1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BC đề cương Tình hình nhiễm giun truyền qua đất, ở học sinh tiểu học tại một số trường tiểu học thuộc huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình năm 2018

29 173 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 317 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giun truyền qua đất (GTQĐ) chủ yếu là giun đũa, giun tóc và giun mócmỏ là vấn đề y tế lớn của nhiều nước trên Thế giới đặc biệt ở các nước chậm phát triển. Theo thống kê gần đây nhất của tổ chức Y tế thế giới (WHO) 2006, ước tính hiện có khoảng hơn 2 tỷ người trên thế giới bị nhiễm giun truyền qua đất. Mỗi năm có 135.000 người chết và 800 triệu học sinh bị nhiễm1.Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, điều kiện khí hậu, tập quán sinh hoạt cũng như vệ sinh môi trường hiện nay rất thuận lợi cho sự phát triển của chứng giun ở ngoại cảnh. Mặt khác đời sống kinh tế, trình độ chung về văn hóa xã hội và ý thức vệ sinh trong nhân dân tuy có được nâng lên so với trước nhưng vẫn còn yếu. Nhiều nơi nông thôn hố xí chưa hợp vệ sinh, tình trạng phóng uế bừa bãi vẫn còn1.Về tập quán, đáng lưu ý là ở đa số các vùng thôn miền Bắc còn sử dụng phân tươi để bón. Nhiều người có thói quen ăn rau sống, uống nước chưa nấu chín, chưa có thói quen rửa tay sạch trước khi ăn và sau đi vệ sinh. Người nhiễm giun lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và tinh thần đặc biệt là ở trẻ em. Bệnh tác động xấu đến tình trạng dinh dưỡng. Qua số liệu điều tra thu thập từ các tỉnh trong toàn quốc, các bệnh giun đường ruột ở nước ta có tỷ lệ nhiễm rất cao (98%), đặc biệt là ở trẻ em. Tỷ lệ nhiễm phối hợp ở 2, 3 loại giun ở miền Bắc tới 6070%1. Tại tỉnh Ninh Bình là tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, địa hình đa dạng, bao gồm cả miền núi, đồng bằng và vùng ven biển với diện tích 1.377,57 km2, dân số 935.808 người (Nguồn: Cục Thống kê Ninh Bình). Trong đó khoảng 80% người dân lao động nông nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi cho bệnh giun truyền qua đất. Tại Ninh Bình hiện chưa có nghiên cứu nào về tình hình nhiễm giun, xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tình hình nhiễm giun truyền qua đất, ở học sinh tiểu học tại một số trường tiểu học thuộc huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình năm 2018” với các mục tiêu sau: 1.Mô tả thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học tại huyện Gia Viễn năm 2018;2.Đánh giá kiến thức thực hành của học sinh tiểu học tại huyện Gia Viễn năm 2018;3.Xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bỉnh năm 2018.

Trang 1

Đặt vấn đề

Giun truyền qua đất (GTQĐ) chủ yếu là giun đũa, giun tóc và giunmóc/mỏ là vấn đề y tế lớn của nhiều nước trên Thế giới đặc biệt ở các nướcchậm phát triển Theo thống kê gần đây nhất của tổ chức Y tế thế giới (WHO)

2006, ước tính hiện có khoảng hơn 2 tỷ người trên thế giới bị nhiễm giun truyềnqua đất Mỗi năm có 135.000 người chết và 800 triệu học sinh bị nhiễm[1]

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, điều kiện khí hậu, tập quán sinh hoạtcũng như vệ sinh môi trường hiện nay rất thuận lợi cho sự phát triển của chứnggiun ở ngoại cảnh Mặt khác đời sống kinh tế, trình độ chung về văn hóa xã hội

và ý thức vệ sinh trong nhân dân tuy có được nâng lên so với trước nhưng vẫncòn yếu Nhiều nơi nông thôn hố xí chưa hợp vệ sinh, tình trạng phóng uế bừabãi vẫn còn[1]

Về tập quán, đáng lưu ý là ở đa số các vùng thôn miền Bắc còn sử dụngphân tươi để bón Nhiều người có thói quen ăn rau sống, uống nước chưa nấuchín, chưa có thói quen rửa tay sạch trước khi ăn và sau đi vệ sinh Người nhiễmgiun lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và tinh thần đặc biệt là ởtrẻ em Bệnh tác động xấu đến tình trạng dinh dưỡng Qua số liệu điều tra thuthập từ các tỉnh trong toàn quốc, các bệnh giun đường ruột ở nước ta có tỷ lệnhiễm rất cao (98%), đặc biệt là ở trẻ em Tỷ lệ nhiễm phối hợp ở 2, 3 loại giun ởmiền Bắc tới 60-70%[1]

Tại tỉnh Ninh Bình là tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, địa hình

đa dạng, bao gồm cả miền núi, đồng bằng và vùng ven biển với diện tích1.377,57 km2, dân số 935.808 người (Nguồn: Cục Thống kê Ninh Bình) Trong

đó khoảng 80% người dân lao động nông nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợicho bệnh giun truyền qua đất Tại Ninh Bình hiện chưa có nghiên cứu nào vềtình hình nhiễm giun, xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “ Tình hình nhiễm giun truyền qua đất, ở học sinh tiểu học tại một số trường tiểu học thuộc huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình năm 2018” với các

mục tiêu sau:

1

Trang 2

1 Mô tả thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học tại huyện Gia Viễn năm 2018;

2 Đánh giá kiến thức thực hành của học sinh tiểu học tại huyện Gia Viễn năm 2018;

3 Xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bỉnh năm 2018.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa, giun tóc, giun móc.

1.1.1 Giun đũa: (Ascarislumbricoides)

- Giun đũa (cả giun đực và giun cái) đều sống ký sinh và ăn dưỡng chấp

ở ruột non của người Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh, sau mộtthời gian ở ngoại cảnh, nhờ tác dụng của nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng phôi pháttriển thành ấu trùng, trứng có ấu trùng từ ngoại cảnh lại nhiễm vào người quađường tiêu hóa Vào đến ruột non ấu trùng thoát vỏ, chui qua thành ruột vào hệtuần hoàn theo tĩnh mạch cửa lên gan, lên tim, lên phổi, chui vào phế nang, lênkhí quản, lên hầu, rồi xuống thực quản, ruột non Phát triển thành giun trưởngthành, giun trưởng thành sống trong cơ thể người khoảng 12 – 18 tháng;

- Trên thế giới có khoảng 1471 triệu người nhiễm giun, đây là nguồn mầm bệnh khổng lồ, thường xuyên được thải ra môi trường Tiềm năng sinh sảncủa giun cái rất cao Khoảng 240000 trứng mỗi ngày, người ta ước tính hàngngày môi trường bị ô nhiễm 1014 trứng giun đũa Tùy thuộc vào các yếu tố nhiệt

độ, độ ẩm, áp xuất không khí và các tia tử ngoại của ánh sáng mà giun đũa có thểtồn tại nhiều năm (6-9 năm) ở điều kiện thích hợp hoặc vài giờ ở điều kiện bấtlợi Trứng giun đũa có thể phát triển từ 120C - 360C nhưng thích hợp nhất là 240C

- 250C và độ ẩm trên 80% Ở điều kiện này sau 12 – 15 ngày trứng đã pháttriển thành trứng có ấu trùng và có khả năng gây nhiễm Nhiệt độ 450C ở các hố

ủ phân sau 1-2 tháng mới diệt được trứng giun đũa Ở 600C trong vài giờ mớidiệt được trứng giun đũa;

- Như vậy Việt nam có điều kiện, môi trường rất thuận lợi cho sự phát

Trang 3

triển của trứng giun (miền Bắc từ tháng 2 đến tháng 11, miền Nam thì quanhnăm) mùa nhiễm giun đũa cao nhất là tháng 5 và tháng 9.

- Môi trường ngoại cảnh luôn bị ô nhiễm bởi trứng giun đũa Điều tra của bộ môn KST trường Đại học Y khoa Hà Nội cho thấy, Xét nghiệm 60 mẫuđất ở nội thành Hà Nội thì có 15 mẫu có trứng giun đũa, chiếm 25%, với mật độ10-20 trứng/100g đất, KQXN 60 mẫu đất ở một số vùng ngoại thành thấy 26mẫu có trứng giun đũa chiếm 43,3%, với mật độ 25-35 trứng/100g đất

- Số lượng trứng giun trong các mẫu XN phụ thuộc vào tình trạng vệ sinh môi trường của từng vùng KQ nghiên cứu của Viện SR- KST- CTTW trongnhững năm gần đây ở nhiều khu vực trên niềm bắc thấy số lượng giao động từ14- 127 trứng/100g đất

1.1.2. Giun tóc (Trichris trchiura)

- Giun tóc có vòng đời đơn giản, giun đực và cái ở manh tràng, đại tràng

và đôi khi ở ruột Khi KST giun cắm vào đầu thành ruột để hút máu, phần đuôi ởngoài lòng ruột, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh, khi gặp điềukiện thuận lợi trứng sẽ phát triển đến giai đoạn trứng có ấu trùng lúc mới có khảnăng lây nhiễm vào người theo đường tiêu hóa Thời gian phát triển ở ngoại cảnhtrung bình khoảng 2 tuần, khi người nuốt phải trứng có ấu trùng vào ruột, ấutrùng thoát vỏ ở ruột non rồi đi dần xuống đại tràng, manh tràng phát triển thànhgiun trưởng thành và ký sinh ở đó Thời gian từ khi nhiễm phải trứng tới khi giuntóc bắt đầu đẻ trứng khoảng 1 tháng Giun sống trong người 5- 6 năm

Như vậy giun tóc chỉ có 1 vật chủ và cần giai đoạn phát triển trứng ở ngoạicảnh

- Nhiệt độ thích hợp để phát triển có ấu trùng gây nhiễm là 250C-300C, thời gian phát triển là 17- 30 ngày Nếu nhiệt độ quá 500C phần lớn trứng sẽ bịhỏng, nhiệt độ trên 300C kéo dài thì trứng sẽ chết sau 1 tháng

1.1.3 Giun móc (Ancylostoma duoenale)

- Giun móc trưởng thành sống ký sinh ở tá tràng và có thể phần đầu của ruột non Chúng dùng mỏ ngoạm vào niêm mặc ruột để chiếm thức ăn Một ngàygiun cái đẻ khoảng 3000 trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh, gặp điều kiện

3

Trang 4

thuận lợi sau 24h trứng nở ra ấu trùng sống và tồn tại trong đất Ấu trùng có khảnăng di truyền và xâm nhập qua da vào cơ thể người Sau khi chui qua da ấutrùng vào hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi và chui vào phế nang theo khíquản lên họng, đến thực quản xuống tá tràng, ruột non phát triển thành giuntrưởng thành Từ khi ấu trùng chui qua da đến giun trưởng thành mất khoảng từ5- 7 tuần Đặc biệt trong quá trình chu du trong cơ thể người ấu trùng giun móc

có thể tạm dừng ở tổ chức (giai đoạn ngủ), giai đoạn này có thể kéo dài tới 8tháng, thời gian này ấu trùng có khả năng kháng lại thuốc điều trị giun Hiệntượng ngủ của ấu trùng cũng có thể xảy ra ở động vật có vú, cho nên có thểnhiễm ấu trùng giun móc khi ăn thịt động vật ở dạng chưa nấu chín Giun trưởngthành có thể sống trong cơ thể người từ 5- 7 năm

- Giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh rất quan trọng đối với vòng đời của giun móc, điều kiện thích hợp để trứng phát triển thành ấu trùng là nhiệt độ từ

250C - 300C, có đủ ô xy, độ ẩm

- Do đặc điểm vòng đời sinh học của các loại giun có khác nhau, nên bệnh lý chúng gây nên cũng rất đa dạng và phức tạp, ở nhiều cơ quan, tổ chứckhác nhau mà ấu trùng chu du đi qua hoặc tại nơi giun cư trú

1.2 Tác hại

- Các bệnh do giun gây nên nhiều tác hại như rối loạn tiêu hóa, đau bụng,thiếu máu, suy dinh dưỡng, gầy yếu, chậm lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển cả vềtrí tuệ và tinh thần, làm giảm khả năng lao động, gây ra các biến chứng tắc ruột,giun chui vào ruột thừa gây viêm, giun chui ống mật, có thể gây tử vong

1.2.1 Giai đoạn ấu trùng

Giun đũa, giun móc có thể gây viêm phổi dị ứng Giun tóc còn gây viêm da tại chỗ nơi ấu trùng xuyên qua da Trong giai đoạn này do dị ứng với Albumin lạ cóthể phát sinh hiện tượng quá mẫn

1.2.2 Giai đoạn giun trưởng thành

- Gây kích ứng: Do những chất tiết của giun, những hoạt động của giun

thúc vào thành ruột có thể gây những kích thích hóa học, cơ học tại chỗ làm cho

Trang 5

thành ruột bị tổn thương nhẹ, gây buồn nôn, nôn, đau bụng, ỉa chảy, đi ngoài ramáu Ngoài ra mỗi loại giun còn gây những tác hại khác nhau.

- Giun đũa còn gây tắc ruột, lồng ruột và thủng ruột do có nhiều giun hoặc do thay đổi PH ở ruột Đôi khi do sự di chuyển bất thường giun đũa có thểlên ống mật ruột thừa, lệ đạo, thậm trí vào tim, gây lên những bệnh cảnh đặc biệtnhư viêm ruột thừa, viêm ống mật, túi mật, cơ tim Giun đũa chiếm chất dinhdưỡng của vật chủ làm cho cơ thể suy yếu dần, đề kháng kém, tình trạng suydinh dưỡng tiến triển âm thầm làm giảm khả năng phát triển thể lực và trí lực củatrẻ em (trong 1 ngày 20 con giun đũa sử dụng 2,8g chất bột và 0,7 mg thịt)

- Giun tóc có thể gây thiếu máu nhược sắc Nếu nhiễm nặng niêm mặc ruột bị tổn thương gây hội chứng giống lỵ: Đau bụng, ỉa nhiều lần, phân có thểlẫn ít máu Nặng hơn có thể gây sa trực tràng và nhiễm trùng thứ phát

- Giun móc hút máu gây thiếu máu: Mỗi con giun móc 1 ngày làm mất

từ 0,04 – 0,16ml máu Theo nghiên cứu của Dự án phòng chống giun sán Việtnam WHO[4] ở vùng có nhiễm giun móc 54,3% số bệnh nhân có thiếu máu trong

đó có 73,7% là thiếu máu nhược sắc Trường hợp nhiễm nặng có thể gây thiếumáu nặng, suy tim, phù nề, phụ nữ bị rong kinh, vô kinh Nếu không được điềutrị các triệu chứng tăng dần, bệnh nhân gây mòn, phù thũng và có thể chết vì kiệtsức hoặc bệnh khác phối hợp

1.3 Lịch sử nghiên cứu về nhiễm GTQĐ

Mặc dù không thấy những vết tích của giun truyền qua đất trong những tầng địa chất cổ xưa và trong các hóa thạch do cấu tạo của cơ thể giun sán khôngbền vững nhưng vẫn có thể khẳng định giun sán là KST có lịch sử xuất hiện rất sớm ngay từ khi sơ khai hình thành trái đất

Theo nghiên cứu của Vonoefele, Ebes (thế kỷ 16 trước công nguyên) đãnói tới các loài giun sán của người như sán dây, giun đũa, giun kim, giun chỉ.Các nhà y học Hy lạp Columelle (thế kỷ thứ nhất) danh y Avicene năm (980 –1037) đã mô tả giun đũa, giun kim, giun móc và sán dây Ở Việt Nam HảiThượng Lãn Ông cũng đề cặp tới các bài thuốc điều trị giun truyền qua đất[26]

5

Trang 6

Đến thế kỷ 18 những hiểu biết về giun sán ngày càng trở lên hoàn chỉnhhơn với các tài liệu khoa học ngày càng phong phú Năm 1944, E Duijardin[26] đãviết lịch sử tự nhiên về giun sán, Năm 1979 Ts Cobbol[26] xuất bản những tài liệu

về giun sán KST ở người và động vật

Ở Việt nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã có những điều tra giun sánđầu tiên Đó là công trình của Mathis, Leger, Salamon Nevan và Mauriquand.Đặc biệt Mathis và Leger (1911) đã điều tra cơ bản khá toàn diện về các loàigiun truyền qua đất ở niềm bắc Brau (1911) cũng có công trình nghiên cứu vềtình hình nhiễm giun truyền qua đất ở niềm nam[25] Sau đó là những ngiên cứuđiều trị các bệnh giun truyền qua đất bằng thuốc tây y Năm 1936 Đặng Văn Ngữ[24] đã tiến hành điều tra cơ bản các loài giun truyền qua đất ký sinh và xác địnhtình hình nhiễn giun truyền qua đất nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực về các bệnhgiun truyền qua đất như: Nghiên cứu điều tra cơ bản, NC về hình thể, đặc điểmsinh học, phân bố dịch tễ, bệnh học, miễn dịch, phương pháp phòng chống cácbệnh giun truyền qua đất[2] Trong các bệnh giun truyền qua đất, các loài giunnhiễm từ đất giun đũa, giun tóc, giun móc, giun mỏ là những loài giun phổ biếnnhất, có tỷ lệ cao trong nhân dân và tác hại đáng kể tới sức khỏe cộng đồng, tới

sự phát triển kinh tế, xã hội [2], [24]

lệ nhiễm giun cao Vì vậy Schullz[26] gọi bệnh giun đũa là “Vấn đề bị lãng quêncủa những dân tộc bị lãng quên”

Trang 7

Các nước châu âu, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tình hình nhiễmgiun đũa cũng rất nghiên trọng, đặc biệt là trẻ em Kết quả điều tra ở Italia chothấy ở Rofrano tỷ lệ nhiễm là 75%, Naples 40%, Sanmario 12% Ở bồ đào nha tỷ

lệ nhiễm 40% - 80% Nam tư tỷ lệ trẻ em nhiễm là 20% Ở Pháp tỷ lệ nhiễm là17,8%[38] Sau chiến tranh điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội ở các nước châu

âu phát triển mạnh, vì vậy đến những năm 80 của thế kỷ 20 tỷ lệ nhiễm giun đũa

ở trẻ em còn rất thấp 2% - 6%

Châu á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, khoảng 70% Châu phi có 480triệu người thì có 155 triệu người nhiễm giun đũa, chiếm tỷ lệ 32,3% Trong đó

có khoảng 54 triệu người dưới 15 tuổi bị nhiễm giun, chiếm 11,3% Các châu

Mỹ có tỷ lệ nhiễm khoảng 8% Tình trạng nhiễm giun ở trẻ em tại một số nướcĐông Nam Á: Thủ đô Kuala lumpur có tỷ lệ nhiễm 15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ59,8%, Sukaraja có tỷ lệ 44% Pilippin có tỷ lệ nhiễm 70,6%

Cũng như giun đũa, giun tóc phổ biến khắp trên thế giới, nhất là khu vựcnóng ẩm Ở một số nước nhiệt đới tỷ lệ nhiễm giun tóc tới 90%, còn ở các vùngkhác tỷ lệ nhiễm từ 30% - 60% Kể cả vùng ôn đới, cũng có một số nước giuntóc vẫn tồn tại Nhìn chung tỷ lệ nhiễm cao vẫn ở trẻ em Tùy từng vùng, tỷ lệnhiễm có khác nhau, nhưng tỷ lệ khá cao Ở Jamaica tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc

là 38,3% Guatemala tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 82% Ở Indonesia có tỷ lệnhiễm từ 54,9% - 76% Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em Philippin là 85%

Bệnh giun móc cũng gặp ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng chủ yếu

ở các nước nhiệt đới như ở nam mỹ, châu phi, nam á, đông nam á và một sốnước châu âu Bệnh giun móc phụ thuộc vào khí hậu, thổ nhưỡng, phong tục tậpquán, nghề nghiệp và sự phát triển kinh tế Ở châu âu những khu công nghiệpcông nhân hầm mỏ thường có tỷ lệ nhiễm cao Tây ban nha có tỷ lệ nhiễmkhoảng 34%, Italia 40% Các nước khu vực Đông nam á, tỷ lệ nhiễm phụ thuộcvào từng nước, từng khu vực Thái lan là 40,56%, Indonesia năm 1980 là 52% -80% đến năm 1993 còn 47,7% Malajsia năm 1980[38] là 43% 51% đến năm

1992 còn 7,1% Simgapore tỷ lệ nhiễm thấp 0,3% - 6,1% Lào năm 1980 giaođộng từ 2% - 31% và ở Cawmpuchia là 35% - 56%[49]

7

Trang 8

Năm 1997 ở ấn độ, Awashi.s[44] nghiên cứu 1061 trẻ em từ 1,5 đến 3,5 tuổithấy tỷ lệ nhiễm KST đường ruột là 17,5%, trong đó giun đũa chiếm 68,1%.Cùng thời điểm trên Ananthakrian cũng nghiên cứu tại Ấn độ[32] thấy tỷ lệ nhiễmgiun truyền qua đất ở trẻ em là 5% - 76% Hadijajap nghiên cứu tai Idonesia[36]thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ em là 60% - 90% Sau khi căn thiệp tỷ lệ nàygiảm còn 40,6% Tại Kenya, Olsea và cs [42] cho thấy 16% trẻ nhiễm giun đũa,63% nhiễm giun móc và 24% nhiễm giun tóc.Kighitnger L.K nghiên cứu tạiMadagasca[39] trên 667 trẻ em thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 93%, giun móc 27%,giun tóc là 55%.

1.4.2 Ở Việt Nam

 Nhiễm giun đũa (Ascaris lumbricoiaes): Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở nước

ta rất cao đứng hàng đầu trong các bệnh giun đường ruột Kết quả điều tra trên500.000 mẫu phân cho thấy[1,2]

Nhìn chung tỷ lệ nhiễm phân bố không đều: Ở vùng đồng bằng tỷ lệ

nhiễm Cao hơn ở niềm núi, do ở niềm núi mật độ dân cư thưa thớt hơn và không

có tập quán dùng phân tươi để bón Tỷ lệ nhiễm ở niềm Bắc cao hơn so với ởmiền Nam cũng do nguyên nhân ở niềm Nam không dùng phân tươi để bón và

có thể do trứng giun ở đất chịu tác động của tia nắng mặt trời nhiều hơn nên dễ

bị hủy hoại hơn

Trang 9

Tuy tỷ lệ nhiễm cao nhưng cường độ nhiễm thấp, ở đa số các vùng điều tra

số trứng trung bình trên một gam phân < 10.000 trứng (khoảng 5 – 10giun/người)

Nhiễm giun đũa có liên quan đến tuổi: Trẻ em nhiễm cao hơn người lớn,lứa tuổi nhiễm cao nhất là trẻ em từ 5 – 9 tuổi

Không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giữa nam và nữ.Nhiễm giun đũa phối hợp với nhiều loại giun khác khá phổ biến ở nước ta(89% số người nhiễm từ 2 loại giun trở lên)

Tình trạng tái nhiễm rất quan trọng: Sau điều trị 6 tháng bằng Albendazole

tỷ lệ tái nhiễm là 68% Tỷ lệ và cường độ nhiễm cũng cao nhất ở trẻ em từ 5- 9tuổi

 Nhiễm giun tóc (Trichuris trichiua): Sự phân bố nhiễm giun tóc ở Việt Nam khác nhau rất xa giữa miền Nam và miễn Bắc[2]

 Miền Bắc: Tỷ lệ nhiễm rất cao chỉ đứng sau bệnh giun đũa

Liên quan giữa nhiễm giun tóc nhìn chung ở mức độ nhẹ: Ở đa số cácvùng điều tra số trứng trung bình trên một gam phân < 1000 trứng

9

Trang 10

Tình trạng tái nhiễm tương tự như giun đũa: Sau điều trị 6 tháng bằngAlbendazole tỷ lệ tái nhiễm là 51% Tỷ lệ và cường độ nhiễm cũng cao nhất ở trẻ

em từ 5- 9 tuổi

 Nhiễm giun móc (Ancylostoma duoenale), giun mỏ(Necatoramicanus):Hai loại giun này có đặc điểm sinh học, dịch tễ, gây bệnh và phòng chống tươngđối giống nhau nên được gọi dưới tên chung là bệnh giun móc

Ở Việt Nam nhiễm giun mỏ là chủ yếu (chiếm 95 – 98% trong tổng sốnhiễm 2 loại giun này) Tỷ lệ nhiễm phân bố không đều tùy theo đặc điểm thổnhưỡng và tập quán canh tác, vệ sinh ở từng vùng

 Miền Bắc: Tỷ lệ nhiễm ở đa số các vùng đồng bằng

Nghề nghiệp có ảnh hưởng đến nhiễm giun móc: Công nhân mỏ than có tỷ

lệ nhiễm cao 85%, nông dân nhiễm nhiều hơn ngư dân (76% so với 55%), Ngườitrồng rau nhiễm nhiều hơn người trồng lúa (69% so với 11%) tại cùng một thờiđiểm điều tra;

Trang 11

Nhiễm giun móc phối hợp với các loại giun khác chiếm từ 50 – 70% sốngười nhiễm;

Trạng thái tái nhiễm thấp hẳn so với giun đũa và giun tóc (4,4% so với68% và 51% sau điều trị 6 tháng bằng Albendazole)

Kiến thức thực hành của học sinh tiểu học còn hạn chế

1.5 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Huyện Gia Viễn là một huyện nằm ở cửa ngõ phía bắc tỉnh Ninh Bình.phía tây giáp huyện Nho Quan, phía nam giáp huyện Hoa Lư, phía bắc giáphuyện Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình và huyện Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam, phíađông giáp huyện Ý Yên của tỉnh Nam Định qua sông Đáy Đây là huyện có địahình phức tạp với đủ cả rừng núi, đồng bằng, hồ đầm, sông bãi Gia Viễn cònđược biết đến với nhiều danh lam thắng cảnh như: khu bảo tồn thiên nhiên VânLong, suối Kênh Gà, động Vân Trình, chùa Bái Đính, chùa Địch Lộng

Nền kinh tế thế mạnh chủ yếu của huyện là Nông nghiệp Từ năm 2006huyện Gia Viễn phát triển mạnh mẽ các khu công nghiệp Gián Khẩu, nhà máy ximăng The Vissai nằm ở các xã Gia Tân, Gia Trấn, Gia Xuân, Gia Vân để thúcđẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên, song song với phát triển kinh tế, ô nhiễm môitrường tại các khu công nghiệp đang là thách thức lớn đối với Gia Viễn Việcthực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, phòng chống bệnh nghề nghiệp, bệnhtruyền nhiễm là điều kiện quan trọng để Gia Viễn phát triển kinh tế bền vững

Chính vì thế CBGTQĐ ở lứa tuổi (từ 6 đến 11 tuổi) là nhóm có tỷ lệnhiễm và cường độ nhiễm giun cao và nguy cơ phát tán trứng giun ra môi trườngcao (do chưa có ý thức đầy đủ về vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường)

Thực hành về phòng, chống GTQĐ chưa

cao

Sử dụng nhà tiêu

Có thông tin đầy đủ về

ĐK tẩy giun nhưng không quan tâm

An toàn vệ sinh thực phẩm

thông chưa phù hợp

Cho rằng Việc tẩy Giun theo định kỳ không quan trọng

Ăn những thức

ăn chưa chín hoặc ăn những thức ăn sống

Uống nước

Nhà tiêu hợp VS (Tự hoại, bán tự hoại, hai ngăn, một ngăn)

Nhà tiêu không hợp vệ sinh (Bắc cầu, các loại khác )

Trang 12

2.2 Thời gian vào địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2018;

- Địa điểm nghiên cứu: trường tiểu học Gia Thanh và Gia Tân huyện GiaViễn, tỉnh Ninh Bình

2.3 Thiếu kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang phân tích

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

*C m u i u tra ỡ mẫu điều tra được tính toán theo công thức: ẫu điều tra được tính toán theo công thức: điều tra được tính toán theo công thức: ều tra được tính toán theo công thức: điều tra được tính toán theo công thức:ược tính toán theo công thức: c tính toán theo công th c: ức:

Trang 13

* Phương pháp chọn mẫu:

Tổng số học sinh cần có trong nghiên cứu là 550 mẫu Chọn mẫu theophương pháp chọn mẫu cụm Với mỗi cụm nghiên cứu là một lớp học Trungbình mỗi lớp học có 28 học sinh/1 lớp Để đảm bảo cỡ mẫu nghiên cứu, lựa chọnngẫu nhiên 20 lớp để tiến hành phát phiếu điều tra

2.5 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

* Kỹ thuật lấy mẫu phân

- Phát cho học sinh được lựa chọn 1 lọ nhựa sạch để dựng phân, có dánnhẵn ghi rõ họ tên, tuổi, lớp, trường và mã số;

- Hướng dẫn cách lấy mẫu phân (phân lấy không dính đất cát, lấy ở rìakhuôn phân, ở nhiều vị trí, khối lượng phân cần lấy khoảng 5 gam);

- Thu mẫu phân vào sáng hôm sau để xét nghiệm theo kỹ thuật thườngquy

* Kỹ thuật xét nghiện phân

- Sử dụng kỹ thuật Kato-Katz để xét nghiện trứng giun Đây là kỹ thuậtWHO khuyến cáo sử dụng trong các điều tra giun truyền qua đất tại thực địa;

- Đánh giá cường độ nhiễm giun của giun đũa, tóc, móc theo số lượng

13

Trang 14

giun KST và số trứng đếm được trên 1 gam phân theo quy ước của WHO.

* Kỹ thuật điều tra phỏng vấn

Phỏng vấn bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính của những trẻ tham gia xétnghiệm giun một số câu hỏi nhân khẩu học, thói quen ăn, uống và tẩy giun

2.6 Các biến trong nghiên cứu

2.6.1 Các biến số của nghiên cứu mô tả cắt ngang

Bảng2.1: Nhóm bi n s ph thu cến số phụ thuộc ố phụ thuộc ụ thuộc ộc

Tên biến số Định nghĩa

biến số

Phân loại biến số

Phương pháp thu thập

Nhiễm giun đũa Có/không Định danh Xét nghiệm phânNhiễm giun tóc Có/không Định danh Xét nghiệm phânNhiễm giun móc/mỏ Có/không Định danh Xét nghiệm phânNhiễm 2 loại giun Có/không Định danh Xét nghiệm phânNhiễm 3 loại giun Có/không Định danh Xét nghiệm phân

Bảng 2.2: Nhóm biến số độc lập

Tên biến số Định nghĩa biến số Phân loại biến số Phương pháp thu thập

Tuổi Được tính theo năm

dương lịch

Liên tục Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Giới Nam hoặc nữ Nhị phân Phỏng vấn theo bộ câu hỏiNghề nghiệp Hiện tại của đối tượng Định danh Phỏng vấn theo bộ câu hỏiTrình độ học

vấn

Trình độ học vấn cao nhất của đối tượng

Định danh Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Ăn rau sống Đối tượng thường

xuyên ăn rau sống

Phân loại Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Uống nước lã Đối tượng thường

xuyên uống nước lã

Phân loại Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Rửa tay trước

khi ăn

Đối tượng thường xuyên rửa tay trước khi ăn

Phân loại Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Rửa tay sau

khi đi vệ sinh

Đối tượng thường xuyên rửa tay sau khi đi vệ sinh

Phân loại Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Đi chân đất Đối tượng thường

xuyên đi chân đất

Phân loại Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Sử dụng nhà Đối tượng thường xuyên Phân loại Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Ngày đăng: 20/09/2018, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w