1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh đầu đen trên gà cáy củm tại thái nguyên

60 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Phát hiện, chẩn đoán được bệnh đầu đen ở gà cáy củm và đưa ra phương pháp điều trị cho gà cáy củm tại trại chăn nuôi của chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VI LAN HƯƠNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÕNG VÀ TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN

TRÊN GÀ CÁY CỦM TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2013-2017

Thái Nguyên – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VI LAN HƯƠNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÕNG VÀ TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN

TRÊN GÀ CÁY CỦM TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2013-2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Thơm

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, tập thể các thầy cô giáo trong khoa cùng các bác, anh, chị công nhân viên trong trại chăn nuôi thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi tại xã Tức Tranh – huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn

TS Bùi Thị Thơm đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập

và hoàn thành báo cáo đề tài

Cuối cùng tôi xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành tích trong công tác, có nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 08 tháng 1 năm 2017

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 22

Bảng 4.1 Lịch dùng vaccine cho gà Cáy củm 27

Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 27

Bảng 4.3 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm (g/con) 30

Bảng 4.4 Sinh trưởng tuyệt và tương đối của đàn gà 32

Bảng 4.5 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 34

Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc đầu đen theo tuổi gà 36

Bảng 4.7 Triệu chứng cuả gà bị bệnh đầu đen 39

Bảng 4.8 Bệnh tích mổ khám của gà bị đầu đen 40

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh 41

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 31

Hình 4.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm 33

Hình 4.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của đàn gà 33

Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh Đầu đen theo tuổi gà 37

Trang 7

v

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 3

2.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 6

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

2.3 Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu - Chi nhánh công ty nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa 18

2.3.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình chăn nuôi của xã Tức Tranh huyện Phú Lương 18 2.3.2 Tình hình sản xuất của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Công ty nghiên cứu & Phát triển động thực vật bản địa (NC&PT động thực vật bản địa) 19

Trang 8

vi

Phần 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng 21

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 21

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21

3.4.2 Phương pháp theo dõi 22

PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 24

4.1.1 Công tác chăn nuôi 24

4.1.2 Công tác thú y 26

4.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 27

4.1.4 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà: 28

4.1.5 Công tác khác 29

4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề nghiên cứu 30

4.2.1 Sinh trưởng tích lũy của đàn gà thí nghiệm 30

4.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của gà 31

4.2.3 Kết quả về tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 33

4.2.4 Tình hình mắc Đầu đen theo lứa tuổi ở đàn gà cáy củm thả vườn 35

4.2.5 Triệu chứng, bệnh tích bệnh đầu đen 38

Phần 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC

Trang 9

1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam Hiện nay chăn nuôi đang là ngành giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp ở nước ta, song song với việc chăn nuôi gia súc là để lấy thịt, sữa, da, lông… thì chăn nuôi gia cầm cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc cung cấp những thực phẩm giàu dinh dưỡng, làm phong phú thêm thực đơn trong mỗi bữa ăn Ngoài ra phát triển chăn nuôi gia cầm còn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho các trang trại, hộ gia đình, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở nông thôn

và còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, chăn nuôi gà còn tạo nguồn phân bón hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất cây trồng

Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình dịch bệnh xảy ra nhiều và diễn biến phức tạp Dù chăn nuôi theo phương thức nào thì dịch bệnh cũng là một trong những yếu tố gây thiệt hại nặng nề nhất, ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi Trong đó bệnh đầu đen ở gà là một trong những bệnh thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại lớn đến chăn nuôi gà Đây là bệnh do ký sinh trùng gây nên

Bệnh đầu đen ở gà có tên khoa học là Histomoniasis, do một loại đơn bào Histomonas Meleagridis gây ra chủ yếu trên gà thả vườn giai đoạn 3 – 14 tuần

Bệnh gây nhiều thiệt hại, vì thường chẩn đoán sai hoặc nhầm sang bệnh cầu trùng, viêm ruột hoại tử… với tỷ lệ chết cao lên đến 80 – 90%

Gà cáy củm là một giống gà địa phương mới được phát hiện tại Cao Bằng, theo người dân địa phương thì đây là giống gà không có phao câu, thịt thơm ngon nhưng lại ít người biết đến Hiện nay, giống gà này có mặt tai xã Đức Xuân, huyện Hòa An và một vài hộ ở xã Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và đang được

nuôi nghiên cứu ở Thái Nguyên

Gà cáy củm đang ngày càng giảm dần về số lượng, còn lại rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng xa, địa hình hẻo lánh Để chăm sóc tốt giống gà cáy củm, tăng số lượng giống gà này thì chúng

ta cần biết về đặc tính sinh sản của giống gà này và quy trình phòng trị bệnh để đạt được hiệu quả chăn nuôi tốt nhất

Trang 10

2

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhằm bảo tồn nguồn gen, dưới sự

hướng dẫn của TS Bùi Thị Thơm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên

cứu biện pháp phòng và trị bệnh đầu đen trên gà cáy củm tại Thái Nguyên"

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiêncứu tình hình mắc bệnh đầu đen gặp trên gà cáy củm tại Thái Nguyên

- Đưa ra các biện pháp phòng trị bệnh đầu đen đạt hiệu quả cao cho gà Cáy củm

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Phát hiện, chẩn đoán được bệnh đầu đen ở gà cáy củm và đưa ra phương pháp điều trị cho gà cáy củm tại trại chăn nuôi của chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty CP khai khoáng miền núi tỉnh Thái Nguyên

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học, áp dụng vào thực

tế Đồng thời cung cấp số liệu khoa học cho giảng dạy, chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung

- Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị góp phần vào việc hoàn thiện nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh đầu đen cho gà cáy củm

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Kết quả của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi biết được một số triệu chứng của bệnh và quy trình phòng bệnh để áp dụng vào việc chăn nuôi và nhân giống để phát triển giống gà cáy củm quy mô đại trà, hạn chế thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi

- Đánh giá khả năng điều trị bệnh của loại thuốc và đưa ra những liệu trình điều trị hiệu quả, để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi

- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi

và củng cố, nâng cao kiến thức của bản thân

Trang 11

3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh

Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [11] đã cho

biết vị trí phân loại của H.meleagridis như sau:

Loài: Histomonas meleagridis

2.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis

Histomonas meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4

roi), hình amip và hình lưới Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất

và dễ nhận biết nhất bởi chúng có hai nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 cái roi

Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H meleagridis, các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, nguyên sinh chất và nhân Màng đơn bào H meleagridis là một màng đơn Nguyên sinh chất của H meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và ARN, một số

không bào và hạt nhân Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid Màng nhân là một màng kép Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi

Tyzzer E E (1934) [25] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển vi, tácgiả

thấy H meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi) Trong mô(giai đoạn xâm lấn), nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H meleagridis ởdạng có roi

Trang 12

4

H.meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 µm, trong khi ở hình dạng

có roi đường kính có thể lên tới 30 µm

2.1.1.3 Vòng đời của Histomons meleagridis

Theo Lê Văn Năm và cs (2010) [5] Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và

gà tây) H meleagridis sinh sản theo phương thức tự nhân đôi trong tế bào gan,

manh tràng và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) Khi ra khỏi ký chủ, thể hình roi và thể amip chỉ sống được trong vòng 24 giờ, với điều kiện khô ráo

và nhiệt độ thấp giúp cho H meleagridis tồn tại lâu trong môi trường tự nhiên ngoài

cơ thể, khi đó chúng có thể tồn tại hàng năm trong các trứng của giun kim, do đó gà

bị mắc bệnh khi ăn thức ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim H gallinarum có chứa thể hợp bào H meleagridis H meleagridis có thể nuôi cấy trong môi trường

nhân tạo, yếm khí, chúng sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân)

2.1.1.4 Con đường truyền lây

H meleagridis lây truyền bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền

bệnh gián tiếp qua giun kim

• Truyền bệnh trực tiếp

Theo quan điểm của Smith (1895) [24] cũng thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây khỏe cũng bị nhiễm bệnh Curtice C (1907) [12] đã làm các thí nghiệm gây nhiễm

H meleagridis cho gà khỏe theo cách tương tự Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận,

có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao (Smith, 1895) [24]

Hu và cs (2004) [16] tiến hành gây nhiễm H meleagridis qua lỗ huyệt cho

gà 2 tuần tuổi, liều 100.000 đơn bào/gà Theo dõi trong 12 ngày thấy không có gà nào bị chết, tiến hành mổ khám, thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng Tỷ lệ

tử vong bởi bệnh đầu đen ở gà lên đến 80% đã được báo cáo bởi Landman và cs (2004) [18] sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây ở 15 ngày tuổi với lượng

200.000 H meleagridis/con

Trang 13

5

Các kết quả trên cho thấy, có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe bằng

2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm

bệnh Ngay sau khi lỗ huyệt gà khỏe tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng

• Truyền bệnh qua giun kim

Cushman S và cs (1894) [13] đã nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực trước đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh

Trong thí nghiệm đầu tiên, Curtice C (1907) [12] đã chứng minh rằng

Histomonaskhông lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ, thông qua trứng, mặc dù phát hiện gà con sớm bị mắc Histomonosis và chết ở 12 - 14 ngày tuổi Tác giả cho

rằng, những gà con này đã bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất, nơi mà đàn

1 tháng theo dõi thấy gà khỏe bình thường Thí nghiệm tiếp tục được tiến hành sau hơn 6 tuần quan sát thấy không có gà nào bị tử vong và xuất hiện dấu hiệu bệnh

Điều này khẳng định rằng Histomonas không lây truyền từ gà mẹ thông qua trứng

Tác giả tiếp tục tiến hành thí nghiệm bằng cách chuyển những gà thí nghiệm trên về các trang trại đang có gà bị nhiễm bệnh, sau 17 ngày thấy gà xuất hiện triệu chứng

Trang 14

Kể từ khi bệnh “đầu đen” xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về bệnh Sau một thời gian nghiên cứu, người ta nhận thấy dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây

Theo Smith (1895) [24], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Ông đã lấy bệnh phẩm là 2 cơ quan này để nghiên

cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) Từ đó bệnh đã được đặt tên là bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis

Nghiên cứu kỹ hơn, Tyzzer E E (1934) [25], đã xác định được nguyên nhân gây

bệnh và gọi tên sinh vật đơn bào gây bệnh đó là H meleagridis Từ đó, bệnh cũng được gọi bằng tên khoa học là Histomoniasis Tuy nhiên, vì lý do tiêu chuẩn hóa đã

được đề xuất từ (năm 1990) về việc sử dụng hậu tố osis cho các bệnh ký sinh trùng

(2006), do đó bệnh có tên khoa học là “Histomonosis”

Sau sự bùng nổ đầu tiên ở Rhode Island, Histomonosis đã nhanh chóng lây

lan trên đàn gà tây khắp nước Mỹ và gây thiệt hại nhiều nhất trong số các bệnh gặp trên gà tây

Trang 15

7

Hiện nay ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010 (Lê Văn Năm, 2012) [7] Bệnh gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của một bộ phận không nhỏ người dân ở nước ta Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng giun kim

mà loài giun này được biết đến như 1 vectơ sinh học truyền bệnh đơn bào H meleagridis cho gà và gà tây

2.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Histomoniasis gây ra

Trong những thập kỷ gần đây, Histomonosis đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng

cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà tây Những năm 1930, dịch bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ Trong năm 1945, bệnh đầu đen chiếm 32,2 % tỉ lệ tử vong của gà tây ở Bắc Carolina

Những năm tiếp theo, dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi Ổ dịch

Histomonosis mới trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75% đã được báo cáo ở California

vào năm 2001 (Shivaprasad và cs, 2002 [23])

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010 Bệnh thường thấy

ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc Lê Văn Năm (2010) [5] bước đầu đã quan sát thấy ở Miền Bắc Việt Nam bệnh bùng phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè, hè - thu Trong khi đó ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông Bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của đại bộ phận không nhỏ người dân nước ta

2.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen ở gà

• Động vật mắc bệnh:

Lund và Chute (1973) [20] đã thử nghiệm và gây bệnh cho 8 loài chim thuộc

về loài gà và thấy rằng gà lôi trắng Trung Quốc là vật chủ tốt nhất cho giun tròn, tiếp theo là gà và gà sao

Trang 16

Một yếu tố quan trọng để H meleagridis tồn tại và phát tán mạnh ra môi trường thiên nhiên là do chúng thường ký sinh trong trứng của giun kim H gallinarum, mà khi nuôi gà thương phẩm hoặc làm giống thì hầu như 100% gà bị nhiễm loại giun này Bởi thế mà gà ta và gà tây bị nhiễm H meleagridis chủ yếu

qua đường ăn uống trong đó có trứng giun kim H gallinarum

• Tuổi mắc bệnh

Hauck và cs (2010) [15] cho biết: giai đoạn 1 - 2 tháng tuổi tỷ lệ mắc

Histomonosis cao nhất, triệu chứng bệnh điển hình nhất

Lê Văn Năm (2012) [7], bệnh thường thấy ở gà tây từ sau 2 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, nhưng ở Việt Nam gà sau 5 tháng vẫn mắc bệnh, ông cho biết thì tuổi gà càng cao bệnh càng nặng (2 - 5 tháng tuổi)

• Điều kiện vệ sinh thú y

Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn

tới khả năng nhiễm Histomonas meleagridis của gà Điều này có liên quan mật thiết

với sự tồn tại và phát triển của giun kim - môi giới trung gian truyền bệnh

Trang 17

9

Theo Tyzzer E E và Collier J (1925) [26], bệnh đầu đen xảy ra chủ yếu trên những đàn gà nuôi thả vườn, nơi mà gà thường xuyên tiếp xúc với môi trường đất

• Yếu tố stress

Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu nóng ẩm, thức ăn kém

dinh dưỡng… đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan Histomonas meleagridis ở gà

2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen

- Da mép, da vùng đầu rồi cả mào, tích có màu xám nhạt dần dần chuyển sang xám xanh (nhìn rõ nhất ở gà tây), hoặc xám xanh thẫm, có lẽ từ đây bệnh có tên gọi là bệnh đầu đen (Black Head) Gà bỏ ăn nên rất gầy, do rét nên thường thấy chúng run hoặc co giật, lúc này thân nhiệt xuống dưới mức bình thường và gà sẽ chết sau 1 - 2 ngày Lúc đầu chúng chết rải rác về đêm, sau tăng dần số và chết cả ban ngày Nếu không được điều trị gà sẽ chết lên đến 80 - 95% tổng đàn (nếu không điều trị kịp thời)

Trang 18

Tuy nhiên, biểu hiện nhiễm trùng đầu tiên của Histomonas meleagridis làm gà hôn

mê, ủ rũ, rúc đầu vào cánh, đây là một dấu hiện lâm sàng không rõ ràng Việc tiêu thụ thức ăn có thể bị giảm dẫn đến gà bị giảm cân Một dấu hiệu rất đặc biệt trong đàn gà còn sống là sự xuất hiện của phân màu vàng lưu huỳnh, đây là kết quả gây ra bởi tổn thương trên gan Bất kỳ dấu hiệu nào như vậy trên gà còn sống cần báo ngay với bác sĩ thú y để xử lý hoặc lấy mẫu gia cầm gửi các phòng thí nghiệm thú y để chẩn đoán

• Bệnh tích

Bệnh tích chủ yếu tập trung trên manh tràng và trên gan

- Biến đổi ở ruột thừa (manh tràng):

Theo Lê Văn Năm (2012) [7], một trong hai ruột thừa hoặc cả hai đều phình rất to, dài hơn bình thường, màu sắc và độ đàn hồi thay đổi Bề mặt bên trong lòng ruột sần sùi chứa chất lẫn nhiều máu loãng nhớt như máu cá rất giống cầu trùng, sau

đó chuyển sang vàng xám thành ruột thừa bị viêm, hoại tử, xuất huyết và tăng sinh nên rất dày làm cho ruột thừa ngày càng rắn chắc, các chất chứa bị canxi hóa đóng quánh có màu trắng tạo thành 1 lõi các nếp 13 ngang rất giống kén tằm Vì thế, người chăn nuôi gọi là bệnh kén ruột Do niêm mạc ruột thừa bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng nên các chất viêm tràn vào lòng bụng gây viêm dính phúc mạc

Trang 19

11

Một trong hai bên hoặc cả hai ruột thừa dính chặt vào các cơ quan nội tạng, thành ruột thừa mỗi ngày một dày lên làm cho lỗ ruột rất bé và ruột thừa trở thành một thỏi rắn chắc

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1] cho biết, ở manh tràng có vết loét nhỏ hoặc lớn Vết loét có thể vỡ ra tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng gây viêm dính xoang bụng với ruột Trong thành ruột khi cắt ngang có những đám bã đậu trắng

Theo Roberto (2011) [22], các tổn thương quan sát được sau khi mổ khám thường là manh tràng dày lên, chứa dịch rỉ viêm màu vàng hoặc ổ hoại tử

- Biến đổi ở gan:

Gan sưng to gấp 2 - 3 lần, mềm nhũn và nhìn thấy hai quá trình biến đổi đặc trưng: lúc đầu gan bị viêm, xuất huyết làm cho bề mặt gan lỗ chỗ có hình hoa cúc, sau đó các điểm xuất huyết này tạo ra các ổ viêm loét hoại tử thành các ổ bã đậu màu trắng to từ hạt kê đến hạt ngô to, thậm chí đường kính to 1 - 2 cm, giống ổ lao hoặc khối u của bệnh Marek (Lê Văn Năm, 2012) [7]

Theo Roberto (2011) [22], gan sưng to, xuất hiện các tổn thương trên gan như: gan viêm xuất huyết hoặc bị hoại tử do có chứa các tế bào chết Các tổn thương này cần được chẩn đoán phân biệt với các tổn thương ở bệnh cầu trùng và

Salmonella gây ra trên gà Để tăng độ chính xác của chẩn đoán cần mổ khám kiểm

tra những gà mới chết và gà còn sống

2.1.2.5 Cơ chế sinh bệnh

Việc truyền đơn bào H meleagridis tới gà, gà tây có thể xảy ra riêng lẻ hoặc

đồng thời các đường lây nhiễm sau:

Đầu tiên, gà, gà tây có thể ăn phân tươi có chứa Histomonas hoặc lỗ huyệt tiếp xúc với phân tươi chứa Histomonas Con đường này có lẽ không quan trọng

ngoại trừ trường hợp gà khỏe mạnh và gà mắc bệnh được nuôi trong cùng một đàn

Thứ hai, gà có thể ăn trứng H gallinarum có phôi và có chứa Histomonas Vào trong đường tiêu hóa của gà, các đơn bào Histomonas và ấu trứng giun kim sẽ

giải phóng khỏi vỏ trứng

Trang 20

12

Thứ ba, gà có thể ăn phải những con giun đất chứa trứng giun kim đã mang

đơn bào Histomonas Khi vào trong cơ thể gà, tác nhân gây bệnh xâm nhập vào

manh tràng và thâm nhập vào niêm mạc manh tràng

Tại đây, đơn bào H meleagidis nhân lên rất nhanh bằng sinh sản trực phân

Số lượng lớn đơn bào tác động vào niêm mạc manh tràng làm cho niêm mạc dày dần lên, sau đó dẫn đến hiện tượng viêm, loét, hoại tử Màng nhày và dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như phomat

Từ manh tràng, H meleagidis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập vào gan H meleagridis ký sinh ở gan và gây

hoại tử gan Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan Từ gan, đơn bào này sẽ lây lan đi khắp cơ thể Do đó, ngoài gan và manh tràng người ta còn tìm thấy

H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận,

lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H meleagridis không gây

tổn thương ở các cơ quan này

Lê văn Năm và cs (2010) [5] cũng cho rằng: Qua đường miệng, đơn bào H meleagridis nhanh chóng được giải phóng ra khỏi trứng giun kim và bám vào thành

dạ dày, ruột, nhất là đoạn ruột mù (ruột thừa) Tại đây chúng bắt đầu sinh sản theo phương thức tự nhân đôi để hình thành ra các thể phân lập… chỉ trong một thời gian ngắn có hàng triệu tế bào niêm mạc dạ dày và ruột thừa bị phá hủy gây ra các ổ viêm loét hoại tử, rồi ngay sau đó là viêm phúc mạc cấp

Tuy nhiên, trong thực tế rất ít các trường hợp quan sát được biến đổi ở dạ

dày tuyến và dạ dày cơ Từ các ổ loét của thành ruột thừa H meleagridis đi theo

đường huyết đến ký sinh trong các tế bào gan, tại đây chúng gây ra các ổ viêm xuất huyết hoại tử và phá hủy cấu trúc cũng như chức năng gan làm cho thể trọng gà nhanh chóng giảm sút Các ổ viêm loét của ruột thừa và của gan đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng thứ phát khác, khiến cho gà kiệt sức và chết nhanh chóng

Trang 21

ỉa phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald, 2008) [21]

- Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn

Tiến hành mổ khám gà chết do Histomonosis, quan sát thấy ở gan và manh

tràng bị tổn thương nặng, bệnh tích điển hình của bệnh là: gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá vân cương, hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt

Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa mới chết, kiểm tra dưới kính

hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis Trong điều kiện nhiệt độ ấm,

đơn bào vẫn hoạt động và điều này giúp việc chẩn đoán dễ dàng hơn Dưới kính

hiển vi quan sát thấy H meleagridis di chuyển không theo một hướng cố định, roi

chuyển động xoay ngược chiều kim đồng hồ giúp việc xác định dễ dàng hơn (Mc Dougald, 2008) [21]

Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn Đặc biệt là phần mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm

Trang 22

quan sát H meleagridis dễ dàng hơn dưới kính hiển vi

Armstrong P L Mc Dougald L R (2011) [10] và một số tác giả khác đã mô

tả bệnh tích của gà bị bệnh đầu đen: Khi mổ khám gà mắc bệnh quan sát thấy manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Bên trong chứa dịch tiết có hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng, các mảnh vỡ tế bào và chất dịch từ thức ăn tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc Gan của gia cầm bị mắc bệnh sưng to gấp 2 - 3 lần, phù nề, viêm xuất huyết, thoái hóa, và hoại

tử tế bào Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek, có đường kính lên đến 1 cm Trường hợp nặng, tổn thương xuất hiện trên toàn bộ bề mặt gan Ngoài ra, các tổn thương còn xuất hiện ở các cơ quan khác như túi Fabricius, phổi, lá lách, tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột… Khi gia cầm bị bệnh, một số trường hợp thận bị viêm sưng, hoại tử, biểu

mô ống thận viêm hoại tử; lá lách sưng to do xuất hiện quá trình thực bào mạnh mẽ, các đại thực bào và các tế bào huyết tương tăng sinh trong lá lách, phổi xuất huyết,

tụ máu đỏ thẫm

Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả nhanh chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể chứng minh ADN

của H meleagridis trong phân hoặc ruột PCR cũng giúp tìm ra ADN của ký sinh trùng

H meleagridis trong các cơ quan khác như trong não, hoặc tuyến ức… nơi mà các

phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt ký sinh trùng này

• Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác Bệnh do H meleagridis cần

phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:

Trang 23

15

- Bệnh cầu trùng (Eimeriosis) Khi gà mắc bệnh cầu trùng do chủng E tenella trong một số trường hợp cũng biến đổi giống như các biến đổi bệnh do H meleagridis gây ra Nhìn từ ngoài vào qua thành ruột ở bệnh cầu trùng ta thấy rõ các

nốt đỏ xen lẫn các điểm trắng Khi bổ đôi ruột thừa thì thấy chất chứa bị lẫn máu

hoặc toàn máu đông thậm chí máu tươi, trong khi đó chất chứa do đơn bào H meleagridis gây ra giai đoạn giữa của bệnh cũng rất giống bệnh cầu trùng: chất

chứa có màu nâu, đỏ lẫn máu, nhớt như máu cá Giai đoạn sau đó các chất chứa này tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc ruột thừa ta thấy niêm mạc ruột thừa

bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dày lên và rắn chắc, lỗ ruột thừa bé và hẹp lại rất nhiều so với bình thường

- Bệnh lao gà Các ổ lao (viêm loét hoại tử) quan sát được không chỉ ở gan mà còn thấy ở lách, ruột và tủy xương Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi, nhưng không thấy ở gà con gà dò Ở bệnh lao gà không có các biến đổi tạo kén

ở ruột thừa như ở bệnh đầu đen

2.1.2.7 Phòng và trị bệnh

• Phòng bệnh

- Để phòng Histomonosis, trước hết không được nuôi chung gà tây với gà ta

- Phải chú ý đến mật độ và các thông số nhiệt độ, độ ẩm, khí độc chuồng

- Không nuôi nhiều lứa gà trong cùng một cơ sở chăn nuôi

- Hằng ngày phải quan sát vùng da đầu mép, mào và tích… để kịp thời phát hiện và điều trị ngay khi chưa phát thành dịch

- Thường xuyên quét dọn, vệ sinh khu vực chăn nuôi

- Chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi luân phiên gà trên các ô, tiến hành làm sạch, khử trùng tiêu độc ô chuồng vừa nuôi, để trống chuồng

một thời gian dài giúp phòng Histomonosis có hiệu quả

- Thức ăn và nước uống phải được vệ sinh sạch sẽ, thiết kế vị trí để sao cho không lây nhiễm phân vào thức ăn, nước uống của gà

Trang 24

16

- Từ 20 ngày tuổi trở lên hàng tuần trong nước uống cần bổ sung CuSO4 hoặc mỗi tuần 1 lần cho uống KMnO4 pha với tỷ lệ (một phần vạn) tức một gam thuốc tím pha với 10 lít nước cho uống trong vòng 1 - 2 h/ ngày/ đợt

- Không thả gà ra vườn vào những ngày mưa gió

- H meleagridis có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần hạn chế cho gà tiếp

xúc với đất, nên nuôi gà trên nền bê tông

- Hàng tuần cần phun thuốc khử trùng chuồng trại, cuốc xới vườn rồi rắc vôi bột để diệt trứng giun kim (Mc Dougald, 2008 [21])

• Trị bệnh

Ở Hoa Kỳ, Dimetridazole và Ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị

Histomonosis hiệu quả Cả hai đều là thuốc thuộc nhóm Nitroimidazoles Tuy

nhiên, những năm 1990 các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm và có thể gây ung thư Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng đây là một loại thuốc đắt tiền Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao

Tại Việt Nam, công ty thuốc thú y Năm Thái đã khuyến cáo phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà như sau:

Cách 1:

- Bước 1: Tiêm bắp T.Avibrasin 1 ml/5 kg gà 1 lần/ ngày, tiêm 2 - 3 ngày

- Bước 2: Cho uống T cúm gia súc: 1,5 - 2 g, T coryzin: 1,5 - 2 g, Super Vitamin 2 g Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

Cách 2:

- Bước 1: Tiêm bắp Macavet 1 ml/ 6 - 8 kg TT/1 lần Sau 48 giờ tiêm mũi thứ 2

- Bước 2: Cho uống 27 T cúm gia súc: 1,5 - 2 g, T coryzin: 1,5 - 2 g, T.Flox - C 1,5 g, Docyvit Thái Cả 4 loại trên pha vào 1 lit nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

Trang 25

17

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [2], H meleagridis sống ký sinh trong trứng loài giun kim Heterakis gallinae Cả hai loài này đều sống ký sinh trong

ruột gà, gà tây và cả hai đều gây bệnh cho gà

Lê Văn Năm và cs (2010) [5] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi tập trung thả vườn tại một số tỉnh Phía Bắc bị mắc bệnh Bệnh thường thấy ở gà tây từ

2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tyzzer E E (1934) [25] lần đầu tiên mô tả về hiện tượng bệnh ở gà tây do một loại đơn bào gây ra với những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen và tác giả đã đặt tên là bệnh đầu đen (Black Head) Sau đó, bệnh được các tác giả khác quan sát thấy ở Bắc Mỹ, Tây Âu

và hàng loạt nước khác ở Nam Mỹ, Nhật Bản…

Theo JingHuimHu (2002) [17], Histomonosis thường được gọi là bệnhđầu

đen hay viêm ruột truyền nhiễm, là một bệnh truyền nhiễm gây hại trêngia cầm

được gây ra bởi một lại đơn bào Histomonosis có thể gây tỷ lệ chếtlên tới 90-100%

ở gà tây nhưng tương đối nhẹ ở gà Hầu hết các nghiên cứuvề bệnh đều được tiến hành từ trước năm 1980, trong 20 năm qua đã có thêmmột số công trình nghiên cứu

về bệnh

Theo Robert (2011) [22], bệnh đầu đen là tên gọi cho một bệnh đượcgây ra

do một loại đơn bào có tên là Histomonas Meleagridis Tên gọi bệnh đầu đen là do

sau khi mắc bệnh da ở vùng xung quanh đầu có màu xanh tímsau chuyển sang thâm đen, đây là một dấu hiệu lâm sàng ít thấy ở các bệnhkhác Ký sinh trùng có thể gây bệnh cho các loại gà, chim bên cạnh gà tây

Nhưng bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là trên gà tây

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [3] đã có những thông tin về đơnbào H meleagridis và những tác hại của chúng gây ra ở gà, gà tây ở nước tavà cũng thống

Trang 26

ruột gà, gà tây và cả hai đều gây bệnh cho gà

Tháng 3/2010 Lê Văn Năm bắt đầu đề cập về căn bệnh này tại một sốtỉnh phía Bắc Tác giả kết luận rằng, nguyên nhân cơ bản gây nên hiện tượngchết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là do: sự cảm nhiễm, xâm nhập và nhânlên

nhanh chóng của đơn bào có tên khoa học là H meleagridis trong cơ thểgà,

thông qua việc đàn gà đang bị nhiễm nặng giun kim và trứng giun kim cóchứa

ấu trùng gây bệnh

Lê Văn Năm, (2012) [7] cho rằng: nguyên nhân gây bệnh là một loạiđơn bào

có tên Histomonas Meleagridis thuộc nghành Protozoa, họTripanosomatidae, giống Histomonas, loài Histomonas Meleagridis và H.Venrichi Chúng ký sinh ở niêm

mạc ruột thừa và trong các tế bào gan Vềtuổi gia cầm mắc bệnh là từ sau 2 tuần đến

3 - 4 tháng tuổi, nhưng ở ViệtNam gà sau 5 tháng tuổi vẫn mắc bệnh, theo ông thì tuổi gà càng cao bệnh càng nặng (2 - 5 tháng tuổi)

2.3 Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu - Chi nhánh công ty nghiên cứu

Tình hình chăn nuôi của xã trong mấy năm gần đây đã đạt được đạt được sự

ổn định về cả số lượng và chất lượng Theo số liệu điều tra tổng đàn gia súc, gia cầm 6 tháng cuối năm 2015 như sau:

Trang 27

19

Tổng đàn trâu bò có 338 con, nhìn chung đàn trâu bò được chăm sóc khá tốt Tuy nhiên do thời tiết lạnh kéo dài trong vụ đông cùng với sự thiếu hụt thức ăn nên sau vụ đông đàn trâu bò gầy hơn trước đó Mục tiêu chăn nuôi trâu bò của người dân là sản xuất bò thịt, để cung cấp thịt cho thị trường Vì thế các giống bò thịt có năng suất cao hơn như lai Sind, lai Zebu… được người dân chú trọng chăn nuôi Tổng đàn lợn là 1.970 con, phần lớn được nuôi theo phương thức tận dụng , chỉ có một số hộ gia đình có đầu tư vốn , kỹ thuật nuôi theo phương thức bán công nghiệp nên hiệu quả cao hơn Ngoài các giống lợn địa phương thì các giống lợn lai, lợn ngoại cũng được nuôi tại đây

Tổng đàn gia cầm nuôi là 13.220 con, chủ yếu là các giống gia cầm địa phương, gà là đối tượng được nuôi chủ yếu ở đây, ngan và vịt được nuôi ít hơn

2.3.2 Tình hình sản xuất của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Công ty nghiên cứu & Phát triển động thực vật bản địa(NC&PT động thực vật bản địa)

Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã nằm trên địa bàn xã Tức Tranh, thuộc sự quan lí của Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa - công ty Cổ phần khai khoáng miền núi Trại được xây dựng năm 2006 trên diện tích 6 ha trong đó bao gồm:

• Diện tích dành cho xây dựng nhà ở và nhà kho: 0,05 ha

• Diện tích dành cho chăn nuôi hươu nai: 0,1 ha

Các ngành sản xuất chính của trại bao gồm:

Trồng trọt một số cây ăn quả chủ yếu là bưởi và ổi, ngoài ra còn trồng thêm

lê, mận, mít: Trồng và sản xuất các loại cỏ để phục vụ chăn nuôi và cung cấp giống

ra thị trường

Chăn nuôi một số động vật như: Hươu sao, lợn rừng, ngựa bạch, trong đó:

Trang 28

20

• Chăn nuôi hươu: Đây là hai đối tượng được nuôi sớm ở trại, hiện trại có 10 con hươu Đàn hươu được nuôi nhốt trong chuồng có sân vận động, mục đích sản xuất con giống và lấy nhung

• Hiện trại có 250 con lợn, có 3 đực giống, 25 lợn nái sinh sản, 8 lợn nái hậu

bị, còn lại là lợn con theo mẹ, lợn con cai sữa và lợn choai Mục đích nuôi đàn lợn chủ yếu là nghiên cứu, sản xuất con giống và bán lợn thịt ra thị trường

• Chăn nuôi ngựa bạch: Từ tháng 4 năm 2009 trại cho nhập 24 con ngựa bạch

về nuôi với mục đích sinh sản, tạo sản phẩm ngựa bạch và cao ngựa bạch cung cấp cho thị trường

• Tổng đàn gà cáy củm là 482 con, được nuôi theo hình thức bán chăn thả

Công tác thú y của trại:

Trại chú ý công tác phòng bệnh bao gồm các nội dung:

• Hạn chế không cho người ngoài vào trong khu vực chăn nuôi, công nhân được trang bị quần áo bảo hộ lao động

• Chuồng trại được quét dọn sạch sẽ: dọn phân ngày 1 lần, máng ăn được rửa sau khi cho ăn, cống rãnh được khơi thông

• Thường xuyên phun thuốc sát trùng Haniodine 10% với tần suất 1lần/tuần Khi xung quanh có dịch bệnh xảy ra thì phun thuốc sát trùng Haniodine 10%, Navet-iodine hoặc Benkocid với tần suất 2 ngày/lần

• Trại chăn nuôi đã thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng cho toàn bộ đàn lợn trong trại

• Đối với ngựa và hươu chưa chú trọng đến công tác tiêm phòng vắc xin do không có vắc xin

Nhờ tiến hành tốt công tác phòng bệnh cho đàn lợn, cho nên trong quá trình sản xuất đã phòng ngừa tốt, không để xảy ra những dịch bệnh trong trại Đàn gia súc phát triển tốt

Trang 29

21

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng

- Gà cáy củm nuôi tại trại chăn nuôi lợn của Chi nhánh NC&PT động thực

vật bản địa – Công ty CP Khai khoáng miền núi Xã Tức Tranh, huyện: Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà Cáy củm

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu: Trại chăn nuôi lợn của Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa – Công ty CP Khai khoáng miền núi

Địa chỉ: Xã Tức Tranh, huyện: Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian: Từ ngày 18/11/2016 đến ngày 25/05/2017

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định tỉ lệ mắc bệnh Đầu đen trên gà Cáy củm nuôi tại Thái Nguyên

- Hiệu quả điều trị bệnh Đầu đen

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Phương pháp bố trí thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.1

Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh đảm bảo độ đồng đều các nhân tố: nhân tố thí nghiệm, tuổi, thức ăn, thời gian nuôi, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình thú y chỉ khác nhau về loại thuốc sử dụng

Trang 30

22

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm STT Diễn giải ĐVT Lô thí nghiệm 1 Lô thí nghiệm 2

5

Thuốc điều trị

Methocin-Tri Doxylin Para-C.16%

Bio-Forex

Bio-Trimetone Doxylin Para-C.16% Bio-Forex

3.4.2 Phương pháp theo dõi

Tỷ lệ nuôi sống: ghi chép số gà chết hàng ngày rồi tính tỷ lệ nuôi sống theo

công thức sau:

∑ số gà cuối kỳ (con)

Tỷ lệ nuôi sống = x 100

∑ số gà đầu kỳ (con)

Tỷ lệ nhiễm bệnh: Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh bằng cách quan sát các biểu

hiện lâm sàng đặc trưng: ủ rũ, rúc đầu vào dưới cánh, xã cánh, xù lông, sốt 43°C – 44°C , tiêu chảy phân vàng lẫn bọt, lẫn máu, mắt nhắm nghiền, đầu rúc vào nách cánh, gà tìm bóng đèn hoặc nơi có bóng đèn để sưởi…

Ngày đăng: 20/09/2018, 17:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm