tác động đến sản xuất nông nghiệp: 40
II.5.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển : 41
1/- Quan điểm : 41
2/- Mục tiêu : 41
II.5.3 Dự kiến quỹ đất Nông nghiệp thành phố : 43
1/- Phương án : 43
2/- Lựa chọn phương án : 43
3/- Dự kiến quỹ đất : 44
II.5.4 Phân vùng sinh thái nông nghiệp ngoại thành : 14
II.5.5 Quy hoạch sản xuất các loại cây trồng vật nuôi : 48
1/- Về trồng trọt : 48
2/- Về phát triển chăn nuôi 52
3/- Về phát triển thủy sản 53
4/- Về phát triển Lâm nghiệp 54
5/- Về phát triển Diêm nghiệp 54
6/- Về phát triển Giống 54
7/- Về phát triển Nông Lâm Ngư nghiệp kết hợp với Du Lịch sinh thái 56
8/- Phát triển nông nghiệp theo địa bàn hành chính các huyện ngoại thành 57
II.5.6 Các chương trình mục tiêu trọng điểm : 57
Trang 8Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
1/- Đầu tư nâng cao chất lượng, hiệu quả 57
2/- Xây dựng và triển khai các chương trình, đề án phát triển : 58
3/- Thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm : 58
II.6 HIỆU QUẢ - VỐN ĐẦU TƯ 58
II.6.1 Hiệu quả 58
II.6.2 Vốn đầu tư 59
1/- Vốn ngân sách: 59
2/- Vốn tín dụng, vốn khác: 60
3/- Vốn hỗ trợ trực tiếp cho hộ nông dân 60
4/- Ưu đãi đầu tư cho các đơn vị 60
II.7 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 61
II.7.1.Giải pháp về giống : 61
II.7.2 Giải pháp về khoa học kỹ thuật : 61
1/- Giải pháp về kỹ thuật : 61
2/- Giải pháp về khoa học công nghệ : 61
II.7.3 Các giải pháp về chính sách : 61
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 63
Kết luận : 63
Kiến nghị : 64
Trang 9Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
DANH SÁCH BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH BẢNG BIỂU :
Bảng 1 : Bảng phân loại đất Thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2: Thống kê lưu lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt
Bảng 3 : Dân số và lao động thành phố qua các năm
Bảng 4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2008
Bảng 5: Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 phân theo quận, huyện
Bảng 6 : Biến động Đất đai TP.HCM giai đoạn 2000-2008
Bảng 7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2008
Bảng 8 : Biến động đất nông nghiệp TP.HCM giai đoạn 2000 – 2008
Bảng 9: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp TPHCM giai đoạn 2000-2008
Bảng 10: Cơ cấu ngành nông nghiệp TPHCM, giai đoạn 2000-2008
Bảng 11 : Diện tích, năng suất sản lượng một số cây trồng chính
Bảng 12 : Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi
Bảng 13 : Thực trạng phát triển ngành thủy sản
Bảng 14: Quy hoạch sử dụng đất NN đến năm 2010
Bảng 15: Quy hoạch sử dụng đất NN đến năm 2020
Bảng 16: Quy hoạch sử dụng đất NN đến năm 2025
Bảng 17 : Hiện trạng và QH hoa – cây kiểng đến năm 2025
Bảng 18 : Hiện trạng và QH rau an toàn đến năm 2025
Bảng 19 : Hiện trạng và QH cây ăn quả đến năm 2025
Bảng 20 : Hiện trạng và QH Lúa đến năm 2025
HÌNH ẢNH :
Hình 1 : Sơ đồ vị trí Thành phố Hồ Chí Minh
Hình 2 : Biểu đồ nhiệt độ trung bình qua các năm
Hình 3 : Biểu đồ Lượng mưa trong năm
Hình 4 : Hệ thống thủy văn TP.HCM
Hình 5 : Biểu đồ cơ cấu lao động TP.HCM
Hình 6 : Diện tích, cơ cấu sử dụng đất năm 2008 TP.HCM
Hình 7 : Biểu đồ biến động các loại đất chính TP.HCM giai đoạn 2000-2008
Hình 8 : Biểu đồ Biến động diện tích đất Nông nghiệp
Trang 10Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 11Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai cùng với con người đã đồng hành qua các nền văn minh nông nghiệp
khác nhau, từ nền nông nghiệp thô sơ vào buổi bình minh của loài người đến nền nông
nghiệp đầy ắp các tiến bộ về khoa học và công nghệ như ngày nay Nông thôn Việt
Nam hiện đang chiếm trên 75% dân số và lao động xã hội của cả nước Sau 20 năm
đổi mới nền kinh tế nước ta những năm gần đây cũng đã đạt được nhiều thành tựu rất
quan trọng, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển rõ rệt, liên
tục và tương đối toàn diện với tốc độ khá cao; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy
sản tăng nhanh tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn, cơ sở hạ tầng nông thôn
được tăng cường, đời sống đại bộ phận nông dân không ngừng cải thiện Những thành
tựu trên đã góp phần quan trọng vào ổn định và phát triển đất nước, đồng thời cũng
tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của nền nông nghiệp nước ta Sự chuyển biến tích
cực đó là nhờ có đường lối chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước phù hợp với
thực tiễn, nhất là các chính sách về Đất đai
Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992, tại điều 18
chương II đã quy định : “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản
lý, Nhà nước thống nhất quản lý Đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử
dụng đất đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao cho các tổ chức và cá nhân sử
dụng ổn định và lâu dài”
Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị đặc biệt, một trung tâm kinh tế, thương
mại, văn hoá, khoa học công nghệ có vị trí quan trọng của cả nước; là đầu mối giao
thông quốc tế, cũng là đô thị hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Vì thế
trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội, việc hình
thành và xây dựng nhiều khu công nghiệp cộng với quá trình đô thị hoá đã tác động
mạnh mẽ đến tình hình sử dụng đất và quá trình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh Ngành nông nghiệp thành phố đã và đang đứng trước những
khó khăn thách thức mới như : cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm, chất lượng
nông sản chưa cao, hiệu quả kinh tế thấp; lao động nông thôn thiếu việc làm còn chiếm
tỉ lệ khá cao, thu nhập của nông dân còn thấp; trong khi hội nhập kinh tế quốc tế làm
gia tăng áp lực cạnh tranh nông sản hàng hoá mà điều kiện diện tích đất sản xuất nông
nghiệp giảm khá nhanh ngày càng bị thu hẹp và không còn khả năng mở rộng (thời kỳ
1996-2008, diện tích đất nông nghiệp giảm 16.500 ha, bình quân mỗi năm giảm 1.370
ha); cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, khoa học kỹ thuật còn thiếu khi nhu cầu về số
lượng và chất lượng lương thực, thực phẩm tăng nhanh do sự gia tăng dân số; tác động
của thiên tai, dịch bệnh cây trồng vật nuôi và nhất là sự biến động của thị trường
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp nhằm góp phần phát triển sản xuất nông
nghiệp thành phố ổn định và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lâu dài
theo hướng hiện đại, bền vững, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh
tranh cao gắn với đặc thù nông nghiệp đô thị của một thành phố lớn và vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, rút ngắn chênh lệch về trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh
thần giữa khu vực ngoại thành với nội thành; đóng góp có hiệu quả vào tiến trình phát
triển chung của thành phố
Trang 12Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 2
Với những yêu cầu thực tế trên, được sự phân công của Khoa quản lý Đất Đai & Bất
Động Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Đề án Quy hoạch sản xuất Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”
Mục tiêu của đề tài :
Nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất Nông nghiệp của thành phố,
để có kế hoạch sử dụng một cách có hiệu quả nhằm hình thành các trung tâm giống
chất lượng cao tạo ra các sản phẩm dịch vụ, sản xuất hàng hóa cung cấp lương thực
thực phẩm tại chỗ, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, phát triển sản xuất nông nghiệp
thành phố trở thành nền nông nghiệp đô thị tiên tiến, bền vững và đóng góp có hiệu
quả vào tiến trình phát triển bền vững kinh tế - xã hội của thành phố và khu vực
Yêu cầu của đề tài :
(1) Đánh giá một cách toàn diện và chính xác các yếu tố và nguồn lực về tự
nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi
cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn thành phố.Từ đó xác định được những tiềm năng, lợi
thế, hạn chế và thách thức của thành phố trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
trong khai thác sử dụng quỹ đất nông nghiệp nói riêng đối với sự phát triển nông
nghiệp thành phố trong những năm tới
(2) Đánh giá thực trạng quỹ đất nông nghiệp và sản xất nông nghiệp thời kỳ
2000-2008
(3) Xác định nguồn tài nguyên đất nông nghiệp ổn định trong giai đoạn quy
hoạch và phương hướng sản xuất nông nghiệp đồng bộ, có hiệu quả cao và bền vững
để người dân yên tâm đầu tư sản xuất lâu dài trên diện tích đất nông nghiệp do mình
quản lí
(4)Xây dựng phương án quy hoạch sản xuất nông nghiệp của thành phố từ nay
đến năm 2020 và phương hướng đến năm 2025, đảm bảo hài hoà giữa các mục tiêu
ngắn hạn và dài hạn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Hồ Chí Minh
(5) Xác lập hệ thống các giải pháp và đề xuất các chương trình, dự án đầu tư
trong thời kỳ quy hoạch
Đối tượng nghiên cứu của đề tài :
Đối tượng lập quy hoạch sản xuất nông nghiệp là quỹ đất nông nghiệp và sản
xuất nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, muối và làng nghề nông thôn
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trên phạm vi địa giới hành chính của thành phố, trong đó tập trung vào 5 huyện
ngoại thành ( Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè và Cần Giờ) và một phần của
các quận ( Quận Thủ Đức, Quận 9, Quận Bình Tân, Quận 12) còn diện tích đất nông
nghiệp tập trung
Trang 13Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
PHẦN I : TỔNG QUAN I.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUY HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
I.1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu :
- Đất đai ( land) : là phần lãnh thổ nhất định có vị trí, định tính, gắn với hoạt
động của con người trong quá khứ, hiện tại, tương lai ( nó bao gồm các lớp quyển : khí
quyển, sinh quyển, thổ quyển, thạch quyển và thuỷ quyển)
- Quy hoạch : là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động phân
bố, bố trí, sắp xếp tổ chức
- Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi, còn
theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp Tựu chung lại, toàn bộ nền
kinh tế có thể được chia thành 3 khu vực (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ)
Trong đó khu vực 1 bao gồm nông - lâm- ngư nghiệp
Từ khi ra đời cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát
triển nền kinh tế nói chung và bảo đảm sự sinh tồn của loài người nói riêng Ănghen
đã khẳng định: nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ
đại và hiện nay nông nghiệp lại càng có ý nghĩa như thế
- Vai trò to lớn của nông nghiệp được thể hiện ở các điểm sau:
a) Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của
con người
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài
người Sản phẩm quan trọng hàng đầu mà con người làm ra để nuôi sống mình là
lương thực Với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, nông nghiệp ngày càng được mở
rộng, các giống cây trồng, vật nuôi ngày càng đa dạng và phong phú Các Mác đã
khẳng định, con người trước hết phải có ăn rồi sau đó mới nói đến các hoạt động khác
Ông đã chỉ rõ: nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người và
việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự sống của họ và của mọi
lĩnh vực sản xuất nói chung Điều này khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nông
nghiệp trong việc nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
cũng như sự ổn định Chính trị - Xã hội của đất nước Từ đó, chúng ta có thể khẳng
định ý nghĩa to lớn của vấn đề lương thực trong chiến lược phát triển nông nghiệp và
phân công lại lao động xã hội Cho đến nay, chưa có ngành nào dù hiện đại đến đâu,
có thể thay thế được sản xuất nông nghiệp
b) Nông nghiệp là một trong những ngành quan trọng cung cấp nguyên liệu để
phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho dân cư
c) Nông nghiệp và nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
của cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
d) Nông nghiệp là ngành cung cấp khối lượng hàng hoá lớn để xuất khẩu, mang
lại nguồn ngoại tệ cho đất nước
e) Nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ công nghiệp và các lĩnh
vực hoạt động khác của xã hội
Trang 14Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 4
f) Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ gìn cân bằng sinh thái, bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và môi trường
Vì vậy, nông nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự ổn định kinh tế và
chính trị - xã hội
- Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, với
những đặc điểm riêng biệt Nghiên cứu các đặc điểm của nó có vai trò quan trọng
trong việc xác định phương hướng phát triển, hoạch định chính sách và thực hiện các
phương án quy hoạch sản xuất nông nghiệp có hiệu quả :
a) Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
Trong công nghiệp, giao thông, đất đai chỉ là nơi xây dựng nhà xưởng, hệ thống
đường giao thông Còn trong nông nghiệp, đất đai trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất như là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Thường thì, không
thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Quy mô sản xuất, trình độ phát
triển, mức độ thâm canh, phương hướng sản xuất và cả việc tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp lệ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của đất đai (thổ nhưỡng) Trong quá
trình sử dụng, đất đai ít bị hao mòn, bị hỏng đi như các tư liệu sản xuất khác Nếu con
người biết sử dụng hợp lý, biết duy trì và nâng cao độ phì trong đất, thì sẽ sử dụng
được lâu dài và tốt hơn Tất nhiên, việc duy trì, nâng cao độ phì trong đất phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như đầu tư vốn, lao động, phương tiện sản xuất hiện đại, áp dụng
rộng rãi các thành tựu khoa học kĩ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
b) Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, cơ thể sống
Trong khi đối tượng sản xuất của công nghiệp phần lớn là các vật vô tri, vô giác thì
nông nghiệp có đối tượng sản xuất là các cây trồng, vật nuôi, nghĩa là các cơ thể sống
Cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển theo các qui luật sinh học và đồng thời cũng
chịu tác động rất nhiều của quy luật tự nhiên (điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu,
môi trường) Quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp là quá trình chuyển hóa về vật
chất và năng lượng thông qua sự sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi
c) Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
Tính thời vụ là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành
trồng trọt, bởi vì, một mặt, thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất của
các loại cây trồng và mặt khác, do sự biến đổi của thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng
có sự thích ứng khác nhau
d) Nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất đai và
khí hậu Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ đối tượng lao động của nông nghiệp là cây
trồng và vật nuôi Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có đủ 5 yếu tố cơ bản
của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng, trong đó yếu
tố này không thể thay thế yếu tố kia Các yếu tố trên kết hợp và cùng tác động với
nhau trong một thể thống nhất Chỉ cần thay đổi một yếu tố là có hàng loạt các kết hợp
khác nhau và dĩ nhiên, điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nông nghiệp
Trang 15Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Mỗi yếu tố và sự kết hợp của các yếu tố thay đổi từ nơi này sang nơi khác
Những thay đổi ấy phụ thuộc vào tính quy luật theo lãnh thổ và theo thời gian (mùa)
Đất, khí hậu, nước với tư cách như tài nguyên nông nghiệp quyết định khả năng (tự
nhiên) nuôi trồng các loại cây, con cụ thể trong từng lãnh thổ và khả năng áp dụng các
quy trình kỹ thuật để sản xuất ra nông phẩm
Do những đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên không gian
rộng lớn, liên quan tới khí hậu, thời tiết, đất đai của từng vùng cụ thể Trong cơ chế thị
trường, việc bố trí sản xuất nông nghiệp sao cho phù hợp với từng vùng sinh thái sẽ
tăng thêm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Để nâng cao hiệu quả kinh tế, cần xem
xét, vận dụng các đặc điểm trên của sản xuất nông nghiệp một cách linh hoạt
- Quy hoạch sản xuất nông nghiệp
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp là hệ thống các giải pháp về kinh tế, kỹ thuật,
cơ chế chính sách nhằm đánh giá có hệ thống các tiềm năng về nông nghiệp từ đó đ ưa
ra các phương án về khai thác, tổ chức sử dụng quỹ đất và bố trí sản xuất nông nghiệp
một cách đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc đề xuất các chương trình, dự
án sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền
vững, có năng suất và chất lượng phù hợp với tiến trình phát triển nông nghiệp chung
và bảo vệ tài nguyên môi trường
I.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài nghiên cứu:
- Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992;
- Luật Đất Đai năm 2003 được Quốc Hội thông qua ngày 26/11/2003;
- Nghị định 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Thủ Tướng Chính Phủ về
thi hành luật Đất Đai;
- Quyết định số 1570/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 của Thủ Tướng Chính Phủ về
phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025;
- Quyết định số 150/2005/QĐ-TTg ngày 20/05/2005 về “phê quyệt quy hoạch
chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020”;
- Quyết định 146/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về
phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020;
- Quyết định số 07/2006/QĐ-BNN ngày 20/01/2008 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn về ban hành giá quy hoạch nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 15/06/2000 của Chính Phủ về “một số chính
sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” ;
- Nghị quyết số 10/2007/NQ-CP ngày 13/02/2007 của Chính Phủ về xét duyệt
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm
(2006-2010) của Thành phố Hồ Chí Minh;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính Phủ về việc lập,
phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ;
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị Định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính Phủ
Trang 16Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 6
về việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ;
- Thông tư số 01/2007/TT-BKH ngày 07/02/2007 của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị Định số 92/2006/NĐ-CP ngày
07/09/2006 của Chính Phủ về việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội ;
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ về ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 18/11/2002 của Bộ Chính trị về phương hướng
nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010;
- Thông tư 03/2008/TT-BKH ngày 01/07/2008 của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị Định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008
của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định số 92/2006/NĐ-CP
ngày 07/09/2006 của Chính Phủ về việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội và Quyết Định số 281/2007/QĐ-UBND ngày 26/03/2007
của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập,
thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy
hoạch phát triển ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu ;
- Quy hoạch sử dụng đất TP.Hồ Chí Minh đến năm 2010 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1060/2004/QĐ-TTg, và Kế hoạch sử dụng đất
đai 5 năm (2001 – 2005) TP.Hồ Chí Minh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
quyết định số 844/2004/QĐ-TTg;
- Tiêu chuẩn ngành (10 TCN 344-98) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn về quy trình quy hoạch ngành nông nghiệp;
- Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND ngày 22/01/2009 của Uỷ ban nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện chương
trình hành động của Thành ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết
số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X;
- Quyết định số 97/2006/QĐ-UBND ngày 10/07/2006 của Uỷ ban nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành phố giai
đoạn 2006-2010;
- Quyết định số 281/2007/QĐ-UBND ngày 26/03/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế
hoạch và Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và
điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành
và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ;
- Quyết định số 77/2008/QĐ-UBND ngày 20/10/2008 của Ủy ban nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quy định về định mức chi phí lập, thẩm định quy
hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát
triển ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ;
Trang 17Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
- Quyết định 123/1998/QĐ-TTg ngày 10/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020;
- Chương trình hành động số 43-CTr/TU ngày 20/10/2008 của Thành ủy thành
phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết và văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 – 2010) của cả nước;
- Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 – 2010) của cả nước;
- Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020;
- Các tài liệu, số liệu của ngành thống kê và các ban – ngành liên quan trên địa
bàn thành phố
I.1.3 Cơ sở thực tiễn :
Nhằm thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông
thôn từ nay đến năm 2020 theo Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND ngày 22/1/2009 của
UBND thành phố về xét duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến 2010 của thành
phố, thực hiện chương trình hành động số 43-CTr/TU ngày 20 tháng 10 năm 2008 của
Thành uỷ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05/08/2008 của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khoá X thì việc lập quy hoạch sản
xuất nông nghiệp của thành phố đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 là yêu
cầu cần thiết để :
- Xác định vùng sản xuất nông nghiệp ổn định, các vùng sản xuất hàng hoá tập
trung, các sản phẩm chính chất lượng cao, an toàn thực phẩm phục vụ cho nhu cầu của
thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận
- Quy hoạch để làm căn cứ xây dựng cơ sở hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp
theo hướng công nghệ cao
- Xác định các giải pháp, cơ chế chính sách phát triển, các chương trình mục tiêu
và các dự án ưu tiên cần tập trung triển khai thực hiện
Ngoài ra, còn nhằm xây dựng nền nông nghiệp đô thị năng suất cao Tiếp tục thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thủy sản; phát
triển mạnh các loại cây con và nông sản chủ lực theo hướng nông nghiệp công nghệ cao,
sản xuất tập trung Hỗ trợ việc nuôi trồng các sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao, xuất
khẩu được lâu dài như rau sạch, cây kiểng, hoa, cá kiểng
Sản xuất giống cây, giống con chất lượng cao, thực hiện có kết quả các pháp
lệnh về công tác giống cây trồng, vật nuôi
Phát triển theo chiều sâu các mô hình sản xuất kết hợp với kinh doanh, dịch vụ
phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của nội thành và du khách; Các mô hình tổ chức
sản xuất có hiệu quả như kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình, kinh tế hợp tác
Tăng năng suất lao động và thu nhập lao động nông nghiệp và nông thôn ngoại
thành; nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân trên mỗi đơn vị diện tích
Trang 18Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 8
I.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU :
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung
tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Nằm trong vùng chuyển tiếp
giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh hình
thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn Năm 1698, Nguyễn Hữu
Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố Khi người Pháp vào Đông
Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập
và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam,
được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông" ("the Pearl of the Far East") hoặc "Paris
Phương Đông" ("Paris in the Orient") Năm 1954, Sài Gòn trở thành thủ đô của Việt
Nam Cộng hòa và thành phố hoa lệ này vẫn được mệnh danh "Hòn ngọc Viễn Đông",
một trong những đô thị quan trọng của vùng Đông Nam Á Việt Nam Cộng hòa sụp đổ
năm 1975, lãnh thổ Việt Nam hoàn toàn thống nhất Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc
hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí
Minh", theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54'
Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông
Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam
giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí
Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển
Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á,
Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường
thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu
Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Vùng cao
nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét Xen kẽ có
một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng
nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1
mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2,
toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích
2.095,01 km² Vào năm 2008, thành phố có dân số 6.810.461 người, mật độ trung bình
3.250 người/km² Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí
Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp của cả quốc
gia Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối
giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt,
đường thủy và đường không Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du
lịch quốc tế, tức 70 % lượng khách vào Việt Nam Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông,
thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất
Địa hình trên địa bàn tương đối thấp và bằng phẳng, có các tuyến giao thông lớn
đi qua do vậy rất thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là phát triển đô thị
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo, nhiệt độ cao và phân ra hai mùa mưa khô rõ ràng, nằm giữa hai sông lớn là sông
Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và chịu ảnh hưởng lớn của sông Đồng Nai
Trang 19Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Đây là một trung tâm của vùng và cả nước về các lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ
- khoa học – công nghệ - đào tạo – y tế … Thành phố Hồ Chí Minh có tổng dân số lớn
nhất cả nước, là thị trường tiêu thụ lớn nhất nước về nông lâm thuỷ hải sản Thành phố
Hồ Chí Minh có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đầy đủ về giao thông thuỷ bộ, sân bay, bến
cảng, đường sắt …đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và tạo ra động lực có
vai trò đầu tàu cho việc phát triển các tỉnh phía Nam và cả nước
I.3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, QUY TRÌNH THỰC HIỆN
I.3.1 Nội dung nghiên cứu :
- Đánh giá các yếu tố, nguồn lực, điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội ảnh hưởng
đến quá trình sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá về tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp; thực trạng phát triển các
ngành nông nghiệp; hiện trạng và biến động đất đai, đất nông nghiệp trên địa bàn
thành phố
- Xác định những quan điểm, mục tiêu cụ thể gắn với phát triển sản xuất nông
nghiệp cần đạt được trong thời kỳ quy hoạch
- Định hướng quy hoạch sản xuất nông nghiệp và các chương trình mục tiêu,
cùng những giải pháp thực hiện quy hoạch
I.3.2 Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp điều tra nhanh : là phương pháp thu thập, phân tích và đánh giá
các nguồn thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu được cung cấp bởi những người
được phỏng vấn thông qua phiếu điều tra, hội họp, thảo luận…
- Phương pháp kế thừa : kế thừa có chọn lọc các tài liệu, số liệu có liên quan
trên địa bàn ( số liệu dân số, diện tích và tỷ lệ đất đai, năng suất, sản lượng của các loại
cây trồng, vật nuôi … )
- Phương pháp thống kê : phương pháp này sử dụng thống kê tuyệt đối và
tương đối để phân tích và đánh giá tình hình sử dụng và biến động đất đai; phân tích
và đánh giá tình hình phát triển nông nghiệp trên địa bàn thành phố…
- Phương pháp bản đồ: Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong công tác quy
hoạch nhằm phản ánh trực quan kết quả Quy hoạch thông qua không gian đồ họa được
thể hiện qua hệ thống bản đồ ( bao gồm : Bản Đồ Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp,
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2010, bản đồ quy hoạch sử dụng
đất đến năm 2020, Bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2025 … )
cùng tỷ lệ 1/50.000 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp GIS: ứng dụng công nghệ tin học xây dựng các bản đồ chuyên
đề (bản đồ đất, bản đồ vị trí địa lý …), bản đồ đơn tính, tiến hành chồng xếp trên cơ sở
mối quan hệ giữa các bản đồ để đưa ra một bản đồ thành quả chung ( bản đồ hiện trạng
sử dụng đất năm 2008, bản đồ Quy hoạch sản xuất Nông nghiệp thành Phố Hồ Chí
Minh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025…)
- Phương pháp dự báo: dùng để dự báo tiềm năng trong tương lai về mặt số
lượng như: dự báo dân số, dự báo nhu cầu sử dụng đất đối với từng loại đất, dự báo
các yếu tố tác động đến sản xuất nông nghiệp thành phố, dự báo các mục tiêu và các
Trang 20Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 10
chương trình dự án sản xuất nông nghiệp sẽ thực hiện …
- Phương pháp chuyên gia : được thể hiện từ công tác tổ chức, báo cáo chuyên
đề đóng góp ý kiến,tham khảo, học hỏi… đều thông qua các chuyên gia có kinh
nghiệm ( các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, các cán
bộ quy hoạch có kinh nghiệm… )
- Phương pháp định mức: Sử dụng các tiêu chuẩn định mức để tổng hợp và xử
lý thống kê kết hợp với các dự báo đưa ra các loại đất chiếm dụng trong giai đoạn thực
hiện
- Phương pháp tổng hợp: dùng phần mềm Excel để xử lý và dự báo các số liệu
điều tra ( bảng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp; bảng hiện trạng sử dụng đất, biến
động đất; năng suất sản lượng một số loại cây trồng chính …)
- Phương pháp đa phương án: là phương pháp đưa ra nhiều phương án thích
hợp, sau đó lựa chọn phương pháp tối ưu nhất được sử dụng trong lưa chọn các
phương án quy hoạch sản xuất nông nghiệp
I.3.3 Các bước thực hiện :
- Bước 1: Điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan
- Bước 2: Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội
tác động đến việc sản xuất nông nghiệp
- Bước 3: Đánh giá hiện trạng sử dụng và tình hình biến động đất nói chung,đất
nông nghiệp nói riêng; đánh giá tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp; thực trạng
phát triển các ngành nông nghiệp
- Bước 4: Xây dựng và lựa chọn phương án quy hoạch sản xuất nông nghiệp
- Bước 5: Xây dựng các chương trình mục tiêu, giải pháp thực hiện quy hoạch
- Bước 6: Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp và các bảng biểu, bản đồ
Trang 21Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
PHẦN II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU II.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP.
II.1.1 Điều kiện tự nhiên – Môi trường :
1/- Vị trí địa lý ( Hình 1 : Sơ đồ vị trí )
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc khu vực Nam bộ , trong vùng phát triển kinh tế
trọng điểm phía Nam, nơi hội tụ các con sông như sông Đồng Nai và sông Sài Gòn
Thành phố Hồ Chí Minh trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, có toạ độ địa lý từ
1022’13’’ đến 1122’17’’ vĩ độ bắc và 10601’25’’ đến 10701’10’’ kinh độ Đông,
giáp ranh với các tỉnh :
- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai; phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu
- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An, Tiền Giang; phía Tây Bắc giáp tỉnh
Tây Ninh
- Phía Nam giáp biển Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 209.554,47 ha, gồm 19 quận và 5 huyện
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất cả nước, một trong những đầu mối
kinh tế lớn hội đủ các điều kiện thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường
sắt, đường hàng không, nối liền với các địa phương trong nước và quốc tế
Hệ thống thương cảng quốc tế Sài Gòn nối liền với các cảng trong nước và thế
giới (như khu cảng Sài Gòn, khu cảng Nhà Bè, khu cảng Cát Lái )
Hệ thống đường bộ có Quốc lộ 1A nối liền Thành phố với các tỉnh phía Bắc và
các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; Quốc lộ 22 đi Tây Ninh nối liền với Campuchia;
Quốc lộ 13 qua Bình Dương, Bình Phước nối liền với Quốc lộ 14 kéo dài suốt Tây
nguyên; Quốc lộ 51 nối liền với Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc lộ 50 đi Long
An, Tiền Giang và nhiều tỉnh lộ nối trực tiếp với các tỉnh xung quanh
Thành phố cũng là đầu mối cuối cùng của đường sắt thống nhất Bắc - Nam
Sân bay Tân Sơn Nhất là một sân bay quốc tế lớn của nước ta
Nhìn chung, vị trí của Thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
thành một đô thị hiện đại, một trung tâm kinh tế lớn và năng động ngang tầm các nước
trong khu vực Song đó cũng là nhân tố gây sức ép mạnh mẽ đến môi trường và đất đai
của Thành phố
2/- Các yếu tố tự nhiên
a/ Địa hình, địa mạo
Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn bằng phẳng, thấp, có một phần diện
tích dạng đất gò ở phía Bắc và Đông Bắc với độ cao giảm dần theo hướng Đông Nam
Địa hình Thành phố có thể chia thành bốn dạng chính :
Trang 22Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
- Dạng đất gò cao: Có độ cao biến thiên từ 4 đến 32 m Trong đó phần diện tích
có độ cao từ 4 – 10 m chiếm khoảng 19% tổng diện tích tự nhiên; phần diện tích có độ
cao trên 10 m chiếm khoảng 11% tổng diện tích tự nhiên Dạng địa hình này phân bố
chủ yếu ở huyện Củ Chi và một phần ở Quận 9, Thủ Đức
- Dạng đất bằng thấp: Chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên Độ cao 2 - 4
m, điều kiện tiêu thoát nước tương đối thuận lợi Phân bố chủ yếu ở các quận nội
thành, một phần ở Thủ Đức, Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và phía Nam huyện
Bình Chánh
- Dạng trũng thấp, lầy ở phía Tây Nam: Chiếm khoảng 34% diện tích tự nhiên,
độ cao phổ biến từ 1 - 2 m Phân bố dọc theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt,
Tam Tân, Thái Mỹ kéo dài từ các huyện Bình Chánh đến Củ Chi, khu vực trung tâm
huyện Nhà Bè, Bưng Sáu Xã của Thủ Đức (cũ) và phía Bắc huyện Cần Giờ
- Dạng trũng thấp mới hình thành ven biển: Chiếm khoảng 21% tổng diện tích tự
nhiên Dạng địa hình này có độ cao phổ biến khoảng 0 - 1 m, nhiều nơi có độ cao thấp
hơn mực nước biển, nhìn chung đa số chịu ảnh hưởng của thuỷ triều hàng ngày
b/ Khí hậu
Thành phố nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận
xích đạo với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau
Hình 2 : Biểu đồ nhiệt độ trung bình qua các năm (ĐVT : ºC)
- Nhiệt độ :
Nhiệt độ cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình cả năm khoảng 28,2ºC (dao
động trong khoảng 26,9 - 30,1ºC) Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng
lạnh nhất khoảng 4ºC, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4, thấp nhất là tháng 11
Lượng bức xạ dồi dào (trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm) nhưng có sự khác
biệt về cấu trúc mùa Mùa khô có bức xạ mặt trời cao, thời kỳ có bức xạ cao vào tháng
4 và 5 (đạt 400 - 500 cal/cm2/ngày) Mùa mưa có bức xạ mặt trời thấp hơn, cường độ
bức xạ cao nhất đạt 300 - 400 cal/cm2/ngày
Trang 23Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
- Độ ẩm:
Độ ẩm trung bình cả năm khoảng 76% Có sự chênh lệch rõ rệt theo mùa
- Lượng mưa:
Hình 3 : Biểu đồ Lượng mưa trong năm (ĐVT :mm)
Lượng mưa thay đổi theo từng khu vực và phân bố không đều, tập trung chủ yếu
từ tháng 5 đến tháng 11, lớn nhất vào tháng 7 hoặc tháng 10, lượng mưa bình quân đạt
2.078,9 mm/năm giai đoạn 2000-2007
- Chế độ gió:
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió mùa
chủ yếu: Từ ngoài biển Đông thổi về theo hướng Đông Nam - Tây Bắc (thịnh hành
trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 4); Từ Ấn Độ Dương thổi về theo hướng
Tây Nam - Đông Bắc (thịnh hành trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 10)
Ngoài ra còn có hướng gió từ phương Bắc thổi về, đây là hướng gió thịnh hành
trong tháng 11, 12 và tháng 1 Hướng gió hoạt động trong năm có ý nghĩa quan trọng
trong việc bố trí các khu công nghiệp, dân cư, nhất là các ngành công nghiệp có khả
năng gây ô nhiễm không khí
c/ Thuỷ văn (Hình 4 : Hệ thống thủy văn Thành phố Hồ Chí Minh)
Thành phố nằm giữa hai sông lớn là sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và chịu
ảnh hưởng lớn của sông Đồng Nai
- Sông Đồng Nai:
Là sông lớn nhất trong hệ thống Đồng Nai - Sài Gòn (Sông Đồng Nai nối thông
qua sông Sài Gòn bằng hệ thống kênh Rạch Chiếc) Tại địa phận Quận 9, sông rộng
400 - 600 m Lòng sông không sâu so với các sông khác, độ sâu trung bình 12 - 15 m,
dòng chảy trung bình 500 m3/s
- Sông Sài Gòn:
Là sông có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa do vậy thuỷ triều
truyền vào rất sâu và mạnh Chế độ thuỷ văn, dòng chảy của các kênh rạch trong
Thành phố chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Sài Gòn
Trang 24Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Hình 4 : Hệ thống thủy văn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 25Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
- Sông Vàm Cỏ Đông:
Sông Vàm Cỏ Đông có rất nhiều sông nhánh nối với hệ thống kênh rạch khu
vực Tây Nam Thành phố
- Hệ thống kênh rạch của Thành phố có thể khái quát làm hai hệ thống chính:
Hệ thống các kênh rạch đổ vào sông Sài Gòn với hai nhánh chính là rạch Bến
Cát và kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Hệ thống kênh rạch đổ vào sông Bến Lức và kênh Đôi, kênh Tẻ như rạch Tân
Kiên, rạch Bà Hom, rạch Tân Hoá - Lò Gốm Đặc điểm của các kênh rạch này là
chúng tương đối độc lập và bắt nguồn từ vùng đất cao
Nét nổi bật chi phối tất cả các chế độ dòng chảy trong khu vực Thành phố là sự
xâm nhập của thuỷ triều Phân tích biên độ dao động của thuỷ triều tại các trạm Bến
Lức, Gò Dầu Hạ (trên sông Vàm Cỏ Đông), các trạm Nhà Bè, Phú An, Thủ Dầu Một
(trên sông Sài Gòn) cho thấy biên độ dao động thuỷ triều dọc sông Sài Gòn thay đổi và
giảm dần từ cửa sông đến Dầu Tiếng và biên độ dao động của thuỷ triều trên sông Vàm
Cỏ Đông nhỏ hơn trên sông Sài Gòn rất nhiều Với chế độ dòng triều như vậy cho nên
hầu như các ảnh hưởng và sự trao đổi dòng chảy giữa hai sông Sài Gòn và Vàm Cỏ
Đông rất yếu và đó cũng là nguyên nhân tạo ra các giáp nước (nơi dòng chảy đổi chiều,
tốc độ dòng chảy bằng 0 hoặc gần bằng 0) trên sông Bến Lức và kênh Thầy Cai
3/- Tài nguyên thiên nhiên
a/ Tài nguyên đất
Bảng 1 : Bảng phân loại đất Thành phố Hồ Chí Minh
Diện tích STT Phân loại đất
(Nguồn :Tài liệu khảo sát thổ nhưỡng Sở TNMT TP.HCM)
Theo tài liệu khảo sát thổ nhưỡng, trên địa bàn các huyện và quận ven Thành
phố Hồ Chí Minh, có 6 loại đất chính sau đây:
Trang 26Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
17%) Đất cát nghèo mùn, đạm, lân và kali Loại đất này thích hợp trồng một số loại
rau màu như : hành hẹ, ớt, khoai lang … và các cây ăn trái như : nhãn, xoài …
- Đất mặn:
Với diện tích 19.757 ha, chiếm khoảng 15,99% diện tích vùng khảo sát Phân bố
tập trung ở huyện Cần Giờ
Loại đất này hình thành trên trầm tích sông, biển và đầm lầy biển bị xâm nhập
mặn hơi chua ở tầng mặt (pH < 5), các tầng ở dưới ít chua đến trung tính, đạt trị số pH
6,5 - 7 ở độ sâu trên 100 cm Hàm lượng Cl- và các muối tan rất cao vì đất thường
xuyên chịu ảnh hưởng của nước biển Mg2+ và Na+ chiếm vai trò chính trong thành
phần các cation trao đổi
Đất có thành phần cơ giới nặng; Các chỉ tiêu độ phì ở mức trung bình khá, hàm
lượng chất hữu cơ giàu (2,5 - 3,5%), hàm lượng đạm tổng số tương đối cao (0,2%)
Đất mặn thích hợp cho việc trồng rừng, đặc biệt đối với cây đước, sú, vẹt,
- Đất phèn:
Chủ yếu là đất phèn tiềm tàng, diện tích khoảng 44.535 ha, chiếm 36,04% diện
tích vùng khảo sát Phân bố ở các vùng thấp, trũng, tiêu thoát nước kém như: phía Nam
huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và phía Bắc huyện Cần Giờ
Đất phèn được hình thành trên trầm tích đầm lầy biển (đầm mặn) Trong điều
kiện yếm khí phèn ở dạng tiềm tàng, trong phẫu diện chỉ có tầng Pyrite Khi có quá
trình thoát thuỷ, tạo ra môi trường oxy hoá, tầng Pyrite chuyển thành tầng Jarosite làm
cho đất chua đồng thời giải phóng nhôm gây độc hại cho cây trồng
Tầng sinh phèn và tầng phèn thường rất nông, nhiều nơi phát hiện ngay ở tầng
đất mặt Nhìn chung đất có độ pH thấp làm cho đất phèn trở nên phức tạp và diễn biến
nhanh chóng theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất cũng như môi trường gây khó khăn
trong sử dụng và cải tạo, hàm lượng lưu huỳnh và các độc tố Fe2+, Fe3+, Al3+ rất cao
Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, cùng với sự tích luỹ muối phá
vỡ các keo đất làm cho đất dính dẻo khi ướt, nứt nẻ và cứng khi khô Do đất phèn
được hình thành trên trầm tích Holocen, cùng với quá trình trầm tích là quá trình vùi
lấp các thân xác thực vật biển trong điều kiện yếm khí nên đất phèn thường rất giầu
các hợp chất hữu cơ (5 - 12%)
Các loại đất phèn có tầng sinh phèn sâu, không còn chịu ảnh hưởng của nước
biển và thường có nguồn nước tưới Hiện nay, đất phèn đã được khai thác trồng lúa 2 -
3 vụ, rau màu và các loại cây ăn quả Còn lại một diện tích lớn các đất phèn có tầng
sinh phèn nông, còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều được sử dụng cho việc trồng và bảo
vệ rừng ngập mặn
Trang 27Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
- Đất phù sa:
Có diện tích khoảng 24.405 ha, chiếm 16,51% diện tích vùng khảo sát, trong đó
loại đất phù sa ngọt chỉ chiếm khoảng 2,5% Phân bố chủ yếu ở vùng Nam Bình
Chánh và một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, độ cao khoảng 1,5 m Các chất dinh dưỡng
về mùn, đạm, lân và kali rất giàu Đây là loại đất tốt, cần thiết phải được cung cấp
nước tưới, ưu tiên sản xuất lúa nước 2 - 3 vụ và sử dụng một phần diện tích cho việc
trồng cây ăn trái
- Đất xám:
Có diện tích khoảng 31.255 ha, chiếm khoảng 25,29% diện tích vùng khảo sát
Phân bố chủ yếu trên vùng đất cao, gò ở huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận Thủ
Đức, quận 9 và phía Bắc huyện Bình Chánh
Đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu hình thành trên mẫu chất phù sa cổ
Tầng đất thường rất dầy, thành phần cơ giới nhẹ Đất có phản ứng chua; hàm lượng
mùn, đạm tầng đất mặt khá nhưng rất nghèo kali do vậy trong sản xuất nông nghiệp
phải đầu tư nhiều phân bón
Loại đất này dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hoá và thích hợp với loại cây
hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày Trong sử dụng phải chú ý biện pháp chống
xói mòn và rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung dinh dưỡng nhất là phân hữu cơ
- Đất đỏ vàng:
Có diện tích khoảng 2.430 ha, chiếm 1,97% diện tích vùng khảo sát Phân bố
trên vùng gò ở huyện Củ Chi và quận Thủ Đức, quận 9
Đất hình thành trên các sản phẩm phong hoá của các loại đá mẹ và mẫu chất
khác nhau Đặc điểm chung của nhóm đất này là chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp
phụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hoà
tan dễ bị rửa trôi Nên ưu tiên sử dụng cho việc trồng các cây như cao su, điều vì có
khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt
Diện tích còn lại không khảo sát là 85.990 ha, gồm đất Phi Nông Nghiệp (đất ở,
đất chuyên dùng …) và núi đá 5,4ha thuộc xã Thạnh An huyện Cần Giờ
b/ Tài nguyên nước
- Nước mặt
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng hạ lưu của hệ sông Đồng Nai - Sài
Gòn, giáp với biển Đông, nên nguồn nước ngọt của sông Đồng Nai là nguồn nước ngọt
chính với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km2, hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước
Trong thời gian qua, một số các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện được xây dựng chỉ làm
thay đổi lượng nước theo mùa nhưng không thay đổi về tổng lượng nói chung
Nước mặt trên địa bàn Thành phố hiện nay chủ yếu sử dụng cho nông nghiệp và
nuôi trồng thủy sản tại các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ
với lưu lượng khoảng 100 triệu m3/năm
- Nước dưới đất
Nguồn nước dưới đất phân bố khá rộng, nước dưới đất ngọt phân bố chủ yếu ở
các tầng chứa nước Pliocen ở độ sâu 100 - 300 m, cá biệt có nơi 20 - 50 m Tập trung
Trang 28Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 17
tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, phía Bắc huyện Bình Chánh, các quận Tân Bình, Gò
Vấp trữ lượng khai thác ước tính 300 - 400 m3/ngày
Tổng lưu lượng nước hiện đang khai thác khoảng 600.000 m3/ngày, chiếm trên
30% nhu cầu nước sinh hoạt của Thành phố Hiện nay, thành phố đang mở rộng mạng
lưới cấp nước, tăng khai thác nước mặt để dần dần giảm khai thác lượng nước dưới đất
c/ Tài nguyên rừng
Theo quyết định số 1718/QĐ-UBND ngày 22/04/2008 của UBND thành phố Hồ
Chí Minh về việc phê duyệt số liệu chi tiết diện tích rừng và đất lâm nghiệp đến ngày
31/12/2007; thành phố Hồ Chí Minh có 36.184,58 ha đất lâm nghiệp; chiếm 16,2%
diện tích đất tự nhiên của thành phố
Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi, trong đó chủ yếu là
diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ (chiếm khoảng 94% diện tích rừng) Số diện tích còn
lại phân bố ở Bình Chánh và Củ Chi dưới dạng rừng thứ sinh tự nhiên và rừng trồng,
với các loại thực vật chủ yếu là bạch đàn và keo lá tràm
Rừng Cần Giờ không những là rừng phòng hộ mà còn là khu dự trữ sinh quyển
được UNESCO công nhận Động thực vật chủ yếu là các chủng loại chịu mặn (đước,
sú, vẹt, ; và động vật củ yếu là khỉ, chim, cá, )
d/ Tài nguyên biển
Thành phố Hồ Chí Minh duy nhất ở huyện Cần Giờ là có biển với chiều dài bờ
biển khoảng 23 km kéo dài từ giáp ranh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến tỉnh Tiền Giang
với hai vịnh lớn nhất là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái
Nguồn lợi từ biển chủ yếu nuôi trồng thủy hải sản, đánh bắt gần bờ và sản xuất
muối Việc khai thác, đánh bắt xa bờ còn hạn chế do đầu tư chưa đúng mức
Hiện nay, Thành phố đang triển khai thực hiện chiến lược biển theo Nghị quyết
số 09-NQ/TU của Ban Chấp hành Trung ương khoá X và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao
e/ Tài nguyên nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh có lịch sử hơn 300 năm với nhiều công trình kiến trúc
cổ như đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát Lớn, Bưu điện, hệ thống các ngôi chùa cổ
(chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình Giác Viên, ), hệ thống các Nhà
thờ cổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức ), hệ thống chợ Sài Gòn, Bà
chiểu, Bình Tây…
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của
dân tộc, ở đây Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911)
Gắn liền với sự kiện đó là các di tích quan trọng như cảng Nhà Rồng, Bảo tàng Hồ Chí
Minh Ngoài ra, một trong những đặc trưng văn hoá của 300 năm lịch sử đất Sài Gòn -
Gia Định là sự hội tụ nhiều dòng văn hoá giữa truyền thống dân tộc của người Việt với
những nét đặc sắc của văn hoá Đông Tây
Trên địa bàn Thành phố có nhiều dân tộc Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm,
sinh sống với nền văn hoá phong phú, đa dạng Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm
Văn hoá của Miền Nam Đây là nơi ra đời báo Quốc ngữ đầu tiên, là trung tâm hoạt
động và giao lưu văn hoá, văn học, nghệ thuật nên có ảnh hưởng lớn về văn hoá đối
với cả nước
Trang 29Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, vùng nông nghiệp, nông thôn ven
đô thành phố Hồ Chí minh là cái nôi cách mạng, các chứng tích lịch sử còn khắc ghi
các chiến công oanh liệt đó là : Chiến khu rừng Sác ( Cần Giờ), địa đạo Củ Chi, Láng
le – Bàu cò ( Bình Chánh), vùng Bưng sáu xã (Quận 9)…
4/- Môi trường
Môi trường có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là
đối với đời sống của con người, sinh vật và quá trình sản xuất phát triển nông nghiệp
Mối liên quan giữa việc quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường đôi khi lại
bị bỏ qua hoặc không được chú ý đúng mức do không có công cụ hoặc giải pháp thích
hợp Do vậy, đối với đề án quy hoạch sản xuất Nông Nghiệp của Thành phố Hồ Chí
Minh cần phải đặc biệt quan tâm đến các vấn đề chính về môi trường có tác động lớn
với ngành nông nghiệp, bao gồm :
a/ Môi trường nước
- Môi trường nước mặt
Phần lớn nước mặt nằm trong ranh giới hành chính của Thành phố có chất lượng
nước không đạt yêu cầu khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
Hiện nay, nguồn nước mặt có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt chủ yếu lấy từ sông
Đồng Nai với khả năng khai thác khoảng 600.000m3/ngày, và đang xây dựng nhà máy sử
dụng nước từ hệ thông kênh Đông Củ Chi với khả năng khai thác khoảng 250.000m3/ngày
Do Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở phần hạ lưu của lưu vực sông Ðồng Nai nên
chất lượng nguồn nước mặt bị ảnh rất lớn của hoạt động kinh tế ở thượng nguồn, do
khu vực khai thác nằm ngoài địa phận nên khó kiểm soát chất lượng nước và phụ
thuộc vào địa phương bạn về bảo vệ nguồn nước
Bảng 2: Thống kê lưu lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt (Đvt: m 3 )
Thời gian Trước 1950 1960 1996 1998 1999 Hiện nay
Q khai thác 80.000 130.000 357.628 475.492 524.456 600.000
- Hệ thống quan trắc:
Từ năm 1993, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường nước mặt và thủy văn
được thiết lập bao gồm 8 trạm Phú Cường, Bình Phước, Phú An (sông Sài Gòn), Hoá
An (Đồng Nai), Nhà Bè, Bình Điền, Tam Thôn Hiệp và Lý Nhơn Đến năm 2001, hệ
thống quan trắc chất lượng môi trường nước của TP.HCM bổ sung 10 trạm quan trắc
chất lượng của các kênh rạch chính trong nội thành gồm: Nhiêu Lộc - Thị Nghè (tại
cầu Lê Văn Sỹ, cầu Điện Biên Phủ), Bến Nghé - Tàu Hủ – Đôi - Tẻ (cầu Chà Và, cầu
Nhị Thiên Đường, bến Phú Định, rạch Ruột Ngựa), Tân Hoá - Lò Gốm (cầu Ông
Buông, Hoà Bình) và Tham Lương - Bến Cát (cầu Tham Lương, cầu An Lộc) với tần
suất 02 lần trong năm vào mùa khô (tháng 4) và mùa mưa (tháng 9)
Hệ thống quan trắc chất lượng nước dưới đất bắt đầu hoạt động từ năm 2001
gồm 11 trạm Các thông số đo đạc gồm pH, T0C, EC, TDS, Cl-, NO3-, NH4+, TOC,
kim loại nặng (Pb, Cu, Zn, Ni, Cr, Cd, Hg, Al, Fe, As), tổng Phospho và tổng Coliform
Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2004 cho thấy chất lượng nước tại trạm
Hoá An (sông Đồng Nai) bị ô nhiễm hữu cơ, dầu và vi sinh; chất lượng nước tại trạm
Phú Cường (sông Sài Gòn) bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh; chất lượng nước tại các trạm
Trang 30Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 19
khu vực Nhà Bè và Cần Giờ đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước loại B, tuy
nhiên đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, dầu và vi sinh Chất lượng nước khu vực Cần
Giờ đang bị ảnh hưởng bởi dòng nước bẩn từ sông Thị Vải
Một số kênh rạch tại Thành phố bị ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và vi sinh, mùa
khô ô nhiễm nặng hơn mùa mưa do khả năng tự làm sạch của thủy vực trong mùa mưa
tốt hơn (nồng độ BOD5 ở kênh rạch nội thành TP.HCM vượt tiêu chuẩn cho phép đối
với nước mặt loại B TCVN 5942 – 1995 từ 6,2 – 12,1 lần; nồng độ Coliform tại các
trạm quan trắc vượt tiêu chuẩn cho phép đối với nước mặt loại B khoảng từ 50 – 1.000 lần)
- Nước dưới đất:
Thành phố Hồ Chí Minh có 3 tầng chứa nước chính là tầng Pleistocen Q I-II,
Pliocentrei N22 và Pliocen dưới N21 Khoảng phân nửa diện tích thành phố nước dưới
đất lại mặn, ranh mặn hình vòng cung nằm ở phía Nam đi qua các huyện Bình Chánh,
quận Bình Tân, 2, 9 Tổng trữ lượng của tầng chứa nước khoảng 600.000 m/3ngày
Nguồn nước dưới đất chưa được bảo vệ và khai thác một cách hợp lý Thể hiện
ở chỗ việc khai thác nước dưới đất một cách bừa bãi, các giếng khai thác lại quá tập
trung một khu vực, nhiều giếng kết cấu không đảm bảo việc cách ly chống ô nhiễm do
thông tầng Công tác quản lý nguồn nước dưới đất đã được quan tâm từ lâu, song việc
đầu tư cho công tác quản lý vừa thiếu lại vừa yếu
Do còn một số những bất cập trên, nguồn nước dưới đất đang bị ô nhiễm cả về
quy mô và độ ô nhiễm, nhất là đối với tầng chứa nước gần mặt đất Mực nước đang
cạn kiệt, nhiều nơi mực nước đã hạ thấp đến trên 30 m so với mặt đất và xu hướng này
vẫn đang tiếp diễn với tốc độ từ 2 – 3 m/năm Chính sự hạ thấp mực nước lớn như vậy,
hiện tượng xâm nhập mặn đã và đang xảy ra khu vực phía Tây, Tây Nam thành phố
đối với các tầng chứa nước Pliocen trên và dưới Trong vùng phễu hạ thấp mực nước
hiện tượng trồi ống chống các giếng khoan đã và đang xảy ra
- Chất lượng nước dưới đất tầng nông đang ở mức báo động, bị ô nhiễm hữu cơ,
ô nhiễm vi sinh và nhiễm mặn ở một số khu vực Kết quả quan trắc chất lượng nước
dưới đất trong 6 tháng đầu năm cho thấy giá trị pH tại các trạm dao động từ 4,4 – 6,8;
đa số các mẫu đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước dưới đất (TCVN 5994-1995:
pH: 6,5 – 8,5); tổng cacbon hữu cơ dao động từ 0,6 – 89,8 mg/l, thấp hơn so với
khuyến cáo (nồng độ cacbon hữu cơ phải nhỏ hơn 2 mg/l)
b/ Môi trường đất
Nhìn chung tình trạng thoái hoá đất ở Thành phố diễn ra khá phổ biến Đất bị
thoái hoá dưới các hình thức: Nhiễm mặn (Cần Giờ); nhiễm phèn (phía Nam huyện
Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và Bắc Cần Giờ); xói mòn rửa trôi
bề mặt ở các vùng có địa hình cao và dốc (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn); sụt lún đất
(Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn, Tân Bình, Quận 3, Quận 10); lầy hoá (Nhà Bè, Thủ Đức,
Quận 8, Bình Chánh), xói lở bờ sông (ở một phần kênh rạch Nhà Bè)
Ngoài ra, môi trường đất còn bị ô nhiễm khá nặng do :
+ Các nguồn thuốc bảo vệ thực vật : Các quan trắc trong đề án phân tích môi
trường đất cho thấy các vùng trồng rau là một trong những trọng điểm sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật nhiều Riêng tại Hóc Môn, ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, bình quân
một vụ rau được phun thuốc bảo vệ thực vật từ 10 đến 25 lần Lượng thuốc sử dụng
cho 1 ha trong một năm có thể đạt tới 100 thậm chí 150 lít
Trang 31Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Kết quả phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại một số điểm trong đợt quan
trắc tháng 7 năm 1996 đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong tầng đất mặt
tại 5 trong số 8 điểm quan trắc với hàm lượng từ 0,4 - 0,9 mg/kg, vượt quá Tiêu chuẩn
Việt Nam (TCVN-1995)
Trong các đợt phân tích hoàn toàn không phát hiện được dư lượng các nhóm
thuốc khác mặc dù lượng sử dụng có thể đạt tới 50 - 100 lít thuốc thương phẩm trên
một ha Kết quả trên đây cho thấy hiện tượng ô nhiễm đất do thuốc bảo vệ thực vật
mang tính tạm thời
+ Do chất thải đô thị : Song song với quá trình đô thị hoá, lượng rác thải hữu cơ
đang có xu hướng ngày càng tăng lên Theo số liệu thống kê Thành phố Hồ Chí Minh
bình quân hàng năm có khoảng 6 triệu tấn rác thải, trong đó có khoảng hơn 4,5 triệu
tấn rác thải sinh hoạt gồm phần lớn rác từ thực phẩm Nếu có quy trình công nghệ
chọn lọc và xử lý tốt thì lượng phế thải này có thể trở thành một nguồn phân hữu cơ
quý góp phần cải tạo đất
Theo số liệu điều tra tại địa bàn quan trắc thuộc xã Xuân Thới Thượng - Hóc
Môn cho thấy bình quân mỗi vụ rau một ha đất gieo trồng có thể được bón từ 25 đến
80 tấn rác tươi Dưới góc độ nông hoá học, không thể phủ nhận vai trò tích cực của
hữu cơ trong việc cải tạo đất Tuy nhiên, dưới góc độ môi trường, bên cạnh những ưu
điểm, việc dùng phế thải đô thị thay thế phân hữu cơ không qua xử lý chọn lọc có thể
gây ảnh hưởng đến môi trường đất
Tại các điểm quan trắc đã được xác lập từ năm 1996, kết quả quan trắc đến nay
cho thấy vấn đề ô nhiễm một số kim loại nặng gây độc và vi sinh vật gây bệnh thật sự
đã và đang còn tồn tại trong đất mặc dù từ năm 2000 đất tại vùng quan trắc không còn
được bón phân rác do chính quyền đã nghiêm cấm Kết quả quan trắc năm 2002 cho
thấy hàm lượng Cu, Cr, Cd ở tầng đất mặt cao gần hoặc vượt mức báo động; mật độ
Coliform dao động trong khoảng 132 - 170 MPN/g đất khô
+ Ô nhiễm kim loại nặng tại vùng chịu ảnh hưởng của nước thải công nghiệp và đô thị
Nước thải công nghiệp và đô thị cũng là một trong những nguyên nhân quan
trọng gây ô nhiễm môi trường đất Môi trường đất tại một số khu vực sản xuất nông
nghiệp bị ô nhiễm bởi nước thải sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và bùn
thải của các cống rãnh đô thị Kết quả phân tích các mẫu bùn lắng trong hệ thống sông,
kênh rạch và các mẫu đất tại các vùng ven, khu vực sản xuất nông nghiệp cho thấy môi
trường đất bị ô nhiễm dầu và ô nhiễm kim lọai nặng
Thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày các khu công nghiệp đã thải ra hơn 600
ngàn m3 nước thải với mức độ ô nhiễm khác nhau Nước thải có thể xâm nhập vào đất
trực tiếp do các cống thải bị vỡ thông qua hệ thống kênh rạch Kết quả quan trắc ở
vùng đất trong khu vực thuộc 2 huyện Nhà Bè và Bình Chánh là vùng đất chịu ảnh
hưởng trực tiếp của nước thải do các hoạt động công nghiệp và sinh hoạt từ các quận
nội thành (Quận 5, 6, 7, 11, Tân Bình) qua hệ thống kênh Tân Hoá - Lò Gốm tiếp nối
với kênh Tàu Hủ, kênh Đôi, kênh Tẻ, kênh Bến Nghé và các hệ thống rạch nhỏ chằng
chịt trong toàn bộ khu vực quan trắc (rạch Ông Lớn, Xóm Củi, Bà Lào )
Kết quả điều tra, quan trắc cho thấy do bị ảnh hưởng của nước thải, việc ô nhiễm
môi trường đất ở vùng quan trắc đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng
nông sản, vì vậy đến năm 2002 hầu hết diện tích đất trong vùng quan trắc đều bị bỏ
hoang Kết quả phân tích mẫu đất, nước tại 4 điểm quan trắc cho thấy có sự tích luỹ
Trang 32Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 21
một số kim loại nặng như Pb, Cd, Co, Cr gần bằng hoặc vượt ngưỡng cho phép Độ
dẫn điện trong đất (EC) trong tầng đất mặt khá cao đến mức có thể gây ảnh hưởng xấu
đến sự sinh trưởng của cây trồng
5/- Đánh giá chung những yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
tác động đến sản xuất và sự phát triển của Nông nghiệp
a/ Những thuận lợi, lợi thế :
- Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm của khu vực Nam Bộ, nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực kinh tế phát triển khá năng động với hệ thống
cơ sở hạ tầng phát triển khá đầu đủ, tiềm năng đất, nước đa dạng và phong phú, có
điều kiện để phát triển nông nghiệp thành phố theo hướng hiện đại, bền vững, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao theo đặc thù nông nghiệp đô thị
- Hệ thống sông, kênh rạch tự nhiên phong phú phân bổ khá đều ở các huyện,
nhất là ở huyện Cần Giờ và Nhà Bè, góp phần làm giàu cảnh quan và thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng
- Địa hình, địa mạo tương đối bằng phẳng, hiện diện nhiều loại đất ( phù sa, cát,
mặn, phèn ) tạo điều kiện cho đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi
- Đặc điểm khí hậu ôn hoà, ít chịu thiên tai lũ lụt của Thành phố là môi trường
thuận lợi cho các loài sinh vật sinh trưởng và phát triển
b/ Những khó khăn, hạn chế :
- Lượng mưa phân bố không đều trong các mùa (tập trung từ tháng 05 đến tháng
10 hàng năm) đã ảnh hưởng lớn đến lưu lượng dòng chảy, xâm nhập mặn gây khó
khăn trong công tác điều tiết nước tưới tiêu phục vụ trong sản xuất nông nghiệp
- Phần diện tích thấp, trũng có cao trình dưới 2 m và diện tích mặt nước chiếm
đến 61% diện tích tự nhiên của Thành phố và theo dự báo về ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu toàn cầu diện tích trũng thấp trên địa bàn so với mặt nước biển sẽ ngày càng
lớn hơn Trong khi hiện nay hệ thống thủy lợi và giao thông phục vụ sản xuất chưa
hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh đó nằm trong vùng có nền địa chất yếu nên việc đầu tư
xây dựng công trình hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất đòi hỏi chi phí khá cao
- Nhìn chung, đất cho sản xuất nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh thuộc
loại trung bình và xấu so với Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ Để
tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp lớn, cần phải có sự đầu tư, cải tạo đất, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với quá trình đô thị hóa
- Trong thời gian qua, tuy Thành phố rất quan tâm đến việc bảo vệ môi trường
với nhiều chương trình, dự án nghiên cứu, triển khai đánh giá tác động và đề xuất giải
pháp xử lý giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhưng nhìn chung mức độ ô nhiễm môi
trường vẫn còn ở mức khá cao có tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và
đời sống nhân dân
II.1.2 Điều kiện Kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp :
1/- Dân số và tỷ lệ tăng dân số :
Trang 33Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Bảng 3 : Dân số và lao động thành phố Hồ Chí Minh qua các năm
Dân số Nông nghiệp 330.668 249.502 250.556 238.127
Dân số Phi Nông nghiệp 4.918.033 5.990.436 6.173.963 6.412.815
Mật độ Dân số (người/km 2 ) 2.404 2.920 3.175 3.250
Dân Số lao động(1.000người) 2.972 2.586 4.570 4.679
Dân số nhóm 16-19 tuổi (%) 74,3 72,4 70,7
Dân số nhóm 40-60 tuổi (%) 25,7 27,7 28,9
(Nguồn : Niên giám thống kê 2007 Thành phố Hồ Chí Minh)
Năm 2007, dân số thành phố Hồ Chí Minh ( nguồn : niêm giám thống kê 2007)
là 6.650.942 người (chiếm 7,5% dân số cả nước); đến năm 2008 là 6.810.461 người,
trong đó, dân số 5 huyện ngoại thành là 1.144.743 người, chiếm 16,81% tổng dân số
của thành phố, tỷ lệ tăng cơ học lớn do di dân từ các nội thành và lao động từ các tỉnh
thành khác đến tìm kiếm việc làm
Dân số Nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp 3,7% (238.127 người )và dân số phi nông
nghiệp chiếm đa số với 96,3% ( 6.412.815 người)
Mật độ dân số bình quân thành phố là 3.250 người/km2 (các quận 11.474
người/km2 và các huyện ngoại thành 715 người/km2, chênh lệch nhau 16 lần)
Tỷ lệ tăng dân số tăng khá ổn định với tỷ lệ bình quân :
+ Giai đoạn 1996 - 2000 là 2,50%/năm
+ Tăng cao trong giai đoạn 2001 - 2005 là 3,52%/năm
+ Giai đoạn 2006 - 2007 là 3,24%/năm
Nguyên nhân là do giai đoạn 2001 - 2007 Kinh tế - Xã hội của Thành phố có sự
tăng trưởng nhanh, các khu cụm công nghiệp, khu chế xuất và các công trình thương
mại xây dựng, mở rộng phát triển đã thu hút lượng lớn dân số lao động các địa phương
khác chuyển về Thành phố
Theo số liệu thống kê, dân số của Thành phố có xu hướng giảm ở các quận trung
tâm, nội thành; tăng nhiều ở các quận mới; tăng chậm ở các quận ven và các huyện
Năm 2000, dân số tại khu vực nội thành cũ ( 13 quận kể cả quận Tân Phú tách ra từ
quận Tân Bình) chiếm khoảng 67,18% tổng dân số thành phố, đến năm 2008 tỷ lệ này
giảm còn 57,6%; dân số 06 quận mới chiếm năm 2007 chiếm 14,69% tổng dân số
thành phố, đến năm 2008 tỷ lệ này tăng lên 22,6% Đây là kết quả trong việc thực hiện
chủ trương giãn dân của Thành phố trong những năm qua
Trang 34Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 23
2/- Lao động, việc làm và thu nhập
a/ Lao động và việc làm
Năm 2008, dân số trong độ tuổi lao động của thành phố Hồ Chí Minh là
4.678.780 người, chiếm 68,7% tổng dân số toàn thành phố Dân số trong độ tuổi lao
động tập trung chủ yếu ở thành thị với số lượng 3.884.383 người, chiếm 85% dân số
trong độ tuổi lao động của thành phố
Hình 5 : Biểu đồ cơ cấu lao động thành phố Hồ Chí Minh
Cơ cấu lao động nông thôn ngoại thành có sự chuyển dịch khá nhanh sang các
ngành công nghiệp (35%) và dịch vụ (60%) Lao động nông nghiệp năm 2008 là
143.620 lao động ( chiếm 57% nhân khẩu nông nghiệp và chỉ chiếm 5% tổng số lao
động trên địa bàn thành phố) Trong 10 năm qua có khoảng 32% dân số ở nông thôn (
tương ứng khoảng 230.000 người) chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang các
ngành nghề phi nông nghiệp
Độ tuổi lao động : nhóm trẻ (16-19 tuổi) ngày càng có khuynh hướng thoát ly
khỏi sản xuất nông nghiệp chuyển sang các lĩnh vực phi nông nghiệp ( năm 2000
nhóm này có tỷ lệ 74,3%, năm 2005 là 72,4%, 2006 là 70,7%) trái lại nhóm từ 40-60
tuổi ngày một tăng (tỷ lệ 2000 là 25,7%, năm 2005 là 27,7%, năm 2006 là 28,9%)
Thực hiện Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg (18/04/2005) về hỗ trợ dạy nghề
ngắn hạn cho lao động nông thôn, trong 3 năm (2006-2008) Trung tâm dạy nghề các
huyện thu hút và đào tạo trên 2.800 lượt học viên tham dự các chuyên ngành : tin học,
cơ điện lạnh, may công nghiệp, nông nghiệp Số lao động được giải quyết việc làm ở
5 huyện ngoại thành tăng dần, từ 20.140 người ( 2000), chiếm 12,7% số lao động được
giải quyết việc làm trên toàn Thành phố; đến năm 2008 có 38.890 người , chiếm 14%
số lao động được giải quyết việc làm của toàn thành phố (là 277.837 người)
Lao động nông nghiệp có xu thế ngày một già đi do thanh niên nông thôn chọn
ngành nghề phi nông nghiệp tại các khu, cụm công nghiệp
b/Thu nhập và đời sống dân cư :
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện
Theo kết quả thực hiện Nghị Quyết Đại hộ Đảng bộ lần thứ VIII giữa nhiệm kỳ, GDP
bình quân đầu người của thành phố năm 2006 là 1.854USD và năm 2007 là 2.135
USD ( giá cố định năm 1994); trong đó GDP khu vực nông nghiệp năm 2007 là 914
USD/người/năm ( bằng 40% bình quân chung) và đến năm 2008 là 2.534 USD
Trang 35Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Theo phong tục tập quán lâu đời của người dân vùng sông nước Nam bộ, ngoại
trừ khu vực nội thành và đô thị, các khu vực nông thôn ngoại thành người dân vẫn sinh
sống rải rác theo các tuyến kênh rạch và trục lộ giao thông
Hiện tập quán canh tác nhỏ lẻ theo hộ gia đình còn phổ biến; đa số người dân
khu vực nông thôn còn quan điểm sản xuất và bán những sản phẩm mình có, ít tiếp cận
những thông tin thị trường và thị hiếu người tiêu dùng để kịp thời sản xuất các sản
phẩm hàng hoá có giá trị cao
Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả hết sức tích cực khả
quan, đến cuối năm 2008, số hộ nghèo thành phố giảm còn 0,6%/tổng số hộ dân ( thu
nhập bình quân dưới 6,0 triệu đồng/năm) Nếu theo tiêu chí mới thu nhập bình quân
dưới 12 triệu đồng/người/năm, 5 huyện ngoại thành có 74.187 hộ, chiếm 29,9% số hộ
ngoại thành, trong đó 65% là hộ nông dân (48.284 hộ)
3/- Cở sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất Nông nghiệp :
Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân là nhiệm vụ, là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự phát triển hài hòa của xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian gần đây, theo đánh giá chung đã đạt
được nhiều thành tựu nhất định trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật
phục vụ sản xuất nông nghiệp như:
- Từ năm 2002-2008 : tổng vốn ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn
8 quận huyện là 7.968,2 tỷ đồng, chiếm 14% tổng mức đầu tư trên địa bàn thành phố
Hoàn thành chương trình đầu tư hạ tầng cho 20 phường xã nghèo tại các huyện Bình
Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ và Quận 9
- Đến tháng 12/2008 toàn tỉnh đã có hơn 99% số xã có đường xe ôtô, đường tỉnh
đến trung tâm xã, hệ thống đường giao thông nội bộ xã, đường liên thôn, đường huyện
cũng đã được đầu tư nâng cấp láng nhựa, đặc biệt là đường liên xã, liên ấp hầu hết đã
được bê tông hóa Tại các quận huyện ngoại thành đường bêtông nhựa chiếm tỷ lệ
46%, đường bêtông ximăng chiếm 0,6%, đường đá nhựa chiếm 14,8%, đường cấp
phối chiếm 28,3%, đường đất 2,3% và các loại đường khác 8,1% trong tổng số đường
quận huyện quản lý
- Các dự án điện khí hóa nông thôn được quan tâm thực hiện; hầu hết các vùng
nông thôn điện quốc gia đã phủ kín
- Cơ sở y tế, khám chữa bệnh, trường học, nước sạch sinh hoạt đã được bố trí
kinh phí đầu tư xây dựng; đến nay vùng nông thôn ngoại thành đã có 96% số hộ sử
dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 17,4% hộ sử dụng nước máy, 78,4%
hộ sử dụng nước giếng khoan; đời sống văn hóa được quan tâm, an ninh trật tự được
giữ vững… đã góp phần thúc đẩy, phát triển nông thôn mới
- Đã có 95% Ủy ban nhân dân cấp xã đã kết nối internet; Việc ứng dụng công
nghệ thông tin về quản lý hành chính đã được triển khai đến các huyện, năm 2008 thí
điểm triển khai đến cấp xã
Trang 36Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 25
4/- Các hình thức tổ chức sản xuất Nông nghiệp :
- Đến năm 2008, thành phố có 46 hợp tác xã nông nghiệp (tăng 22 HTX so với
năm 1996) và 225 tổ hợp tác, đăng ký hoạt động trong nhiều ngành nghề phục vụ cho
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ phục vụ đời sống xã viên
- Số trang trại có 2.300, tăng gấp 10 lần so với đầu năm 2000, trong đó thủy sản
và chăn nuôi chiếm tỷ lệ cao (64% và 25%) Diện tích đất bình quân mỗi trang trại là 2,7
ha; giải quyết gần 7.000 lao động thường xuyên cho khu vực nông thôn ngoại thành
II.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2000-2008 :
II.2.1 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Hồ Chí Minh (bảng 4, bảng 5 và hình 6)
Theo kết quả tổng hợp từ các quận huyện thì năm 2008, Tổng diện tích tổng
diện tích tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh là 209.554,7652 ha, chiếm 8,90% diện tích
tự nhiên vùng Ðông Nam Bộ và 0,64% diện tích tự nhiên toàn quốc Trong số 24 quận,
huyện của Thành phố thì huyện Cần Giờ có diện tích tự nhiên lớn nhất 70.421,58 ha,
chiếm 33,61%; quận 4 có diện tích tự nhiên nhỏ nhất 417,08 ha, chiếm 0,20%
- Diện tích đất đang khai thác, sử dụng là 207.301,204 ha, bằng 98,93% diện tích
tự nhiên diện tích tự nhiên, gồm:
+ Ðất nông nghiệp: 121.313,02 ha, bằng 57,89% tổng diện tích đất tự nhiên
+ Ðất phi nông nghiệp: 85.988,19 ha, bằng 41,03% tổng diện tích đất tự nhiên
+ Ðất chưa sử dụng: 2.253,56 ha, bằng 1,08% tổng diện tích đất tự nhiên
- Các quận có diện tích 49.382,37 ha, bằng 23,57% diện tích tự nhiên toàn Thành phố
- Các huyện có diện tích 160.172,40 ha, bằng 76,43% diện tích tự nhiên toàn Thành phố
Qua bảng 5 (Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 phân theo quận, huyện) nhận
thấy trong tổng số 19 quận có 16 quận tỷ lệ đất đã đưa vào khai thác sử dụng cho các
mục đích kinh tế - xã hội đạt 100% diện tích tự nhiên của quận Kết quả trên phản ánh
mức độ sử dụng đất hợp lý và hiệu quả trong điều kiện đất đai ngày càng có giá trị,
quỹ đất có hạn mà nhu cầu của con người ngày càng lớn đặc biệt là đất ở và đất sản
xuất kinh doanh
Riêng Quận 9 đất chưa sử dụng còn 61,42 ha, thực chất là đất bỏ hoang Các
huyện đều còn đất chưa đưa vào sử dụng, tuy nhiên diện tích này nhỏ, chỉ chiếm
1,08% và tập trung ở các huyện Cần Giờ (chiếm 1,63% diện tích tự nhiên); huyện Củ
Chi (1,48%); huyện Bình Chánh (1,17%)
Trang 37Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Bảng 4 : Hiện trạng sử dụng đất TP.HCM năm 2008
Đơn vị tính : ha
Toàn thành phố
Cơ cấu theo nhóm đất
Cơ cấu theo Tổng DT
tự nhiên TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN 209554.7652 100,00 100,00
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 403.6841 0,47 0,19
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 905.7765 1,05 0,43
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 32722.9399 38,06 15,63
2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 145.6426 0,16 0,07
3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 2245.0511 99,62 1,07
4.1 Đất có mặt nước ven biển nuôi trồng thủy sản
4.2 Đất có mặt nước ven biển có rừng
4.3 Đất có mặt nước ven biển có mục đích khác
(Nguồn : Sở TNMT TP.HCM năm 2008)
Hình 6 : Diện tích, cơ cấu sử dụng đất năm 2008 TP.HCM
§Êt cha SD 1%
§Êt n«ng ng hiÖp
5 8%
§Êt phi n«ng ngh iÖp 41%
Trang 38Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Bảng 5: Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 phân theo quận, huyện
Diện tích
% so với
DT TN của quận, huyện
Diện tích
% so với
DT TN của quận, huyện
Trang 39Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
II.2.2 Tình hình biến động đất thành phố Hồ Chí Minh : ( Bảng 6 và hình 7)
Tổng diện tích tự nhiên năm 2008 tăng so với năm 2000 là 52,94 ha
Diện tích đất nông nghiệp năm 2008 giảm so với năm 2000 là 9.406,90 ha
Trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp giảm 15.888,29 ha;
+ Đất làm muối giảm 586,13 ha
Tuy nhiên bên cạnh đó :
+ Đất lâm nghiệp tăng 892,15 ha;
+ Đất nông nghiệp khác tăng 467,46 ha;
+ Tăng nhiều nhất là đất nuôi trồng thủy sản 5.707,10 ha
So sánh diện tích đất phi nông nghiệp năm 2008 và năm 2000, tăng 11.693,97 ha
Trong đó :
+ Đất ở tăng 4.489,69 ha;
+ Đất chuyên dùng tăng 9.609,87 ha;
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng theo thống kê năm 2008 là 403,68 ha, thực tế diện
tích này thời gian qua ít biến động, năm 2000 diện tích này thống kê vào diện tích đất
chuyên dùng khác, nay tách thành chỉ tiêu riêng để theo dõi;
+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng giảm 2.862,82 ha;
+ Đất phi nông nghiệp khác tăng 145,64 ha
Diện tích đất chưa sử dụng năm 2008 so với năm 2000 giảm 2.150,82 ha, do
chuyển sang sử dụng vào các mục đích trồng cỏ, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy
sản, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất có mục đích công cộn
Trang 40Ngành Quản Lý Đất Đai Lê Trương Tường Vy
Trang 27
0 50000 100000 150000 200000 250000
Di?n tích t?
nhiên
Đ?t nông nghi?p
Đ?t phi nông nghi?p
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 400,32 403,68 400,32 3,36 403,68
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 997,87 924,57 905,78 -73,30 -18,79 -92,09