Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu.... Số loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm nghiên cứu .... Nhìn chung, các nghiên cứu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
======
NGUYỄN PHƯƠNG THÙY
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRÙNG NƯỚC THUỘC ĐAI CAO DƯỚI 200M TẠI SUỐI THÁC BẠC VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI, 2018
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VQG: Vườn quốc gia
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu 21
Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước thu được ở các điểm nghiên cứu 23
Bảng 3.3 Số loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm nghiên cứu 30
Bảng 3.4 Chỉ số Jacca - Sorensen giữa các điểm nghiên cứu 33
Bảng 3.5 Số lượng cá thể các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu trên đơn vị diện tích 2,5 m2 34
Bảng 3.6 Loài ưu thế, chỉ số loài ưu thế (DI) và chỉ số Đa dạng sinh học Shannon – Weiner (H’) 36
Bảng 3.7 Số lượng loài và số lượng cá thể côn trùng nước ở nơi nước chảy và nước đứng trên đơn vị diện tích 0,25 m2 37
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Tỷ lệ (%) số loài theo từng bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 22
Hình 3.2 Số lượng loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm khảo sát 31
Hình 3.3 Sơ đồ Jacca - Sorensen thể hiện mối liên quan giữa các điểm nghiên cứu 33
Hình 3.5 Số cá thể thu được ở mỗi bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 35
Hình 3.6 So sánh số loài trung bình giữa nơi nước chảy và nơi nước đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2) 38
Hình 3.7 So sánh số cá thể trung bình giữa nơi nước chảy và nơi nước đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2) 38
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu tổng quan về đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu 3
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới 3
1.3 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam 9
1.4 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước tại vườn Quốc gia Tam Đảo 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN 14
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 14
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 14
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 15
2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 16
2.4.3 Một số chỉ số Đa dạng sinh học 16
2.4.4 Xử lý số liệu 18
2.5 Một số đặc điểm tự nhiên của Vườn quốc gia Tam Đảo 18
2.5.1 Vị trí địa lý 18
2.5.2 Địa hình 18
Trang 52.5.4 Khí hậu 19
2.5.5 Diện tích, kiểu rừng 19
2.5.6 Hệ động vật và thực vật 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 21
3.1.1 Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) 27
3.1.2 Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) 27
3.1.3 Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera) 28
3.1.4 Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) 28
3.1.5 Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) 29
3.1.6 Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera) 29
3.1.7 Thành phần loài Hai cánh (Diptera) 29
3.1.8 Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) 30
3.1.9 Thành phần loài Cánh vảy (Lepidoptera) 30
3.2 So sánh số lượng loài và tính tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 30
3.2.1 So sánh số lượng loài giữa các điểm nghiên cứu 30
3.2.2 Tính tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 33
3.3 Một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 34
3.3.1 Mật độ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 34
3.3.2 Loài ưu thế và một số chỉ số đa dạng 35
3.4 Phân bố côn trùng nước theo tính chất của thủy vực 37
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hiếu - Cán bộ giảng dạy tổ Động vật, Khoa Sinh – Ký thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 Thầy là người đã định hướng, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp của mình
Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa cùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Khuất Văn Quyết - Trưởng phòng thí nghiệm Thực vật học và các cán bộ giảng dạy tổ Thực vật - Vi sinh đã tạo điều kiện cho tôi sử dụng một số thiết bị tại phòng thí nghiệm Thực vật học góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận đúng thời gian
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Phương Thùy
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin khẳng định kết quả khóa luận “Nghiên cứu đa dạng sinh học Côn trùng
nước thuộc đai cao dưới 200m tại suối Thác Bạc, vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS
Nguyễn Văn Hiếu, giảng viên Khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đề tài này chưa từng công bố ở đâu và hoàn toàn không trùng với công trình nghiên cứu của các tác giả khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Phương Thùy
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Côn trùng nước giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái các thủy vực cả nước đứng cũng như nước chảy Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp So với nhiều nhóm sinh vật khác, côn trùng nước
có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, số lượng cá thể lớn… Đặc biệt, chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn Các loài côn trùng nước
là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 đồng thời lại là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xương sống Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tác nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp… Chính vì vậy côn trùng nước là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu đặc biệt là ở các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam, những nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước VQG Tam Đảo có hệ thống suối phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sống, tồn tại và phát triển của các loài động vật thủy sinh, trong đó có côn trùng nước Nhìn chung, các nghiên cứu về côn trùng nước ở độ cao dưới 200m tại suối Thác Bạc còn ít, chủ yếu tập trung trong bộ Phù du mà chưa mở rộng ra các đối
tượng khác thuộc nhóm sinh vật này Do đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu đa dạng sinh học côn trùng nước thuộc đai cao dưới 200m tại suối Thác Bạc, Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 93 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu tổng quan về đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu
Côn trùng nước là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn: vừa là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 vừa là nguồn thức ăn của của cá và nhiều loài động vật có xương sống khác
Khác với nhóm côn trùng trên cạn, các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả
trong môi trường nước và trong môi trường cạn
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt
ở những nước phát triển Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến từng bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loại học (Eaton, 1871, 1883 - 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973, 1975; Kawai, 1961, 1963), sinh thái học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972; McCafferty, 1991) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984) [16] Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu về các nhóm côn trùng nước gắn bó chặt chẽ với đời sống con người mà đa phần là tác nhân gây bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi, muỗi,… Điển hình
là các nghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt
và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [16]
Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước
đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trình nghiên cứu của Kuehne (1962), Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) Sang những năm
1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Barnes và Minshall, 1983) [16] Đã từ lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn trùng nước trong các hệ sinh thái, do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) [16]
Trang 11Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P., 1983; Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon, I.B., 1995; Merritt R W và Cummins K W., 1996;… Các nghiên cứu này đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera)
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào những bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm [11] Các loài thuộc bộ Phù
du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở
châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera [19]
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935) [5]
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42 họ và hơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là phân loại học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là ở các khu vực nhiệt đới [11]
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924) [21]
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù du rất nhạy
Trang 12cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan (1991), Bufagni (1997) [21]
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng sống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúng trải qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thường sống trong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộ
Anisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố
ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng phong phú [17]
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999), Silsby (2001) [3] Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có
kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [1]
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là một trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiện nay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes, 1976) [13]
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có 3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có ăng ten dài dạng chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước Hầu hết, cánh của các loài thuộc bộ Cánh
Trang 13với bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian dài sống ở nước Các thiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm Thiếu trùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần ngực
và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) [13]
Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins (1996) khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựng khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [17]
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Những nghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [15]
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,
1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932), đặc biệt là Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951, 1955, 1957) Ông đã cung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khu vực nghiên cứu này Cánh lông ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955) Ở Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986,
1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 - 1998, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989, 1990, 1995 - 1999,
2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong (2003) [15] Ismail (1993,
1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [17]
Trang 14Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [15] Ở khu vực Bắc Mỹ, Merritt R W & Cummins K W (1996), đã xây dựng khóa định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [16]
* Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn trùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai đoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên, giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [17]
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúng trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc họ này lại phân bố rất hẹp Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [17]
* Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng 10.000 thuộc nhóm côn trùng nước [17] Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dưới nước được xem là
đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiện nay, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984) Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995,
1998, 2003) [18] đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ
Trang 15Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã định loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài và White
(1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánh cứng [17]
* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989) Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ
- Mã Lai Khóa định loại tới họ và g iống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định
loại được xây dựng bởi Harris (1990) [17]
* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửa sống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [18]
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973) [17] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới châu Á
đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991, 1992), Sites
và cộng sự (1997) [18] Merritt & Cummins (1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc [16] [17]
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và Leptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sống trên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới có khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen và cộng sự, 2005) Theo Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [27]
Trang 16* Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và Crambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995) [16] Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tới loài
1.3 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thế kỷ 20, các mô tả về Ephemeroptera cũng được đề cập và quan tâm nghiên cứu Mở đầu cho những nghiên cứu về Ephemeroptera ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921, 1924), đã mô tả một loài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật được lưu giữ ở bảo tàng
Paris Ông đặt tên loài là Ephemeraduporti, do các loài thuộc giống Ephemera có
kích thước lớn, phân bố khá rộng và dễ thu thập nên nó được tiếp tục nghiên cứu ở
giai đoạn này Sau đó, Navas (1922, 1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris
và Ephemera innotata, cũng dựa trên các mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt Nam
Cho đến nay, hai loài này cũng chưa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thể xem chúng như là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [4]
Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này, đã công bố hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tới loài [19] [20] [22] [23] [24] [25] [26]
Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và 14 họ Phù du ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại và
mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam, nghiên
Trang 17cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước ta [20]
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Ba Vì,
Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một loài ghi nhận
lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [8] Trong khoảng thời
gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một số Vườn Quốc gia khác ở Việt Nam [9] [10]
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn và chưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành
Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae
và Agrionidae Trong 139 loài, Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là
Merogomphus [1]
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [4]
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu trong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999) [13], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn trưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào
đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị Kim Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [13]
Trang 18* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Sau những nghiên cứu đầu tiên của
Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis, ông đã
đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930, 1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) [12] nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989)
mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [15]
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng Đức Huy (2005) mô
tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng [4]
* Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh vảy và bộ Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [19]; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã [14], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [4]
Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu vào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae (Hemiptera) được
mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 thuộc Bắc Việt Nam Tiếp
theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được mô tả bởi Andersen (1975, 1980,
Trang 191993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) [30]
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của các loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở nước ta [30]
1.4 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước tại vườn Quốc gia Tam Đảo
VQG Tam Đảo có hệ thống suối phong phú, là điều kiện thuận lợi cho côn trùng nước phát triển Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở đây với nhiều hường nghiên cứu khác nhau Cao Thị Kim Thu (2002), đã phân loại được 4 họ: Leuctridae, Nemouridae, Peltoperlidae và Perlidae thuộc bộ Cánh úp Vườn quốc gia Tam Đảo Tác giả đã xây dựng khóa định loại và mô tả một số đặc điểm của loài thu được [2]
Lê Thu Hà (2003), đã xác định được 37 họ thuộc 8 bộ côn trùng nước tại khu vực suối Tam Đảo Trong đó bộ Hai cánh (6 họ), bộ Cánh cứng (7 họ), bộ Phù du (5 họ), bộ Cánh nửa (7 họ), bộ Chuồn chuồn (6 họ), bộ Cánh lông (3 họ), bộ Cánh vảy,
Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [7] Ngoài việc phân loại
các loài thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về sự phân bố của chúng theo
độ cao của suối Thác Bạc
Trần Anh Đức (2008), trong nghiên cứu về khu hệ Gerridae (bộ Cánh nửa) ở Việt Nam cũng đã mô tả đặc điểm một số loài thuộc họ này ở VQG Tam Đảo [2]
Từ đầu năm 2014, hai nhà nghiên cứu Chuồn chuồn học, Haruki Karube (Nhật
Bản) và Matti Hämäläinen (Phần Lan) đã liên tiếp công bố tới 15 loài loài chuồn
Trang 20chuồn mới cho khu hệ Việt Nam, gồm có 7 loài mới (new species) cho khoa học và
10 loài ghi nhận mới (new record) Trong đó có 6 loài mới được ghi nhận tại địa
điểm là VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; đó là: Stylurus clathratus (Needham, 1930);
Fukienogomphus promineus (Chao, 1954); Leptogomphus perforatus (Ris, 1912);
formosanus (Matsumura in Oguma, 1926); Leptogomphus tamdaoensis (Karube,
2014) [30]
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng côn trùng nước thuộc đai cao dưới 200m tại suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Được thực hiện từ tháng 03/2016 đến tháng 05/2018 Mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu được thu vào tháng 11/2016 Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tiến hành thu mẫu tại 5 điểm nghiên cứu thuộc đai cao dưới 200m tại khu vực suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Các điểm nghiên cứu được đánh số thứ tự
từ T1 đến T5 theo độ cao giảm dần so với mực nước biển
Trước khi tiến hành thu mẫu, tôi ghi lại một số đặc điểm sinh cảnh chính của các điểm thu mẫu:
Điểm 1 (ký hiệu T1) Độ cao 194m
Tọa độ N: 2126,220’ E: 10537,649’
Dọc 2 bên bờ suối có nhiều cây bụi nhỏ và trung bình Nước suối tương đối trong, dòng chảy chậm, nền đáy của suối chủ yếu là sỏi trung bình và nhỏ Độ sâu từ
: 10 - 30cm Độ che phủ : 10 -30% Trời âm u, nhiều mây thỉnh thoảng có nắng nhẹ
Điểm 2 (ký hiệu T2) Độ cao 154m
Tọa độ N: 2126,190’ E: 10537,567’
Hai bên bờ suối có cây bụi nhỏ và trung bình Nước suối tương đối trong và
chảy mạnh, nền đáy chủ yếu là đá tảng, đôi chỗ có cát và sỏi nhỏ Độ sâu : 20
-40cm, có chỗ 50 - 70cm Độ che phủ: 30 - 40% Trời nắng nhẹ
Điểm 3 (ký hiệu T3) Độ cao 123m
Tọa độ N: 2125,944’ E: 10537,535’
Trang 22Dọc bên bờ suối có cây bụi nhỏ Nước suối trong và chảy chậm; nền đáy chủ yếu là đá trung bình, sỏi trung bình đôi khi có cát và sỏi nhỏ Độ sâu: 20 – 40cm Độ che phủ: 10 – 20%
Điểm 4 (ký hiệu T4) Độ cao 120m
Tọa độ N: 2125,830’ E: 10537,577’
Dọc 2 bên suối có cây bụi nhỏ Nước suối trong và chạy chậm; nền đáy chủ yếu
là sỏi trung bình đôi khi có cát và sỏi nhỏ Độ sâu 10 – 30cm Độ che phủ 10 – 20%
Điểm 5 (ký hiệu T5) Độ cao 99m
Tọa độ N: 2125,442’; E: 10537,562’
Hai bên bờ suối có cây bụi trung bình và nhỏ Nước suối trong và chảy chậm, nhiều vùng nước đứng; nền đáy chủ yếu là sỏi nhỏ và cát Độ sâu 20 – 50cm Độ che phủ: 10 – 20%
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đa dạng về loài côn trùng nước ở độ cao dưới 200 m tại suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
- Mức độ đa dạng và sự tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu
- Sự phân bố của côn trùng nước theo tính chất dòng nước chảy
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Thu mẫu theo phương pháp của Nguyễn Xuân Quýnh, 2004 [5].Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand net) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber (50cm x 50cm, kích thước mắt lưới 0,2mm) Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước) Ở nơi có nhiều bụi cây dùng vợt tay để thu mẫu Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được thì nhấc đá
và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu Thu mẫu định tính được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nước đứng Ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay
Trang 23Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 2 mẫu: 1 mẫu ở nơi nước đứng và 1 mẫu ở nơi nước chảy Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất
Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùng panh nhặt các đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu sau khi nhặt cho vào lọ và bảo quản trong cồn 800
Phương pháp phân tích:
+ Dụng cụ phân tích gồm: kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh
+ Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại được công bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [21], Cao Thị Kim Thu (2002) [13], Hoàng Đức Huy (2005) [15], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) [4], Meritt R W và Cummins K W (1996) [16], Morse J C., Yang L & Tian L (1994) [17]
2.4.3 Một số chỉ số Đa dạng sinh học
Các chỉ số Đa dạng sinh học (ĐDSH) được sử dụng trong đề tài là: chỉ số
Shannon - Weiner (chỉ số H’) và chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen)
Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin hay
tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon - Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia cho tổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó Tổng các đơn vị phân loại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:
Trang 24s: số lượng loài N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
ni: số lượng cá thể của loài i Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là
số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác định thông qua hàm
Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) được chúng tôi sử dụng để
đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu Chỉ số này được tính theo công thức:
Trong đó: a: số loài trong điểm thu mẫu thứ nhất
b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu
K nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của K tương ứng với mức tương đồng như sau [2]:
0,00 - 0,20: gần nhau rất ít 0,21 - 0,40: gần nhau ít 0,41 - 0,60: gần nhau 0,61 - 0,80: gần nhau nhiều 0,81 - 1,00: rất gần nhau
Trang 25N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu
Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu, 2009 [2]
và 3.000 ha rừng trồng VQG Tam Đảo nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam, là nơi
có sự đa dạng sinh học cao [31]
2.5.2 Địa hình
VQG Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo Đây là dãy núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord 1.592m Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dòng chính [31]
Trang 26từ độ cao 400–700 m, phát triển trên đá macma kết tinh có diện tích 9.292 ha; đất feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau ở độ cao 100–400 m, có diện tích 1.7606 ha; và cuối cùng là loại đất đất dốc tụ và phù sa ở độ cao từ 100 m trở xuống có diện tích 1.017 ha [31]
2.5.4 Khí hậu
Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700–800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mưa mùa, cũng như một số khu vực có nhiệt độ, lượng mưa rất khác nhau của Tam Đảo Tất cả tạo nên một VQG Tam Đảo được che phủ bởi một lớp thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng về loài, đa dạng về quần xã sinh học và
hệ sinh thái [31]
2.5.5 Diện tích, kiểu rừng
VQG Tam Đảo rộng 34.995 ha, trong đó có 26.163 ha rừng, chủ yếu là dạng rừng tự nhiên mưa ẩm thường xanh với độ che phủ chiếm 70% diện tích toàn vườn Ngoài ra, trong VQG Tam Đảo cũng tồn tại một số kiểu rừng khác như rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi, trảng cỏ [31]
2.5.6 Hệ động vật và thực vật
VQG Tam Đảo có 1.282 loài thực vật thuộc 660 chi thuộc 179 họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó có các loài điển hình cho vùng cận nhiệt đới Có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ như hoàng thảo Tam
Đảo (Dendrobium daoensis), trà hoa dài (Camellia longicaudata), trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii), hoa tiên (Asarum petelotii), chùy hoa leo (Molas
tamdaoensis), trọng lâu kim tiền (Paris delavayi) [31]
VQG Tam Đảo cũng có 163 loài động vật thuộc 158 họ của 39 bộ, trong 5 lớp
là: thú (Mammalia); chim (Aves); bò sát (Reptilia); ếch nhái (Amphibia) và côn trùng (Insecta) Vườn có tới 239 loài chim với nhiều loài có màu lông đẹp như vàng
anh, sơn tiêu trắng, sơn tiêu hồng, sơn tiêu đỏ, có những loài quý hiếm như gà
Trang 27gấm, hổ, gấu ngựa, cầy mực, vượn, voọc đen, v.v Có 39 loài động vật đặc hữu, trong
đó có 11 loài loài đặc hữu hẹp chỉ có ở VQG Tam Đảo như rắn sãi
angen (Amphiesma angeli); rắn ráo thái dương (Boiga multitempolaris); cá cóc Tam Đảo (Paramerotriton deloustali) [31]
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại suối Thác Bạc (thuộc đai cao dưới 200m), VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã xác định được 92 loài thuộc 75 giống, 41
họ của 9 bộ côn trùng nước Số lượng loài, giống và họ cụ thể của từng bộ được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước
tại khu vực nghiên cứu
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Trang 29Hình 3.1 Tỷ lệ (%) số loài theo từng bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu bảng 3.1 cho thấy Phù du là bộ có số loài lớn nhất với 39 loài chiếm 42,4% tổng số loài thu được, tiếp theo là bộ Hai cánh và bộ Cánh lông với chiếm 14,1%, bộ Chuồn chuồn thu được 9 loài chiếm 9,8%, bộ Cánh nửa thu được 7 loài chiếm 7,6%, bộ Cánh cứng thu được 6 loài chiếm 6,5%, bộ Cánh úp thu được 3 loài chiếm 3,5%, bộ Cánh rộng và bộ Cánh vảy chỉ thu được 1 loài chiếm 1,1% Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đây của Nguyễn Văn Vịnh (2001)[19], Jung S W (2006)[28], Jung S W et al (2008) [29] cho rằng
ở các thủy vực dạng suối số lượng loài của các bộ Phù du luôn chiếm ưu thế Cũng so với những kết quả nghiên cứu trên, kết quả nghiên cứu này có sự khác biệt ở số loài thuộc bộ Hai cánh (13 loài), bộ Cánh lông (13 loài), bộ Chuồn chuồn (9 loài) Sự khác biệt có thể do thời gian thu mẫu tại khu vực nghiên cứu chưa bắt gặp nhiều loài thuộc các bộ này Để làm rõ hơn tính đa dạng của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi phân tích kết quả thành phần loài của từng bộ Kết quả thể hiện ở bảng 3.2
Trang 30Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước thu được ở các điểm nghiên cứu
3 Baetiella bispinosa Tong & Dudgeon, 2000 +
4 Baetiella trispinata Tong & Dudgeon, 2000 + + +
11 Platybaetis bishopi Muller & Liebenau, 1980 + +
12 Platybaetis edmundsi Muller & Liebenau, 1980 + + +
13 Procloeon spinosum Tungpairojwong, Nguyen & Bae, 2006 + + + +
19 Eburella brocha (Kang & Yang, 1995) + +
20 Notacanthella commodema (Allen, 1971) + +
24 Afronurus mnong Nguyen & Bae, 2003 + + +
25 Compsoneuria thienenmanni Ulmer, 1939 + +
26 Ecdyonurus cervina Braasch & Soldán, 1984 + +
27 Ecdyonurus landai Braasch & Soldán, 1984 +
Trang 3129 Epeorus carilatus Braasch & Soldán, 1984 +
30 Epeorus hieroglyphicus Braasch & Soldán, 1984 + +
31 Epeorus soldani Braasch & Soldán, 1984 +
32 Epeorus tiberius Braasch & Soldán, 1984 + + +
33 Rhithrogeniella tonkiensis Braasch & Soldán, 1986 + +
34 Thalerosphyrus vietnamensis Dang, 1967 + + + + +
35 Isonychia formosana Ulmer, 1912 +
36 Choroterpes trifurcata Ulmer, 1939 + +
37 Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939 + +
39 Isca janiceae Peters & Edmunds, 1970 + +