1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn bảy tuân, chương mỹ hà nội

56 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội .... Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa C

Trang 1

TIÊN PHƯƠNG, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học : 2013 - 2017

Thái nguyên, năm 2017

Trang 2

TRƯƠNG QUỐC ĐẠT

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, XÃ

TIÊN PHƯƠNG, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIÊP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 – Thú y N01 Khóa học: 2013 – 2017 Khoa: Chăn nuôi Thú y

` Giảng viên HD: Th.SLê Minh Toàn

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thời gian học tập ở trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội Em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân

Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới ban giám hiệu nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khao chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Em xin đặc biệt cảm ơn đến thầy giáo ThS Lê Minh Toàn đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên và giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình thựctập và tiến hành làm khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn: Cô Nguyễn Thị Bảy (chủ trại) và anh Nguyễn Văn Trường (quản lý trại) nơi cơ sở em thực tập, đã tạo điều kiện và giúp đỡ

em trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin được cảm ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các thầy

cô, gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập trong suốt thời gian vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 18 tháng12 năm 2017

Sinh viên

Trương Quốc Đạt

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội

qua 3 năm 2015 - 2017 33

Bảng 4.2: Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 36

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái đẻ nuôi tại trại 37

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 38

Bảng 4.5 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn tại trại 40

Bảng 4.6.Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 41

Bảng 4.7: Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 42

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

∑: Tổng AD: Giả dại

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHầN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 3

2.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại 3

2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.2 Thuận lợi và khó khăn 5

2.2.1 Thuận lợi 5

2.2.2 Khó khăn 6

2.3 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.3.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 6

2.3.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở 10

2.3.3 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 19

2.3.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 21

2.4 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

Trang 7

2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu 30

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu 30

3.4.2 Các chỉ tiêu theo và tính toán số liệu 32

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

PHầN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội qua 3 năm từ 2015 - 2017 33

4.2 Thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 34

4.2.1 Kết quả trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 34

4.2.2 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội 37

4.2.3 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 38

4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội 39

4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 39

4.3.2 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái 39

4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 41

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết Luận 43

5.2 Đề Nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của nhà nước chăn nuôi lợn đang ngày càng phát triển, chăn nuôi lợn cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định đời sống người dân Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn cũng chuyển từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó đã giúp cho ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về chất lượng và số lượng Mặt khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn như có nguồn nguyên liệu dồi dào cho chế biến thức ăn, sự đầu tư của nhà nước…

Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái

là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta

để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa CNTY - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập chúng em thực hiện chuyên đề:

“Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội”

Trang 9

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

Ðánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại

Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và trị bệnh

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

Biết được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

Biết được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Vị trí địa lý

Trại lợn Bảy Tuân nằm ở huyện Chương Mỹ, trại lợn nằm cách trung tâm huyện 8km, huyện Chương Mỹ nằm chính giữa rìa phía Tây Nam Hà Nội, phía Đông giáp huyện Thanh Oai, một góc phía Tây Bắc giáp quận Hà Đông, phía Bắc và phía Tây Bắc giáphuyện Quốc Oai, phía chính Nam giáp huyện

Mỹ Đức, một góc phía Đông Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Trại lợn Bảy Tuân ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm,hai mùa rõ rệt: Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, nóng và mưa nhiều, lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa trong năm Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô, hanh, mưa ít chỉ khoảng

10 % tổng lượng mưa trong năm Tính 5 năm 2000-2004 có: Tổng giờ nắng trung bình 1475,5 giờ/năm, lượng mưa trung bình 1407,3 mm/năm, độ ẩm trung bình 80,1 % và nhiệt độtrung bình 23,90C

2.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 29 người trong đó có:

+ 1 quản lý

+ 3 kỹ sư

+ 2 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)

+ 17 công nhân và 4 sinh viên thực tập

+ 2 kế toán

Trang 11

Với số lượng nhân viên như vậy được phân chia vào các tổ khác nhau như tổ chuồng bầu,tổ chuồng đẻ,tổ chuồng thịt,nhà bếp,điện nước mỗi tổ, mỗi khâu đều được khoán đến từng người nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

Với đội ngũ trên, tất cả được thống nhất với sự quản lý của kỹ sư và chủ trại đem lại tính nhất quán và thống nhất, sinh viên thực tập được làm tất cả các khâu trong trại được học hỏi toàn diện

2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

Trang 12

- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Trong trại giữa các ô chuồng và các khu khác đều được đổ bê tông thường xuyên được quét vôi và phun sát trùng

- Nước sử dụng chủ yếu ở trại là nước giếng khoan được lọc và được lọc giữ trong bể chứa Gồm 2 bể chứa lớn và 3 bể chứa nhỏ được bơm tới hệ thông cung cấp nước uống cho các chuồng cũng như cung cấp nước sinh hoạt

- Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân,sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà bếp và nhà ăn được đặt cạnh nhau rộng rãi và sạch sẽ

+ Trại có một nhà kho chuyên để chứa cám để cung cấp cho các chuồng nuôi đến để lấy cám và kho thuốc để chứa các loại thuốc phòng và chữa bệnh cho lợn cũng như các loại vaccine được giữ trong tủ lạnh tại kho

- Hệ thống chuồng nuôi

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 3 chuồng đẻ, 3 chuồng bầu và 4 chuồng thịt Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc Đảm bảo thoáng mát về mùa hè và

ấm áp về mùa đông Chuồng lợn bầu gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng

2.2 Thuận lợi và khó khăn

2.2.1.Thuận lợi

Trại lợn được sự đầu tư đầy đủ để phù hợp với hướng chăn nuôi dạng công nghiệp,trại có hệ thống đường xá, giao thông thuận lợi, thuận tiện

Trang 13

chotrại giao thương với các vùng xung quanh, toàn bộ công nhân và quản lý trại có lòng yêu nghề cao

2.2.2 Khó khăn

Do trại kinh doanh theo kiểu tư nhân nên thay đổi giá cả lợn của thị trường cũng ảnh hưởng đến tình hình sản xuất tại trại, điều kiện thời tiết như nắng nóng, nhiệt độ cao, nóng ẩm trong mùa mưa cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đường hô hấp phát triển mạnh, dẫn đến vật nuôi dễ mắc bệnh về đường hô hấp và tiêu chảy với tỷ lệ cao

2.3 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.3.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005), [17] bệnh xuất hiện trong một đàn lợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc khôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưara áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Trang 14

Theo Trần Văn Phùng (2004), [16] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhưCrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn

nái trước khi đẻ

Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xungquanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, đểkhô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ítnhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản

Với những chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyềnnhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏichuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịchsát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từmái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thảirắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nướcrửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cầnphun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng vàđưa vào kho bảo quản

Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Phòng bệnh bằng vaccine:

Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệuquả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên (2012) [10] vaccine là một chế phẩm sinhhọc

mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễmnào

đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyềnnhư

Trang 15

ARN, AND… ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhânvật

lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệmới - vaccine công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnhcho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đápứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gâybệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vaccine) mới có miễn dịch

- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thìkhông nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên (2012), [10] các biện pháp chữa bệnh truyềnnhiễm là:

- Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệsinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô

Trang 16

hấp,phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đốiphó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnhbằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn,

có tácdụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một

số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn

có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưacó tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽchữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gianđể phát huy tác dụng của kháng sinh

Trang 17

- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.3.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở

2.3.2.1 Bệnh viêm tử cung

Nguyên nhân gây bệnh:

Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bìn h (2000) [3], Phạm Sỹ Lăng (2002) [11], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn náigây viêm

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêmmạc

tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm,phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sauđẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện đểxâm nhập vào gây viêmĐoàn Kim Dung và Lê Thi ̣ Tài (2002), [7] cho biết: Nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus

Trang 18

aureus), liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…

- Lê Văn Năm(1999) [14], cho rằng có rất nh iều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như : do thức ăn nghèo din h dưỡng, do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật d ẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh du ̣c bi ̣ phá hủy hoă ̣c kết tủa , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh lý củada ̣ con (trong điều kiện cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều k iê ̣n tốt để vi khuẩn xâmnhâ ̣p vào tử cung gây bệnh Biến trứ ng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣pvào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụtinh nhân tạo sai

kỹ thuật

- Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phầnthiếu hay thừa protein trước , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêmtử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó, viêm tử cung do xâyxát Khoáng chất, vitamin cung ảnh hưởng đến viêm tử cung

- Theo F.Madec và C.Neva (1995) [9], bệnh viêm tử cung và các bệnhở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũngphát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra

- Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin Agây sưng niêm mạc, sót nhau (Nguyễn Thị Thuận, 2010), [21]

- Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở mộtcơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưaphối nhưng đã bị viêm tử cung

Triệu chứng thể hiện qua các thể viêm sau:

- Viêm dạng nhờn là thể viêm nhẹ xuất hiện sau khi sinh 2 - 3 ngày,niêm mạc tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết dịch nhờn, trong hoặc đục lợn cợncó

Trang 19

mùi tanh vài ngày sau tiết dịch nhờn giảm lại đặc và hết hẳn Con vậtkhông sốt họặc sốt nhẹ, vẫn cho con bú bình thường

- Viêm dạng mủ là thể viêm nặng thường xuất hiện trên con vật có thểtrạng xấu, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều, cũng có thể viêm tửcung dạng nhờn kế phát Con vật thường sốt 40 - 41°C, khát nước, kém ăn,nằm nhiều, tiểu ít, nước tiểu vàng, phân có màng nhầy, mệt mỏi ít cho con búhay đè con

- Viêm dạng mủ lẫn máu là phản ứng ăn sâu vào lớp tử cung, tổnthương mạch mao quản gây chảy máu Các biểu hiện như : viêm sền sệt cómủ lẫn máu mùi rất tanh Thân nhiệt rất cao sốt kéo dài Không ăn kéo dài

- Sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, thở nhiều khát nước, mệt mỏi kém phản xạvới tác động bên ngòai đôi khi đè con Con vật có biểu hiện thần kinh suynhược, thân nhiệt tăng, mạch tăng, thở hổn hển

Hậu quả:

- Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ vàđược đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tửcung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của con vật, khi con vậtbị viêm tử cung lúc con vật động dục niêm dịch không thoát ra được do cổ tửcung bị tắc

Theo Trần Tiến Dũng(2002) [8] và Trần Thị Dân (2004) [5], khilợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai.Lớp cơ trơn ở thành tử cung

có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung.Khi tử cung

bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch

Trang 20

hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu.Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cunggiảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từmẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn

E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo

sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung saukhi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻsau

là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trongcác nguyên nhân dẫ đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôisống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng

Chẩn đoán bệnh viêm tử cung:

Trang 21

- Để chẩn đoán bệnh viêm tử cung thường dựa vào các triệu chứng lâmsàng điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như thânnhiệt và dịch viêm

- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], lợn nái bị viêm

tử cung còn có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có dịch tiết không bình thường trong 3-4 ngày sau khi đẻ, nếu sau khi đẻ kiểm tra âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt Cũng theo F.Madec và C.Neva (1995) [9], bệnh viêm tử cung thườngbiểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cungmở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định Tínhchất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xámhoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sausinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thườnggặp trong thời

kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể nghi bị viêmnội mạc tử cung

- Ngoài ra, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết

tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

- Khi lợn nái măng thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủchảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thìcó thể bị nhầm lẫn

- Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác

Trang 22

- Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từđó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp

- Với nguyên nhân chấn thương cơ học hoặc lơn con bú không hết sữa,bệnh viêm vú chỉ xuất hiện trên vài vú Trường hợp kế phát viêm tử cunghoặc cai sữa không hợp lý, nhiều vú có khi toàn bộ bầu vú đều bị viêm Triệu chứng:

- Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, cóbiểu hiện đau sau khi sờ nắn, không tiết sữa nếu vắt mạnh sữa chảy ra cónhiều cặn lẫn máu, sau 1 - 2 ngày thấy có mủ lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốtcao 40,5°C - 42°C

Trang 23

- Tuỳ số lượng vú bị nhiễm, nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễmtrùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm.Tuy vậy lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa liên tục đòi bú, kêurít, đồng thời do bú sữa bị viêm lợn con dễ bị nhiễm trùng đường ruột, lợncon bị tiêu chảy toàn đàn Trường hợp kế phát bệnh viêm tử cung có mủ dẫnđến nhiễm trùng máu, thì toàn bộ các bầu vú đều bị viêm

-Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], cũng khẳng định: Mất sữa saukhi

đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thểthường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảmảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinhdưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồichức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

- Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn conbú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp

- Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết

- Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

2.3.2.3 Bệnh sát nhau

Trang 24

Trong quá trình sinh đẻ bình thường, sau khi thai ra một thời gian nhấtđịnh tuỳ thuộc vào từng loài gia súc: Ngựa 20 - 60 phút, trâu bò 4 - 6 giờ(Bình thường không quá 12 giờ), dê, cừu 30 phút - 2 giờ, và ở lợn là 10 – 60phút nhau thai sẽ được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ Nếu quá thời gian trung bìnhtrên, nhau thai còn nằm lại trong tử cung thì được gọi là bệnh sát nhau Nguyên nhân:

- Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [19], sau khi đẻ tử cungco bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật khôngđược vận động phù hợp Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca

và P.Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiềuthai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

- Nhau mẹ và nhau con dính vào nhau: do con mẹ bị viêm tử cung hoặcbị bệnh sảy thai truyền nhiễm làm cho các núm nhau bị viêm, làm phá vỡ mốiquan hệ giữa nhau mẹ và nhau con nên dính vào nhau Do sự dính chặt nàymà nhiều khi tử cung co bóp mạnh nhau thai cũng không bong ra được Triệu chứng tuỳ thuộc vào mức độ xảy ra của bệnh, có thể chia ra các loại như sau:

Thể sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai con còn dính vớiniêm mạc tử cung mẹ ở cả hai sừng tử cung

Thể sát nhau không hoàn toàn: Phía sừng tử cung không thai, nhauthai con tách ra khỏi niêm mạc tử cung mẹ

Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung hay một ít númnhau con còn dính với niêm mạc tử cung, đa phần màng thai đã tách ra khỏiniêm mạc tử cung

Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005), [18]: Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bịsót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước,sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻcho

Trang 25

lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếmsố nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không

Hậu quả:

Khi gia súc bị bệnh sát nhau nếu không xử lý kịp thời và triệt để sẽ kếphát sang nhiều bệnh nguy hiểm khác: Viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm ốngdẫn trứng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình thụ tinh và khả năng sinh đẻ lầnsau Có trường hợp gây viêm tử cung tích mủ mãn tính, dẫn đến tình trạng lợnnái mất khả năng sinh sản

Ngoài ra bệnh thường kế phát gây nên chướng hơi, liệt dạ cỏ, sảnlượng sữa giảm hoặc mất hẳn, ngay sau khi khỏi bệnh vẫn hoàn toàn mất sữa

Sát nhau là bệnh gây nhiều tổn thất kinh tế, vì vậy việc đề phòng và điều trịbệnh kịp thời, tránh hiện tượng kế phát

Chẩn đoán:

- Để chẩn đoán bệnh sát nhau chủ yếu dựa vào các triệu chứng cục bộ vàtoàn thân như: lợn mẹ không yên tĩnh, đau nhẹ, thỉnh thoảng cong lưng rặn,thân nhiệt tăng, lợn hay uống nước Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịchmàu nâu

- Quan sát trực tiếp trực tiếp qua âm đạo: Trường hợp sát nhau hoàntoàn, chỉ nhìn thấy màng mỏng và trong suốt (màng ối, màng niệu) còn ởtrong âm đạo, hay còn treo lòng thòng ở mép âm môn

- Trường hợp sát nhau không hoàn toàn nhìn thấy được các màng thai vàmột số núm nhau con (trâu, bò) hay nhung mao trên bề mặt màng nhung(ngựa, lợn)

- Trường hợp sát nhau từng phần thì quan sát phần rau đã ra ngoài Trảinó lên mặt đất có thể phát hiện được những phần mang thai đã bị đứt, phầnmàng thai còn lại nằm trong tử cung

Điều trị:

Trang 26

- Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộnsẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránhnhững tổn thương Tiêm Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung chonhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

2.3.3.Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài

Pendistrep LA

- Dạng thuốc: huyễn dịch tiêm

- Quy cách sản phẩm: lọ 100 ml

- Thành phần: Trong 100 ml có:

Procaine penicillin G 20 triệu UI vàstreptomycin 20.000 mg

- Công dụng: Điều trị nhiễm trùng vết thương, viêm phổi, tụ huyết trùng, đóng dấu, viêm tử cung, đau móng, viêm vú

- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp 2 ngày/lần, tiêm 1 ml/15 kg TT, điều trị trong 5 ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau, hạ sốt, trợ sức, trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh Lắc kĩ trước khi dùng

Cơ chế tác dụng của Streptomycin và Penicillin

Penicillin có cơ chế tác dụng gần như amoxicillin

Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid (AG – amonosid)

là thuốc kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn ở mức ribosome Streptomycin gắn đặc hiệu vào tiểu phần 30s của ribosome Do vậy mã bị đọc sai, gây tổng hợp và tích lũy các protein sai lạc kìm hãm hãm vi khuẩn phát triển Streptomycin còn gây rối loạn cả giai đoạn tổng hợp protein từ khâu khởi đầu, kéo dài đến kết thúc Ngoài ra, còn các cơ chế khác như: thay đổi tính thấm màng, hô hấp tế bào, thay đổi ADN của vi khuẩn Một số AG khác còn gắn vào tiểu phần 50s

Trang 27

Kích thích sinh sản: trâu cái, bò cái: 10 ml/con Heo nái: 6 ml/con Cừu cái, dê cái: 5ml/con, chó cái, mèo cái: 1 ml/con

Kích thích tiết sữa: trâu cái, bò cái: 3 ml/con,+ heo nái: 2 ml/con, cừu cái, dê cái: 1 ml/con, chó cái, mèo cái: 1 ml/con

+ Cơ chế tác dụng của Oxytocin:

Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung, có tác dụng đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ

Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của Oxytocin là kích thích bài tiết sữa

Oxytocin cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bàng quang

và cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung

Trang 28

2.3.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻvà lợn nái nuôi con

2.3.4.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon

có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con

Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

Quy trình nuôi dưỡng:

- Theo Trần Văn Phùng (2004) [16], thức ăn dùng cho lợn nái đẻphải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợnnái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó,hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạngsức khỏe

cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối vớinhững lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thứcăn, đẻ trước

2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sứckhỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằngcách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phảicăn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độdinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh(0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻcó thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăncháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách độtngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cầnchế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăncho lợn nái

Quy trình chăm sóc:

- Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếpđến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con

Ngày đăng: 20/09/2018, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm