Công tác quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ các trường học của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ninh Giang bên cạnh việc làm tốt ,vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, bất cập như việc phân cấp, g
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả khảo sát, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Đến thời điểm hiện tại, luận văn này chưa được bảo vệ tại bất kỳ hội đồng bảo
vệ luận văn nào trên toàn quốc và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện truyền thông, thông tin nào
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì mà tác giả cam đoan ở trên
Thái Nguyên, ngày 16 tháng 7 năm 2018
Tác giả
Hà Văn Miền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài: "Quản lí hoạt động kiểm tra nội
bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương", đến nay luận văn đã
hoàn thành và em được phép bảo vệ luận văn
Với tình cảm chân thành, em xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm, thuộc Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tận tình cho em trong quá trình học tập Em xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường Đại học Sư phạm, các bộ phận quản lí, đặc biệt là khoa sau đại học, đã chỉ dẫn, quản lí chặt chẽ về thủ tục, thời gian và tạo những điều kiện cần thiết cho việc hoàn thành luận văn thạc sĩ
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ,
người đã giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt thời gian em làm luận văn này
Mặc dù bản thân em đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song chắc chắn trong luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự chỉ dẫn của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Hải Dương, tháng 7 năm 2018
Tác giả
Hà Văn Miền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Một số lí luận về kiểm tra nội bộ trường học 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Sự khác nhau giữa kiểm tra, giám sát 12
1.2.3 Sự khác nhau giữa kiểm tra và thanh tra 13
1.2.4 Mục đích, vị trí, vai trò, ý nghĩa của KTNBTH 15
1.2.5 Các phương pháp, hình thức kiểm tra nội bộ trường học 16
1.2.6 Các nguyên tắc kiểm tra 18
1.2.7 Nội dung kiểm tra nội bộ trường học 20
Trang 61.3 Một số lí luận về quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường học 27
1.3.1 Khái niệm 27
1.3.2 Vai trò của quản lý 29
1.3.3 Chức năng cơ bản của quản lý 30
1.3.4 Vai trò, chức năng của quản lí hoạt động KTNB trường học 32
1.3.5 Mục tiêu, nội dung, hình thức quản lí hoạt động KTNB trường học 34
1.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động KTNB trường học 36
Kết luận Chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN NINH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG 38
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng giáo dục tiểu học huyện Ninh Giang 38
2.1.1 Quy mô trường lớp giáo dục tiểu học năm 2017-2018 38
2.1.2 Chất lượng giáo dục tiểu học huyện Ninh Giang 39
2.2 Thực trạng hoạt động KTNB các trường tiểu học huyện Ninh Giang 40
2.2.1 Đánh giá mức độ đạt được mục tiêu KTNB trường tiểu học 40
2.2.2 Những yêu cầu cần thiết để hoạt động KTNB trường tiểu học có hiệu quả 41
2.2.3 Đánh giá mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung của hoạt động KTNNB trường tiểu học 42
2.2.4 Đánh giá mức độ phù hợp các hình thức kiểm tra nội bộ trường học ở huyện Ninh Giang 51
2.2.5 Đánh giá chung 54
2.3 Thực trạng quản lí hoạt động KTNB trường tiểu học của Phòng GD&ĐT huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 56
2.3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy KTNB trường tiểu học 56
2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lí hoạt động KTNB trường tiểu học 56
2.3.3 Đội ngũ cán bộ, giáo viên tham gia hoạt động KTNB trường tiểu học 57
2.3.4 Đánh giá hình thức quản lí hoạt động KTNB trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 57
Trang 72.3.5 Đánh giá xếp loại chất lượng hoạt động KTNBTH 59
2.4 Đánh giá chung 60
2.4.1 Ưu điểm 60
2.4.2 Nhược điểm 61
2.4.3 Nguyên nhân 61
Kết luận Chương 2 63
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 64
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 64
3.1.1 Nguyên tắc tuân theo pháp luật 64
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế hoạch 64
3.1.3 Nguyên tắc công khai, dân chủ 65
3.1 4 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, kịp thời 65
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục, tính hiệu quả 65
3.2 Biện pháp quản lí hoạt động KTNB trường tiểu học 66
3.2.1 Biện pháp 1: Phòng GD&ĐT cần nâng cao nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên về vị trí, vai trò của hoạt động KTNBTH 66
3.2.2 Biện pháp 2: Phòng GD&ĐT chỉ đạo, hướng dẫn quy trình thực hiện hoạt động KTNB trường tiểu học 68
3.2.3 Biện pháp 3: Phòng GD&Đ, chỉ đạo, hướng dẫn các trường tiểu học, xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra nội bộ, lựa chọn nội dung tư vấn, thúc đẩy 74
3.2.4 Biên pháp 4: Phòng GD&ĐT hướng dẫn các trường tiểu học thống nhất thiết lập bộ hồ sơ kiểm tra nội bộ chung đảm bảo tính pháp lí, khoa học 87
3.2.5 Biện pháp 5: Phòng GD&ĐT tổ chức tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên tham gia hoạt động KTNBTH 88
Trang 83.2.6 Biện pháp 6: Phòng GD&ĐT tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
\đối với hoạt động KTNB tại các trường tiểu học huyện Ninh Giang 90
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 92
3.2.8 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 93
Kết luận Chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC
Trang 9NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN STT Chữ viết tắt, kí hiệu Chữ viết đầy đủ
1 BCH TW Ban chấp hành trung ương
9 KTNBTH Kiểm tra nội bộ trường học
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đánh giá mức độ đạt mục tiêu hoạt động KTNB trường tiểu học 40Bảng 2.2: Đánh giá về mức độ cần thiết của các yêu cầu đặt ra trong hoạt KTNB 41Bảng 2.3a: Đánh giá mức độ cần thiết nội dung hiệu trưởng tự kiểm tra
công tác quản lí trường học 42Bảng 2.3b: Đánh giá mức độ thực hiện nội dung hiệu trưởng tự kiểm tra
công tác quản lí trường học 44Bảng 2.4a: Đánh giá mức độ cần thiết kiểm tra đánh giá chuyên môn
nghiệp vụ của giáo viên, nhân viên của Ban KTNBTH 46Bảng 2.4b: Đánh giá mức độ thực hiện việc kiểm tra đánh giá chuyên môn
nghiệp vụ của giáo viên, nhân viên của Ban KTNBTH 46Bảng 2.5a: Đánh giá mức độ cần thiết việc hiệu trưởng kiểm tra các nội
dung hoạt động của tổ chức trong nhà trường 47Bảng 2.5b: Đánh giá mức độ thực hiện việc hiệu trưởng kiểm tra các nội
dung hoạt động của tổ chức trong nhà trường 48Bảng 2.6a: Đánh giá về mức độ cần thiết các nội dung kiểm tra việc học
tập và rèn luyện của học sinh 49Bảng 2.6b: Đánh giá về mức độ thực hiện nội dung kiểm tra việc học
tập và rèn luyện của học sinh 50Bảng 2.7: Đánh giá về mức độ phù hợp của hình thức kiểm tra nội bộ
trường tiểu học ở huyện Ninh Giang 51Bảng 2.8: Đánh giá về mức độ phù hợp của các phương pháp kiểm tra
nội bộ trường tiểu học ở huyện Ninh Giang 52Bảng 2.9: Đánh giá về năng lực hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
của hiệu trưởng và Ban kiểm tra nội bộ các trường tiểu học 53Bảng 2.10: Đánh giá sự phù hợp về hình thức quản lí hoạt động KTNB
trường tiểu học 58Bảng 2.11: Bảng thống kê về hiệu quả hoạt động kiểm tra nội bộ trường
học thông qua kiểm tra, thông qua nghiên cứu sản phẩm Sổ kiểm tra hiệu trưởng 59Bảng 3.1: Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 94
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy KTNB trường tiểu học 56Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí HĐKTNB trường tiểu học 56
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quản lý là một trong những nhân tố quan trọng trong sự phát triển xã hội Quản lý là một hoạt động phổ biến diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người C.Mác đã coi quản lý là một đặc điểm vốn có và bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội Ông viết: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu
cầu phải có một sự chỉ đạo” (C.Mác và ăng ghen - tập 23.1993), vai trò của
quản lý được ông nói lên như một người chỉ huy dàn nhạc: “ Một người nhạc sĩ
độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một
người nhạc trưởng” (C.Mác và Ăng ghen - tập 23.1993)
Nước ta đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cải cách mở cửa để tiến nhanh đến sự hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, từng bước đưa đất nước ta ngang tầm với các nước tiên tiến Điều đó đòi hỏi rất lớn vào trình độ, năng lực quản lí của bộ máy lãnh đạo Giáo dục - Đào tạo, Khoa học - Công nghệ trong công cuộc phát triển đất nước, đã được Đảng
và Nhà nước ta khẳng định là “Quốc sách hàng đầu” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII 1991) [12] trong sự nghiệp đổi mới; là “khâu đột phá” phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là “nền tảng và động lực” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII 1996) [12] cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, để từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, có nghĩa là chúng ta chấp nhận có cuộc cạnh tranh về trí tuệ trong xu thế toàn cầu hoá Đó là cuộc đua tranh về trí tuệ sáng tạo, về yếu tố con người của cộng đồng và của toàn xã hội Chính vì thế Giáo dục và Đào tạo có sứ mạng, nhiệm vụ phù hợp, quản lí giáo dục phải có những cách tiếp cận mới: Cách tiếp cận đa dạng hoá và công nghệ hoá đối với quá trình quản lí giáo dục nhằm phát triển giáo dục đúng như chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo
Trang 13Đổi mới quản lí giáo dục trong nhà trường là một yếu tố khách quan và cũng là đòi hỏi thật sự cấp thiết của xã hội trong giai đoạn hiện nay Thủ
tướng chính phủ đã chỉ rõ: “Đổi mới quản lí giáo dục là khâu đột phá” (Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo 2001-2010) [2] Tại hội nghị cán bộ thanh
tra toàn miền Bắc lần thứ nhất ngày 19/4/1955 Hồ Chủ Tịch đã chỉ rõ: “Sự kiểm tra việc thực hiện được đặt ra một cách đúng đắn là ngọn đèn pha giúp cho làm sáng tỏ tinh thần hoạt động bộ máy trong bất kỳ thời gian nào, chín phần mười những chỗ hỏng, chỗ hở đều do thiếu sự kiểm tra Thanh tra và kiểm tra thường xuyên đúng đắn, chắc chắn những chỗ hỏng, chỗ hở đều có thể ngăn ngừa được”
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: Bên cạnh thành tựu đạt được trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân, trong
đó có việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất, quản lí
giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Việc phân định giữa quản lí nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ Công tác quản
lí chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức
Nhận thức của cán bộ quản lí giáo viên, nhân viên về hoạt động kiểm tra nội bộ còn chưa cao, chưa coi trọng đúng mức mục đích, vai trò ý nghĩa hoạt động kiểm tra nội bộ trường học tác động đến chất lượng dạy và học nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung Tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ không bài bản, thiếu khoa học, có dấu hiệu hình thức, thiếu thuyết phục, cá biệt có trường hiệu trưởng giao phó cho tổ chuyên môn, các tổ chức trong nhà trường tự kiểm tra, đánh giá xếp loại nên chưa có tác động tích cực thúc đẩy hoạt động của các
cá nhân, các bộ phận và làm giảm vai trò ý nghĩa hoạt động kiểm tra, giảm hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lí của hiệu trưởng
Trang 14Công tác quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ các trường học của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ninh Giang bên cạnh việc làm tốt ,vẫn còn nhiều vấn
đề tồn tại, bất cập như việc phân cấp, giao quyền, trách nhiệm, sự phối kết hợp các bộ phận, cá nhân trong hoạt động quản lí, các biện pháp quản lí chưa được hoàn thiện, đồng bộ, việc thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên Do đó hiệu quả quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường học nói chung và trường tiểu học nói riêng trên địa bàn huyện Ninh Giang còn chưa cao
Đáp ứng khuyến nghị, đề xuất của cán bộ quản lí các trường tiểu học về việc Phòng GD&ĐT nên thống nhất cách làm như xây dựng quy trình kiểm tra, chuẩn kiểm tra, hệ thống hồ sơ, biểu mẫu, tập huấn, bồi dưỡng về nhận thức, nâng cao năng lực, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên cốt cán trong hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra nội bộ, chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục toàn diện nói chung và chất lượng dạy và học nói riêng ở cấp tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Việc xác định cơ sở lí luận, khảo sát và nghiên cứu thực trạng tình hình quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học nhằm đề xuất những biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học của Phòng Giáo dục và Đào tạo là vấn đề cần thiết cần được nghiên cứu Những thành quả nghiên cứu về vấn
đề này sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí nói chung và quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương nói riêng
Vì vậy tác giả chọn đề tài: “Quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng việc quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, để đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học của Phòng GD&ĐT, nhằm góp phần đưa
Trang 15hoạt động giáo dục đi vào kỷ cương, nền nếp, quy chế chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
3.2 Khách thể nghiên cứu: Quản lí trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
4 Giả thuyết khoa học
Nếu biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học đã triển khai thí điểm đảm bảo tính khả thi mang lại hiệu quả quản lí rõ rệt, sẽ đề xuất với lãnh đạo cho áp dụng đại trà tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này một cách khoa học và đạt kết quả, tác giả đã tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra nội bộ, quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học
5.2 Nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học và quản
lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được triển khai trong năm học 2017-2018
Tập trung nghiên cứu thực trạng và các biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học trên địa bàn huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, để
từ đó xây dựng những luận cứ về việc quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học
Chỉ tập trung vào việc đề ra các biện pháp chủ yếu để quản lí có hiệu quả hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học của hiệu trưởng và Ban kiểm tra nội
bộ trường tiểu học
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, đề xuất được những biện pháp quản lí có tính khả thi, khoa học, tác giả lựa chọn các nhóm biện pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thông qua đọc các tài liệu để phân tích, tổng hợp và hệ thống các lý thuyết
có liên quan đến hoạt động kiểm tra nội bộ, quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ nhằm hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề, cơ sở khoa học định hướng cho quá trình nghiên cứu vấn đề
7.2 Phương pháp thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Tác giả tiến hành quan sát hoạt động kiểm tra nội bộ của các trường tiểu học từ thái độ làm việc của các thành viên ban kiểm tra, cán bộ, giáo viên, nhân viên; việc thực hiện quy trình, cách nhận xét, đánh giá, thiết lập hồ sơ, Từ đó thu thập thông tin, dữ liệu có liên quan phục vụ công việc nghiên cứu đề tài luận văn
7.2.2 Phương pháp điều tra, trò chuyện
Sử dụng bộ phiếu điều tra về thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ, quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ; tiếp xúc, trò chuyện với cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên để nắm bắt kịp thời những suy nghĩ, nhận thức về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học, thấy được những thuận lợi và khó khăn, bất cập, từ đó thu thập thông tin, phân tích thông tin, xác định nguyên nhân và rút ra kinh nghiệm, làm cơ sở đề ra biện pháp quản lí hoạt động KTNB
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu bộ hồ sơ hoạt động kiểm tra nội bộ các trường tiểu học, sổ kiểm tra của hiệu trưởng, đây là kênh thông tin để thấy được thực trạng nhận thức của hiệu trưởng về vai trò, ý nghĩa hoạt động kiểm tra nội bộ, tổ chức triển khai hoạt động KTNB, công tác quản lí hoạt động KTNB của Phòng GD&ĐT
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm khoa học
Thực nghiệm thăm dò dùng để nhận dạng vấn đề và xây dựng giả thiết: Xây dựng dự thảo quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ sau đó khuyến khích các trường tiểu học sử dụng và thu thập ý kiến phản hồi để đưa ra biện pháp phù hợp
Trang 17Sử dụng thực nghiệm đối chứng nhằm tìm kiếm sự khác biệt giữa 2 biện pháp quản lí, giữa các hậu quả so với đối chứng: Đối tượng đối chứng là biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ của đề tài so với hiện trạng quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ
7.2.5 Phương pháp phân tích và tổng kết rút kinh nghiệm
Trên cơ sở các báo cáo tổng kết hoạt động kiểm tra nội bộ của các nhà trường tiểu học huyện Ninh Giang và báo cáo tổng kết của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ninh Giang, tác giả phân tích những mặt ưu nhược điểm để từ
đó rút kinh nghiệm và đề ra biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường học hiệu quả hơn
7.3 Phương pháp toán học để xử lí số liệu
Tác giả sử dụng các phương pháp này để xử lý và phân tích kết quả điều tra sau khi khảo sát nhằm rút ra những kết luận xác đáng
8 Cấu trúc luận văn
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động KTNB trường học
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Phần 3: Phần kết luận và khuyến nghị
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ
TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hoạt động kiểm tra tồn tại từ rất lâu cùng với sự xuất hiện con người trong cuộc sống và lao động, tuy nhiên để hoạt động kiểm tra trở thành một chu trình quản lí thì phải tới khi xã hội có sự ra đời của Nhà nước, trải qua nhiều thập kỷ, hoạt động quản lí luôn luôn vận động để phù hợp với sự phát triển của
xã hội, mà một trong những chức năng của quản lí đó là hoạt động kiểm tra
Hiểu được vai trò và ý nghĩa của hoạt động kiểm tra trong hoạt động lãnh đạo, quản lí nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra, các nhà lãnh đạo, quản lí luôn ý thức được rằng muốn quản lí tốt thì cần phải làm tốt việc kiểm tra
Xã hội ngày càng phát triển, cơ chế thị trường thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia, tổ chức, ngành, lĩnh vực, song cũng đặt ra nhiều thách thức trong hoạt động lãnh đạo, quản lí về an ninh trật tự xã hội, về môi trường sản xuất, lao động, môi trường sống, học tập, rèn luyện, ý thức chấp hành kỷ cương, kỷ luật lao động, chấp hành pháp luật của Nhà nước, Quốc tế Hơn lúc nào hết, hoạt động kiểm tra ở cơ quan quản lí nhà nước, theo ngành, lĩnh vực, phải thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của mình đó là ngăn ngừa, phát hiện, điều chỉnh, xử
lý, tư vấn, thúc đẩy và nhân rộng điển hình tiên tiến Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
mà ngành Giáo dục và Đào tạo đã và đang nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động kiểm tra để phù hợp với yêu cầu chung đổi mới đất nước và đổi mới Giáo dục
và Đào tạo toàn diện, trong đó có đổi mới công tác kiểm tra các nhà trường đó
là tự kiểm tra hay còn gọi là kiểm tra nội bộ trường học
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, đặc biệt là về quản lý giáo dục: Nguyễn Ngọc
Quang - Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục; Đặng Quốc Bảo - Một số khái niệm về quản lý giáo dục - đào tạo; M.I.Cônđacốp - Cơ sở lý luận khoa học
Trang 19quản lý giáo dục… Các công trình trên là cẩm nang cho các nhà quản lý giáo dục
các cấp trong lý luận cũng như thực tiễn quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Về quản lý nhà trường, các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy - học, từ đó chỉ rõ một số biện pháp quản lý nhà trường Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch đó là các biện pháp kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định
Tác giả Hà Sỹ Hồ trong cuốn: "Những bài giảng về quản lí trường học" [17] đã cho rằng: "Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lí đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lí,
về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lí…"
Tác giả Nguyễn Minh Đạo: "Quản lí mà không kiểm tra thì quản lí sẽ ít
hiệu quả và trở thành quản lí quan liêu" (Cơ sở khoa học quản lí - Nguyễn Minh Đạo 1997) [13]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong: "Những khái niệm cơ bản về lý luận, quản lý giáo dục" cho rằng: Quá trình quản lý diễn ra qua 5 giai đoạn: Chuẩn bị kế hoạch hoá, kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Trong đó, giai đoạn 5- kiểm tra, là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ Tác
giả kết luận: "Như vậy, theo lý thuyết xibecnêtic, kiểm tra giữ vai trò liên hệ
nghịch trong quá trình quản lý Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý, không có kiểm tra thì không có quản lý"
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác thanh tra, kiểm tra trong các
đề tài thi tốt nghiệp cử nhân khoa học, bảo vệ luận văn thạc sỹ chuyên ngành
Trang 20quản lí giáo dục và các lớp tập huấn công tác thanh tra, kiểm tra Các tác giả cũng đã đề cập đến một số vấn đề chung về công tác thanh tra, kiểm tra nhưng chủ yếu là thanh tra, công tác kiểm tra nội bộ trường học gần đây đã được chú trọng xong mức độ nghiên cứu mới chỉ dừng ở độ cung cấp lý luận về biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ mà chưa nghiên cứu sâu về thực trạng, gắn với thực tiễn, thiết kế biện pháp mang tính công cụ giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí như tổ chức bộ máy, bộ hồ sơ kiểm tra nội bộ, chuẩn kiểm tra, nội dung và hình thức kiểm tra, chủ thể kiểm tra, đối tượng kiểm tra, quy trình kiểm tra nội bộ trường học
Do vậy việc nghiên cứu sâu các biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội
bộ nói chung và hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học huyện Ninh Giang nói riêng, áp dụng ngay vào thực tiễn công tác quản lí của đơn vị Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ninh Giang là rất cần thiết trong khi việc quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường tiểu học còn nhiều bất cập, hiệu lực, hiệu quả chưa cao
1.2 Một số lí luận về kiểm tra nội bộ trường học
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm kiểm tra
Theo từ điển Tiếng Việt thì kiểm tra là xem xét tình hình thực tế (những
sự việc diễn ra có đúng với quy tắc đã được xác lập và các mệnh lệnh quản lí ban ra hay không) để nhận xét, đánh giá, kết luận mức độ đúng sai [34] Trong
các văn bản quy phạm pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể về kiểm tra, xong có thể hiểu:
Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn
Trang 21Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên đối với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc,
vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật
Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính Nhà nước Trong trường hợp này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền lực Nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội
Tác giả Hà Thế Ngữ đã viết: "Kiểm tra là xem xét thực tế để tìm ra những sai lệch so với quyết định, kế hoạch và chuẩn mực đã qui định; phát hiện
ra trạng thái thực tế; so sánh trạng thái đó với khuôn mẫu đã đặt ra; khi phát hiện ra những sai sót thì cần phải điều chỉnh, uốn nắn và sửa chữa kịp thời"
(Giáo trình học đại cương - Hà Thế Ngữ- Đặng Vũ Hoạt 1987) [20]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định Ngoài ra, còn có thể hiểu kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lí với các quyết định quản lí đã lựa chọn” [18]
1.2.1.2 Khái niệm về kiểm tra nội bộ trường học (KTNBTH)
Kiểm tra nội bộ trường học là xem xét tình hình thực tế các hoạt động giáo dục, điều kiện dạy và học của nhà trường, việc thực hiện nhiệm vụ của cán
bộ quản lí, giáo viên, nhân viên, học sinh có diễn ra đúng quy định hay không,
để nhận xét, đánh giá, kết luận mức độ đúng sai
Trang 221.2.1.3 Khái niệm chuẩn kiểm tra nội bộ trường học
Là hệ thống quy chuẩn cần đặt ra để đánh giá trong quá trình kiểm tra nội bộ, bao gồm yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; kết quả thực hiện nhiệm vụ của một người quản lí, giáo viên, nhân viên trong trường học
1.2.1.4 Khái niệm về nhận xét, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy
Nhận xét: Là đưa ra quan điểm mang tính chuyên môn, kỹ thuật sau khi
đã thực hiện quá trình xem xét thực tế
Đánh giá: Là xác định mức độ đạt được (đo lường giá trị) trong việc
thực hiện các nhiệm vụ theo quy định, phù hợp với bối cảnh và đối tượng để xếp loại đối tượng kiểm tra Yêu cầu của đánh giá là khách quan, chính xác, công bằng đồng thời định hướng, khuyến khích tạo cơ sở cho sự tiến bộ của đối tượng kiểm tra
Tư vấn: Là nêu được những nhận xét, gợi ý giúp cho đối tượng kiểm tra
thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của mình Yêu cầu của tư vấn là các ý kiến tư vấn phải sát thực, khả thi giúp cho đối tượng kiểm tra nâng cao chất lượng công việc của mình
Thúc đẩy: Là hoạt động kích thích, phát hiện, phổ biến các kinh nghiệm
tốt, những định hướng mới và kiến nghị với các cấp quản lý nhằm hoàn thiện dần hoạt động của đối tượng kiểm tra, góp phần phát triển hệ thống giáo dục quốc dân Yêu cầu của thúc đẩy là người kiểm tra phải phát hiện, lựa chọn được kinh nghiệm tốt, những định hướng mới cho đối tượng kiểm tra và có những kiến nghị xác đáng đối với các cấp quản lý nhằm phát triển tổ chức, phát triển cá nhân trong đơn vị
1.2.1.5 Khái niệm thanh tra
Theo từ điển Tiếng Việt thì: "Thanh tra là xem xét việc làm tại chỗ của địa phương, tổ chức để phát hiện và ngăn chặn những gì trái với quy định” [34]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Thanh tra là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng duy trì các hoạt động của cơ quan hay của công chức
Trang 23bằng các hoạt động xem xét, thẩm định lại những hành vi của công chức, những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở những quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ của cá nhân hoặc tổ chức được thanh tra” [28]
Theo từ điển Luật học thì: “Thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định Ngoài ra, thanh tra còn được hiểu là sự xem xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước” [33]
1.2.1.6 Khái niệm về giám sát
Theo từ điển Hán Việt thì giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng quy định không Giám sát mang tính quyền lực (Quốc Hội, HĐND),
giám sát không mang tính quyền lực (Mặt trận tổ quốc, Ban thanh tra nhân dân) [34]
1.2.2 Sự khác nhau giữa kiểm tra, giám sát
1.2.2.1.Về mục đích
Giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm từ lúc mới manh nha Giám sát giúp đối tượng được giám sát thực hiện đúng quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, phản ảnh, đề xuất; giám sát để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm là chính Qua giám sát, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì mới tiến hành kiểm tra
Kiểm tra là để làm rõ đúng, sai Sau kiểm tra phải kết luận và xử lý Có thể có vi phạm rồi mới kiểm tra, có vụ việc đó qua nhiều năm mới kiểm tra để
làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm (nếu có) để xử lý
1.2.2.2 Về đối tượng
Trong hoạt động kiểm tra, tổ chức, cá nhân vừa là đối tượng kiểm tra vừa
là chủ thể kiểm tra (tự kiểm tra chính mình)
Trang 24Trong hoạt động giám sát, đối tượng giám sát là tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ; chủ thể giám sát là người ra quyết định kiểm tra, thanh tra hoặc tổ chức,
cá nhân được giao thẩm quyền (ví dụ Ban thanh tra nhân dân trường học)
1.2.2.3 Về phương pháp và hình thức
Giám sát không cần thẩm tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật
mà chỉ thông qua theo dõi, quan sát để phát hiện vấn đề, phản ánh với tổ chức
và cá nhân có thẩm quyền nhằm kịp thời chấn chỉnh, sửa chữa khuyết điểm, tránh để xảy ra vi phạm
Kiểm tra bắt buộc phải tiến hành theo quy trình, thành lập tổ hoặc đoàn kiểm tra; coi trọng các biện pháp nghiệp vụ để thẩm tra, xác minh; sau kiểm tra
có kết luận cuộc kiểm tra, có đánh giá, nhận xét ưu, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và xử lí kỷ luật tổ chức, cá nhân vi phạm
* Lưu ý: Giám sát và kiểm tra có mối quan hệ khăng khít với nhau Muốn
thực hiện tốt việc giám sát thì phải có theo dõi, xem xét thực tế của đối tượng được giám sát; muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên thực hiện việc giám sát
1.2.3 Sự khác nhau giữa kiểm tra và thanh tra
Có thể nói giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm giao thoa nhau, có mối quan hệ đan chéo nhau Bởi vì thanh tra và kiểm tra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình quản lý” Qua thanh tra, kiểm tra, các cơ quan quản lý Nhà nước có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề
ra Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra Các hoạt động, thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việc kiểm tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh, đối chiếu, đánh giá, xác minh… tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra…đó là kiểm tra Chính vì vậy,
Trang 25trong thực tiễn, nhiều người thường hay nhầm lẫn, đồng nhất kiểm tra với thanh tra Tuy nhiên với tư cách là một hoạt động độc lập, thanh tra có nhiều điểm khác biệt với kiểm tra:
1.2.3.1 Chủ thể tiến hành
Giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước Nhà nước tiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểm tra Trong khi chủ thể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, thì chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc có thể là chủ thể phi Nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm
tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên ), hay như hoạt động kiểm tra trong nội bộ tổ chức,
doanh nghiệp
1.2.3.2 Về mục đích thực hiện
Mục đích của thanh tra bao giờ cũng rộng hơn, sâu hơn đối với các hoạt động kiểm tra Đặc biệt, đối với các cuộc thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo thì sự khác biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra càng rõ hơn nhiều, bởi: Thông thường khiếu nại, tố cáo phản ánh sự bức xúc, bất bình của nhân dân trước những việc mà nhân dân cho là quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm cho nên mục đích của hoạt động thanh tra không còn chỉ là xem xét, đánh giá một cách bình thường nữa
1.2.3.3 phương pháp tiến hành
Với mục đích rõ ràng hơn, rộng hơn, khi tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra cũng áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định, Đặc biệt trong quá trình thanh tra, Đoàn thanh tra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý
1.2.3.4 Trình độ nghiệp vụ
Hoạt động thanh tra đòi hỏi thanh tra viên, cán bộ thanh tra phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh tế - xã hội, có khả năng chuyên sâu vào lĩnh
Trang 26vực thanh tra hướng đến Do nội dung hoạt động kiểm tra ít phức tạp hơn thanh tra và chủ thể của kiểm tra bao gồm lực lượng rộng lớn có tính quần chúng phổ biến nên nói chung, trình độ nghiệp vụ kiểm tra không nhất thiết đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra
1.2.3.5.Phạm vi hoạt động
Do chủ thể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc có thể là chủ thể phi Nhà nước nên phạm vi hoạt động thanh tra thường hẹp hơn hoạt động kiểm tra Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục, ở khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng còn phạm vi hoạt động của thanh tra thường tập trung, cụ thể, mang tính quyền lực, chuyên môn cao
1.2.3.6 Thời gian tiến hành
Trong hoạt động thanh tra thường có nhiều vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất công phu, nhiều mối quan hệ cần được làm rõ, cho nên phải sử dụng thời gian nhiều hơn so với kiểm tra
Thanh tra và kiểm tra tuy có sự khác biệt nhưng chỉ là tương đối Khi tiến hành một cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ
đó thực chất là kiểm tra Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại, gắn bó Do vậy, khi nói đến một khái niệm người ta thường nhắc đến cả cặp với tên gọi là thanh tra, kiểm tra hay kiểm tra, thanh tra
1.2.4 Mục đích, vị trí, vai trò, ý nghĩa của KTNBTH
1.2.4.1 Mục đích KTNBTH
Đánh giá kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên và bộ phận trong nhà trường; phân tích nguyên nhân của các ưu điểm, nhược điểm đồng thời đề xuất các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, thiếu sót; nhằm mục đích phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, phát triển nhà trường,
phát triển người giáo viên và học sinh nói riêng (Nguyễn Xuân Thanh (2013) Kiểm tra và thanh tra giáo dục, NXB Đại học Sư phạm I Hà Nội [27]
Trang 271.2.4.2 Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra nội bộ trường học
Kiểm tra nội bộ trường học là chức năng quản lí cơ bản, là khâu đặc biệt
quan trọng trong chu trình quản lí Đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược, thường
xuyên, kịp thời giúp hiệu trưởng hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình quản lí nhà trường Kiểm tra nội bộ trường học là công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lí trường học nhằm nâng cao chất lượng- đào tạo trong nhà trường
Kiểm tra nội bộ vừa là tiền đề vừa là điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường Thực tế cho thấy, nếu kiểm tra, đánh giá chính xác, chân thực sẽ giúp hiệu trưởng có thông tin chính xác về thực trạng của đơn
vị mình cũng như xác định các mức độ, giá trị, yếu tố ảnh hưởng, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp điều chỉnh, uốn nắn có hiệu quả
Kiểm tra còn có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tượng kiểm tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Nếu tổ chức việc kiểm tra được chu đáo thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm lần
Kiểm tra chẳng những giúp hiệu trưởng thu thập thông tin về hoạt động của đối tượng quản lí mà còn giúp hiệu trưởng nhận rõ kế hoạch, việc chỉ đạo, điều hành, của mình có khoa học, khả thi không, từ đó có các biện pháp điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả quản lí
1.2.5 Các phương pháp, hình thức kiểm tra nội bộ trường học
1.2.5.1 Phương pháp
* Phương pháp quan sát
Cơ sở vật chất-kỹ thuật (tường rào, cổng biển trường, sân chơi, bãi tập, lớp học, phòng bộ môn, phòng chức năng, bàn ghế, thư viện, thiết bị, đồ dùng dạy học, việc bố trí, sử dụng, bảo quản, mức độ an toàn, )
Hoạt động dạy giáo viên và hoạt động học của học sinh, hoạt động phục
vụ dạy - học của cán bộ, nhân viên trong trường cũng như mối quan hệ của họ:
Trang 28Quan sát tinh thần, thái độ trong thực hiện nhiệm vụ, năng lực giải quyết công việc của từng đối tượng
* Phương pháp phân tích tài liệu, sản phẩm hoạt động của giáo viên, học sinh
Kế hoạch, đăng kí giảng dạy, giáo án, sổ chủ nhiệm, sổ dự giờ, sổ tự bồi dưỡng, sổ nghị quyết, vở ghi của học sinh, sổ điểm, sổ theo dõi chất lượng, sổ điểm danh, bài kiểm tra của học sinh, đồ dùng tự làm của giáo viên,
* Phương pháp điều tra bằng phiếu, phỏng vấn, trao đổi (thăm dò để thu thập thông tin trong quá trình nhận xét, đánh giá, xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống)
* Phương pháp tham dự các hoạt động giáo dục cụ thể: dự giờ, hoạt động ngoại khóa rèn kỹ năng sống, trải nghiệm thực tế,
1.2.5.2 Hình thức
* Căn cứ vào thời gian: kiểm tra trước, trong và sau
Kiểm tra trước (kiểm tra lường trước): Được tiến hành trước khi hoạt động diễn ra, mục đích của nó là tiên liệu các vấn đề có thể phát sinh để tìm cách ngăn ngừa trước Ngày nay, kiểm tra lường trước là xu hướng phát triển của quá trình quản lí hiện đại vì kiểm tra lường trước mang ý nghĩa tích cực hơn mọi hình thức kiểm tra khác
Kiểm tra trong (kiểm tra đồng thời): Được thực hiện trong khi hoạt động
của đối tượng kiểm tra đang được tiến hành Với hình thức kiểm tra này nhà quản lí có thể điều chỉnh các sai sót một cách kịp thời
Kiểm tra sau (kiểm tra phản hồi): Được thực hiện sau khi hoạt động đã xảy
ra, nó giúp cho nhà quản lí tự đánh giá về quyết định của mình để rút kinh nghiệm,
đồng thời cung cấp cho mọi người trong tổ chức những thông tin hữu ích
* Căn cứ vào tần xuất kiểm tra: Đột xuất, định kỳ
Kiểm tra đột xuất: Hình thức kiểm tra này giúp cho người quản lí biết được tình hình công việc diễn ra trong điều kiện bình thường hàng ngày đồng thời có tác dụng duy trì kỷ luật lao động, nâng cao tinh thần tự giác, tự kiểm tra của các cá nhân, bộ phận trong nhà trường
Trang 29Kiểm tra định kỳ: Hình thức kiểm tra này giúp cho nhà quản lí đánh giá được mức độ tiến bộ của cá nhân hay bộ phận Thông thường, kiểm tra định kỳ
có báo trước cho đối tượng kiểm tra nên giúp cho đối tượng bộc lộ hết khả năng trong công việc của mình
* Căn cứ theo nội dung
Kiểm tra toàn diện: Là xem xét và đánh giá trình độ hoạt động của đối tượng kiểm tra trên cơ sở những sự kiện, dữ liệu đa dạng có hệ thống của toàn
bộ các hoạt động và hiệu quả của tất cả các khâu trong quá trình hoạt động
Kiểm tra chuyên đề: Là xem xét và đánh giá chỉ một khía cạnh hay một
số vấn đề trong toàn bộ hoạt động của đối tượng kiểm tra
* Căn cứ theo phương pháp
Kiểm tra trực tiếp: Xem xét, đánh giá trực tiếp hoạt động của đối tượng kiểm tra
Kiểm tra gián tiếp: Xem xét, đánh giá đối tượng kiểm tra thông qua kết quả hoạt động của cá nhân, bộ phận liên quan với đối tượng kiểm tra Ví dụ: xem xét, đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên thông qua kiểm tra kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra xác suất, kiểm tra lại sau kiểm tra,
* Theo số lượng của đối tượng kiểm tra
Kiểm tra toàn bộ: kiểm tra tất cả đối tượng kiểm tra Ví dụ: kiểm tra tất
cả học sinh trong một lớp; kiểm tra tất cả các lớp trong một khối
Kiểm tra có lựa chọn (cá nhân, bộ phận): kiểm tra một số đối tượng cụ
thể nào đó trong đối tượng kiểm tra Ví dụ: kiểm tra một số học sinh trong một lớp; kiểm tra một vài lớp trong một khối lớp
1.2.6 Các nguyên tắc kiểm tra
1.2.6.1 Kiểm tra chính xác, khách quan
Đây là nguyên tắc hàng đầu của kiểm tra, kết quả kiểm tra phải phản ánh đúng thực trạng về đối tượng kiểm tra, tránh định kiến, suy diễn cũng như tránh làm hình thức, giả tạo
Trang 30Tính chính xác thể hiện không có sai sót, sai lệch khi nhậ xét, đánh giá đối tượng kiểm tra, muốn đảm bảo tính chính xác đòi hỏi trong kiểm tra phải xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, khi xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra phải bám sá vào văn bản quy phạm chuyên ngành và văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, đồng thời cán bộ kiểm tra phải có kỹ năng nghiệp vụ tốt trong kiểm tra
Tính khách quan trong kiểm tra thể hiện ở chỗ những quan điểm, nhận xét, đánh giá về đối tượng kiểm tra không phụ thuộc vào chủ thể kiểm tra mà nó phản ánh chân thực nhất về đối tượng kiểm tra, trong kiểm tra để đảm bảo tính khách quan cần tổ chức tốt hoạt động kiểm tra từ hình thức kiểm tra, nội dung kiểm tra, tần xuất kiểm tra, phương pháp kiểm tra, số lượng người kiểm tra, đối thoại với đối tượng kiểm tra, hội ý sau kiểm tra trước khi đưa ra kết luận
1.2.6.2 Kiểm tra phải có hiệu quả
Kiểm tra không phải là: “ Bới lông tìm vết” Kiểm tra phải có tác dụng đôn đốc thúc đầy việc thực hiện được tốt hơn Đặc biệt, trong giáo dục còn phải tính đến hiệu quả giáo dục trong kiểm tra, chẳng hạn: Kiểm tra giờ dạy trên lớp của giáo viên nhưng có hiện tượng giáo viên đã “dạy nháp” trước thì không những không đánh giá đúng thực trạng hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò mà còn đưa tới tác dụng giáo dục không tốt đối với học sinh
Kiểm tra giúp cho nhà quản lí nâng cao hiệu quả nhờ những thông tin xác thực về hoạt động của đối tượng quản lí va hoạt động của các cấp quản lí trong nhà trường
Ngoài ra, còn phải tính đến hiệu quả kinh tế trong kiểm tra, nghĩa là các lợi ích mà kiểm tra mang lại phải lớn hơn các chi phí cùng hậu quả do kiểm tra gây ra
1.2.6.3 Kiểm tra phải thường xuyên kịp thời
Kiểm tra là một chức năng của quản lí, là công việc của nhà quản lí nên phải thực hiện thường xuyên, không phải “khi có vấn đề” mới kiểm tra
Trang 31Tính thường xuyên trong kiểm tra thể hiện tính luôn luôn, đều đặn, không gián đoạn, kiểm tra thường xuyên giúp phát hiện kịp thời những sai sót, để có biện pháp điều chỉnh, đồng thời nắm bắt hành vi, thái độ của đối tượng kiểm tra trong thực hiện nhiệm vụ, thiết lập và duy trì kỷ cương, nền nếp chuyên môn
Tính kịp thời thể hiện sự đúng lúc, không để chậm chễ, nếu kiểm tra kịp thời sẽ phát hiện, ngăn ngừa, có biện pháp kịp thời để khắc phục những khó khăn, bất cập, hạn chế những tiêu cực, sai sót trong thực hiện nhiệm vụ
1.2.6.4 Kiểm tra phải công khai, minh bạch
Đó là sự thể hiện dân chủ trong quản lí, cần phải động viên, thu hút cá nhân, đơn vị tham gia vào quá trình kiểm tra, biến quá trình kiểm tra bên ngoài thành quá trình tự kiểm tra của cá nhân, bộ phận trong nhà trường
Tính công khai trong kiểm tra thể hiện việc niêm yết kế hoạch kiểm tra Biên bản nhận xét, đánh giá, kết luận kiểm tra đều thông báo cho đối tượng kiểm tra và những người liên quan được biết và được tiếp cận
Tính minh bạch trong kiểm tra thể hiện ở việc rõ ràng, rành mạch, không
mờ ám, trong sáng trong hoạt động kiểm tra
1.2.7 Nội dung kiểm tra nội bộ trường học
* Đối tượng kiểm tra
Đối tượng kiểm tra nội bộ trường học là tất cả các thành tố cấu thành hệ thống sư phạm nhà trường, sự tương tác giữa chúng tạo ra một phương thức hoạt động đồng bộ và thống nhất nhằm thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch đào tạo và tạo ra kết quả đào tạo mong muốn Đối tượng chủ yếu của kiểm tra nội bộ trường
học là: Giáo viên (hoạt động sư phạm của giáo viên), cơ sở vật chất- kỹ thuật, tài
chính, kết quả dạy học và giáo dục, hoạt động của tổ, khối chuyên môn; bộ phận hành chính, bộ phận thư viện, thiết bị; công tác bán trú; hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh
Trong kiểm tra nội bộ trường học thẩm quyền là hiệu trưởng, hiệu trưởng thành lập Ban KTNB giúp hiệu trưởng trong hoạt động kiểm tra Chủ thể KTNB
đồng thời là đối tượng kiểm tra (tự kiểm tra chính mình )
* Cơ sở pháp lí
Trang 32Luật giáo dục, Nghị định chính phủ hướng dẫn thi hành Luật giáo dục, mục tiêu, kế hoạch nhà trường, Điều lệ trường học, Nghị định chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục; các thông tư, hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà trường, thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên; Chỉ thị nhiệm vụ năm học; chỉ đạo của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT
1.2.7.1 Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống
Phần kiểm tra này chủ thể kiểm tra là hiệu trưởng, thông qua việc quản lý của mình để nắm bắt đối tượng, hiệu trưởng cần có thông tin từ chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong nhà trường thông qua việc phỏng vấn, phiếu thăm dò, tín nhiệm,… để đảm bảo yếu tố khách quan
Tiêu chuẩn theo Quy chế quy định tại Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV Không xếp tiêu chuẩn về PCCT, đạo đức, lối sống đạt loại Tốt đối với những giáo viên có tiêu chuẩn xếp loại về chuyên môn nghiệp vụ từ Trung bình trở xuống
Nếu giáo viên vi phạm một trong các hành vi mà nhà giáo không được làm, quy định tại Điều 75 Luật Giáo dục sửa đổi ngày 14/6/2005 thì bị xếp tiêu chuẩn về PCCT, đạo đức, lối sống thấp hơn một bậc liền kề so với quy định
1.2.7.2 Năng lực, chuyên môn nghiệp vụ giáo viên
Theo quy định hiện hành, hàng năm hiệu trưởng cần kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ toàn bộ số giáo viên của trường Việc kiểm tra giáo viên dựa vào 4 nội dung sau:
Trình độ nghiệp vụ (tay nghề): Xem xét và đánh giá hai mặt là trình độ nắm kiến thức, kỹ năng, thái độ cần xây dựng cho học sinh thể hiện qua việc giảng dạy và trình độ vận dụng phương pháp giảng dạy và giáo dục thông qua kiểm tra giờ dạy trên lớp của giáo viên theo yêu cầu, quy định của Bộ GD&ĐT đối với từng cấp học
Thực hiện quy chế chuyên môn: Xây dựng và thực hiện chương trình kế hoạch, nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, giảng dạy; thực hiện các yêu cầu
về soạn bài theo quy định; kiểm tra, nhận xét, đánh giá,chấm, trả bài, vào điểm, phê duyệt học bạ, sổ theo dõi chất lượng, quan tâm giúp đỡ các đối tượng học sinh;
Trang 33tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn; việc sử dụng và tự làm đồ dùng dạy học, thực hiện các tiết thực hành, thí nghiệm theo quy định; đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về
hồ sơ và các quy định về chuyên môn, duy trì sĩ số, tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; tuân thủ các quy định về dạy thêm, học thêm
Kết quả giảng dạy, giáo dục: Kết quả giáo dục, học tập, rèn luyện của học sinh qua các lần kiểm tra chung của khối, nhóm, lớp của các bộ môn mà giáo viên dạy; kết quả kiểm tra trực tiếp của ban kiểm tra; mức độ tiến bộ của học sinh, lớp học sinh mà giáo viên dạy (chủ nhiệm) trong từng thời kỳ, so sánh với khi giáo viên mới nhận lớp
Việc khảo sát chất lượng học sinh, đánh giá kết quả giảng dạy (có tính đến yếu tố đặc thù đối tượng, chỉ tiêu chất lượng được giao khi giáo viên nhận lớp) để xếp loại giờ dạy chính xác, khách quan
Tham gia các công tác khác: Công tác chủ nhiệm, thiết bị, thư viện, công tác đoàn thể, giáo dục đạo đức cho học sinh; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc tuyên truyền công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, lợi ích việc ăn bán trú; bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém,…
1.2.7.3 Kiểm tra chuyên đề đối với nhân viên:
Thực hiện các quy định về chuyên môn,nghiệp vụ thư viện, thiết bị, kế toán, văn thư, thủ quỹ, y tế học đường, nuôi dưỡng, bảo vệ
Sử dụng và quản lý hồ sơ chuyên môn;
Thực hiện một chuyên đề mang tính chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ như giới thiệu sách theo chủ đề, chủ điểm phục vụ dạy và học, chuẩn bị đồ dùng, thí nghiệm, hỗ trợ tiết thực hành; chủ điểm tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh cá nhân, chăm sóc sức khỏe, xây dựng bữa ăn theo mùa, sinh hoạt lớp, hoạt động ngoại khóa ngoài giờ lên lớp, soạn thảo văn bản, thu góp, lập dự toán, quyết toán theo tháng, quý, năm, lưu giữ chứng từ
1.2.7.4 Kiểm tra chuyên đề đối với Phó Hiệu trưởng
Chỉ đạo, quản lý hoạt động chuyên môn của nhà trường: Xây dựng thời khóa biểu chính khóa, ngoại khóa; chỉ đạo và quản lý việc dạy thêm học thêm,
Trang 34phụ đạo, bồi dưỡng học sinh giỏi, hướng nghiệp, dạy nghề, giáo dục kỹ năng sống, hội thi, duy trì nền nếp chuyên môn, sinh hoạt tổ chuyên môn, chuyên đề, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, nhân viên, thực hiện quy định về chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân
Chỉ đạo, quản lý công tác bán trú của nhà trường: Xây dựng kế hoạch nuôi dưỡng, xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn phù hợp lứa tuổi, khẩu phần ăn theo mùa, công tác an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thức ăn, nguồn cung cấp và bảo quản thực phẩm, lưu giữ mẫu thức ăn, xuất nhập kho, chế độ dinh dưỡng, phòng chống suy dinh dưỡng, béo phì, chế độ ăn- ngủ của học sinh, phòng chống bệnh tật, khám sức khỏe định kỳ
1.2.7.5 Kiểm tra chuyên đề đối với các tổ chức trong nhà trường
Kiểm tra hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn giúp cho Hệu trưởng thấy được toàn bộ bức tranh hoạt động sư phạm của tập thể giáo viên, trong đó bộc lộ tất cả các khâu của quá trình giảng dạy giáo dục, thấy rõ tác động của tập thể đến
cá nhân và mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong tập thể
Kiểm tra công tác quản lý của tổ trưởng, nhóm trưởng: nhận thức, vai trò, tác dụng, uy tín, năng lực quản lý chuyên môn,…
Kiểm tra hồ sơ chuyên môn tổ, nhóm: kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học, nghị quyết họp, sổ dự giờ, biên bản nhận xét đánh giá giáo viên, nhân viên trong tổ, biên bản bình xét thi đua của tổ, hồ sơ thực hiện chuyên đề bồi dưỡng, sáng kiến kinh nghiệm
Kiểm tra thực hiện quy chế, nền nếp, sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn: Thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch thời gian năm học, soạn bài, ký duyệt giáo án, kiểm tra chấm trả bài, đánh giá, xếp loại học sinh, đổi mới phương pháp, sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học, dự giờ thăm lớp, làm chuyên đề, đổi mới sinh hoạt tổ, thao giảng, hội giảng, họp tổ nhóm, thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm, hướng nghiệp, dạy nghề; mức độ ảnh hưởng, tác động, uy tín của tập thể tổ, nhóm chuyên môn đối với Ban Giám hiệu, cá nhân trong nhà trường
Trang 35Kiểm tra xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
Kiểm tra xây dựng và chỉ đạo thực hiện phong trào thi đua trong tổ, phong trào nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục học sinh: chế độ ăn, ngủ, tự phục vụ,
vệ sinh cá nhân của trẻ, phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi
Kiểm tra phụ trách công tác bán trú, nuôi dưỡng: Kiểm tra cơ sở vật chất phục vụ công tác bán trú; kiểm tra các loại hồ sơ liên quan đến công tác bán trú, nuôi dưỡng; kiểm tra hoạt động của bộ phận nuôi dưỡng, chăm sóc; kiểm tra kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh
1.2.7.6 Kiểm tra tập thể, lớp học sinh
Trong công tác quản lý nhà trường, Hiệu trưởng phải tiến hành kiểm tra tập thể lớp học sinh toàn diện hoặc theo chuyên đề Từ việc kiểm tra này mà hiệu trưởng nắm bắt được tình hình học tập và rèn luyện chung của một lớp, một khối lớp cũng như toàn trường và thấy được tác động giáo dục đồng bộ của tập thể sư phạm trong giảng dạy, giáo dục
Kiểm tra hoạt động học tập học sinh: Ý thức, thái độ, nề nếp, phương pháp, khả năng tiếp thu tri thức, sự tương trợ giúp đỡ nhóm trong học tập; kiểm tra khả năng tự quản, tự học của học sinh trong học tập và sinh hoạt
Kiểm tra trình độ được giáo dục của học sinh về các mặt: Đạo đức, lối sống, ý thức và kỷ luật lao động, ý thức bảo vệ sức khỏe - vệ sinh, kỹ năng sống, kết quả học tập, kỹ năng thực hành
Kiểm tra hoạt động, sinh hoạt tập thể lớp; kiểm tra việc thực hiện các phong trào thi đua và các cuộc vận động trong ngành; việc xây dựng các tổ, nhóm, cá nhân điển hình
1.2.7.7 Kiểm tra công tác Đoàn, Đội
Công tác chỉ đạo, tổ chức, thực hiện chương trình công tác Đoàn, Đội và phong trào thiếu nhi trường học; các phong trào, phần việc, cuộc thi do các cấp phát động trong năm học
Trang 36Kết quả triển khai, thực hiện chương trình rèn luyện tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của đoàn viên, đội viên, nề nếp sinh hoạt Đoàn, Đội, sinh hoạt Sao nhi đồng
Công tác tham mưu, phối hợp để triển khai chương trình công tác nhà trường Phát động và hưởng ứng phong trào thi đua, các cuộc vận động trong công tác Đoàn, Đội, Chấm giao ước thi đua công tác Đoàn, Đội trường học
1.2.7.8 Kiểm tra các điều kiện đảm bảo hoạt động giáo dục nhà trường
Số lượng và cơ cấu; chất lượng (nguồn đào tạo, trình độ tay nghề, thâm niên); các hoạt động phối hợp của tập thể sư phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy của trường Nề nếp hoạt động (tổ chức, trật tự kỷ cương, kỷ luật, quy chế chuyên môn); công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng
Quy mô lớp, học sinh : Thực hiện chỉ tiêu, số lượng học sinh từng khối lớp và toàn trường; thực hiện phổ cập giáo dục; thực hiện quy chế tuyển sinh, duy trì sỹ số, chống lưu ban bỏ học, hiệu quả đào tạo
Cơ sở vật chất : Diện tích, khuôn viên, cảnh quan, môi trường, thiết bị dạy
và học, thư viện, phòng học, phòng bộ môn, phòng chức năng, bếp ăn bán trú,…
Kiểm tra kế hoạch mua sắm bổ sung, sửa chữa đồ dùng thiết bị, tài liệu tham khảo theo nhu cầu dạy học
Kiểm tra việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Kiểm tra số lượng và chất lượng sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh, băng đĩa giáo khoa,…
Nguồn lực tài chính: nguồn tài chính từ ngân sách, xã hội hóa Công tác
tài chính (chế độ kế toán, tài chính, công khai các nguồn thu chi trong ngân sách và các nguồn huy động khác)
1.2.7.9 Tự kiểm tra công tác quản lí của hiệu trưởng
* Kiểm tra chỉ đạo, quản lý của Hiệu trưởng về chuyên môn
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch chỉ đạo, quản lý chuyên môn, nghiệp vụ; triển khai thực hiện các văn bản chuyên môn nghiệp vụ của Sở GD, Phòng GD, Nghị quyết Hội đồng trường về hoạt động giáo dục nhà trường;
Trang 37Sử dụng, quản lý, phân công nhiệm vụ phù hợp chuyên ngành đào tạo và năng lực phẩm chất đội ngũ
Thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu năm học;
Kiểm tra hoạt động của các đoàn thể trong nhà trường;
Công tác thi đua, thực hiện các cuộc vận động của ngành;
Quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục học sinh;
Kiểm tra việc thực hiện kỷ cương, nền nếp, quy chế chuyên môn;
Hoạt động dạy thêm, học thêm, dạy tự chọn, hướng nghiệp và dạy nghề, hoạt động ngoài giờ lên lớp;
Thực hiện nội dung, chương trình giáo dục toàn diện: đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kỹ năng sống, …;
Quản lý hồ sơ chuyên môn nhà trường, thực hiện quy định về chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân;
Kế hoạch bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục nhà trường;
Quan hệ phối hợp giữa nhà trường với chính quyền địa phương và các đoàn thể trong việc quan tâm, chăm lo đội ngũ nhà giáo, giáo dục học sinh, xã hội hóa, đầu tư cơ sở vật chất trường học;
Xây dựng Đề án phát triển giáo dục nhà trường
* Kiểm tra chỉ đạo, quản lý của Hiệu trưởng về công tác hành chính
Công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, quản lý, bồi dưỡng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức theo chuẩn nghề nghiệp, theo Luật Công chức, Luật Viên chức
Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh
Ra các văn bản hành chính như các Quyết định thành lập, kiện toàn các tổ chức trong nhà trường; Quyết định nâng lương, bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; Quy chế hoạt động; Hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động
Kiểm tra việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật lao động, hoạt động dạy thêm học thêm theo quy định
Trang 38Giải quyết thủ tục tuyển sinh đầu cấp, đầu năm học, chuyển trường, cấp phát và quản lý văn bằng chứng chỉ
Quản lý và sử dụng con dấu, cơ sở vật chất, nguồn tài chính trong và ngoài ngân sách theo đúng quy định
Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Thực hiện Quy chế công khai, dân chủ cơ sở trường học; thực hiện chế độ chính sách đối người lao động và người học
Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư kiến nghị, phản ành, khiếu nại, tố cáo (thuộc thẩm quyền)
Công tác phối hợp giữa nhà trường với chính quyền địa phương, Hội cha
mẹ học sinh, công đoàn, thực hiện xã hội hóa
Ngoài ra, Hiệu trưởng còn cần tự kiểm tra, đánh giá lề lối làm việc, phong cách tổ chức và quản lý của chính mình, tự đánh giá khách quan phẩm chất, năng lực và uy tín của mình để tự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của người cán bộ quản lý trường học
1.3 Một số lí luận về quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
1.3.1 Khái niệm
1.3.1.1 Khái niệm về quản lí
Theo Mary Parker Follet: "Quản lí là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác" [19]
Robert Albanese: "Quản lí là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi
để đạt được mục tiêu của tổ chức" [25]
Harolk Kootz & Cyryl O'Donell: "Quản lí là việc thiết lập và duy trì môi trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm" [16]
Robert Kreitner: "Quản lí là tiến trình làm việc và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi Trọng tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn" [35]
Trang 39Harol Koontz: "Quản lí là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người
khác" (Những vấn đề cốt yếu của quản lí NXB khoa học - Kỹ thuật, 1993) [15]
Nguyễn Minh Đạo: "Quản lí là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã
đề ra" (Cơ sở khoa học quản lí, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997) [14]
"Quản lí là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực
của tổ chức" (Khoa học quản lí, tập I, Trường ĐH KTQD, Hà Nội 2001) [32]
Quản lí được hiểu là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí bằng các phương thức nhất định mang tính kỹ thuật, quy trình, được quy định rõ trong khuôn khổ các thể chế xác định, nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm soát các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích chung và phù hợp với quy luật khách quan
Khái quát chung: Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có định
hướng, có mục đích của chủ thể (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể
(đối tượng quản lí) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điệu kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lí có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là
một con người cụ thể, sự vật cụ thể (Giáo trình chung về quản lí và quản lí giáo dục- NXBĐHTN 2015) [31]
Tác động phản hồi
Xác định Chủ thể
quản lí Mục tiêuquản lí
Tác động quản lí
Đối tượng quản lí
Thực hiện
Trang 401.3.1.2 Khái niệm quản lí giáo dục
Theo M.l.Kônđacôp [36].: Quản lí giáo dục là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của
xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, sự phát triển của thể lực và tâm lí trẻ em
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn những khái niệm cơ bản về lí luận quản lí [22] Cho rằng: “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến”
Quản lí giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thông giáo dục vận hành, phát triển, thực
hiện mục tiêu của nền giáo dục (Giáo trình chung về quản lí và quản lí giáo dục- NXBĐHTN 2015) [6]
1.3.1.3 Khái niệm quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
Quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường học là những tác động có hệ thống, khoa học, có ý thức và có mục tiêu của chủ thể quản lí là cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục lên đối tượng quản lí là quá trình kiểm tra nội bộ của hiệu trưởng ở các trường học
1.3.2 Vai trò của quản lý
Quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí trong tổ chức giữa những người quản lý và người bị quản lý; giữa những người bị quản lý với nhau
Định hướng cho sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các đối tượng quản lý vào mục tiêu đó