1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KHÓ KHĂN CỦA NGHỀ ĐIỀU DƯỠNG VIÊN (NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA NỮ ĐIỀU DƯỠNG VIÊN)

19 490 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 531 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  TIỂU LUẬN CUỐI KỲ : XÃ HỘI HỌC LAO ĐỘNG Giảng viên: GS.LÊ NGỌC HÙNG Sinh viên: Đặng Thị Ngọc Ánh Mssv: 10030032

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



TIỂU LUẬN CUỐI KỲ :

XÃ HỘI HỌC LAO ĐỘNG

Giảng viên: GS.LÊ NGỌC HÙNG Sinh viên: Đặng Thị Ngọc Ánh

Mssv: 10030032

Tên đề tài: KHÓ KHĂN CỦA NGHỀ ĐIỀU DƯỠNG VIÊN (NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA NỮ ĐIỀU DƯỠNG VIÊN)

Trang 2

Tên đề tài: KHÓ KHĂN CỦA NGHỀ ĐIỀU DƯỠNG VIÊN (NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA NỮ ĐIỀU DƯỠNG VIÊN)

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lực lượng Điều dưỡng viên (kể cả nữ Hộ sinh) giữ vai trò nồng cốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu với mục tiêu chẩn đoán, điều trị, chăm sóc các nhu cầu thiết yếu của người dân trong việc nâng cao sức khỏe, duy trì, phục hồi và dự phòng bệnh tật ở ba tuyến: tuyến đầu, tuyến sau, và tuyến cuối kết hợp với các chuyên ngành khác trong toán chăm sóc sức khỏe

Tại các nước phát triển Anh, Mỹ, Canada, cũng như các nước đang phát triển như Thái Lan, Philippines Malaysia, Điều dưỡng viên đã được nâng cao vai trò trong việc quản lý các cơ sở y tế ban đầu, bệnh viện, toán chăm sóc sức khỏe, tham gia khám và điều trị – chăm sóc các bệnh cấp và mãn tính theo chuyên ngành của điều dưỡng và có mặt trong hầu hết các lãnh vực khác và là nghề đang được kính trọng nhất hiện nay Riêng tại Việt

Nam thì tình hình không khả quan và còn nhiều tồn tại, mặc dù trình độ đào tạo và phạm vi thực hành của điều dưỡng Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi, song trong nhận thức chung về vai trò của người điều dưỡng chưa được cập nhật phù hợp với thực tế, nguowif điều dưỡng viên vất phải rất nhiều khó khăn trong nghề nghiệp của mình, chinha vì vậy mà tôi lựa chọn đề tài khó khăn của nghề điều dưỡng viên để nghiên cứu

2 Câu hỏi nghiên cứu

Câu 1: những khó khăn của nghề điều dưỡng viên là gì?

Câu 2: nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của nghề điều dưỡng viên?

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

Trang 3

3 1 Đối tượng nghiên cứu

Khó khăn trong của nghề điều dưỡng viên

3 2 Khách thể nghiên cứu

Điều dưỡng viên, bệnh nhân

3 3 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: bệnh viện bạch mai, hà nội

Thời gian: tháng 5/2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp, theo nghĩa chung nhất là cách thức để đạt đến mục tiêu, là các hoạt động được xếp đặt theo phương thức nhất định Cũng có thể hiểu phương pháp là cách thức

để xem xét đối tượng một cách có tổ chức và có hệ thống Từ góc độ Triết học, phương pháp được coi là phương tiện để nhận thức, là cách thức tái hiện lại đối tượng nghiên cứu trong tư duy Cơ sở của phương pháp là các quy luật khách quan của thực tại Nghiên cứu

xã hội học là một quá trình nhận thức xã hội đặc biệt vì vậy phương pháp nghiên cứu xã hội học cũng có thể coi là hệ thống các nguyên tắc, các biện pháp cùng với các công cụ cho việc nghiên cứu thực tế xã hội trong sự phù hợp với mục tiêu và từng giai đoạn của nghiên cứu

4 1 Phương pháp luận

Phương pháp luận có thể hiểu là lí luận về phương pháp sử dụng hay là sự luận chứng về mặt lí thuyết những phương pháp nghiên cứu khoa học Đối với xã hội học thì phương pháp luận là lí thuyết về phương pháp nhận thức xã hội, là cách thức mà theo đó nhà xã hội học xem xét, lí giải đối tượng nghiên cứu của mình, là “hệ thống các nguyên tắc của triết học xã hội và lịch sử triết học nhằm giải thích cho con đường và luận giải cho

Trang 4

những phương pháp để xây dựng, làm tăng trưởng và vận dụng tri thức xã hội học” (Chung

Á, Nguyễn Đình Tấn, Sđd, tr178)

Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luôn xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển và những mối liên hệ phổ biến, mỗi sự vật, hiện tượng khi thay đổi tất yếu dẫn đến sự thay đổi của các sự vật, hiện tượng xã hội khác.Đồng thời tiếp cận vấn đề dưới cái nhìn của

xã hội học, kết hợp lí thuyết với thực nghiệm…

4 2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này có sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học đặc thù như: phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phỏng vấn sâu

4 2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin dựa trên những tài liệu (sơ cấp và thứ cấp) có sẵn Phân tích tài liệu giúp nắm bắt được những thông tin liên quan đến vấn đề, và từ đó thấy được tính cấp thiết của đề tài

Tiến hành tìm kiếm, thu thập các thông tin liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu từ các bài báo, trên mạng Internet…

4 2.3 Phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu: là phương pháp thu thập thông tin được sử dụng để thu thập những thông tin mang tính chiều sâu, những vấn đề chưa được đề cập hoặc cần được làm rõ hơn… Thông qua chia sẻ của những người được phỏng vấn Thực hiện bằng cách đối thoại theo một chủ đề, một trật tự câu hỏi nhất định giữa người hỏi với người được hỏi Phỏng vấn sâu cũng giúp kiểm chứng mức độ tin cậy của những thông tin thu được trước

đó và thu thập thêm những thông tin cần thiết cho đề tài

Tiến hành phỏng vấn một nữ điều dưỡng viên tại bệnh viện bạch mai, hà nội

Trang 5

Nữ điều dưỡng: Lê Mai Loan

Đặc điểm :

Tuổi: 26 tuổi

Giới tính: nữ

Học vấn : cao đẳng y tế hà nội

Kinh niệm làm việc: 4 năm

Công tác: khoa cấp cứu,bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội

4 2.4 Phương pháp quan sát

Quan sát công việc trong một ngày làm việc của nữ điều dưỡng viên tại bệnh viện bạch mai

5 Giả thuyết nghiên cứu

Điều dưỡng viên gặp khó khăn :

thời gian làm việc nhiều

khối lượng công việc lớn

áp lực công việc cao

công sức bỏ ra nhiều nhưng lương nhận được thấp

nguyên nhân khó khăn:

do chưa được xã hội đánh giá cao

lực lượng điều dưỡng viên còn ít ở nước ta dẫn đến tình trạng công việc của điều dưỡng nhiều hơn so với các nước khác

Trang 6

NỘI DUNG CHÍNH

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

1 Áp dụng lý thuyết xã hội học để giải quyết vấn đề

Có thể giả thích bằng quan điểm xã hội học về thị trường lao động:

Sơ đồ : khung lý thuyết của adam smith về sự phân công lao động trong xã hội

Nhu

cầu

trao đổi

Thị trường

Sự phân công lao động

Của cải

Cấu trúc

xã hội

Cách thức lao động

Nhu cầu trao đổi dẫn đến thị trường phát triển từ đó sự phân công lao động tăng dẫn đến

sự chuyên nghiệp hóa Sự phân công lao động phụ thuộc vào thị trường mà thị trường lại phụ thuộc vào nhu cầu trao đổi khi có nhu cầu trao đổi sẽ xuất hiện thị trường và từ đó dẫn đến sự phân công lao động sự phân công lao động tạo ra của cải làm cho năng suất chất lượng, lao động tăng tạo nên sự chuyên môn hóa Nhờ có phân công lao động cấu trúc xã hội xuất hiện nhiều người khác nhau về vị trí, vị thế Phân công lao động càng

Trang 7

phong phú, đa dạng thì cấu trúc đa dạng cách thức lao động, sản xuất nhiều nghề mới

(trích từ bài giảng xã hội học lao động của GS Lê Ngọc Hùng)

Theo như lý thuyết trên ta có thể giải thích : nhu cầu của thị trường đối với nghề điều dưỡng viên là khá lớn từ đó tạo nên sự phân công lao động trong nghề điều dưỡng viên, tuy nhiên nhu cầu trao đổi với nghề còn thấp khiến cho nghề điều dưỡng viên chưa được

xã hội đánh giá cao

Lý thuyết mâu thuẫn -phê phán

Một số khái niệm cơ bản: về quan hệ giữa con người và xã hội, thuyết này cho rằng

sự tự do phát triển của cá nhân phụ thuộc vào sự kiến tạo hợp lý xã hội và trong một xã hội hợp lý sẽ không còn chỗ cho mâu thuẫn giừa năng lực người và cách tổ chức lao động xã

hội (trích Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nxb đại học quốc gia Hà Nội, trang 279)

Lý thuyết này dùng để làm gì trong đề tài:

Lý thuyết này sẽ giúp giải thích mâu thuẫn giữa việc người điều dưỡng viên bỏ ra rất nhiều công sức thời gian nhưng do tổ chức y tế của các bệnh viện người điều dưỡng viên bị trả lương ít, gây nên những khó khăn về thời gian đặc biệt cho những nữ điều dưỡng viên

2 Tình hình nghề điều dưỡng viên của các nước trên thế giới

Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO) vào năm 2006, có 57 quốc gia, đa số ở châu Phi và châu Á, thiếu hụt một lượng nhân viên y tế trầm trọng với khoảng 4,2 triệu người Với một đội ngũ y tá hiện tại là 3 triệu người, Mỹ vẫn phải đối diện với sự thiếu hụt cần bổ sung đến hơn 1 triệu y tá đến năm 2012 Số y tá ngoài nước đến Mỹ làm việc đã tăng từ 4.000 người năm 1998 lên 15.000 người năm 2004

Tại các nước tiên tiến, nhu cầu và cả quan niệm về nghề điều dưỡng đã có những bước tiến quan trọng Chẳng hạn, hiệp hội Điều dưỡng Mỹ định nghĩa điều dưỡng là bao gồm các

Trang 8

hoạt động chẩn đoán và điều trị đáp ứng nhu cầu của con người liên quan tới các vấn đề sức khoẻ hiện tại hoặc tiềm tàng Đối với điều trị, mọi máy móc, công nghệ và kỹ thuật hiện đại không thể thay thế được sự chăm sóc của người điều dưỡng vì chúng sẽ không tác động được tới cảm xúc và điều chỉnh hành động cho thích ứng với nhu cầu đa dạng của mỗi người Ở Thái Lan và Philippines những năm gần đây, đã có những chương trình đào tạo điều dưỡng theo từng chuyên ngành (Nurse Practitioner/Specialist): lão khoa, nhi khoa, người lớn, chăm sóc gia đình, cộng đồng, sức khoẻ tâm thần

3 Tình hình nghề điều dưỡng viên ở Việt Nam

Cuối thế kỷ XIX, khi các bệnh viện đầu tiên của Việt Nam được người Pháp thành lập thì ngành điều dưỡng và nghề điều dưỡng viên mới chính thức được hình thành Lúc đầu những người điều dưỡng được đào tạo tại các bệnh viện theo cách "cầm tay chỉ việc" để làm công việc phục vụ Đến năm 1946, các khóa đào tạo y tá, hộ sinh nông thôn được mở ra và sau đó tăng lên trình độ trung học vào cuối những năm 1960 Hệ đào tạo cao đẳng và đại học điều dưỡng được bắt đầu vào cuối thế kỷ XX

Ở Việt Nam, trước đây người điều dưỡng được gọi là Y tá, có nghĩa là người phụ tá của người thầy thuốc Ngày nay, điều dưỡng đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y

tế do đó người làm công tác điều dưỡng được gọi là điều dưỡng viên Người điều dưỡng hiện có nhiều cấp bậc, trình độ và đã được qui định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Từ năm 2000 trở đi, ngành điều dưỡng Việt Nam có những thay đổi như hình thành được hệ thống quản lý điều dưỡng ở các cấp với 65% Sở Y tế các tỉnh đã bổ nhiệm điều dưỡng trưởng, 84,7% các bệnh viện có phòng điều dưỡng, công tác đào tạo điều dưỡng đã nâng lên được hai bậc ở trình độ cao đẳng và đại học, thực hành điều dưỡng đang có chuyển biến thông qua thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện, vị trí xã hội của người điều dưỡng đã được nhìn nhận.Năm 2008, chỉ tiêu đào tạo điều dưỡng hệ cử nhân tại các trường đại học chủ lực của ngành y như đại học Y Hà Nội chỉ tuyển 120 chỉ tiêu, đại học Y Thái Bình 50 chỉ tiêu, đại học Y dược TP.HCM 50 chỉ tiêu Một số trường đào tạo điều dưỡng hệ trung

Trang 9

cấp (24 tháng – 2 năm) có số lượng tuyển sinh nhiều hơn như trường cao đẳng Nguyễn Tất Thành, trường trung học tư thục Điều dưỡng và kỹ thuật y tế Hồng Đức, trường bồi dưỡng cán bộ y tế (thuộc đại học Y Phạm Ngọc Thạch) có thể tuyển từ 600 đến trên 1.000 học sinh, nhưng năng lực đào tạo cũng có giới hạn vì thiếu cơ sở vật chất, thực hành cũng như giảng viên

4 Trình bày sơ lược về nghề điều dưỡng viên

Xã hội học xem xét lao động với tư cách là hiện tượng xã hội nảy sinh biến đổi và phát triển trong bối cảnh xã hội theo quan điểm mác xít: “ lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tựu nhiên , một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình Con người làm chung gian , diều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”

Thành phần cấu trúc của nghề điều dưỡng viên:

Mục đích lao động: với nghề điều dưỡng viên mục đíc lao động mà xã hội kì vọng đó là việc hoàn thành tốt công việc, giúp bệnh nhân hồi phục nhanh

Đối tượng lao động: tiếp xúc với con người chăm sóc, hỗ trợ điều trị bệnh nhân

Phương tiện lao động: các trang thiết bị dành riêng cho ngành y tế

Điều kiện lao động: làm việc trong môi trường bệnh viện: nơi chăm sóc phụ hồi những bệnh nhân mắc bệnh

Chủ thể lao động: là những điều dưỡng viên đã được đào tạo về nghề điều dưỡng

Xu hướng lao động : điều dưỡng viên thường có lương tương đối thấp hơn so với các nghề khác nhưng đủ đảm bảo sự phát triển và tồn tại của cá nhân đồng thời mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc

5. Khó khăn của nghề điều dưỡng viên( trường hợp nghiên cứu một ngày làm việc của nữ điều dưỡng viên)( phỏng vấn sâu lấy bằng chứng)

Trang 10

5.1 Thời gian làm việc

Thời gian làm việc của một điều dưỡng viên là tương đối lớn:

“bọn chị việc làm việc theo ca 8 giờ mỗi ngày và thêm giờ ăn cơm trưa nưã tiếng là 8.5 giờ ở bệnh viện một ngày , nhưng thực tế thì có thể khác, nếu lượng điều dưỡng không

đủ bọn chị cũng phải làm tăng ca Đặc biệt là khoa cấp cứu của bọn chị thời gian không thể nào mà đúng được”

Với thời gian làm việc như trên thì có gây khó khăn gì cho chị không ạ?

“ có chứ em do đặc thù làm việc tại các bệnh viện là phải đi trực, bọn chị cứ hai buổi một tuần là phải trực , có lúc thì vào những ca buổi sang, có lúc thì vào những ca đêm Vất vả lắm, chị lại có con nhỏ nên cứ tối mà bỏ con đi để chúng nó cho ông bà, chồng trông , nhiều lúc con gọi mẹ mà nghĩ khổ thân nó lắm”

Nghề này khá cực vì làm công việc gì khác nếu quá mệt có thể bỏ về sớm, hôm sau làm tiếp, chứ nghề điều dưỡng không thể bỏ lại bệnh nhân được ".

Như vậy có thể thấy vấn đề về thời gian của nghề điều dưỡng cũng gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của họ.với đặc thù nghề điều dưỡng là phải trực ca trên bệnh viện, nó gây khó khăn lớn trong đời sống hàng ngày cho các điều dưỡng viên, đặc biệt là các điều

dưỡng viên là nữ

5.2 Khối việc công việc lớn

Nghiên cứu một ngày làm việc của nữ điều dưỡng viên cho thấy bệnh viện liên tục có bệnh nhân đến với đặc biệt chị Mai Thị Loan làm ở khoa cấp cứu nên lượng bệnh nhân hàng ngày rất nhiều, thêm vào đó là khoa cấp cứu luôn yêu cầu đối với điều dưỡng viên nhanh nhẹn, xử lý tình huống linh hoạt Có thể thấy khối lượng công việc của điều dưỡng viên là rất lớn

“ công việc mối ngày nhiều lắm nhất là chị lại làm ở khoa cấp cứu ở bệnh viện lớn như thế này một ngày không thể đếm xuể những ca cấp cứu được em ạ nhất là trong mùa nắng , mưa thất thường như thế này, bệnh nhân đổ về bệnh viên nhiều, thêm vào đó đây lại là bệnh viện lớn bệnh nhân tứ sứ đổ về đông lăm, bọn chị phải làm việc tăng ca nhiều, vì lượng điều dưỡng viên trong bệnh viện lại không đủ”

Trang 11

Khối lượng công việc lơn như trên ảnh hưởng mạnh mẽ đến điều dưỡng viên Họ luôn luôn phải căng thẳng , trợ giúp bác sĩ để có thể kịp thời cứu sống người bệnh

5.3 Áp lực công việc cao

Công việc nặng nề, áp lực công lực khá lớn gây nhiều khó khăn cho điều dưỡng viên

“Công việc nặng nề, thường xuyên phải làm đêm, có những lúc làm xong ca cấp cứu mà không chỉ bác sĩ, bọn chị cũng vã mồ hôi hột vì chỉ cần một sai sót nhỏ thôi nó cũng lấy đi tính mạng của bệnh nhân, Một ngày trung bình mỗi y tá chăm sóc từ 4 đến 6 bệnh nhân và tùy vào ngày cũng như tùy vào việc bệnh nhân có xuất viện hay không mà có thể chăm sóc thêm bệnh nhân mới nhập viện”

“ có chứ em chị nghĩ nghề nào cũng có áp lực công việc nhưng những người làm trong nghề y tế này chịu áp lực công việc là cao nhất, không bao giờ được phép mắc bất cứ một sai sót nào, sai sót của mình được dổi bằng tính mạng của cả bênh nhân khi bệnh nhân trở bênh nặng, bọn chị là những người lo lắng nhất trong đầu luôn luôn suy nghĩ rằng liệu có phải tại mình không làm việc đúng cách nên họ mới trở bệnh nặng như thế không, nhất là khi bệnh nhân nằm lâu tại phòng bệnh cơ thể bốc mùi thì bọn chị cũng là người

vệ sinh cho bệnh nhân, nhất là những điều dưỡng viên ở khoa lây nhiễm , có những căn bệnh lây nhiễm đến người nhà bệnh nhân còn sơ, tránh xa, thế nhưng bọ chị vẫn phải vệ sinh chăm sóc họ thường xuyên”

Áp lực công việc cũng là một trong những khó khăn đối với nghề điều dưỡng viên Điều này đã được chứng minh qua các con số sau:

Theo khảo sát của Viện Y học lao động & Vệ sinh môi trường tại một khoa hồi sức cấp cứu, gần 23% số nhân viên có điểm stress ở mức cao, 42% có điểm stress ở mức trung bình Hơn 20% số điều dưỡng than phiền rằng họ thường xuyên có các biểu hiện: cảm thấy nhức đầu,

có cảm giác lo âu và căng thẳng tinh thần, giấc ngủ bất thường…

Theo nghiên cứu của Lê Thành Tài và cộng sự - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, có sự khác biệt về tỉ lệ stress giữa các bệnh viện thuộc 3 tuyến TƯ, tỉnh và huyện Số điều dưỡng

bị stress ở tuyến TƯ cao nhất, tiếp đến là tuyến tỉnh và thấp nhất là tuyến huyện Các yếu tố

Ngày đăng: 20/09/2018, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w