1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại suối Thác Bạc độ cao trên 600m thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

60 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trình nghiên cứu của Kuehne 1962, artsch và Ingram

Trang 1

D:\khóa luận tt TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Động vật học

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS NGUYỄN VĂN VỊNH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Nguyễn Văn Vịnh, người thầy đã định hướng và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp của mình

Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa cùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Hiếu - Trưởng phòng thí nghiệm Động vật, ThS Khuất Văn Quyết và các cán bộ giảng dạy

Tổ Thực vật - Vi sinh đã tạo điều kiện cho tôi sử dụng một số thiết bị tại phòng thí nghiệm Thực vật góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận đúng thời gian

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Vũ Ngọc Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Khóa luận này là công trình nghiên cứu thực sự của

cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Nguyễn Văn Vịnh

Các số liệu, những nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Vũ Ngọc Mai

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam 10

Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Thời gian nghiên cứu 16

2.3 Địa điểm nghiên cứu 16

2.4 Nội dung nghiên cứu 16

2.5 Phương pháp nghiên cứu 17

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 17

2.5.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: 17

2.5.3 Một số chỉ số đa dạng sinh học 17

2.3.4 Xử lý số liệu 19

2.6 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã ở xung quanh suối Thác Bạc tại vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 20

2.6.1 Khái quát diều kiện tự nhiên 20

2.6.2 Khái quát kinh tế xã hội 22

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 25

3.1.1 Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) 30

Trang 6

3.1.2 Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) 30

3.1.3 Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera) 30

3.1.4 Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) 31

3.1.5 Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) 30

3.1.6 Thành phần loài Cánh rộng(Megaloptera) 30

3.1.7 Thành phần loài Hai cánh (Diptera) 30

3.1.8 Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) 30

3.2 So sánh số lượng và thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 30

3.2.1 So sánh số lượng loài giữa các điểm nghiên cứu 30

3.2.2 Tính tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 32

3.3 Một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 33 3.3.1 Mật độ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 33

3.3.2 Loài ưu thế và một số chỉ số đa dạng 35

3.4 Phân bố côn trùng nước theo tính chất thủy vực 36

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Một số điều kiện tự nhiên tại các điểm thu mẫu ở suối Thác

ạc -Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 16

Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loài của 25

các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 25

Bảng 3.2 Thành phần loài của từng bộ côn trùng thu được 27

ở các điểm nghiên cứu 27

Bảng 3.3 Số loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước 32

ở các điểm nghiên cứu 32

Bảng 3.4 Chỉ số Jacca - Sorenαsen giữa các điểm nghiên cứu 34

Bảng 3.5 Số lượng cá thể các bộ côn trùng nước 35

tại khu vực nghiên cứu 35

Bảng 3.6 Loài ưu thế, chỉ số loài ưu thế (DI) và chỉ số Đa dạng sinh học Shannon – Weiner (H’) 37

Bảng 3.7 Số lượng loài và số lượng cá thể côn trùng nước ở nơi nước chảy và nước đứng trên đơn vị diện tích 0,25 m2 38

Trang 8

DANH LỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu 26 Hình 3.2 Số loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm nghiên cứu 31 Hình 3.3 Sơ đồ Jacca - Sorensen thể hiện mối liên quan giữa các điểm nghiên cứu 32 Hình 3.4 Số cá thể thu được ở mỗi bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 34 Hình 3.5 So sánh số loài trung bình giữa nơi nước chảy và nơi nước đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2

) 37 Hình 3.6 So sánh số cá thể trung bình giữa nơi nước chảy và nơi nước đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2

) 37

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Côn trùng ở nước giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt và

có mặt hầu hết trong các thủy vực nội địa, đặc biệt rất phổ biến ở các hệ thống sông, suối thuộc vùng trung du, núi cao Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp So với nhiều nhóm sinh vật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, số lượng cá thể lớn…đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn: vừa là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 vừa là nguồn thức ăn của của cá và nhiều loài động vật có xương sống khác Vì vậy chúng tham gia tích cực trong vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh thái thủy vực

Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một

số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh Đáng chú ý là những nhóm giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các loài thuộc giống Anopheles, Aedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera)… Giai đoạn trưởng thành của chúng là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da cho người Khác với nhóm côn trùng trên cạn, phần lớn các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả trong môi trường nước và trong môi trường cạn Do vậy, chúng là đối tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hóa Đa phần các loài côn trùng nước đều nhạy cảm với các biến đổi của môi trường nước Vì vậy hiện nay, một trong những hướng nghiên cứu quan trọng về nhóm côn trùng nước là dùng đối tượng này làm chỉ thị chất lượng môi trường

Trên thế giới đã có rất nhiều thành tựu nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa … Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn

Trang 10

trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ở các Vườn Quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, những nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước cao

Suối Thác ạc thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc với hệ động thực vật phong phú và đa dạng đã thu hút nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về côn trùng nước Chính vì thế

chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại suối Thác Bạc độ cao trên 600m thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu về côn trùng nước sau này tại suối Thác ạc - Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, xây dựng quy hoạch, khai thác hợp lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới

Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến từng bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loại học (Eaton, 1871, 1883 - 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973, 1975; Kawai, 1961, 1963), sinh thái học ( rittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972; McCafferty, 1991) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1994) (dẫn theo Merritt & Cummins (1996) [16]) Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu về các nhóm côn trùng nước gắn bó chặt chẽ với đời sống con người mà đa phần là tác nhân gây bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi, muỗi,… Điển hình là các nghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt

và Cummins, 1984; Merritt và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 (dẫn theo Merritt & Cummins (1996) [16])

Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trình nghiên cứu của Kuehne (1962), artsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) Sang những năm 1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt ( arnes

và Minshall, 1983) ( dẫn theo Merritt & Cummins (1996) [16] ) Đã từ lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn trùng nước trong các

hệ sinh thái, do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và

Trang 12

Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) (dẫn theo Merritt & Cummins (1996) [16])

Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty, 1983; Kawai, 1985; John, Yang và Tian, 1994; Yoon, 1995; Merritt và Cummins, 1996;… Các nghiên cứu này đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng

Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông (Trichoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera)

* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

ộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào những bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh (cách đây khoảng 250 triệu năm) Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm

là Ephemera (dẫn theo Nguyen V.V (2003) [21])

Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935)

Trang 13

Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42

họ và hơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là phân loại học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là

ở các khu vực nhiệt đới [11]

Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924) (dẫn theo Nguyen V.V (2003) [21])

Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du

là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa

và Soldan (1991), Bufagni (1997) (dẫn theo Nguyen V.V (2003) [21])

* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)

Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng sống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúng trải qua

3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thường sống trong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn ộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộ Anisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật ản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng phong phú [17] Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999), Silsby (2001) (dẫn theo Đặng Quốc Quân (2008) [3]) Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành Đối với giai đoạn

Trang 14

thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á (dẫn theo Đỗ Mạnh Cường (2004) [1])

* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là một trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiện nay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes, 1976) (dẫn theo Cao T.K.T (2002) [13])

Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có

3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có ăng ten dài dạng chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước Hầu hết, cánh của các loài thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn Các đặc điểm

đó dùng để phân biệt chúng với bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian dài sống ở nước Các thiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm Thiếu trùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần ngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) (dẫn theo Cao T.K.T (2002) [13])

Morse, Yang & Tian et al (1994); Merritt & Cummins (1996) khi

nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và ắc Mỹ, các tác giả đã xây dựng khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và ắc Mỹ sau này [17]

* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)

Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Những nghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện

Trang 15

bởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) (dẫn theo Hoang D.H (2005) [15])

ộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911, 1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932), đặc biệt là Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951,

1955, 1957) (dẫn theo Hoang D.H (2005) [15]) Ông đã cung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khu vực nghiên cứu này Cánh lông ở orneo

đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955) Ở Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng (dẫn theo Hoang D.H (2005) [15]) Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986,

1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 - 1998, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989,

1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong (2003) (dẫn theo Hoang D.H (2005) [15]) Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á (dẫn theo Morse,Yang & Tian (1994) [17])

Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật ản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học quan

Trang 16

tâm tìm hiểu Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) (dẫn theo Cao T K T & Bae (2007) [14]) Ở khu vực ắc Mỹ, Merritt & Cummins (1996), đã xây dựng khóa định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [16]

* Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)

ộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn trùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai đoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên, giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [17]

Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúng trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình

Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc họ này lại phân bố rất hẹp Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật ản và một số nơi ở Trung Quốc ( ank, 1940) (dẫn theo Morse,Yang & Tian (1994) [17])

* Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)

ộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng 10.000 thuộc nhóm côn trùng nước [17] Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dưới nước được xem là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiện nay, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984) Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) (dẫn

Trang 17

theo Narumon & Boonsatien (2004) [18]) đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh cứng ở châu Á

Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã định loại được 311 loài ở Nhật ản, ritton (1970) xác định ở Úc có khoảng

510 loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực ắc Mỹ thuộc bộ Cánh cứng (dẫn theo Morse,Yang and Tian (1994) [17])

* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)

Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công

bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989) Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990)

Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng ấu trùng bộ Hai cánh đặc biệt là họ Chironomidae như

là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước (dẫn theo Morse,Yang & Tian (1994) [17])

* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)

Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửa sống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) (dẫn theo Narumon & oonsatien (2004) [18])

Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973) (dẫn theo Morse,Yang & Tian (1994) [17]) Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae được nghiên cứu bởi

Trang 18

Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991, 1992), Sites và cộng sự (1997) (dẫn theo Narumon & oonsatien (2004) [18]) Merritt & Cummins (1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực ắc Mỹ và Trung Quốc [16] [17]

ộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và Leptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sống trên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới có khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen và cộng sự, 2005) Theo endell (1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước (dẫn theo Tran A D (2008) [27])

* Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)

Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và Crambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là

về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck

& Solis (1994) và Munroe (1995) ( dẫn theo Merritt & Cummins (1996) [16]) Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành lập khóa định loại

cụ thể tới loài

1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam

* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

Những nghiên cứu đầu tiên về Phù du ở Việt Nam được thực hiện vào đầu thế kỉ XX với các nhà khoa học nước ngoài Mở đầu cho những nghiên cứu về Ephemeroptera ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921, 1924), đã

mô tả một loài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật được lưu giữ

ở bảo tàng Paris (mẫu vật thu được ở miền ắc Việt Nam) Sau đó, Navas

Trang 19

(1922, 1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris và Ephemera innotata,

cũng dựa trên các mẫu vật thu được ở miền ắc Việt Nam Cho đến nay, hai loài này cũng chưa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thể xem chúng như là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa

ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [4]

Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006,

2007, 2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này,

đã công bố hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và

đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tới loài [19] [20] [22] [23] [24] [25] [26]

Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và

14 họ Phù du ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước ta [20]

Những nghiên cứu gần đây về bộ Phù du chủ yếu tập trung nghiên cứu

đa dạng thành phần loài của bộ này ở các Vườn Quốc gia (VQG) Cụ thể Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở VQG Tam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ Trong đó, có 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam cũng như VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc [6]

Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia

a Vì, Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một

loài ghi nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858)

[7]

Trang 20

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2007), trong kết quả bước đầu điều tra thành phần loài Phù du tại VQG Bi Doup - Núi à, tỉnh Lâm Đồng, đã xác định được 48 loài thuộc 30 giống và 7 họ [8]

Nguyễn Văn Vịnh và Nguyễn Thị Minh Huệ (2008), trong nghiên cứu

về thành phần loài của bộ Phù du (Ephemeroptera) ở VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế, đã xác định được 56 loài thuộc 33 giống và 11 họ đồng thời các tác giả cũng nhận xét về sự phân bố của bộ Phù du theo độ cao tại khu vực nghiên cứu [9]

So với nhiều bộ côn trùng nước khác, bộ Phù du ở Việt Nam đã được nghiên cứu một cách có hệ thống với nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đồng thời đây cũng là bộ có khóa định loại của ấu trùng tương đối hoàn thiện

* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)

Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn

và chưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành ộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương Trong báo cáo này, ông công bố

139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài,

Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là Merogomphus [1]

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [4]

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ Chuồn chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại

Trang 21

thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ phân loại đến bậc giống (dẫn theo Nguyễn Văn Hiếu [2])

* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999) (dẫn theo Cao T.K.T (2002) [13]), nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn trưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc

3 họ [19]

Cao Thị Kim Thu (2002) đã công bố dẫn liệu mô tả 50 loài thuộc 22 giống, 4 họ ở Việt Nam dựa trên những đặc điểm của cả hai giai đoạn trưởng thành và ấu trùng Tác giả đã xây dựng khóa định loại cho cả côn trùng trưởng thành và thiếu trùng Cánh úp ở Việt Nam đồng thời cung cấp những miêu tả chi tiết về hình thái của thiếu trùng bộ Cánh úp Công trình này là cơ

sở khoa học cho các nghiên cứu sau này về bộ Cánh úp ở nước ta [13]

Cao Thị Kim Thu (2007) công bố hai loài mới thuộc họ Cánh úp lớn

(Perlidae) cho khu hệ Cánh úp Việt Nam là Agnetina den Cao & ae, 2007 và Chinoperla rhododendroma Cao & Bae, 2007 [14] Đến 2009, tác giả trong

nghiên cứu thành phần loài họ Perlidae thuộc bộ Cánh úp ở khu vực miền Trung Việt Nam đã xác định được 22 loài thuộc 10 giống, trong đó có 4 loài

Trang 22

mới là Neoperla tamdao, Tyloperla trui, Acroneuria bachma, Chinoperla rhododendrona và 4 loài lần đầu ghi nhận cho khu hệ Việt Nam

* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)

Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu

về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây an Nha (Navás, 1913) Sau những

nghiên cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis, ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về

Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930,

1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) (dẫn theo Hoang D.H (2005) [15]) nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989) mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae (dẫn theo Hoang D.H (2005) [15])

Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng Đức Huy (2005) mô tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng

* Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh vảy và bộ Cánh rộng

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo

Trang 23

[19]; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae ae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia ạch Mã [26], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [4]

Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu vào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae

(Hemiptera) được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903

thuộc ắc Việt Nam Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được

mô tả bởi Andersen (1975, 1980, 1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) (dẫn theo Tran A D (2008) [27])

Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của các loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở nước ta [27]

Trang 24

Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại suối Thác ạc độ cao trên 600m thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

2.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2016 đến tháng 5/2018 Mẫu vật

sử dụng trong nghiên cứu được thu từ ngày 12/11/2016 đến ngày 17/11/2016 Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Động vật Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiện, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Các điểm lấy mẫu điều tra (được đánh số thứ tự từ TĐ1 đến TĐ4) thuộc khu vực suối Thác ạc, vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Bảng 2.1 Một số điều kiện tự nhiên tại các điểm thu mẫu ở suối Thác Bạc

-Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Ký hiệu Điểm thu mẫu Độ cao(m)/

Tọa độ

Khái quát điểu kiện tự nhiên

TĐ1 Điểm 1 1034m

N: 2102,582' E: 105 03,843’

Nhiệt độ không khí quanh khu vực thu mẫu là 180C, độ ẩm 86%, nhiệt độ dòng suối

15,10C, độ pH 7,23

TĐ2 Điểm 2 927m

N: 210 27,353' E: 1050 38,710'

Nhiệt độ không khí xung quanh khu vực thu mẫu là 20,50C, độ

ẩm 70%, nhiệt độ dòng suối

Trang 25

19,30C, độ pH 7,09

TĐ3 Điểm 3 863m

N: 210 27,203' E: 1050 38,627'

Nhiệt độ không khí xung quanh điểm thu mẫu là 20,50C, độ ẩm 76%, nhiệt độ dòng suối

18,40 C, độ pH 7,55

TĐ4 Điểm 4 788m

N: 210 27,097' E: 1050 38,517'

Nhiệt độ không khí xung quanh điểm thu mẫu là 210C, độ ẩm 71%, nhiệt độ dòng suối

16,90C, độ pH 7,36

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Đa dạng về loài của côn trùng nước tại suối Thác ạc ở độ cao trên 600m

- Sự phân bố của côn trùng nước theo tính chất dòng nước chảy

- Mức độ đa dạng và sự tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand net) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber (50cm x 50cm, kích thước mắt lưới 0,2mm) Tôi tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước) Ở nơi có nhiều bụi cây dùng vợt tay để thu mẫu Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu Thu mẫu định tính được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nước đứng Ở nhiều nơi có cây bụi thủy

Trang 26

sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 2 mẫu: 1 mẫu ở nơi nước đứng và 1 mẫu ở nơi nước chảy Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm ộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

2.5.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:

Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùng panh nhặt các đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu sau khi nhặt cho vào lọ và bảo quản trong cồn 800

Phương pháp phân tích:

- Dụng cụ phân tích gồm: kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh

- Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại được công bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [21], Cao Thị Kim Thu (2002) [13], Hoàng Đức Huy (2005) [15], Nguyễn Xuân Quýnh

và cộng sự (2001) [4], Meritt và Cummins (1996) [16], Morse et al (1994)

[17]

2.5.3 Một số chỉ số Đa dạng sinh học

Các chỉ số Đa dạng sinh học (ĐDSH) được sử dụng trong đề tài là: chỉ

số Shannon - Weiner (chỉ số H’), chỉ số chỉ số loài ưu thế (DI) và chỉ số tương

đồng (chỉ số Jacca – Sorensen)

Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) [10] nhằm xác định lượng thông

tin hay tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon - Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị

Trang 27

phân loại chia cho tổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số

đó Tổng các đơn vị phân loại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:

N: số lƣợng cá thể trong toàn bộ mẫu

ni: số lƣợng cá thể của loài i

Hai thành phần của sự đa dạng đƣợc kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là số lƣợng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lƣợng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các

cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài đƣợc xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner

Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau đây:

N

Trong đó: DI: Chỉ số loài ƣu thế

n1: số lƣợng cá thể của loài ƣu thế thứ nhất n2: số lƣợng cá thể của loài ƣu thế thứ hai N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu

Trang 28

Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) [10] : được chúng tôi sử

dụng để đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu

Chỉ số này được tính theo công thức:

a: số loài trong điểm thu mẫu thứ nhất

b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu

K nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của K tương ứng với mức tương đồng như sau:

Trang 29

2.6 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở xung quanh suối Thác Bạc tại vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

2.6.1 Khái quát diều kiện tự nhiên

2.6.1.1 Vị trí địa lí

Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trên dịa giới của 3 tỉnh (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang) Gồm địa phận 26 xã và 7 huyện, thị xã Tổng diện tích tự nhiên của VQG Tam Đảo là 36.883 ha

2.6.1.2 Địa hình

Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo Đây là dãy núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord 1.592m Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính [28]

2.6.1.3 Thổ nhưỡng

Điều tra, nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy Vườn quốc gia Tam Đảo có bốn loại đất chính gồm đất Feralit mùn vàng phát triển trên đá macma axít, xuất hiện ở độ cao từ 700 m trở lên, có diện tích 8.968 ha; đất feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp từ độ cao 400–700 m, phát triển trên

Trang 30

đá macma kết tinh có diện tích 9.292 ha; đất feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau ở độ cao 100–400 m, có diện tích 1.7606 ha; và cuối cùng là loại đất đất dốc tụ và phù sa ở độ cao từ 100 m trở xuống có diện tích 1.017 ha [28]

2.6.1.4 Khí hậu

Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700–800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mưa mùa, cũng như một số khu vực có nhiệt độ, lượng mưa rất khác nhau của Tam Đảo Tất cả tạo nên một Vườn quốc gia Tam Đảo được che phủ bởi một lớp thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng về loài, đa dạng về quần xã sinh học và hệ sinh thái [28]

2.6.1.6 Hệ động vật và thực vật

Vườn quốc gia Tam Đảo có 1.282 loài thực vật thuộc 660 chi thuộc 179

họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó có các loài điển hình cho vùng cận nhiệt đới Có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ

như: hoàng thảo Tam Đảo (Dendrobium daoensis), trà hoa dài (Camellia longicaudata), trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii), hoa tiên (Asarum

Ngày đăng: 20/09/2018, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w