Ở phạm vi cấp huyện, ngân sách địa phương tồn tại như một tất yếu khách quan, là công cụ để cấp chính quyền thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội được phân công quản lý.. Một số nghiên
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 9
1.1 KHÁI NIỆM CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 9
1.1.1 Một số khái niệm 9
1.1.2 Ý nghĩa và vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước: 19
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 22 1.2.1 Lập dự toán chi ngân sách cấp huyện 22
1.2.2 Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cấp huyện 25
1.2.3 Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện 26
1.2.4 Quyết toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện 30
1.2.5 Thanh tra, kiểm tra công tác chi NSNN cấp huyện 31
1.2.6 Xử lý vi phạm trong công tác chi ngân sách nhà nước 33
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN 33
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 33
1.3.2 Điều kiện kinh tế 34
1.3.4 Các nhân tố khác 35
Trang 5SÁCH THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 42
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 42
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 42
2.1.2 Đặc điểm kinh tế 44
2.1.3 Đặc điểm xã hội 49
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 52
2.2.1 Công tác lập dự toán chi ngân sách tại thị xã Điện Bàn 52
2.2.2 Công tác phân bổ, giao dự toán chi ngân sách thị xã Điện Bàn 56
2.2.3 Công tác chấp hành dự toán chi ngân sách tại thị xã Điện Bàn 58
2.2.4 Công tác quyết toán chi ngân sách tại thị xã Điện Bàn 65
2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra 67
2.2.6 Xử lý vi phạm trong công tác chi NSNN 70
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 71
2.3.1 Những thành công trong công tác quản lý chi NSNN 71
2.3.2 Những hạn chế tồn tại trong công tác quản lý chi NSNN 76
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 87
3.1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TRONG THỜI GIAN TỚI 87
Trang 6Quảng Nam trong thời gian tới 88
3.1.3 Định hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 89
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 90
3.2.1 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi ngân sách trên địa bàn thị xã90 3.2.2 Hoàn thiện công tác phân bổ và giao dự toán chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã 91
3.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác chấp hành dự toán ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã 93
3.2.4 Chú trọng công tác quyết toán ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã 97
3.2.5 Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác chi NSNN và xử lý vi phạm trong công tác chi NSNN 98
3.2.6 Các giải pháp khác 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 109
KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đặng Thị Kiều Trinh
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
2.9
Tổng hợp tình hình chấp hành dự toán chi đầu tƣ từ
nguồn NSNN tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 2012 –
2016
60
Trang 10Số hiệu
2.14
Tình hình thanh tra, kiểm tra công tác quản lý chi
NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn giai đoạn 2012 –
2016
69
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo,
là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Đồng thời, Ngân sách Nhà nước còn là công cụ tài chính của Nhà nước
để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia Ở phạm vi cấp huyện, ngân sách địa phương tồn tại như một tất yếu khách quan, là công cụ để cấp chính quyền thực hiện các nhiệm vụ kinh
tế - xã hội được phân công quản lý
Thị xã Điện Bàn là địa bàn có tiềm năng phát triển kinh tế, có vị trí địa lý
- kinh tế đặc biệt quan trọng của tỉnh Quảng Nam, là vùng giao thoa giữa thành phố Đà Nẵng và thành phố Hội An, hai trung tâm Đô thị lớn, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội Với lợi thế đó, thị xã Điện Bàn – một trong những đơn vị ngân sách lớn của tỉnh Quảng Nam – như mọi địa phương khác trên địa bàn tỉnh và cả nước đang dần thay da đổi thịt nhờ nguồn vốn đáng kể
từ Ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách trên địa bàn bàn năm 2016 đạt 1.046,165 tỷ đồng, tổng chi ngân sách thực hiện 1.016,906 tỷ đồng là con số không hề nhỏ đối với một đơn vị ngân sách cấp huyện Do đó, công tác quản
lý chi ngân sách được luôn được quan tâm, chú trọng để phát huy tính hiệu quả của Ngân sách nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương thông qua kênh đầu tư, đảm bảo hoạt động thường xuyên của Bộ máy chính quyền, đồng thời ngày càng nâng cao chất lượng đời sống nhân dân thông qua đầu tư cho giáo dục, y tế, an sinh xã hội
Mặc dù thời gian qua thị xã Điện Bàn được đánh giá là đã có bước chuyển biến tích cực, song chưa thể khẳng định được rằng đổi mới quản lý chi NSNN là những cải cách có tính hệ thống và hiệu quả Công tác quản lý chi NSNN thị xã Điện Bàn hiện nay hiệu quả chưa cao Các đơn vị dự toán
Trang 13NSNN gò bó vào chính sách chế độ, tiêu chuẩn định mức nhưng lại không bị ràng buộc về hiệu quả sử dụng ngân sách được giao Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để
nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế với mong muốn góp phần để xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác
quản lý Ngân sách nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, luận văn đánh giá, phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn
2012 – 2016, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước trong thời gian tới nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đạt hiệu quả ngày càng cao
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thện và tăng cường công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chi ngân sách nhà nước và việc quản lý chi NSNN trên địa bàn thị xã Điện
Trang 14Bàn, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung: Nghiên cứu những vấn đề ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NSNN
+ Không gian: Các nội dung trên được tiến hành nghiên cứu trên phạm
vi thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
+ Thời gian : Trên cơ sở nghiên cứu công tác quản lý chi NSNN từ năm
2012 – 2016, tác giả đưa ra các đề xuất trong luận văn có ý nghĩa từ nay đến năm 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: Hệ thống hoá những vấn đề chung về ngân
sách nhà nước, công tác chi ngân sách nhà nước, những căn cứ lý thuyết và thực tiễn về công tác quản lý chi ngân sách cấp huyện trong điều kiện hiện nay
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các số liệu thống kê để phân
tích, so sánh nhằm đề xuất những kết luận về định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn
- Phương pháp so sánh: Từng con số đơn lẻ hầu như không có ý nghĩa
trong việc đánh giá một vấn đề Chính vì vậy, phương pháp so sánh được tác giả sử dụng nhiều khi phân tích thực trạng công tác quản lý chi NSNN Các dạng so sánh được sự dụng trong luận văn là:
+ So sánh bằng số tuyệt đối: Dựa trên hiệu số giữa chỉ tiêu kỳ phân tích
và chỉ tiêu kỳ gốc để thấy sự biến động về quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu + So sánh bằng số tương đối: Dựa trên tỷ lệ (%) giữa chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để biết mức độ hoàn thành
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, viết tắt, …
Trang 15luận văn gồm có 03 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại thị xã Điện Bàn trong thời gian tới
6 Tổng quan nghiên cứu
Ngân sách nhà nước (NSNN) là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, đồng thời là phương tiện vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình Trong môi trường kinh tế thị trường như hiện nay, NSNN còn có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Chính vì lẽ đó, việc phân bổ và sử dụng NSNN như thế nào
để mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội luôn thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý qua nhiều thời kỳ.Vì vậy, ngân sách nhà nước và quản
lý chi NSNN là vấn đề được nhiều người quan tâm và nghiên cứu, điển hình trong những năm gần đây có một số các nghiên cứu như sau:
Era Babla - Norris, Jim Brumby, Annette Kyobe, Zac Mills và Chris Pagageorgiou (2011), “Investing in Public Investment An Index of Public Investment Efficiency”, IMF Công trình nghiên cứu này đã đề xuất một số chỉ số mới bao quát toàn bộ quá trình quản lý đầu tư công qua 04 giai đoạn: Thẩm định dự án, lựa chọn dự án, thực hiện đầu tư và đánh giá đầu tư Công trình nghiên cứu được dựa trên sự khảo sát của 71 nước, trong đó có 40 nước
có thu nhập thấp, 31 nước có thu nhập trung bình Những chỉ số này cho phép đánh giá, so sánh các khu vực, các quốc gia có chính sách tương tự với nhau, đặc biệt là những nơi mà nỗ lực cải cách trong đầu tư công được ưu tiên Tuy nhiên, nghiên cứu này cho phép ứng dụng khảo sát và đánh giá trên phạm vi
Trang 16toàn quốc gia, còn trong phạm vi đầu tư công ở một bộ, ngành và địa phương chỉ ứng dụng được một số chỉ tiêu được đề cập trong nghiên cứu
Vũ Thành Tự Anh (2012), “Quản lý và phân cấp quản lý đầu tư công: Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế”, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Cách tiếp cận của bài viết này là so sánh thực trạng của quản lý đầu tư công ở Việt Nam với chuẩn mực quản lý đầu tư công lý tưởng (được tổng kết từ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế), để từ đó tìm ra những hạn chế trong quản lý đầu tư công ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị chính sách thích hợp
Hoàng Văn Thành (2005), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư từ NSNN”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Đề tài tập trung đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư từ NSNN, bao gồm các giải pháp như: (1) Nhóm giải pháp tài chính; (2) Nhóm giải pháp về con người; (3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách quản lý đầu
tư từ NSNN; (4) Nhóm giải pháp khác Tuy nhiên, các giải pháp này còn chung cho toàn bộ hoạt động quản lý dự án đầu tư từ vốn NSNN mà chưa cụ thể đối với địa phương hay bộ ngành trong quá trình triển khai thực hiện Các tài liệu do Nhà nước ban hành, các sách, giáo trình, bài giảng là những nghiên cứu chính thống, cơ sở nền tảng để xây dựng lý luận và định hướng cho đề tài: Hồ Xuân Phương và Lê Văn Ái (2000), “ Quản lý Tài chính Nhà nước”, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, Trần Đình Ty (2005), “ Đổi mới
cơ chế quản lý đầu tư từ nguồn Ngân sách Nhà nước”, Nhà xuất bản Lao động, Đặng Văn Du (2010), “ Quản lý chi Ngân sách nhà nước”, Nhà xuất bản Tài chính Khoa Kinh tế (2016), “Bài giảng Quản lý nhà nước về kinh tế”, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, tài liệu lưu hành nội bộ; bài giảng cung cấp những kiến thức lý luận cơ bản, có tính hệ thống về việc Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân Các công trình này nghiên cứu về quản lý
Trang 17nhà nước đối với Tài chính, Ngân sách Nhà nước theo góc độ giáo trình để phục vụ hoạt động giảng dạy trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nên đề cập nội dung này khá toàn diện
Một số nghiên cứu về tổng kết lý luận và thực tiễn quá trình hoàn thiện
công tác quản lý Ngân sách Việt Nam qua các thời kỳ như Phân tích cơ cấu chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam (Anh, 2011), Vận dụng kinh nghiệm quốc tế và lý thuyết quản trị chi tiêu chính phủ vào kế toán ngân sách tại Việt Nam (Huy, 2015), Hiệu quả sử dụng Ngân sách nhà nước của địa phương qua góc nhìn Kiểm toán Nhà nước (Tạp chí Tài chính số 10 kỳ 2- 2015), … các nghiên cứu này chỉ ra mỗi quan hệ giữa chi tiêu Chính phủ và
tăng trưởng kinh tế đối với quốc gia cụ thể là Việt Nam, đề ra các nhóm giải pháp Việt Nam có thể nghiên cứu, áp dụng trong việc quản trị chi tiêu công tại quốc gia mình nói riêng và ổn định nền kinh tế vĩ mô trong thời gian dài cũng như đạt được tính bền vững
Các bài báo như “Một số vấn đề pháp lý về phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Lê Thị Thu Thuỷ đăng trên Tạp chí Khoa học – Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Luật học
số (2010) Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả trên cơ sở nghiên
cứu thực trạng pháp luật về phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước, từ đó đưa
ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về lĩnh vực nghiên cứu Có hai kiến nghị được chú ý trong nghiên cứu của tác giả cần lưu ý: Một là, kiến nghị bổ sung luật và các văn bản hướng dẫn luật theo hướng tăng quyền chủ động về quản lý NSNN cho địa phương; hai là, kiến nghị thời hạn NSNN là trung hạn (5 năm) thay vì một năm như hiện nay đang quy định
Bài báo về “Tác động của chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế địa phương: Nghiên cứu trường hợp của các tỉnh thành phía Nam” của tác giả Mai Đình Lâm đăng trên Tạp chí Ngân sách và Tăng trưởng ngày 15/8/2015 cho thấy
Trang 18chi ngân sách có tác động dương lên tăng trưởng kinh tế khi phân tích thành chi thường xuyên và chi đầu tư, nghiên cứu cho thấy hiệu ứng dương của chi thường xuyên lên tăng trưởng, tuy nhiên, chưa tìm thấy mối quan hệ giữa chi
đầu tư và tăng trưởng kinh tế địa phương
Các nghiên cứu về công tác Quản lý Ngân sách nhà nước trên lĩnh vực
tài chính ngân sách tại nhiều tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước như Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, Hoàn thiện công tác quản l chi ngân sách tại huyện Ph Ninh tỉnh uảng Nam … và nhiều bài báo, đề tài khác nữa nghiên cứu về công tác
quản lý chi NSNN trên địa bàn nhiều địa phương trên cả nước
Tuy có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề chi NSNN và quản lý chi NSNN từ trung ương đến địa phương, ở nhiều tỉnh thành, quận huyện trên cả nước, luận văn của tác giả đề cập đến công tác quản
lý chi NSNN tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đây là đề tài chưa được nghiên cứu và phân tích một cách có hệ thống Vì vậy, luận văn của tác giải phân tích các khía cạnh: thu thập dữ liệu sơ cấp, phân tích liên quan đến việc thực hiện, cơ cấu, kết quả, hiệu quả và đánh giá quá trình quản lý chi NSNN tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 2012 – 2016 bằng phương pháp vừa thu thập số liệu vừa đánh giá dựa trên kết quả khảo sát trực tiếp Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý, sử dụng NSNN trong những năm gần đây tại địa phương và cơ sở pháp luật là Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (được áp dụng từ năm ngân sách 2017), tác giả sẽ nghiên cứu để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước từ góc độ hoàn thiện hệ thống văn bản thực thi pháp luật, cơ chế chính sách đặc thù địa phương và từ góc độ quản lý điều hành và tổ chức thực hiện
Trang 19Khoảng trống nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu, tác giả nhận thấy hầu hết các công trình nghiên cứu đều thừa nhận tầm quan trọng của công tác quản lý chi NSNN, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn chung chung, chưa cụ thể, và không gian nghiên cứu của mỗi tài liệu ở những địa phương khác nhau Đặc thù của mỗi tỉnh, huyện khác nhau nên việc áp dụng những nghiên cứu trên cho một địa phương khác sẽ không phù hợp Thị xã Điện Bàn là một đô thị trẻ, tiềm lực phát triển kinh tế đang rất mạnh, các hoạt động thu, chi NSNN, đặc biệt là chi NSNN diễn ra ngày càng nhiều Nhưng đến nay, thị xã vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập toàn diện và sâu sắc đến việc quản
lý, sử dụng NSNN trên địa bàn Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn – một địa phương trọng điểm về kinh tế, chính trị của tỉnh Quảng Nam
Trang 20CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 KHÁI NIỆM CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Một số khái niệm
a Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [23]
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân [10]
NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng.Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa
Trang 21NSNN
Thị trường tài chính
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa NSNN với các quan hệ kinh tế
Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách Ở nước ta bộ máy quản lý hành chính Nhà nước được tổ chức 4 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc TW; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó [7]
Trang 22Hình 1.2: Hệ thống Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam
b Chi Ngân sách nhà nước
- Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN
theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước [23]
Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng
Để đánh giá tính tích cực, tiến bộ của ngân sách một quốc gia người
ta thường xem xét đến cơ cấu nội dung chi của ngân sách quốc gia đó Cơ
Trang 23cấu chi ngân sách thường được hiểu là hệ thống các khoản chi ngân sách bao gồm các khoản chi và tỷ trọng của nó Nội dung cơ cấu chi NSNN là sự phản ảnh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước đó trong từng giai đoạn lịch sử và chịu sự chi phối của các nhân tố sau:
+ Chế độ chính trị xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nội dung,
cơ cấu chi ngân sách vì nó quyết định bản chất và nhiệm vụ KT-XH của Nhà nước
+ Sự phát triển của lực lượng sản xuất vì nó tạo khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi, vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định
+ Khả năng tích lũy của nền kinh tế: khả năng này càng lớn thì nguồn chi đầu tư phát triển kinh tế cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu chi thường xuyên tăng lên
+ Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ KT-XH mà
nó đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
- Đặc điểm chi ngân sách nhà nước
+ Chi NSNN gắn liền với các hoạt động của bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước
+ Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định nội dung, cơ cấu, quy mô và mức độ các khoản chi NSNN Chính vì vậy các khoản chi NSNN mang tính pháp lý cao
+ Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội và chính trị, ngoại giao Chính vì vậy, trong công tác quản lý tài chính một yêu cầu đặt ra là: khi xem xét, đánh giá về các khoản chi NSNN cần sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng, đồng thời phải có quan điểm toàn diện và đánh giá tác dụng, ảnh hưởng của các khoản chi ở tầm vĩ mô
Trang 24+ Các khoản chi NSNN không mang tính bồi hoàn trực tiếp và mang tính bao cấp Chính vì vậy các nhà quản lý tài chính cần phải có sự phân tích, tính toán cẩn thận trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra các quyết định chi tiêu để tránh được những lãng phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả chi tiêu NSNN
+ Chi NSNN liên quan đến rất nhiều chủ thể kinh tế, diễn ra liên tục trên diện rộng toàn quốc gia và chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, đồng thời tác động, ảnh hưởng chặt chẽ tới mọi mặt của xã hội, như tiền lương, giá cả, tỷ giá v.v…
c Quản lý chi ngân sách nhà nước
- Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định
hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định [6]
- Quản l nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền
lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [6]
- Quản l chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ
tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên
cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách [17]
Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và
Trang 25thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH.
- Ngân sách cấp huyện có một vai trò quan trọng đối với chính quyền được thể hiện ở các mặt sau:
+ Ngân sách cấp huyện là nguồn tài chính quan trọng nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy chính quyền huyện trong việc thực hiện chức năng và
+ Ngân sách cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc kích thích sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện, đảm bảo sự ổn định phát triển kinh tế
xã hội trên địa bàn huyện
+ Ngân sách cấp huyện còn đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã trong việc tạo dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới nhất là tiến trình cả nước thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá
sẽ có tác dụng sâu sắc đến đời sống kinh tế – xã hội của từng đơn vị phụ thuộc
Do đó, vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản
lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau:
+ Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát
+ Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước
+ Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi
Trang 26+ Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương
và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT-XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp
+ Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế
để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi
- Nguyên tắc chi ngân sách nhà nước:
+ Chi ngân sách phải đảm bảo kỷ luật tài chính tổng thể
Điều đó có nghĩa là chi NSNN phải được tính toán trong khả năng nguồn lực huy động được từ nền kinh tế và các nguồn khác Khả năng này không chỉ tính trong một năm mà phải được tính trong trung hạn ( 3-5 năm), kết hợp với
dự báo xảy ra rủi ro, chỉ có như vậy mới đảm bảo tính ổn định và bền vững của NSNN trong trung hạn Nhìn chung, các nhà quản lý phải dự tính được rủi ro về thu NSNN và sự biến động về chi NSNN để có chính sách đối ứng với những tình huống có thể xảy ra và dự tính nhiều phương án Hàng năm, trên cơ sở đánh giá và xây dựng ngân sách hằng năm rà soát lại kế hoạch trung hạn để điều chỉnh sát với thực tiễn và cập nhật thêm một năm những biến động tăng giảm nguồn và những chính sách bổ sung hoặc thay đổi Như vậy lúc nào cũng đảm bảo có kế hoạch trung hạn để xác định nguồn ngân quỹ trong 3-5 năm, đáp ứng được yêu cầu chi NSNN trong khuôn khổ nguồn lực cho phép và thể hiện tính bền vững Đây là yêu cầu đầu tiên cần tôn trọng trong cân đối và sử dụng NSNN
+ Chi ngân sách phải cân đối hài hoà giữa ngành, địa phương, giữa trung ương địa phương, kết hợp giải quyết ưu tiên chiến lược trong trong năm với trung và dài hạn
Chi NSNN phải dựa trên nguồn thu có được, nhưng nguồn thu lại được hình thành chủ yếu từ hoạt động kinh tế và gắn với chính sách kinh tế, gắn với
Trang 27mục tiêu vĩ mô Mặt khác, trong bất kể nền kinh tế nào và đặc biệt là kinh tế thị trường, trách nhiệm của Nhà nước là phải tập trung giải quyết vấn đề về phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, trợ cấp xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, khắc phục chênh lệch giữa các vùng, miền, … NSNN chính là công cụ để Nhà nước thực hiện trách nhiệm xã hội lớn lao đó Điều đó thể hiện chỉ có gắn chi NSNN với chính sách kinh tế thường niên, mục tiêu kinh tế trung hạn và dài hạn thì mới tạo được sự nhất quán, đảm bảo chi NSNN đạt được tính khả thi cao và dự báo ngân sách chuẩn xác hơn
+ Chi ngân sách phải gắn kết giữa chi đầu tư và chi thường xuyên
Bố trí cơ cấu chi NSNN hợp lý để vừa giải quyết vấn đề tăng trưởng và đáp ứng dịch vụ mang tính thường xuyên Đồng thời, chi NSNN phải tạo động lực khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cùng với Nhà nước cung cấp dịch vụ thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của mọi người dân
Nguồn lực huy động vào NSNN có hạn trong khi nhu cầu lớn đòi hỏi phải cân nhắc dành cho đầu tư bao nhiêu, dành cho chi thường xuyên bao nhiêu để vừa giải quyết vấn đề trước mắt vừa giải quyết tăng trưởng trong tương lai Mặt khác trước đây, giữa chi thường xuyên và chi đầu tư ít gắn kết với nhau, vì vậy sự phối hợp giữa hai khoản chi để phát huy hiệu quả của chi NSNN còn hạn chế Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách phối hợp giữa hai khoản chi trong từng chương trình dự án Như vậy, đảm bảo sự kết hợp để xác định cơ cấu từng khoản chi lại có thể xem xét ở góc độ hiệu quả
+ Quản lý chi NSNN phải là tác động đòn bẩy để thúc đẩy các thành phần khác tham gia cung cấp dịch vụ công, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đa dạng, phong phú của mọi đối tượng
Cơ chế thị trường cần nhiều hàng hoá, dịch vụ công chất lượng cao,
Trang 28trong đó nhiều dịch vụ người dân có thể bỏ tiền một phần hoặc toàn bộ để được hưởng thụ, đồng thời những người cung cấp dịch vụ muốn tham gia và
tổ chức thu tiền từ người dân được hưởng trực tiếp, khi đó Nhà nước không cần phải bỏ toàn bộ tiền để mua dịch vụ Thực tế đó làm giảm áp lực đối với NSNN, chi NSNN chỉ dành cho những dịch vụ công mà tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm mà không có sự tham gia tư Nhà nước Vai trò của chi NSNN ở đây như đòn bầy tác động, Nhà nước đảm nhận một phần trách nhiệm, tạo sức hấp dẫn để các thành phần kinh tế có thể tham gia cung cấp hàng hoá dịch vụ công
Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa chi NSNN trong cơ chế thị trường với chi NSNN ở các nền kinh tế khác, NSNN không phải là nguồn cung cấp duy nhất cho những dịch vụ công, vai trò tư nhân ngày càng được nhìn nhận như một lực lượng quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ công cả về mức
độ thoả mãn và tính đa dạng của dịch vụ công
- Nguyên tắc quản lý chi NSNN
+ Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp
+ Toàn bộ các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước
+ Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của các luật thuế và chế độ thu theo quy định của pháp luật
+ Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp
có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Ngân sách các cấp, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách không được thực hiện nhiệm vụ chi khi chưa có nguồn tài chính, dự toán chi ngân sách làm phát sinh nợ khối
Trang 29lượng xây dựng cơ bản, nợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên + Bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ về phát triển kinh tế; xóa đói, giảm nghèo; chính sách dân tộc; thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phát triển nông nghiệp, nông thôn, giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ và những chính sách quan trọng khác
+ Bố trí ngân sách để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh phí hoạt động của bộ máy nhà nước
+ Ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội
+ Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm; ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ cho các nhiệm vụ Nhà nước giao theo quy định của Chính phủ
+ Bảo đảm chi trả các khoản nợ lãi đến hạn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước
+ Việc quyết định đầu tư và chi đầu tư chương trình, dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải phù hợp với Luật đầu tư công và quy định của pháp luật có liên quan
+ Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách Trường hợp được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn điều lệ theo quy định của pháp luật thì phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và chỉ thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; có khả năng tài chính độc lập; có nguồn thu, nhiệm vụ chi không trùng với nguồn thu, nhiệm
vụ chi của ngân sách nhà nước.[7]
Trang 30Nhìn chung, kinh tế thị trường đưa ra những yêu cầu nghiêm ngặt trong quản lý chi NSNN đó vừa là đòi hỏi để thích ứng, đồng thời bản than cơ chế thị trường cũng tạo ra những nhân tố thuận lợi giúp cho thực hiện những nguyên tắc đó
1.1.2 Ý nghĩa và vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước:
a Ý nghĩa của quản lý chi NSNN
Qua phân tích nội dung chủ yếu của quản lý NSNN, quản lý NSNN có
ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện như sau:
Thứ nhất, việc quản lý chi NSNN làm cho chính sách chi NSNN đúng đắn, hợp lý, khi có chính sách đúng đắn và phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội sẽ động viên các nguồn tài chính chủ yếu như thuế, phí và lệ phí vào NSNN một cách hợp lý Thông qua phân phối, sử dụng NSNN vừa nuôi dưỡng nguồn thu, vừa đảm bảo mức động viên GDP vào NSNN cao nhất, đảm bảo quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, ưu tiên đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng, tạo điều kiện cho sản xuất và thực hiện các nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước
Thứ hai, quản lý chi NSNN làm cho cơ chế quản lý ngân sách có hiệu quả, thể hiện qua phân cấp ngân sách, thực chu trình ngân sách và tổ chức bộ máy quản lý NSNN
Thứ ba, khi phân cấp ngân sách đúng đắn và thích hợp, một mặt đảm bảo Ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo trong nền tài chính quốc gia, mặt khác vừa đảm bảo cho ngân sách địa phương xử lý các vấn đề trên địa bàn, vừa phát huy tính chủ động, khuyến khích tính năng động, sáng tạo của ngân sách địa phương
Thứ tư, quản lý NSNN là việc thực hiện chu trình ngân sách một cách chặt chẽ, tuân theo đúng quy định từ khâu lập ngân sách đến chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách sẽ giúp cho NSNN được quản lý sát thực và
Trang 31đúng pháp luật Giải quyết tốt vấn đề thu chi NSNN nếu như việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình ngân sách không đạt hiệu quả Vì vậy, việc thực hiện các giai đoạn trong quản lý NSNN đòi hỏi phải xử lý tổng hoà các biện pháp và được tiến hành ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực
Thứ năm, quản lý bao gồm việc tổ chức bộ máy NSNN tinh giản, gọn nhẹ, điều hành có hiệu lực và hiệu quả, điều đó có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách ngân sách Đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quản lý NSNN
Thứ sáu, việc quản lý NSNN giúp điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị trường hàng hóa
b Vai trò của quản lý chi NSNN
Quản lý chi NSNN có vai trò rất to lớn, thể hiện:
Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN
nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả Thông qua quản lý các khoản cấp phát của chi NSNN sẽ có tác động khác nhau đến đời sống kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định, đặc biệt là giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, các hoạt động mang tính cộng đồng Quản lý chi tiêu của NSNN có hiệu quả
sẽ tác động vào kích cầu khi nền kinh tế bị giảm sút hoặc cắt giảm chi tiêu chính phủ để bình ổn giá cả thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành quỹ dự phòng trong NSNN để ứng phó với những biến động của thị trường
Thứ hai, thông qua quản lý các dự án đầu tư phát triển nhằm phục vụ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội Trong tình hình phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng chính sách chi NSNN và quản lý chi NSNN sẽ giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các
Trang 32tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường
Vai trò của quản lý chi ngân sách trong việc phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tầm vĩ mô được thể hiện rất rõ Đồng thời vai trò của nó còn thể hiện ở chổ thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư sẽ tạo ra điều kiện rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả là yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững
Thứ ba, quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và
chống lạm phát Khi nền kinh tế lạm phát và suy thoái nhà nước phải sử dụng công cụ chi ngân sách để khắc phục tình trạng này Sự mất cân đối giữa cung
- cầu sẽ tác động đến giá cả giá cả tăng hoăc giảm Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy quản lý nhà nước, cũng như trợ vốn, trợ giá và sử dụng quỹ dự trữ của nhà nước Trong quá trình điều tiết thị trường việc quản lý chi ngân sách có vai trò rất lớn đến trong viêc chống lạm phát và suy thoái, kích cầu nền kinh tế Khi nền kinh tế lạm phát nhà nước cắt giảm chi tiêu, thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế tổng cung tổng cầu, hạn chế đầu tư của xã hội làm cho giá cả dần dần ổn định, chống lạm phát Khi nền kinh suy thoái, sức mua giảm sút nhà nước tăng chi đầu tư để tăng cung, tăng cầu, tạo việc làm, kích cầu chống suy thoái nền kinh tế
Thứ tư, để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế, Nhà nước sử dụng
công cụ chi ngân sách Thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng cụ thể, tạo ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ
sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công
Trang 33nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả chi NSNN
Hiệu quả ngân sách nên được đánh giá dưới các góc độ sau đây:
- Hiệu quả về sự tuân thủ: Là sự tôn trọng và thực thi đúng những chỉ tiêu thu, chi trong ngân sách của các cơ quan, đơn vị chấp hành ngân sách Hiệu quả về sự tuân thủ còn thể hiện qua việc thu, chi ngân sách phải đúng pháp luật ngân sách
- Hiệu quả về mặt kinh tế: những kết quả về mặt kinh tế như thể hiện qua chỉ số tăng trưởng, chỉ số thu nhập bình quân, năng suất của khu vực kinh tế nhà nước và các mặt tác động từ những hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước
- Hiệu quả về mặt xã hội: những kết quả mà ngân sách đạt được trong việc đảm bảo phúc lợi xã hội, hệ thống dịch vụ công cộng, giáo dục, y tế, v.v
- Hiệu quả về mặt chính trị: là kết quả về sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, đặc biệt là mối quan hệ giữa cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và cơ quan chấp hành (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân) trong hoạt động ngân sách Việc xây dựng cơ chế thông tin linh hoạt và kịp thời để điều hành ngân sách có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá hiệu quả ngân sách
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1.2.1 Lập dự toán chi ngân sách cấp huyện
a Lập dự toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện
Lập dự toán ngân sách nhà nước cấp huyện là khâu đầu tiên và là giai đoạn khởi đầu trong một quá trình ngân sách ở mỗi quốc gia Sở Tài chính hướng dẫn cụ thể một sô nội dung về xây dựng dự toán ngân sách đối với ngân sách cấp huyện Việc quản lý quá trình lập dự toán chi ngân sách cấp huyện do UBND cấp huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện thực
Trang 34hiện Trong đó, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan được quy định cụ thể Các đơn vị dự toán và các tổ chức thuộc UBND cấp huyện căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, chế độ, định mức và tiêu chuẩn chi lập dự toán để
dự trù cho nhu cầu chi Phòng Tài chính cấp huyện xem xét dự toán chi ngân sách của cơ quan, đơn vị cùng cấp và dự toán chi ngân sách của Chính quyền cấp dưới tổng hợp, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách trình UBND cấp huyện xem xét
Hàng năm, quán triệt quyết định của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ tài chính và chỉ thị của UBND tỉnh về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội và dự toán NSNN, Sở tài chính hướng dẫn cụ thể một số nội dung về xây dựng dự toán ngân sách đối với các huyện, thị xã Các đơn vị dự toán và các tổ chức thuộc UBND cấp huyện căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao, chế độ, định mức và tiêu chuẩn chi lập dự toán để dự trù cho nhu cầu chi Phòng tài chính cấp huyện xem xét dự toán chi ngân sách của cơ quan đơn vị cùng cấp và dự toán chi ngân sách của của chính quyền cấp dưới tổng hợp, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách huyện trình uỷ ban nhân dân huyện xem xét UBND cấp huyện có trách nhiệm xem xét dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trình HĐND cấp huyện quyết định Căn cứ vào Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ngân sách nhà nước, trên cơ sở xem xét báo cáo của UBND cấp huyện về dự toán thu chi ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp huyện, báo cáo thẩm tra của ban kinh tế xã hội HĐND cấp huyện và ý kiến của đại biểu HĐND cấp huyện, HĐND cấp huyện phê chuẩn dự toán thu chi ngân sách cấp huyện, phương án phân bổ ngân sách huyện do UBND trình và báo cáo cho UBND cấp tỉnh và Sở Tài chính Thời gian báo cáo dự toán NSNN cấp huyện do UBND cấp tỉnh quy định
Quyết định dự toán NSNN cấp huyện: sau khi nhận được quyết định giao
Trang 35nhiệm vụ thu, chi NSNN cấp huyện (kèm theo các lĩnh vực), Phòng Tài chính trình HĐND cấp huyện quyết định, UBND cấp huyện báo cáo UBND cấp tỉnh, Sở Tài chính, đồng thời thông báo cho các phòng hoặc các tổ chức thuộc huyện biết theo chế độ công khai tài chính về NSNN Điều chỉnh dự toán NSNN cấp huyện hàng năm trong các trường hợp có yêu cầu của UBND cấp trên để đảm bảo phù hợp với định hướng chung và có sự biến động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ chi UBND cấp huyện tiến hành lập dự toán điều chỉnh trình HĐND huyện quyết định và báo cáo UBND cấp trên Dự toán điều chỉnh sau khi được duyệt là dự toán NSNN chính thức của huyện trong năm đó
b Mục đích, yêu cầu của lập dự toán chi ngân sách nhà nước
- Mục đích cơ bản của việc lập dự toán chi ngân sách là nhằm bảo đảm tính đúng đắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chi tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch
- Yêu cầu trong quá trình lập dự toán ngân sách phải đảm bảo:
+ Kế hoạch ngân sách nhà nước phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
+ Kế hoạch chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêu cầu của Luật ngân sách nhà nước
c Căn cứ lập dự toán chi NSNN
- Nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Văn hóa - Xã hội đảm bảo quốc phòng,
An ninh của Đảng và Chính quyền địa phương trong năm kế hoạch và những
năm tiếp theo
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong năm kế hoạch
Trang 36- Các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức cụ thể về chi tài chính nhà nước
- Định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể
- Tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm hiện hành
- Nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao; dự toán ngân sách được tổng hợp từ báo cáo dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình, của các địa phương cấp dưới trực tiếp
1.2.2 Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cấp huyện
- UBND cấp huyện căn cứ quyết định của UBND tỉnh về giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán chi ngân sách huyện và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp huyện
- Trên cơ sở Nghị quyết của HĐND cấp huyện, UBND cấp huyện giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc cấp huyện, mức bổ sung từ ngân sách cấp huyện cho từng xã, phường, thị trấn
- Việc phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải bảo đảm: (1) Đúng với dự toán ngân sách được giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ thu, chi được giao; (2) Đúng chính sách, chế
độ, tiêu chuẩn, định mức chi; (3) Phân bổ đủ vốn, kinh phí để thu hồi các khoản đã ứng trước dự toán đến hạn thu hồi trong năm, vốn đối ứng các dự án
sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các nhà tài trợ nước ngoài theo cam kết; (4) Đối với phân bổ vốn đầu tư phát triển phải bảo đảm các yêu cầu theo quy định của pháp luật về đầu tư công, xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan; (5) Đối với phân bổ các khoản bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới phải bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng và thực hiện đúng các cam kết hoặc quy định về bố trí ngân sách địa phương cho mục tiêu đó
Trang 371.2.3 Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện
a Chấp hành dự toán chi NSNN cấp huyện
- Chấp hành dự toán chi ngân sách cấp huyện là thực hiện dự toán ngân sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hay nói cách khác là thực hiện các chỉ tiêu chi tài chính trong dự toán ngân sách nhà nước
- Các đơn vị sử dụng ngân sách cấp huyện và các tổ chức được NS cấp huyện hỗ trợ kinh phí thường xuyên mở tài khoản tại KBNN cấp huyện để giao dịch, thanh toán và chịu sự kiểm tra của Phòng Tài chính - Kế hoạch và KBNN cấp huyện trong quá trình thanh toán, sử dụng kinh phí Các khoản chi ngân sách cấp huyện được kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát thanh toán
Quản lý việc chấp hành dự toán chi ngân sách cấp huyện của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đơn vị sử dụng ngân sách cấp huyện bao gồm:
- Phòng Tài chính - Kế hoạch có 3 nhiệm vụ cơ bản:
+ Thực hiện thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước trên nguyên tắc đảm bảo phù hợp với nội dung dự toán được UBND huyện giao, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức
+ Theo dõi, cập nhật tình hình thu - chi ngân sách trên địa bàn và các khoản trợ cấp của ngân sách cấp trên để bố trí nguồn chi, đáp ứng nhu cầu chi trả, thanh toán của các đơn vị dự toán
+ Thực hiện kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán và sử dụng ngân sách
ở các đơn vị sử dụng ngân sách cấp huyện nhằm phát hiện kịp thời việc chậm trễ trong chấp hành dự toán của các đơn vị sử dụng ngân sách, báo cáo UBND huyện để đưa ra giải pháp khắc phục, hoặc điều chỉnh dự toán để bảo đảm sử dụng ngân sách đúng theo mục tiêu, chế độ quy định, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả
Trang 38- Kho bạc Nhà nước huyện có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết khác theo quy định
- Đơn vị dự toán cấp I có nhiệm vụ hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực do cơ quan mình quản lý và của các đơn vị trực thuộc
- Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách cấp huyện, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả
b Nội dung chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện
- Chấp hành dự toán chi là nội dung rất quan trọng trong chi ngân sách,
là khâu thứ hai trong chu trình quản lý ngân sách Mục tiêu chính của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên là đảm bảo phân phối, cấp phát và
sử dụng kinh phí được phân bổ một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Muốn vậy trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cần chú trọng các yêu cầu sau: phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm trên cở sở dự toán chi đã xác định; đảm bảo cấp phát vốn kịp thời, đúng nguyên tắc; tuân thủ đúng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong sử dụng vốn NSNN
- Chấp hành dự toán chi thường xuyên
Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Chấp hành dự toán chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị tại địa
Trang 39phương bao gồm các nội dung sau: (1) Sự nghiệp giáo dục - đào tạo: Chi giáo dục Mầm non công lập, Tiểu học, Trung học cơ sở, trường phổ thông dân tộc nội trú THCS huyện quản lý; đào tạo bồi dưỡng cán bộ, hoạt động của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và các hoạt động giáo dục, đào tạo khác do cấp huyện quản lý; (2) Chi
sự nghiệp y tế: Hỗ trợ công tác chăm sóc sức khỏe của người dân, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và các hoạt động khác có liên quan; (3) Sự nghiệp văn hóa - thông tin: Chi bảo tồn, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, đội thông tin lưu động và các hoạt động văn hóa - thông tin khác do cấp huyện quản lý; (4) Sự nghiệp thể dục thể thao: Chi cho các hoạt động thể dục, thể thao do cấp huyện
tổ chức thực hiện và quản lý; (5) Chi cho Đài truyền thanh, các trạm phát lại truyền hình do cấp huyện quản lý; (6) Sự nghiệp môi trường theo phân cấp; (7) Sự nghiệp đảm bảo xã hội: Bảo trợ thường xuyên, đột xuất; chính sách người có công; công tác xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, lao động, việc làm, quản lý đối tượng chính sách, đối tượng xã hội; (8) Các hoạt động kinh
tế do ngân sách cấp huyện quản lý, gồm: Sự nghiệp giao thông (bảo trì duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu, đường và các công trình giao thông khác do huyện quản lý, chi đảm bảo an toàn giao thông quản lý bến bãi và các hoạt động sự nghiệp giao thông vận tải khác do cấp huyện quản lý); Sự nghiệp nông nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp và lâm nghiệp (duy tu, bảo dưỡng các trạm trại nông, lâm, ngư nghiệp; công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chi khoanh nuôi, bảo vệ phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản do cấp huyện quản lý, trong đó bao gồm hoạt động thường xuyên của các Trạm Bảo vệ thực vật, Trạm Thú y ); Sự nghiệp công nghiệp (xúc tiến đầu
tư, quản lý các cụm công nghiệp, phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề truyền thống); Chi kiến thiết thị chính (chi duy tu, bảo dưỡng và kinh phí thường xuyên đối với các công trình công cộng đô thị như điện chiếu sáng
Trang 40công cộng, vỉa hè, công viên cây xanh, hệ thống cấp, thoát nước, giao thông nội thị và các công trình công cộng khác thuộc thị trấn, thị tứ do cấp huyện quản lý); Chi đo đạc lập bản đồ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lưu trữ hồ sơ địa chính và quản lý khoáng sản do cấp huyện quản lý theo phân cấp; Chi cho hoạt động trợ giá theo phân cấp; Chi thực hiện nhiệm vụ quy hoạch do cấp huyện quản lý theo quy định hiện hành; Các sự nghiệp kinh tế khác do cấp huyện quản lý; (9) Hoạt động quản lý hành chính, gồm: Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam thuộc cấp huyện; Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện (gồm: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân huyện); Hỗ trợ cho các
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp huyện theo quy định; (10) Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do cấp huyện thực hiện theo phân cấp; (11) Các khoản chi khác của cấp huyện theo quy định
- Chấp hành dự toán chi đầu tư phát triển
Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác
Chấp hành dự toán chi đầu tư phát triển địa phương bao gồm: (1) Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từ nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung được phân cấp, nguồn vốn đầu tư thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn bổ sung có mục tiêu theo phân cấp của tỉnh; (2) Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội từ các nguồn thu: tiền sử dụng đất, nguồn thu huy động của các tổ chức
cá nhân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các nguồn thu khác theo quy định do cấp huyện quản lý; (3) Chi đối ứng các dự án viện trợ được phân cấp quản lý
- Trong khâu này cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát của cơ