XÌN VĂN Ơ Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI LỢN BÌNH MINH, XÃ PHÙ LƯU TẾ, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI KH
Trang 1XÌN VĂN Ơ
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ MỘT
SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRANG TRẠI LỢN
BÌNH MINH, XÃ PHÙ LƯU TẾ, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2XÌN VĂN Ơ
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ MỘT
SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI LỢN BÌNH
MINH, XÃ PHÙ LƯU TẾ, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành/Ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Phùng Đức Hoàn
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận của mình, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và Ban lãnh đạo trang trại lợn Bình Minh, xã Phù Luu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn trong nhóm, đội ngũ
kỹ sư, công nhân trong trang trại, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
TS.Phùng Đức Hoàn đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn em thực hiện
thành công khóa luận này
Em xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép em thực hiện khóa luận này Em xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo trại lợn Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trại về sự hợp tác, giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Xìn Văn Ơ
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại từ năm 2014 - 2016 7
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 26
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 40
Bảng 4.2 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 41
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 42
Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt của đàn lợn nái theo giống, dòng 44
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt của đàn lợn nái theo lứa đẻ 45
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 46
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại 47
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con 48
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự Kg:
G:
Ml:
Nxb:
Kilogam Gam Mililit Nhà xuất bản CP: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam STT: Số thứ tự
KL:
VAC:
Khối lượng Vườn, ao, chuồng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn của trại 5
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 7
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục của lợn nái 7
2.2.2 Một số bệnh sinh sản ở lợn nái 11
2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới chuyên đề 19
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 19
2.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở nước ngoài 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 24
3.1 Đối tượng 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung thực hiện 24
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 24
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.4.2 Phương pháp thực hiện 25
Trang 73.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và công thức tính toán 38
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Kết quả công tác chăm sóc nuôi dưỡng 40
4.2 Kết quả công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 41
4.3 Kết quả công tác phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin 42
4.4 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn tại trại: 43
4.4.1 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt của đàn lợn nái theo giống, dòng 43
4.4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt của đàn lợn nái theo lứa đẻ 45
4.4.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 46
4.4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con 47
4.4.5 Kết quả thực hiện biện pháp phẫu thuật trên đàn lợn con tại trại 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Trong đó, chăn nuôi lợn là ngành đang rất phổ biến và trở thành yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế
hộ gia đình nông nghiệp và các trang trại, đặc biệt là mô hình trang trại VAC Với mục đích đa ngành của nền kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa nói chung
Chính vì sự quan trọng của nghành chăn nuôi và để hoàn thành
chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn” Giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ
sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với mỗi sinh viên để củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời, tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Nắm được phương pháp tổ chức
và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, sáng tạo khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực
tập, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc và biện pháp phòng trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức – Hà Nội ”
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại cơ sở
- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
-Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
* Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Sỹ Bình là một đơn vị chăn nuôi gia công thuộc công ty cổ phần chăn nuôi Charoen Pokphand Việt Nam Trang trại nằm trên địa bàn xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam Phù Lưu Tế là xã trung du nằm ở phía Đông Bắc của huyện Mỹ Đức, phía Tây giáp xã Hợp Tiến, phía Nam giáp xã Hợp Thanh, phía Bắc giáp thôn Nghĩa, phía Đông giáp xã Hòa
Xã của huyện Ứng Hòa
* Điều kiện khí hậu
Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa đông, nóng ẩm về mùa hè Lượng mưa trung bình trong năm là 1.567
mm, cao nhất đạt 2.157 mm, thấp nhất đạt 1.060 mm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82 %, độ ẩm cao nhất là 88 %, thấp nhất là 67 % Nhiệt độ trung bình trong năm là 21o
C - 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa Gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12
* Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu trại được tổ chức như sau :
01 chủ trại: Quản lý, bao quát toàn trại
02 quản lý trại:
+ Quản lý chuồng nái: Quản lý, giám sát chuồng nái
Trang 11+ Quản lý, giám sát chuồng lợn thịt
03 kỹ sư chăn nuôi:
+ 01 kỹ sư chuồng bầu: Kỹ thuật chuồng bầu
+ 01 kỹ sư chuồng đẻ: Kỹ thuật chuồng đẻ
+ 01 kỹ sư chuồng lợn thịt: Kỹ thuật chuồng lợn thịt
01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
20 công nhân
* Cơ sở vật chất của trại
- Trang trại có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch xây dựng làm 2 khu:
+ Khu chuồng nái gồm chuồng bầu, chuồng cách ly và chuồng đẻ cho
1200 nái: 2 chuồng bầu mỗi chuồng 560 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 6 chuồng đẻ mỗi chuồng 56 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống
+ Khu chuồng lợn thịt gồm 9 chuồng cho 5400 lợn thịt
Ngoài ra còn có một số công trình phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
Hệ thống chuồng xậy dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt đối với chuồng bầu, 2 quạt đối với các chuồng cách ly và chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có kích thước 1,5 m × 1 m, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn
Phòng pha tinh được trang bị nhiều dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số dụng cụ khác
Trang 12Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng đẻ 6 và chuồng bầu 2 Nước tắm, nước xả ngầm, nước phục vụ công tác khác được khoan trực tiếp ở hành lang giữa chuồng 2 và chuồng 3, chuồng 4 và chuồng 5
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn của trại
* Thuận lợi:
+ Được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát triển của trại
+ Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, giao thông thuận lợi
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc
+ Con giống tốt, thức ăn, thuốc thuốc y chất lượng cao
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
* Khó khăn:
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn Đầu năm 2017, dịch bệnh tai xanh bùng phát làm trại thiệt hại khá lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trại
+ Giá thị trường lợn thịt không ổn định
+ Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ ảnh hưởng đến công tác sản xuất
2.1.3 Đối tượng và kết quả sản xuất của trại trong 3 năm (2014 – 2016)
* Công tác chăn nuôi
+ Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất con giống, lợn thịt và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trang 13+ Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,6 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam + Tại trại, lợn con lợn mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của công ty + Trong trại có nhiều con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ hai giống lợn Landrace và Yorshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
+ Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
* Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn
thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo đúng quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin
Trang 14luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, 9 không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100 %
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90 % trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
* Kết quả sản xuất của trại trong 3 năm (2014 – 2016)
Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại từ năm 2014 - 2016
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục của lợn nái
Theo Đặng Quang Nam (2002) [7], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau:
Trang 15- Buồng trứng (Ovarium): Gồm một đôi (dài 1,5 - 2,5cm, khối lượng 3 -
5 gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên
Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng
Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết
ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc
tính thứ cấp của con cái)
- Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15 – 20 cm, uốn khúc
nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3 cm nối với sừng tử cung
Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: Màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: Cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến
- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển
của thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái
Tử cung gồm 3 phần: Sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30 – 50 cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến
có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng
Trang 16tử cung Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tương mạc được nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp niêm mạc trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn
- Âm đạo (Vagina): Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm
hộ Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh
Cấu tạo: Lớp ngoài là tương mạc phủ phần trước âm đạo Lớp giữa là lớp cơ trơn xếp theo các chiều khác nhau dính lẫn lộn với tổ chức liên kết bọc ngoài Lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc, trong
đó có nhiều chất nhờn Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi
ra của thai
- Âm hộ (Vulva): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau
âm đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn
có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (Bartholin) và khí quan cương cứng gọi là âm vật (Clitoris)
Âm môn là một khe thẳng đứng dưới hậu môn, có 2 môi nối với nhau bởi 2 mép Môi lớn ở ngoài dày trùm lấy môi nhỏ ở trong Mép trên hơi nhọn, mép dưới rộng bao quanh âm vật Mép trên và dưới được bao bởi lớp da mỏng mịn, phía dưới mép dưới có lông
Bộ phận phía trong âm hộ và âm môn:
+ Màng trinh (Hymen): Ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ
Trang 17+ Lỗ đái là đường thông ra của niệu đạo con cái Lỗ đái nằm ở thành dưới âm môn ngay sau dưới màng trinh hình một cái khe có van trùm lên, cánh van hướng về sau Bên cạnh lỗ đái còn có lỗ đổ ra của ống tuyến tiền đình Đôi tuyến này tiết ra dịch nhờn làm ẩm ướt cửa vào âm đạo phía trong
âm hộ và có thành phần sát khuẩn
+ Âm vật (Clitoris): Là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh
nên tính cảm giác tập trung ở đây cao
Cấu tạo âm hộ từ ngoài vào có các lớp sau: Lớp da mỏng mịn có nhiều sắc tố, lớp cơ gồm cơ thắt và dây treo âm hộ, lớp niêm mạc trong cùng có nhiều tuyến tiết dịch nhờn
- Tuyến vú (Mamma): Lợn là động vật đa thai có từ 6 - 8 đôi vú xếp 2
hàng từ vùng ngực đến vùn bụng bẹn Tuyến này chỉ phát triển khi con cái đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc còn non Vú gồm có bầu vú và núm vú
+ Bầu vú: Bầu to đó là nơi sản sinh và chứa sữa Ngoài cùng có lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có 2 phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong như tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú làm nhiều thùy nhỏ trong đó
có nhiều sợi đàn hồi
Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo 3 loại ống dẫn: Nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông ra ở đỉnh đầu vú
Để hình thành một lít sữa phải có 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
Trang 18+ Núm vú: Một bầu vú có một núm vú cấu tạo bởi da - tổ chức liên kết
- cơ - ống dẫn sữa Ống dẫn sữa gồm 2 - 3 ống thông nối từ xoang sữa (Bể sữa) ra đầu núm vú Ở đầu núm vú, sợi cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
+ Quá trình mang thai và đẻ:
Nguyễn Xuân Tịnh (1996) [13] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hóa giữa tinh trùng và trứng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày Khi mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố progesterone ức chế sự phát triển của bao noãn Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng
Thời gian chửa của lợn cái được chia ra làm hai thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: Là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
- Theo Trương Lăng (2003) [6], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sảy thai
+ Một phần thai chết, các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị đẩy ra ngoài
2.2.2 Một số bệnh sinh sản ở lợn nái
Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây
Trang 19viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung
Nguyên nhân bê ̣nh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs 2002 [4], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs ,
2002 [5], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và cs 2002 [3] cho biết , nguyên nhân gây
viêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu
Trang 20dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…
Theo Lê Văn Năm và cs , 1997 [8] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoa ̣i cảnh gây bê ̣nh như : Do thức ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh
lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bênh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và
do thu ̣ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t
Bê ̣nh còn xảy r a do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý : Khẩu phần thiếu hay thừa protein , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 – 42oC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả
Trang 21hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai
- Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [4], Trần Thị Dân (2004) [2], khi lợn
nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
Trang 22- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong tử cung thường có mặt của vi
khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích
thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể
vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Chẩn đoa ́ n lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp
Trang 23tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động dục thì
có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,
thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Bệnh sát nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra
Nguyên nhân: Trịnh Đình Thâu và cs, 2010 [10]: Sau khi đẻ tử cung
co bóp yếu trong thời gian mang thai, nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và
Trang 24P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh
truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu
tạo của nhau thai
Triệu chứng:
Căn cứ vào mức độ sát nhau, người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sát nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ
Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không, khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn mẹ có sát nhau hay không
Điều trị: Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để
quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra, dùng nước muối sinh lý 0,9 % để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và
cs, 2010) [10])
Bệnh viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
Theo tác giả Đặng Đình Tín (1985) [12] nguyên nhân chính của viêm
âm môn tiền đình và âm đạo ở lợn là những sai sót kỹ thuật khi đỡ đẻ Khi gia
Trang 25súc đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không phù hợp, không đảm bảo vô trùng, gây tổn thương niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo hoặc sử dụng các thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo kích thích quá mạnh làm niêm mạc âm đạo, âm môn, tiền đình bị viêm
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát, tổn thương do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra, bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sảy thai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau
Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài
Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo mãn tính, niêm mạc trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều Khi kiểm tra âm đạo, con vật đau đớn Những con viêm mãn tính thì ủ rũ, uể oải, kém ăn, lượng sữa giảm Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, dính vào gốc đuôi, hai bên mông
Viêm màng giả trên niêm mạc được phủ một màng mỏng, tổ chức hoại
tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám Phía dưới lớp màng có những vết loét nằm rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc Con vật đau đớn
rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, con vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ lẫn tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh thối chảy ra Viêm màng giả rất
dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết Hậu quả là do tế bào của âm đạo tăng sinh,
Trang 26niêm mạc âm đạo sẹo hóa, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến quá trình phối giống và sinh sản lần sau
2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới chuyên đề 2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh viêm tử cung Nhưng những tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở lợn nái cũng còn rất ít
Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Nguyễn Văn Thanh (2002) [9] cho biết, lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4 % Viêm tử cung trên nhóm lợn nái thuần chiếm khoảng 25,48 %, trên nhóm lợn nái lai chiếm 50,84 % (trong tổng số 1000 lợn nái khảo sát)
Tuy nhiên, Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [5] đưa ra nhận định rằng do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ dẫn tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái Do lợn đực nhảy trực tiếp, mà niệu quản và dương vật bị viêm sẽ truyền sang lợn nái
Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn
(Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh
truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung
Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa
đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu
tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung
Trang 27Các báo Khuyến Nông cũng có nhiều nghiên cứu về tình hình mắc các bệnh sinh sản của lợn như sau:
Nguyên nhân bệnh bại liệt sau khi đẻ là do chăm sóc nuôi dưỡng không đúng quy trình kỹ thuật Trong thức ăn thiếu lượng canxi, phospho Chuồng trại thiếu ánh sáng, nhất là ánh sáng buổi sáng, lợn không được tắm nắng nên
cơ thể thiếu vitamin D, khả năng hấp thụ canxi kém, xương xốp mềm
Hội chứng MMA là một phức hợp bệnh do nhiều loại vi khuẩn gây ra
như: E coli, Pseudomonas, Proteus, Staphylococcus, Streptococcus Đây là
những vi khuẩn cơ hội, có sẵn trong môi trường, khi chuồng trại dơ bẩn sẽ tạo điều kiện gây bệnh Thai lớn, chèn ép làm giảm nhu động ruột gây táo bón và gây ứ đọng nước tiểu trong bàng quang, cổ tử cung mở làm mầm bệnh dễ tấn công Cung cấp thức ăn không cân đối và không đủ nước uống, cho nái ăn nhiều chất đạm và khoáng nhưng ít chất xơ trong giai đoạn cuối thai kỳ hoặc nái quá mập cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh MMA Và cũng đưa ra những
lý do mắc bệnh sản ở nái là do 2 nguyên nhân:
+ Điều kiện nuôi dưỡng : Lê Văn Năm và cs (1997) [8] cho rằng có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn
đến muxin của chất nhầy các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết
hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý, thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật (dụng cụ dẫn tinh làm tổn thương niêm mạc tử cung)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở nước ngoài
Chăn nuôi lợn là một nghề chiếm tỷ lệ khá cao trong ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới Để khai thác hiệu quả hơn giá trị dinh dưỡng và sinh
Trang 28khối của loài, các nước phát triển trên thế giới không ngừng đầu tư cải tạo đàn giống lợn và áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng Trong lĩnh vực thú y đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về bệnh sinh sản
Theo Trekaxova A.V (1983) [21], trong số các nguyên nhân dẫn đến sinh đẻ ít và vô sinh của lợn thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm từ 5 – 15 %
Theo Madec (1991) [18], qua kiểm tra vi thể bệnh viêm tử cung của lợn nái ở xứ Brơ-ta-nhơ của miền tây bắc nước Pháp, kết quả cho thấy 26 % lợn nái có bệnh viêm tử cung Ngoài ra, 2 % số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine
Trong chăn nuôi lợn sinh sản, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào năng suất sinh sản; trong đó có hai yếu tố chính là độ sai con và độ mắn
đẻ Do vậy, trong chăn nuôi lợn sinh sản ưu tiên hàng đầu và liên tục là tạo ra được nhiều lợn con sinh ra và sống sót cho tới lúc cai sữa, đồng thời giảm thời gian sản xuất của lợn nái nhất là do không thụ thai Mục tiêu trên đòi hỏi
sự làm việc cường độ cao ở lợn nái và nhất là cơ quan sinh sản Do vậy, các
cơ quan sinh sản đóng vai trò rất quan trọng quyết định năng xuất chăn nuôi Những bất thường của cơ quan sinh sản sẽ làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng (JohanssonL, 1972) [16]
John C Rea (1996) [15] cho biết: Âm đạo của lợn khỏe mạnh có chứa nhiều loại vi khuẩn khác nhau bao gồm Gram (+), Gram (-) hiếu khí và Gram (+),
Gram (-) yếm khí Điển hình là các vi khuẩn Streptococcus sp, Staphylococcus sp, Enterobacteria, Corynebacterium sp, Micrococcus sp Số lượng vi khuẩn tăng
lên một cách đều đều từ phần đầu đến phần cuối của âm đạo, khi phối giống hoặc sau khi đẻ cổ tử cung mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi để các vi khuẩn này xâm nhập vào tử cung
Theo Popkov (1999) [20]: Mỗi thể viêm tử cung khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh
Trang 29sản của lợn nái Nếu sức khỏe nái giảm sút, bệnh không được can thiệp sớm,
vi trùng có thể vào máu đến tuyến vú gây viêm toàn bộ tuyến vú hoặc gây nhiễm trùng máu tạo nên thể điển hình của hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa Để chẩn đoán người ta dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế rặn đái Kiểm tra trực tiếp tử cung lợn nái bằng mỏ vịt, thấy
cổ tử cung mở, niêm dịch từ tử cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch lẫn mủ màu trắng đục, mùi hôi khắm,
Trong trường hợp nái mắc bệnh ở thể ẩn, khó phát hiện, có thể chẩn đoán lúc động hớn qua lượng niêm dịch chảy ra nhiều, đôi khi có những đám
mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra lợn nái mắc bệnh thường thụ tinh nhiều lần mà không có kết quả
Trong chăn nuôi lợn sinh sản, thậm chí cả nuôi lợn thịt, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào khả năng sinh sản, thể hiện rõ nhất qua chỉ tiêu số con cai sữa/nái/năm Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường độ cao ở lợn nái
và nhất là cơ quan sinh sản Do vậy các cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, quyết định đến năng suất chăn nuôi Theo Madec F., Neva C (1995) [19], những bất thường trong cơ quan sinh sản, nói rõ hơn là các kiểu rối loạn như viêm tử cung, làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng
Khi mổ khám những lợn vô sinh Winson đã xác định, trong cơ quan sinh sản của 52,5 % số lợn nái đẻ lứa đầu, 32,1 % số lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý: viêm vòi tử cung có mủ,
Theo Madec F., Neva C (1995) [19], viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ
- Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ,
Trang 30Theo Kemper and Gerjets (2009) [17], để chẩn đoán sớm hội chứng
MMA, người ta thường dựa vào một số triệu chứng lâm sàng: (1) thân nhiệt
lợn nái sau đẻ 12 - 48 giờ (nếu > 39,4oC thì điều trị dự phòng), sự thay đổi hình dạng tuyến vú, giảm tiết sữa (hoặc mất sữa hoàn toàn), giảm tính thèm
ăn (ăn ít hoặc bỏ ăn hoàn toàn), lượng tế bào soma trong sữa >107
/ml, pH sữa
> 6,7; tăng hàm lượng các interleukin trong máu (tăng lượng 1P, 6,
IL-8 và TNFa (2) Các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng MMA: thời gian mang thai dài (> 116 ngày), thời gian đẻ dài (> 3 giờ), can thiệp bằng dụng cụ sản khoa khi đẻ, nhiều con (> 11con/ổ) nhiễm trùng tử cung, táo bón, sự tăng đàn, chuyển đàn, trong đàn có nhiều nái mới, ảnh hưởng của mùa vụ, thiếu protein thô trong khẩu phần ăn, thay đổi thức ăn đột ngột, lợn nái thiếu vận động
Trang 31Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Đối tượng
- Lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại lợn nái Nguyễn Sỹ Bình, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
- Thời gian: Từ 18/11/2016 đến 18/05/2017
3.3 Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi của trại
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn
- Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con
- Tham gia các công tác thú y khác
- Tham gia các công tác nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Cơ cấu đàn lợn tại thời điểm thực tập
- Khối lượng công việc vệ sinh, sát trùng chuồng trại
- Số lượng tiêm vắc xin phòng bệnh
- Số lượng lợn nái được chẩn đoán và điều trị bệnh
- Số lượng lợn con được chẩn đoán và điều trị bệnh
- Số lượng lợn con được can thiệp thủ thuật
- Khối lượng công việc nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn