1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống sắn tại trường đại học nông lâm thái nguyên

72 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ HỒNG Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG SẮN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính

Trang 1

NGUYỄN THỊ HỒNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT

SỐ GIỐNG SẮN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học

Khóa học : 2013-2017

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ HỒNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT

SỐ GIỐNG SẮN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học

Khóa học : 2013-2017 Giảng viên hướng dẫn : 1 PGS.TS Nguyễn Viết Hưng

2 TS Hoàng Kim Diệu

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, em đã nhận được sự quan tâm của nhiều tập thể và cá nhân Em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và tập thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông học đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Viết Hưng và cô giáo TS Hoàng Kim Diệu đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và

giúp đỡ để em vượt qua khó khăn hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn động viên , giúp

đỡ em về tinh thần , vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp kết thúc khóa học 2013-2017

Thái Nguyên , tháng 03 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hồng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm 2010 - 2014 7

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của thế giới, các châu lục và một số nước trồng sắn chính năm 2014 8

Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam 10

giai đoạn 2010 - 2014 10

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả nước năm 2014 11

Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Thái Nguyên giai đoạn 14

2010 - 2015 14

Bảng 4.1: Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của giống sắn tham 29

gia thí nghiệm 29

Bảng 4.2: Đặc điểm thực vật học của các giống sắn tham gia thí nghiệm 31

Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống sắn tham gia thí nghiệm 34

Bảng 4.4: Tốc độ ra lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 37

Bảng 4.5: Tuổi thọ lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 39

Bảng 4.6: Đặc điểm nông sinh học của một số giống sắn tham gia thí nghiệm 41

Bảng 4.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống sắn tham gia thí nghiệm 45

Bảng 4.8: Năng suất củ tươi, năng suất thân lá, năng suất sinh vật học và chỉ số thu hoạch của các giống sắn tham gia thí nghiệm 48

Bảng 4.9: Tỷ lệ tinh bột, năng suất tinh bột, tỷ lệ chất khô, năng suất củ khô của các giống sắn tham gia thí nghiệm 52

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Năng suất củ tươi, năng suất thân lá, năng suất sinh vật học của các

giống sắn tham gia thí nghiệm 49

Hình 4.2: Chỉ số thu hoạch của các giống sắn tham gia thí nghiệm 51

Hình 4.3: Biểu đồ Tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột của các giống sắn 53

tham gia thí nghiệm 53

Hình 4.4: Nãng suất củ khô, nãng suất tinh bột của các giống sắn tham gia thí nghiệm 54

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CIAT : Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc ITA : Viện Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế

NSSVH : Năng suất sinh vật học

NSTB : Năng suất tinh bột

NSCT : Năng suất củ tươi

NSCK : Năng suất củ khô

NSTL : Năng suất thân lá

TLTB : Tỷ lệ tinh bột

TLCK : Tỷ lệ chất khô

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 3

1.3 Yêu cầu của đề tài 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam 6

2.2.1 Tình hình sản suất và tiêu thụ sắn trên thế giới 6

2.2.2 Tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam 9

2.2.3 Tình hình sản xuất sắn tại Thái Nguyên 14

2.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam 15

2.3.1 Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới 15

2.3.2 Tình hình nghiên cứu sắn ở Việt Nam 18

2.4 Một số giống sắn được trồng phổ biến ở Việt Nam 22

PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng 23

Trang 8

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24

3.4.2 Quy trình kỹ thuật thí nghiệm 25

3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26

3.4.4 Phương pháp tính toán số liệu 28

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1 Tỷ lệ mọc mầm, thời gian mọc mầm của các giống sắn tham gia thí nghiệm 29

4.2 Đặc điểm thực vật học của các giống sắn tham gia thí nghiệm 31

4.3 Tốc độ sinh trưởng của các giống sắn tham gia thí nghiệm 32

4.3.1 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống sắn tham gia thí nghiệm 33

4.3.2 Tốc độ ra lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 36

4.3.3 Tuổi thọ lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 39

4.4 Đặc điểm nông sinh học của các giống sắn tham gia thí nghiệm 40

4.4.1 Chiều cao thân chính 41

4.4.2 Chiều dài các cấp cành 42

4.4.3 Chiều cao cây cuối cùng 43

4.4.4 Đường kính gốc 43

4.4.5 Tổng số lá trên cây 44

4.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống sắn tham gia thí nghiệm 45

4.5.1.Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống sắn tham gia thí nghiệm 45

4.5.1.1 Chiều dài củ 46

4.5.1.2 Đường kính củ 46

Trang 9

4.5.1.3 Số củ trên gốc 47

4.5.1.4 Khối lượng trung bình củ trên gốc 47

4.5.2 Năng suất củ tươi, năng suất thân lá, năng suất sinh vật học và chỉ số thu hoạch của các giống sắn tham gia thí nghiệm 48

4.6 Chất lượng của các giống sắn tham gia thí nghiệm 51

4.5.3.1 Tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột của các giống sắn tham gia thí nghiệm 53

4.5.3.2 Năng suất củ khô, năng suất tinh bột của các giống sắn tham gia thí nghiệm 54

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lấy củ được du nhập vào nước

ta từ đầu thế kỷ 19, là một trong những cây lương thực chính của cư dân nhiều vùng, nhất là các vùng đồi núi Nó được trồng rộng rãi ở 30˚ Bắc đến 30˚ Nam

và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là Châu Phi, Châu

Mỹ và Châu Á ( Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991)[1]

Sắn là cây trồng quen thuộc với hầu hết nông dân Việt Nam, nhất là đối với nhân dân vùng trung du và miền núi Cây sắn dễ trồng, thích ứng với đất đai

và điều kiện khí hậu rộng Trong những năm gần đây, các hoạt động chế biến và phát triển cây sắn trở thành cây nguyên liệu có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nhiều địa phương

Quan niệm đối với sản xuất sắn đã có nhiều thay đổi, vì lợi ích mà nó mang lại với tương lai đầy hứa hẹn cùng với giá trị lớn trên nhiều mặt: Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã

sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thực chính, nhất

là các nước của Châu Phi Tinh bột sắn còn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới Sắn cũng là thức ăn cho gia súc, gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài ra sắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột ngọt, đường, cồn, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm

Ở Việt Nam sắn cùng với lúa và ngô là ba cây trồng được ưu tiên nghiên cứu phát triển trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 của Bộ NN-PTNT Năm

Trang 11

2014, diện tích trồng sắn toàn quốc đạt 551,30 nghìn ha, năng suất củ tươi bình quân là 18,55 tấn/ha, sản lượng là 10,2 triệu tấn (Tổng cục Thống kê Việt Nam,

2014 [15]) So với năm 2000, sản lượng sắn Việt Nam đã tăng hơn 3,93 lần, năng suất sắn đã tăng lên gấp hai lần Xuất khẩu sắn Việt Nam bắt đầu khởi sắc

từ năm 2008 Năm 2012, xuất khẩu sắn của Việt Nam đạt 1,35 tỷ USD, tăng 57,1% về lượng và 46,6% về giá trị so với năm 2011 Tuy nhiên năng suất sắn của Việt Nam còn thấp hơn so với một số nước Đông Nam Á như Ấn Độ (35,65 tấn/ha), Indonesia (23,35 tấn/ha), Thái Lan (22,25 tấn/ha) (FAOSTAT, 2014) Các vùng trồng sắn chính của Việt Nam được tập trung chủ yếu là Bắc Trung bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Trung du miền núi phía Bắc

Một trong những tồn tại của sản xuất sắn ở Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng hiện nay là năng suất sắn ở địa phương vẫn còn thấp hơn nhiều

so với tiềm năng năng suất của các giống sắn mới Lí do là người dân thường quan niệm sắn là cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh

và chọn giống Để mang lại hiệu quả kinh tế và nâng cao đời sống cho nông dân trồng sắn ở Việt Nam Vấn đề cấp thiết là nghiên cứu chọn tạo giống sắn có năng suất tinh bột cao, ổn định và thích nghi với điều kiện của các tiểu vùng sinh thái khác nhau, có khả năng kháng một số sâu bệnh hại cũng như nghiên cứu các biện pháp canh tác hợp lý Cây sắn hiện nay cũng có vai trò rất quan trọng trong công nghiệp chế biến tinh bột, thức ăn gia súc, thực phẩm, dược liệu…và là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị Để đáp ứng nguồn nguyên liệu hiện nay thì việc lựa chọn giống cho năng suất cao, chất lượng tốt và thích ứng rộng là điều rất quan trọng Vì vậy để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vững ở Việt Nam,

Trang 12

ngoài việc nghiên cứu về mật độ, phân bón, thời vụ và kỹ thuật canh tác, việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống sắn cũng là vấn đề

rất cần thiết Xuất phát từ thực tế trên em đã tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống sắn tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên’’

1.2 Mục đích của đề tài

- Thông qua nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống sắn để lựa chọn được giống có năng suất, chất lượng cao phục vụ cho sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế Từ đó góp phần bổ sung vào cơ cấu giống cây trồng nói chung và làm phong phú bộ giống sắn của vùng

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống sắn tham gia thí nghiệm

- Đánh giá được năng suất của một số giống sắn tham gia thí nghiệm

- Đánh giá được chất lượng của một số giống sắn tham gia thí nghiệm

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Qua quá trình thực hiện đề tài sinh viên sẽ được củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tế

- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, nắm được các phương pháp và tổ chức thí nghiệm tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống sắn tại Thái Nguyên

Trang 13

- Đề tài cũng được xem như là tài liệu tham khảo của Trường, Khoa và của sinh viên các khóa tiếp theo

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của mỗi giống sắn nhằm phát triển các giống tốt để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ sắn của Tỉnh Thái Nguyên cũng như các Tỉnh Trung du miền núi phía Bắc

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cây sắn (Manihot esculenta) là cây trồng rất quan trọng của nhiều nước

trên thế giới Ở châu Á, sắn được du nhập vào Sri Lanka và Calcuta vào cuối thế

kỷ 18 Một quan điểm khác lại cho rằng sắn được người Bồ Đào Nha ở Goa (Ấn Độ) và người Tây Ban Nha ở Philippines du nhập vào châu Á từ thế kỷ 16 Cũng như ở châu Phi, cây sắn thực sự được phát triển ở châu Á từ thế kỷ 19

Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991)[1] và được trồng trên khắp lãnh thổ nước ta từ Bắc đến Nam, vùng núi và trung du phía Bắc, vùng ven biển Nam Trung Bộ và vùng Đông Nam Bộ do khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng

Sắn là cây trồng tiềm năng của thế kỷ 21 được sử dụng làm lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, nhiên liệu sinh học, bao bì, màng phủ sinh học… Thị trường sắn Việt Nam hiện có nhu cầu cao và sắn đã trở thành một trong bảy mặt hàng xuất khẩu triển vọng Việt Nam là nước xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan với thị trường chính là Trung Quốc (Phạm Văn Biên, 1998)[2] Cả nước hiện có 13 nhà máy nhiên liệu sinh học đang hoạt động với tổng công suất trên 1.067,7 triệu lít cồn/năm nên cần số lượng nguyên liệu lên đến 6,5 triệu tấn sắn củ tươi và 8,8 triệu tấn sắn củ tươi

Trong những năm gần đây sắn đang dần trở thành nguyên liệu chính cho công nghiệp nhiên liệu sinh học (sản xuất ethanol) Các nhà máy chế biến cồn sinh học đã và hiện đang được xây dựng ở Quảng Nam, Phú Thọ, Quảng Ngãi và Bình Phước với công suất mỗi nhà máy ở mức 100 triệu lít/năm, tổng công suất

Trang 15

4 nhà máy là 400 triệu lít/năm Khi các nhà máy sản xuất ethanol đi vào hoạt động, sẽ tiêu thụ khối lượng sắn rất lớn

Từ thực tế phát triển sản xuất sắn của nước ta trong những năm qua, đặc biệt về kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của nước ta đã đưa cây trồng này trở thành một trong 10 sản phẩm nông nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, cùng với đó là những kết quả của nghiên cứu phát triển cây sắn trong khu vực và nhu cầu của thị trường đã đặt cây trồng này trước những cơ hội và thách thức lớn Vì vậy, việc thực hiện đề tài nghiên cứu này sẽ đáp ứng được yêu cầu sản xuất Đó là lựa chọn giống sắn có tiềm năng đạt năng suất củ tươi và có tỷ lệ tinh bột cao, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất sắn và góp phần phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng trọng điểm sắn và dặc biệt là ở Thái Nguyên

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản suất và tiêu thụ sắn trên thế giới

Hiện nay, sắn được trồng trên dưới 100 quốc gia trên toàn thế giới với các quy mô canh tác rất khác nhau Sản lượng sắn toàn thế giới trong nhiều năm trở lại đây duy trì tương đối ổn định ở mức sản lượng 230 triệu tấn sắn

Diện tích sắn trên toàn thế giới năm 2014 đạt 23,87 triệu ha, năng suất bình quân 11,24 tấn/ha, sản lượng 268,28 triệu tấn (FAOSTART, 2017)[21] Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới 5 năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1 như sau:

Trang 16

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm 2010 - 2014

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Qua bảng số liệu 2.1 cho thấy:

Từ năm 2010 đến năm 2014 diện tích sắn đã tăng 4,58 triệu ha, năng suất tăng 2,07 tấn/ha nên sản lượng sắn đã tăng 27,62 triệu tấn Ta có thể nhận thấy diện tích năm 2014 tăng so với năm 2013 là 3,14 triệu ha Qua đó cho thấy rằng cây sắn hiện nay đang dần mở rộng về diện tích và tăng cả về năng suất và sản lượng Có được kết quả đó là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị của cây sắn Mặt khác, sắn lại là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện khác nhau, đặc biệt là có thể sinh trưởng và cho năng suất cao khi đất nghèo dinh dưỡng, là cây trồng công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao với nhiều cây công nghiệp khác

Trang 17

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của thế giới, các châu lục và

một số nước trồng sắn chính năm 2014

Vùng trồng Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn) Toàn thế giới 23,87 14,54 268,28

Trang 18

17,31 triệu ha, năng suất củ tươi bình quân 8,42 tấn/ha, sản lượng 145,77 triệu tấn Ở Châu Phi, nước có diện tích sắn lớn nhất là Ghaha với 0,89 triệu ha, năng suất đạt 18,59 tấn/ha, sản lượng 16,52 triệu tấn Sắn là nguồn lương thực chính của người dân tại nhiều nước ở vùng này Châu Phi sắn được coi là giải pháp an

toàn hàng đầu để khắc phục tình trạng suy sinh dưỡng

Năm 2014, tổng diện tích sắn trồng ở Châu Mỹ là 2,43 triệu ha, năng suất

củ tươi bình quân 13,31 tấn/ha, sản lượng 32,42 triệu tấn Brazil là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất Châu Mỹ với 1,57 triệu ha, sản lượng đạt 23,25 triệu tấn

Châu Á cùng với Châu Phi và Châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quan trọng của thế giới Diện tích sắn Châu Á năm 2014 là 4,10 triệu ha, sản lượng 89,83 triệu tấn, năng suất sắn ở Châu Á hiện đạt bình quân 21,90 tấn/ha Thái Lan là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất Châu Á với 1,35 triệu ha, sản lượng 30,02 triệu tấn Sản xuất sắn tại Châu Á tăng ở mức cao 3%/năm trong thời gian cuối những năm 70 và đầu 80, những năm 90 sản xuất sắn phát triển chậm lại Sản xuất sắn được phát triển khá nhanh trở lại ở 3,3%/năm trong suốt 10 năm (Trần Công Khanh, 2009)[7]

2.2.2 Tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam

Ở Việt Nam, sắn là một trong 3 cây trồng có vai trò quan trọng trong chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô Sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp với sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ

Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 được thể hiện ở bảng 2.3 dưới đây:

Trang 19

Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam

giai đoạn 2010 - 2014

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Qua số liệu ở bảng 2.3 cho thấy tình hình sản xuất sắn qua các năm tăng

cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2010, Việt Nam có diện tích trồng sắn là 498,00 nghìn ha, năm 2014 là 551,10 nghìn ha, tăng so với năm 2010 là 5,31 nghìn ha, năng suất tăng từ 17,26 tấn/ha trong năm 2010 lên 18,55 tấn/ha vào năm 2014

Ở nước ta khoảng 66% diện tích của sắn được trồng trên đất đồi núi, 40% diện tích còn lại được trồng trên các loại đất khác Sắn ưa đất có độ pH từ 4,5 - 6,0 Tại miền Bắc Việt Nam, sắn được trồng chủ yếu ở khu vực có địa hình đồi núi, đất đá và đất cát pha Trong khi đó sắn ở miền Nam Việt Nam được trồng chủ yếu trên đất cát màu xám, các loại đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng, các khu vực ven biển miền Trung và Đông Nam Bộ, chiếm khoảng 60% diện tích sắn toàn miền Nam Trong khi đó hơn 30% diện tích sắn được trồng ở Tây Nguyên và Đồng Nai, Bình Phước của khu vực Đông Nam Bộ trên đất đỏ màu vàng với địa hình đồi núi ( Bộ NN và PTNT)[3] Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trên cả nước được thể hiện trong bảng dưới đây:

Trang 20

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả nước

năm 2014

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (nghìn tấn)

Trang 21

Định (vùng sắn huyện Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh) và Phú Yên (vùng sắn huyện Đồng Xuân, Sông Hinh và Tuy Hòa), (Nguyễn Thị Lương, 2014)[4]

- Vùng Tây Nguyên: Có diện tích sắn lớn thứ 2 cả nước, với ưu thế về điều kiện tự nhiên và con người, diện tích sắn liên tục tăng mạnh trong thời gian qua Năm 2014, diện tích sắn toàn vùng đạt 152,2 nghìn ha, năng suất đạt 17,60 tấn/ha, sản lượng ước đạt trên 2679,20 nghìn tấn củ tươi Diện tích tập trung chủ yếu tại một số tỉnh: Kon Tum (vùng sắn huyện Đắk Tô, Đắk Hà, Ngọc Hồi và Sa Thầy), Gia Lai (vùng sắn huyện An Khê, Măng Yang, Chư Prông, Krông Pa và Đức Cơ), Đắc Lắc (vùng sắn huyện Ea Kar, MDrăk, Đăk Song, Đăk Lấp, Đăk Nông và Krông Bông)

- Vùng Đông Nam Bộ: Là vùng có nhiều các nhà máy chế biến tinh bột, người trồng sắn thì cũng đã bắt đầu có tích lũy và làm giàu nhờ nghề trồng sắn Diện tích trồng sắn tăng liên tục trong thời gian qua Năm 2014, diện tích toàn vùng đạt 97,70 nghìn ha , năng suất 27,79 tấn/ha, sản lượng đạt 2715,10 nghìn tấn củ tươi Ở khu vực này sắn được trồng nhiều tại một số tỉnh như: Tây Ninh (vùng sắn ở huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu và Châu Thành), Đồng Nai (vùng sắn ở huyện Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Đông Phú, Phước Long, Lộc Ninh,

Bù Đăng và Bình Long), Bà Rịa - Vũng Tàu (vùng sắn huyện Xuyên Mộc), Bình Thuận (vùng sắn huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân và Đức Linh) và Ninh Thuận (vùng sắn ở huyện Bắc Ái)

- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Là vùng có lịch sử phát triển cây sắn từ lâu đời, cũng là vùng có đầy đủ lợi thế về phát triển sắn, tuy nhiên vùng Trung du và miền núi phía Bắc phát triển chậm hơn so với vùng Đông Nam Bộ

là do năng lực chế biến phát triển chậm, đồng thời sản xuất sắn gặp nhiều điều kiện hạn chế do điều kiện khí hậu, đất dốc, giao thông khó khăn Năm 2014, diện

Trang 22

tích toàn vùng đạt 118,5 nghìn ha, năng suất đạt trên 12,87 tấn/ha, sản lượng 1525,60 ngh́n tấn củ tươi Vùng này sắn được trồng trên các chân đồi và trồng theo vùng nguyên liệu, diện tích trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh Yên Bái (vùng sắn Văn Yên, Yên Bình), Phú Thọ (vùng sắn Phù Ninh, Thanh Ba, Thanh Sơn, Yên Lập), Hòa Bình (vùng sắn Lạc Sơn, Kim Bôi, Đà Bắc, Tân Lạc)

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục hải quan Việt Nam, tháng 11/2014 Việt Nam đã xuất khẩu 277,20 nghìn tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, trị giá 103,9 triệu USD, tăng 17,4% về lượng và tăng 18,4% về trị giá so với tháng 10/2014, nâng lượng sắn và sản phẩm từ sắn xuất khẩu từ đầu năm cho đến hết tháng 11 lên 290,0 nghìn tấn, trị giá trên 1 tỷ USD, tăng 0,3% về lượng và tăng 0,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước

Việt Nam xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn tới các thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Nhật Bản, Malaixia và Đài Loan, trong đó Trung Quốc là thị trường chính, thị trường xuất khẩu lớn nhất, thị trường xuất khẩu lớn thứ hai sau Trung Quốc là Hàn Quốc Những năm gần đây thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam dự báo thuận lợi và có lợi thế cạnh tranh cao do có nhu cầu cao về chế biến bioethanol, bột ngọt, thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính

Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020 Chính vì thế chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa, ngô và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng, những vụ

có điều kiện phát triển Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 450 nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất và sản lượng sắn bằng cách chọn tạo và phát triển các giống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng

Trang 23

và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thích hợp vùng sinh thái (Viện KHKT Nông Nghiệp Việt Nam, 2003)[15]

2.2.3 Tình hình sản xuất sắn tại Thái Nguyên

Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Thái Nguyên giai đoạn

2010 - 2015

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: Chi cục thống kê Thái Nguyên, 2017) [4]

Thái Nguyên là tỉnh thuộc khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, địa hình chủ yếu

là đồi núi thích hợp cho việc canh tác sắn Ngày nay công nghiệp chế biến sắn càng phát triển nhất là ngành chế biến tinh bột và ethanol thì sắn được coi là một trong những cây trồng cho thu nhập cao Theo Chi cục thống kê Thái Nguyên tổng diện tích, năng suất và sản lượng sắn của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2015 có sự biến động trong đó diện tích và sản lượng có xu hướng giảm Cụ thể là tổng diện tích trồng sắn của tỉnh Thái Nguyên đạt 3,9 nghìn ha năm 2010, đến năm 2015 diện tích trồng sắn của tỉnh giảm xuống còn 3,4 nghìn ha, mặc dù diện tích giảm nhưng năng suất sắn lại tăng từ 14,59 tấn/ha năm 2010 lên 14,78 tấn/ha năm 2015, tuy nhiên sản lượng cũng giảm nhẹ từ 56,90 nghìn tấn năm

Trang 24

2010 xuống 50,00 nghìn tấn năm 2015 Năng suất tăng cho thấy một bước tiến

bộ vượt bậc trong công tác nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn sản xuất Từ đó

ta thấy người dân nơi đây đã và đang sử dụng những giống sắn mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, tỷ lệ tinh bột cao và áp dụng vào sản xuất những biện

pháp kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững

2.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam 2.3.1 Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới

Trong 5 năm gần đây, CIAT, Danforth Center và IITA đã giới thiệu một

số dòng, giống sắn tốt, đã được nhân trồng tại Colombia, Brazil và một số nước

ở châu Phi Đồng thời tập trung vào việc ứng dụng công nghệ sinh học và lai tạo

để cải thiện đặc tính nông học của các giống sắn

Trên thế giới sắn được trồng chủ yếu bằng hom nên có lợi thế về mặt duy trì các tính trạng tốt qua các thế hệ sinh sản vô tính (dòng vô tính) song lại có khó khăn là hệ số nhân giống của sắn rất thấp (trung bình là 1:7) Quá trình chọn tạo giống sắn cần phải có ít nhất 6 năm để xác định được dòng sắn triển vọng ( Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Kế Hùng, 1985)[6], ( Trần Ngọc Quyền và cộng sự, 1990)[8] Nguồn gen và cơ cấu giống sắn phù hợp cho mỗi vùng sinh thái có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công tác cải tiến giống sắn Sự phong phú, đa dạng về nguồn gen và phương pháp chọn, tạo vật liệu giống sắn triển vọng là cơ

sở để tạo ra giống tốt

Trên thế giới, việc nghiên cứu giống sắn được thực hiện chủ yếu ở Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế - CIAT tại Colombia, Viện nghiên cứu Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế - IITA tại Nigeria, cùng với các Trường, Viện nghiên cứu quốc gia ở những nước trồng và tiêu thụ nhiều sắn CIAT và IITA đã có những chương trình nghiên cứu rộng lớn đồng thời kết hợp chặt chẽ các chương

Trang 25

trình sắn của mỗi quốc gia để tiến hành thu thập, nhập nội, chọn tạo và cải tiến giống sắn Mục tiêu của chiến lược cải tiến giống sắn được thay đổi tuỳ theo sự cần thiết và khả năng của từng chương trình quốc gia đối với công tác tập huấn, phân phối nguồn vật liệu giống ban đầu đã được điều tiết bởi các chuyên gia chọn tạo giống sắn của CIAT ( Trần Ngọc Ngoạn, Trần Văn Diễn, 1992)[9]

CIAT là nơi bảo tồn nguồn gen giống sắn đứng hàng đầu của thế giới Hiện tại CIAT cũng thu thập, bảo quản được 5.782 mẫu giống sắn và đăng ký tại FAO gồm 5.138 mẫu giống sắn thu thập tại vùng Nam Mỹ và Trung Mỹ, 24 mẫu giống sắn ở Bắc Mỹ, 384 mẫu sắn lai của CIAT, 163 mẫu giống sắn vùng Châu

Á, 19 mẫu giống sắn vùng Châu Phi ( Phạm Văn Biên, 1998)[2] Trong số 5.728 mẫu giống sắn này có 35 loài sắn hoang dại được thu thập nhằm sử dụng lai tạo

ra giống sắn kháng sâu bệnh hoặc giàu protein Nguồn gen giống sắn nêu trên đã được CIAT bảo tồn và đánh giá cẩn thận về khả năng cho năng suất, giá trị dinh dưỡng, thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh hại cũng như thích ứng với sự thay đổi của môi trường Từ đó chọn ra những cặp bố mẹ phục vụ cho công tác cải tiến giống sắn để trao đổi, giữ gen đối với các nước

Tại Châu Mỹ La tinh, chương trình chọn tạo giống sắn của CIAT đã phối hợp với CLAYUCA và những chương trình sắn quốc gia của các nước Brazil, Colombia, Mehico… giới thiệu cho sản xuất ở các nước này những giống sắn tốt như SM1433-4, CM3435-3, SG337-2, CG489-31, MCol72, AM273-23, MBRA383… Do vậy đã góp phần đưa năng suất và sản lượng sắn trong vùng tăng lên một cách đáng kể ( Trịnh Thị Phương Loan, 2007)[8]

Viện Nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới quốc tế IIAT (International Institute Tropical Agriculture) đặt tại Nigieria đã qua thu thập, đánh giá, bảo quản 1.286 mẫu giống, vật liệu đã chọn lọc và đưa vào sản xuất một số giống sắn

Trang 26

chống chịu virus có năng suất cao hơn giống địa phương 2 đến 3 lần (Phan Kim Sơn, 2008)[18]

Ở Châu Phi, CIAT phối hợp với IITA và các nước Nigeria, Congo, Ghana, Tanzania, Mozambique, Angola, Uganda cùng nhiều tổ chức quốc tế như FAO, Bill Gates Foundation để nghiên cứu nhằm phát triển các giống sắn mới ngắn ngày, chất lượng cao (giàu carotene, vitamin, protein…) thích hợp ăn tươi và có khả năng kháng bệnh virus (một loại bệnh dịch hại nghiêm trọng đối với cây sắn

ở Châu Phi)

Ở Châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo được tổ chức tại Thái Lan vào tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chương trình cải tiến giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất củ tươi

và tỷ lệ tinh bột cao nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp Mục tiêu cải tiến giống sắn của những quốc gia (Ấn Độ, Indonexia, Srilanca) có nhu cầu cao

về sử dụng sắn làm lương thực là chọn tạo những giống sắn ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng axit Cyanhydric (HCN) trong củ thấp, thích hợp tiêu thụ tươi, dạng cây đẹp, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh( Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam)[16]

Tại Hội thảo Sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại thủ đô Viên Chăn, Lào ngày 20 - 24 tháng 10 năm 2008 Các nhà khoa học đã xác định tương lai mới cho sắn ở Châu Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học có lợi cho người nghèo, mục tiêu là chọn tạo được những giống mới đáp ứng được yêu cầu sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc, phát triển mới trong chế biến sắn, đặc biệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột, tinh bột biến tính, màng phủ sinh học, công nghiệp thực phẩm ( Phạm Anh Tuấn, 2013)[12]

Trang 27

Ấn Độ là nước ở Châu Á có năng suất sắn cao hàng đầu thế giới Cơ quan điều phối cải tiến giống sắn toàn Ấn Độ là Viện Nghiên cứu Cây có củ (CTCRI)

ở Trivandrum của tiểu bang Kerala CTCRI đã thu thập, bảo quản, đánh giá 1.354 mẫu giống sắn và lai tạo được hàng chục nghìn hạt sắn lai phục vụ cho chương trình chọn tạo các giống sắn mới Gần đây, Ấn Độ có 5 giống sắn mới được nhà nước công nhận là giống quốc gia, trong đó giống Sree Prakash có nhiều triển vọng đạt năng suất củ tươi cao (35 - 40) tấn/ha ( Trần Công Khanh, 2009) [7]

Chương trình cải tiến giống sắn của Trung Quốc được thực hiện chủ yếu tại Học Viện Cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc (CATAS), Viện Nghiên cứu Cây trồng Cận Nhiệt đới Quảng Tây (GSCRI) Những giống sắn mới năng suất cao trong thời gian gần đây tại Trung Quốc có SC201, SC205, SC124, Nanzhi188, GR911, GR891 ( Trình Công Tư, 2007) [14]

2.3.2 Tình hình nghiên cứu sắn ở Việt Nam

Chọn giống sắn tốt, năng suất cao phù hợp với đất đai và yêu cầu của sản xuất lớn là việc làm cần thiết để phát huy những ưu điểm của giống Nhưng trong điều kiện sản xuất trên diện rộng nếu không có một kế hoạch chọn lọc bồi dưỡng giống sắn thường xuyên thì sau một vài năm giống sắn tốt cũng dễ thoái hóa làm năng suất giảm xuống Thấy được tầm quan trọng của công tác chọn tạo giống sắn, các nhà khoa học Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu chọn lọc các giống sắn mới để phục

vụ cho sản xuất

Trong nước, theo tác giả Hoàng Kim, Phạm Văn Biên, cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 và có mặt ở miền Nam trước, sau đó mới đưa ra trồng ở miền Bắc và hiện nay sắn được trồng rộng khắp cả nước

Trang 28

Hơn 20 năm qua, Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc,

ĐH Nông lâm Thái Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây có củ (Viện CLT-CTP) đã thông qua các chương trình quốc gia, quốc tế để thu thập, bảo quản, đánh giá và sử dụng nguồn gen giống sắn; lai tạo, chọn lọc và chuyển giao giống sắn triển vọng ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa

- Giai đoạn 1986-1993, các giống mới HL20, HL23 và HL24 đã được Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc tuyển chọn và phát triển trên diện tích 70.000 - 80.000 ha, chủ yếu là ở phía Nam

- Giai đoạn 1989-2007, mạng lưới nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

về sắn của Việt Nam (VNCP) đã hợp tác chặt chặt chẽ với Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế (CIAT), Công ty VEDAN (Đài Loan) và các công ty chế biến sắn trong nước, đã phát triển thành công các giống sắn công nghiệp mới, năng suất cao như KM60, KM94, SM937-26, KM95, và KM98-1

- Giai đoạn 2007- 2015: ĐH Nông lâm Thái Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu

và phát triển Cây có củ, Viện Di truyền nông nghiệp đã giới thiệu cho sản xuất 4 giống sắn mới là KM98-7, NA1, SA06, KM21-12 Những giống sắn này có năng suất củ đạt từ 25 - 47 tấn/ ha, hàm lượng tinh bột đạt 28 - 30%, thời gian thu hoạch từ

7 - 10 tháng, thích hợp cho nhiều vùng sinh thái ở miền Bắc Việt Nam

Ở phía Nam, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc đã phát triển hai giống sắn mới đưa vào sản xuất là KM98-5, KM140 Những giống sắn này có năng suất củ tươi đạt 34,5 - 45 tấn/ha, hàm lượng tinh bột đạt từ 27 - 28%, thời gian sinh trưởng từ 7 - 10 tháng

Ngoài ra, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc đang

đề xuất công nhận hai giống mới HL-S10 và HL-S11 có năng suất củ đạt 45 - 55 tấn/

ha, hàm lượng tinh bột đạt 28 - 31%

Trang 29

Những giống sắn mới đã thực sự mang lại hiệu quả cho nông dân ở các vùng trồng sắn Việt Nam Ước tính lợi nhuận tăng thêm do tăng năng suất sắn đạt giá trị hàng nghìn tỷ đồng

Tuy vậy, bộ giống sắn đang trồng đại trà tại các địa phương chưa thật sự đáp ứng cho việc thâm canh tăng năng suất và rải vụ Nhiều tỉnh hiện đang trồng chủ yếu

là giống KM94, KM60

Theo kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc, hiện sản xuất giống KM94 chiếm 75,5% cơ cấu giống Tại vùng duyên hải Nam Trung bộ, giống KM94 chiếm 90%, giống KM98-5 là 7% Tại vùng Đông Nam bộ, giống KM94 chiếm 60%, KM140 chiếm 10%, KM98-5 chiếm 10%.Trước năm 1975 nguồn gen giống sắn đã được nhập nội và khảo sát tại Viện Khảo cứu Nông nghiệp Sài Gòn Ở phía Bắc cũng tiến hành một số thí nghiệm tập đoàn so sánh giống kết quả đã chọn ra được giống sắn H34 thuộc nhóm sắn đắng có tỷ lệ tinh bột cao (>30%)

Các nghiên cứu chọn tạo và khảo nghiệm giống sắn nhập nội từ CIAT thích hợp cho mục tiêu sản xuất cồn sinh học đang được thực hiện trong chương trình sắn Việt Nam Với 24.073 hạt giống sắn nhập nội từ CIAT, 37.210 hạt giống sắn lai tạo tại Việt Nam, 38 giống sắn tác giả và 31 giống sắn bản địa đã chọn được 98 giống sắn triển vọng Trong đó có ba giống KM140, KM98-5 và KM98-7 đã được đưa vào trồng tại nhiều địa phương ở giai đoạn 2007 – 2009

Hiện nay mục tiêu của chương trình cải thiện di truyền sắn tại Việt Nam là:

- Tăng tiềm năng năng suất, hàm lượng chất khô và hàm lượng tinh bột

- Rút ngắn thời gian thu hoạch

Trang 30

- Xác định các giống có năng suất cao phù hợp với từng khu vực và vùng sinh thái khác nhau nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các hệ thống canh tác nông

Thực hiện mục tiêu trên hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu

về chọn tạo giống đạt kết quả tốt, nhờ đó mà nhiều giống sắn mới được đưa vào sản xuất như: KM60, KM94, KM95, KM95-3, SM937-26, KM98-1, KM98-5, KM98-7, KM140… Việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào phục vụ sản xuất đại trà đã thực sự mang lại lợi nhuận cao cho nông dân trên diện rộng, cho nên tạo được công ăn việc làm và góp phần xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa và miền núi, đồng thời tăng sức cạnh tranh của tinh bột sắn xuất khẩu và các sản phẩm khác chế biến từ sắn trên thị trường trong và ngoài nước ( Bộ NN và PTNT)[3]

Những tiến bộ vượt bậc về công tác chọn tạo giống sắn trên thế giới và ở Việt Nam đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của phương pháp tuyển chọn giống sắn thích hợp theo vùng khí hậu, đất đai và tạo nguồn vật liệu khởi đầu phong phú

để tạo nên sự đột phá về năng suất Công tác thực nghiệm tuyển chọn giống sắn trên đồng ruộng chỉ có kết quả khi bảo đảm vững chắc được cơ sở di truyền những tính trạng nông học Trong đó, năng suất củ tươi, chỉ số thu hoạch có hệ số di

Trang 31

truyền cao; tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột có hệ số di truyền thấp và ít biến động bởi điều kiện môi trường (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [10]

2.4 Một số giống sắn được trồng phổ biến ở Việt Nam

Những giống sắn phổ biến trong sản xuất hiê ̣n nay ở Viê ̣t Nam có KM 94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26, KM98-7, HL23, Xanh Vĩnh Phú và một

số giống khác với tỷ lê ̣ tương ứng là 75,54%, 5,4%, 4,50%, 3,24%, 2,70%, 1,44%, 1,08% , 2,70%, và 3,40% , tổng diện tích sắn thu hoa ̣ch toàn quốc năm

2008 là 556.000 ha, vớ i năng suất bình quân 15,9 tấn/ ha, sản lượng sắn củ tươi 9,39 triệu tấn

Gần đây diê ̣n tích trồng mô ̣t số giống sắn mới triển vo ̣ng KM419, KM440, KM414, KM397, KM325, KM21-12 tăng nhanh cù ng với những giống sắn cao sản ngắn ngày KM 140, KM98-5, KM98-7 Đặc biệt là giống KM 419 (sắn siêu

bô ̣t, sắn siêu cao sản Nông Lâm , sắn giống, sắn cút lùn ,) đang tăng rất nhanh (Trần Ngọc Ngoạn và cộng sự, 2004) [13] Những giống sắn mới có ưu điểm năng suất cao , cây thấp go ̣n đễ trồng dày , ngắn ngày, ít bệnh nên nông dân đã nhạy bén mua giống chuyển đổi , thay bớt diê ̣n tích giống sắn chủ lực KM 94 có năng suất cao ổn đi ̣nh, nhiều bô ̣t nhưng cây cao tán rô ̣ng khó trồng dày, dài ngày

và bị nhiễm bệnh chồi rồng

Trang 32

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu gồm 7 giống sắn:

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 1 năm 2017

- Địa điểm: Thí nghiệm được thực hiện tại khu cây trồng cạn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trang 33

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm thực vật học của một số giống sắn tại Trường Đại

học Nông Lâm Thái Nguyên

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống sắn tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Nghiên cứu khả năng cho năng suất và chất lượng của một số giống sắn tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí : Theo phương pháp tuần tự , không có nhắc lại

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 1,5 × 17 = 25,5m2

- Tổng diện tích thí nghiệm: 25,5 × 7 = 158,5m2

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6 CT7

Dải bảo vệ Đường đi

Dải bảo vệ

Trang 34

Trong đó: Mỗi công thức là một giống

3.4.2 Quy trình kỹ thuật thí nghiệm

- Quy trình kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm trên theo hướng dẫn của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống sắn (QCVN 01-61:2011/ BNNPTNT)

+ Làm đất: Cày bừa kỹ, sâu , nhỏ, tơi xốp, sạch cỏ dại…

+ Mật độ trồng: 1m x 1m tương đương với 10.000 cây /ha

- Phân bón:

+ Lượng phân bón cho 1ha:

10 tấn phân chuồng + 120 kg N + 80 kg P2O5 + 120 kg K2O

+ Kỹ thuật bón phân:

Bón lót toàn bộ phân chuồng + 100% P2O5 + 1/3N + 1/3 K2O

Bón thúc lần 1: Sau trồng 45 ngày với lượng 1/3N + 1/3 K2O kết hợp với làm cỏ lần 1 và vun gốc

Bón thúc lần 2: Sau trồng 90 ngày với lượng 1/3N + 1/3 K2O kết hợp với làm cỏ và vun cao gốc

Trang 35

3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

 Theo dõi thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống sắn tham gia thí nghiệm

+ Thời gian mọc mầm (ngày): từ ngày trồng đến khi có 50% số mầm mọc lên khỏi mặt đất

+ Tỷ lệ mọc mầm (%): số hom mọc trên tổng số hom trồng ×100

 Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống sắn tham gia thí nghiệm

+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày): cố định bằng cọc tre 5 cây ngẫu nhiên / ô thí nghiệm (5 cây/ giống), 15 ngày đo chiều cao cây 1 lần, lấy số liệu trung bình của mỗi lần theo dõi, mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng

+ Tốc độ ra lá (lá/ngày): theo dõi trên 5 cây đã đo chiều cao, 15 ngày đếm

số lá mới ra 1 lần, dùng phương pháp đánh dấu lá non để biết số lá mới ra, lấy số liệu trung bình của mỗi lần theo dõi, mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng

+ Tuổi thọ lá (ngày): theo dõi trên 5 cây được cắm cọc tre, dùng phương pháp đánh dấu lá non để biết tuổi thọ lá, 15 ngày theo dõi 1 lần, theo dõi từ khi lá xuất hiện đến khi lá đổi màu, lấy giá trị trung bình của mỗi lá, mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng

+ Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các giống sắn tham gia thí nghiệm

Theo dõi một lần khi tiến hành thu hoạch, theo dõi 5 cây ngẫu nhiên/ ô thí nghiệm (5 cây/ giống), đo đếm lấy số liệu trung bình

- Chiều cao thân chính: đo từ điểm gốc của cây đã được cố định bằng cọc đến điểm phân cành đầu tiên

- Chiều dài các cấp: đo chiều dài các cấp cành

Trang 36

- Chiều cao cuối cùng: chiều dài thân chính + chiều dài cấp cành

- Đường kính gốc: dùng thước kẹp pame đo gốc cách mặt đất 10cm

- Tổng số lá trên cây: đếm tổng số lá (sẹo lá)/cây

 Theo dõi năng suất, chất lượng và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống sắn tham gia thí nghiệm

- Theo dõi một lần khi tiến hành thu hoạch:

+ Chiều dài củ, đường kính củ (cm): phân thành 3 nhóm (dài, trung bình, ngắn) và mỗi loại chọn 3 củ để đo chiều dài củ, đường kính củ Sau đó lấy giá trị trung bình

+ Số củ/gốc (củ): đếm tổng số củ của 5 cây theo dõi và lấy giá trị trung bình + Khối lượng củ/gốc (kg): cân khối lượng củ của 5 cây theo dõi , sau đó lấy giá trị trung bình

+ Năng suất củ tươi (tấn/ha) = Khối lượng trung bình của 1 gốc x mật độ cây/ha

+ Năng suất thân lá (tấn/ha) = Khối lượng trung bình của 1 cây x mật độ cây/ha

+ Năng suất sinh vật học (tấn/ha) = Năng suất củ tươi + Năng suất thân lá + Tỷ lệ chất khô (%): Xác định theo phương pháp khối lượng riêng của CIAT, mỗi ô thí nghiệm khi thu hoạch lấy 5 kg củ tươi cân trong không khí sau

đó đem cân trong nước bằng cân Reinman rồi áp dụng công thức sau:

Y = A x 158,3 - 142,0

A – B Trong đó:

Y: Tỷ lệ chất khô

A: Khối lượng củ tươi cân trong không khí (g)

Ngày đăng: 20/09/2018, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w