1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh thái nguyên đến năm 2020

109 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020”, tôi đã nhận được sự hướng

Trang 1

LA THỊ NGỌC ANH

ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN, NĂM 2018

Trang 2

LA THỊ NGỌC ANH

ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020

Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THANH MINH

THÁI NGUYÊN, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

La Thị Ngọc Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân

và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và

tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa, văn phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn

TS Nguyễn Thanh Minh

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các cô chú, anh chị em và bạn bè, tôi xin chân thành cảm ơn Thêm nữa, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

La Thị Ngọc Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐIẠ BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 5

1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế 5

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch CCKT 5

1.1.2 Quan niệm, nội dung và sự cần thiết của chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế 12

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCKT ngành công nghiệp gắn với phát triển kinh tế 19

1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của một số quốc gia và một số địa phương trong nước 25

1.2.1 Tổng quan về kinh nghiệm chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của một số quốc gia 25

1.2.2 Tổng quan về kinh nghiệm chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của một số địa phương trong nước 27

1.2.3 Bài học cho tỉnh Thái Nguyên 32

Trang 6

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu? 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 35

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 35

2.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 35

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 35

2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu đề tài 36

2.3.1 Mức độ thay đổi của cơ cấu GRDP 36

2.3.2 Mức độ thay đổi của cơ cấu lao động 38

2.3.3 Mức độ thay đổi của cơ cấu hàng xuất khẩu 39

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN 40

3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và kết quả phát triển ngành công nghiệp tỉnh Thái Nguyên 40

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43

3.1.3 Kết quả phát triển của ngành công nghiệp Thái Nguyên 49

3.2 Thực trạng của chuyển dịch CCKT công nghiệp đến kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên 53

3.2.1 Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp 53

3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp và sự hình thành những ngành công nghiệp mới 55

3.2.3 Sự thay đổi trong tương quan về tỷ lệ giữa các ngành CN 62

3.2.4 Sự phát triển của cụm, khu công nghiệp ở Thái Nguyên 65

3.3 Phân tích các nhân tố tác động đến chuyển dịch CCKT công nghiệp ở Thái Nguyên 67

3.3.1 Nhân tố chủ quan 67

3.3.2 Nhân tố khách quan 71

Trang 7

3.4 Kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế trong chuyển dịch CCKT

công nghiệp ở Thái Nguyên 72

3.4.1 Những kết quả đạt được 72

3.4.2 Những mặt còn hạn chế trong quá trình chuyển dịch CCKT ngành công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên và nguyên nhân 73

3.4.3 Những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với chuyển dịch CCKT công nghiệp ở Thái Nguyên 75

Chương 4: GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CCKT CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 81

4.1 Mục tiêu chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 81

4.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 81

4.1.2 Mục tiêu phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 83

4.2 Định hướng chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 85

4.2.1 Phương án chuyển dịch CCKT công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên 85 4.2.2 Định hướng phát triển cho một số ngành công nghiệp chủ yếu 86

4.3 Giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 90

4.3.1 Giải pháp về quy hoạch 90

4.3.2 Giải pháp về chính sách 92

4.3.3 Giải pháp về nghiệp vụ chuyên môn 93

4.4 Kiến nghị 93

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

12 SXCN : Sản xuất công nghiệp

13 SXKD : Sản xuất kinh doanh

14 TLSX : Tư liệu sản xuất

15 WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới

16 XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

Bảng 3.5: Tốc độ phát triển GTSX công nghiệp theo các phân theo thành

phần kinh tế 50Bảng 3.6: Giá trị sản xuất theo các phân ngành CN (Giá CĐ 2010) 51Bảng 3.7: Giá trị tăng thêm (GRDP) công nghiệp từ 2010 - 2016 52Bảng 3.8: Số lượng cơ sở công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 56

Bảng 3.9: Tốc độ phát triển GTSX công nghiệp chia theo huyện/thành

phố/thị xã 57Bảng 3.10: Số lượng lao động ở các cơ sở công nghiệp phân theo ngành

kinh tế 58

Bảng 3.11: Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế (tính

theo giá cố định 2010) 60Bảng 3.12: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu 62Bảng 3.13: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như một địa phương đòi hỏi phải có một CCKT hợp lý, xác định rõ và giải quyết đúng mối quan hệ giữa các ngành, vùng và các thành phần kinh tế, các yếu tố, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Xây dựng CCKT hợp lý là nội dung cơ bản của phát triển kinh tế, trong đó xây dựng CCKT công nghiệp là rất quan trọng

Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh

tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong những năm gần đây Thái Nguyên đã trở thành một trong những địa phương phía Bắc đang có sự phát triển công nghiệp mạnh và có những sự đột phá về hoạt động thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp Diện mạo của tỉnh ngày càng hiện đại, khang trang, xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội của vùng Trung

du miền núi phía Bắc Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, liên tục năm sau cao hơn năm trước

Năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) của tỉnh đạt 15,20%, vượt mức kế hoạch đề ra, mức tăng trung bình giai đoạn 2010 - 2016 là 17,97%, gấp gần 2 lần mức tăng bình quân chung của cả nước Tốc độ tăng trưởng GRDP nhóm ngành công nghiệp cao hơn bình quân chung của cả nước, từng bước khẳng định vị trí, vai trò là tỉnh công nghiệp của vùng Trung du miền núi phía Bắc GRDP bình quân đầu người năm 2016 đạt 65 triệu đồng

Ngày 27-02-2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 260/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030: Quyết định đưa ra mục tiêu tổng quát phát triển đến năm 2020 “xây dựng Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại là trung tâm của vùng Trung du và Miền núi phía Bắc về phát triển công nghiệp, dịch vụ, nhất là dịch vụ giáo dục - đào tạo, cơ

Trang 11

cấu kinh tế hiện đại, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững với các sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh cao, hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao Thực hiện tăng trưởng xanh với mức độ phát triển các - bon giảm dần, tiến tới tạo dựng nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường Là khu vực phòng thủ vững chắc, địa bàn trọng yếu góp phần giữ vững quốc phòng - an ninh cho cả vùng Trung du

và Miền núi phía Bắc”

Quyết định cũng đưa ra mục tiêu tổng thể và các định hướng phát triển đến năm 2030: “Phấn đấu Thái Nguyên là tỉnh công nghiệp phát triển, trung tâm kinh tế của vùng Trung du và Miền núi phía Bắc với nền kinh tế hiện đại, hội tụ những yếu tố của nền kinh tế tri thức với các ngành định hướng phát triển mạnh về công nghiệp công nghệ tiên tiến, dịch vụ chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao và môi trường an toàn, bền vững, là trung tâm đào tạo, y tế chuyên sâu và khoa học công nghệ có uy tín lớn trong nước, có các trung tâm văn hóa, nghệ thuật tiên tiến, hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc vùng Việt Bắc, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao” [26]

Là tỉnh có nhiều tiềm năng cho phát triển CN, song trong thời gian qua,

sự chuyển dịch CCKT công nghiệp của Thái Nguyên còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, vị trí, vai trò là cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm, chuyển dịch CCKT chậm, chưa vững chắc Làm thế nào để chuyển dịch CCKT công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên với tốc độ nhanh

và chất lượng cao trong quá trình phát triển công nghiệp gắn với phát triển kinh

tế đến năm 2020 Lời giải cho vấn đề đặt ra, cần có sự nghiên cứu, phân tích kỹ trên cả 2 mặt lý luận và thực tiễn Để góp phần tìm ra những giải pháp cho vấn

đề trên, tác giả chọn đề tài: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020” làm

luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

- Đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKT công nghiệp ở Thái Nguyên Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay Khảo sát kinh nghiệm trong và ngoài nước về chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế,

từ đó rút ra những bài học có thể tham khảo cho tỉnh Thái Nguyên

- Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKT công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên thời gian qua, chỉ ra những mặt được, chưa được và nguyên nhân của nó

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu chủ yếu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên

- Về nội dung: Đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKT công nghiệp tỉnh Thái Nguyên; phân tích các nhân tố tác động đến chuyển dịch CCKT công nghiệp tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản tiếp tục chuyển dịch CCKT công nghiệp tỉnh Thái Nguyên

Luận văn nghiên cứu cơ cấu kinh tế công nghiệp được hiểu là cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp và chỉ tập trung vào 3 nhóm ngành chính: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất và phân phối điện

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu, kết quả phân tích thực trạng chuyển dịch CCKT công nghiệp, nhân tố ảnh hưởng và đã đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCKT công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý đưa ra các chủ trương, chính sách nhằm tiếp tục chuyển dịch CCKT công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các địa phương tương đồng khác

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia làm 4 chương, gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng chuyển dịch CCKT công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Mục tiêu, định hướng và những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

Trang 14

Chương 1

LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT

TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐIẠ BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch CCKT

1.1.1.1 Quan niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế công nghiệp

a Cơ cấu kinh tế

Trong phát triển KT-XH của một quốc gia hay một địa phương vấn đề quan trọng là phải xác định được một CCKT hợp lý, khoa học Quá trình phát triển kinh tế luôn có những nhân tố tác động tạo ra sự chuyển dịch CCKT Khi nghiên cứu về kinh tế, nhất là nghiên cứu để hoạch định chính sách phát triển KT-XH cần làm rõ về lý luận CCKT, chuyển dịch CCKT, từ

đó làm rõ sự chuyển dịch CCKT ngành, chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp

+ Cơ cấu (structure) được dùng để chỉ về cách tổ chức, cấu tạo, sự điều chỉnh các yếu tố tạo nên một hình thể, một vật, một bộ phận, sau này khái niệm

cơ cấu được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc gia

+ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành [Gt HVCTQG-HCM]

Theo C.Mác: CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của xã hội [4]

Như vậy, có thể hiểu: CCKT là tổng thể các mối quan hệ về chất lượng

và số lượng giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế tương ứng với những điều kiện KT-XH trong một thời kỳ nhất định

Trang 15

Xét về mặt chất, thì CCKT là các quan hệ gắn bó giữa các yếu tố kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất Về mặt lượng, đó là quan hệ tỷ lệ giữa các yếu

tố cấu thành nền kinh tế Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, quốc gia về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực

Thuật ngữ "cơ cấu kinh tế" vận dụng không chỉ ở góc độ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân mà còn vận dụng ở phạm vi một địa phương, một ngành, một lĩnh vực nào đó của KT-XH

b Phân loại cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế được nghiên cứu phân tích dưới các góc độ khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, CCKT theo vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh

tế, đây là ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vị trí chủ yếu trong CCKT của mọi quốc gia

Một là, Cơ cấu thành phần của nền kinh tế: gắn với chế độ sở hữu về

TLSX, sở hữu về TLSX hình thành nên cơ cấu thành phần kinh tế Tùy theo phương thức sản xuất mà có thành phần kinh tế chiếm địa vị chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại trong nền kinh tế

Hai là, Cơ cấu các vùng của nền kinh tế: là sự phân chia nền kinh tế

quốc dân theo chuyên môn hóa về chức năng, nhằm để chuyên môn hóa sản xuất đạt hiệu quả cao về KT-XH

Ba là, Cơ cấu ngành của nền kinh tế: là tổ hợp các nhóm ngành hợp

thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động và trình

độ phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế gồm ba nhóm ngành chủ yếu là:

- Nhóm ngành khai thác tài nguyên (khu vực I): bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp, khai thác quặng mỏ khoáng sản

- Nhóm ngành công nghiệp (khu vực II): bao gồm công nghiệp và

Trang 16

xây dựng

- Nhóm ngành dịch vụ (khu vực III): bao gồm thương mại, dịch vụ, bưu chính viễn thông

c Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp

- Cơ cấu nội bộ ngành kinh tế: là một cấu trúc bao gồm các phân ngành

trong nội bộ một ngành nhất định và mối quan hệ giữa các phân ngành đó Mối quan hệ giữa các phân ngành được thể hiện ở: 1) Tương quan tỷ lệ giữa các phân ngành trong nội bộ ngành đó; 2) Sự tác động qua lại giữa các phân ngành tạo nên tính chỉnh thể của CCKT nội bộ ngành Nói đến CCKT nội bộ ngành

là nói đến CCKT nội bộ ngành công nghiệp - xây dựng hoặc CCKT nội bộ ngành nông nghiệp hoặc CCKT nội bộ ngành dịch vụ

- Cơ cấu kinh tế công nghiệp

Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân, là ngành sản xuất ra TLSX và tư liệu tiêu dùng; là ngành tạo ra sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhất là sự phát triển của khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Công nghiệp được phân chia thành ba nhóm ngành chính là: Công nghiệp khai thác; Công nghiệp chế biến; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước

- Công nghiệp khai thác: nhằm khai thác những tài nguyên thiên nhiên

để tạo nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến

- Công nghiệp chế biến: là ngành sử dụng các nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng, trong đó các ngành công nghiệp sản xuất ra TLSX và các ngành công nghệ cao có vai trò quyết định đối với việc phát triển công nghiệp của mỗi nước Công nghiệp chế biến là tiêu thức quan trọng để đánh giá trình độ phát triển công nghiệp của một quốc gia

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước: là các ngành sản xuất kết cấu hạ tầng phục vụ cho các ngành, lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội

Trang 17

Vậy, cơ cấu kinh tế công nghiệp là một cấu trúc bao gồm tổng thể các phân ngành của sản xuất CN và tương quan tỷ lệ giữa các phân ngành

đó

Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa các nhóm ngành công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến; công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước trong tổng thể ngành công nghiệp được xác định bằng tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng sản phẩm của ngành công nghiệp tạo ra

Cơ cấu của ngành công nghiệp được hình thành từ sự phát triển của phân công lao động xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, từ cuộc cách mạng KHKT lần thứ nhất đến lần thứ hai và hiện nay là cuộc cách mạng KHKT lần thứ ba trên thế giới Cơ cấu ngành công nghiệp luôn thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố Nhà nước

đề ra mục tiêu lựa chọn quy mô phát triển các ngành công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy việc xây dựng cơ cấu ngành công nghiệp một cách tối ưu, nhằm thực hiện CNH, HĐH ở mỗi quốc gia

1.1.1.2 Những yêu cầu đặt ra về chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế

a Những vấn đề cơ bản về phát triển nền kinh tế

Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ

cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội

Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế

Nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh

tế Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau:

- Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người Nội dung này phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định

Trang 18

- Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn

tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống Nội dung này phản ánh chất lượng

tăng trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất để có thể bảo đảm cho sự tăng

trưởng kinh tế bền vững

- Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế

Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể

là:

+ Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số

+ Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để bảo đảm tăng trưởng bền vững

+ Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ kết quả của tăng trưởng kinh tế

+ Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu của con người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

Như vậy, phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa khá toàn diện, là

mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại Phát triển kinh tế bao

hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết và cơ bản để

giải quyết công bằng xã hội Công bằng xã hội vừa là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển Mức độ công bằng xã

hội càng cao thì trình độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội càng có cơ

sở bền vững

b Những yêu cầu đặt ra về chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh

tế

Trang 19

Phát triền kinh tế đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ nhanh, toàn diện, đúng hướng, muốn vậy phải quán triệt các yêu cầu sau:

- Yêu cầu chuyển dịch CCKT trên cơ sở trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho các ngành, lĩnh vực của kinh tế quốc dân, trước hết là các lĩnh vực trọng yếu; chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế phải được hiểu là quá trình chuyển dịch CCKT - kỹ thuật gắn với quá trình KT-XH đồng thời gắn với quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Trong chuyển dịch CCKT phải hết sức coi trọng nhân tố khoa học và công nghệ, tập trung thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, hóa học và sinh học hóa

- Chuyển dịch CCKT tạo sự thúc đẩy phân công lao động, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh giữa các địa phương, các vùng và cả nước Kết quả của sự chuyển dịch CCKT làm cho sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng thị trường vốn, thị trường công nghệ, lao động, tài nguyên, hàng hoá, dịch vụ

Chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế đòi hỏi sự chuyển dịch về

số lượng, chất lượng với cơ cấu hợp lý; đòi hỏi phải có cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, đội ngũ chuyên gia, cán bộ hoạch định chính sách, các nhà doanh nghiệp, cán bộ KHKT, công nhân lành nghề Nguồn nhân lực vừa là nội dung vừa là điều kiện giữ vai trò quyết định đối với quá trình phát triển, chuyển dịch CCKT cũng như đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế Giai đoạn đầu rất cần quy mô nguồn nhân lực, sau đó cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế

Việt Nam là một nước nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, đang trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề chuyển dịch CCKT công nghiệp phải được đặc biệt coi trọng, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa

1.1.1.3 Chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế

Quá trình phát triển kinh tế là một quá trình toàn diện và đồng bộ, bao trùm tất cả các ngành, lĩnh vực hoạt động của một quốc gia Vì nền kinh tế là

Trang 20

một hệ thống thống nhất các ngành, lĩnh vực liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy, quá trình phát triển kinh tế luôn gắn liền với quá trình chuyển dịch CCKT

Chính vì vậy, chuyển dịch CCKT là quá trình biến đổi cả về số lượng và

chất lượng các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế, gắn liền với đó là sự thay đổi

về mối quan hệ giữa các yếu tố đó Xét về bản chất, chuyển dịch CCKT chính

là sự chuyển dịch về số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành CCKT,

là sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác phù hợp với môi trường phát triển của nền kinh tế

Chuyển dịch CCKT chính là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt: CCKT ngành, CCKT vùng, cơ cấu thành phần kinh tế hướng sự phát triển nền kinh tế theo các mục tiêu KT-XH đã được xác định trong từng thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia, địa phương

Chuyển dịch CCKT phải dựa trên cơ cấu hiện có, cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu, không còn phù hợp, bổ sung, xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn Sự chuyển dịch này theo quy luật vận động biện chứng, từ sự biến đổi lượng dẫn đến chuyển hóa về chất lượng của nền kinh tế

Hiện nay, các nước trên thế giới và nhất là các nước đang phát triển đều thực hiện việc điều chỉnh CCKT, thông qua việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, tăng cường xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường nhằm chủ động thúc đẩy chuyển dịch CCKT đạt được mục tiêu đề

ra, rút ngắn giai đoạn phát triển để theo kịp các nước công nghiệp Chuyển dịch CCKT của nước ta hiện nay được thực hiện theo định hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ trong tổng giá trị sản phẩm quốc dân

Quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi được thể hiện khá rõ nét trong quá trình chuyển dịch CCKT Việc chuyển dịch CCKT trước hết được bắt đầu từ

sự thay đổi về lượng bên trong của các bộ phận cấu thành CCKT Sự thay đổi

Trang 21

về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất Bản thân CCKT cũng không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, chuyển hóa lẫn nhau:

cơ cấu cũ dần dần chuyển sang cơ cấu mới và rồi sau một thời gian nhất định

cơ cấu mới lại được thay bằng cơ cấu khác hoàn thiện hơn và ở trình độ cao hơn Chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế tất yếu dẫn đến thay đổi vị trí của các ngành trong CCKT Cơ cấu nền kinh tế của mỗi quốc gia cấu thành theo 3 ngành tổng hợp gồm: Nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ Chuyển dịch CCKT ở các nước đang phát triển diễn ra theo xu hướng sau:

- Giai đoạn đầu nông nghiệp giữ vị trí hàng đầu, là hoạt động kinh tế cơ bản, tạo ra hàng hóa tiêu dùng thiết yếu và bảo đảm điều kiện cho phát triển công nghiệp Khi đạt tới trình độ phát triển nhất định, nhu cầu cơ bản của dân

cư về lương thực, thực phẩm được bảo đảm thì vị trí ngành nông nghiệp, tỷ trọng lao động và giá trị sản lượng nông nghiệp trong tổng giá trị sẽ giảm dần

- Công nghiệp là ngành quan trọng nhưng ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, chủ yếu công nghiệp nhỏ bé, sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu Trong quá trình phát triển, công nghiệp được ưu tiên phát triển, dần dần chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong CCKT quốc dân

- Các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống là điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống của dân cư CNH cần tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng để phát triển sản xuất và thu hút đầu tư

1.1.2 Quan niệm, nội dung và sự cần thiết của chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế

1.1.2.1 Quan niệm về chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế

Chuyển dịch CCKT công nghiệp: là sự thay đổi về số lượng, sự thay đổi

về quan hệ tỷ lệ giữa các phân ngành sản xuất trong ngành công nghiệp, thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp từ chỗ chưa phù hợp sang một cơ cấu ngành công nghiệp tiên tiến, hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp chính là tăng tỷ trọng ngành sản xuất

Trang 22

có thiết bị và công nghệ hiện đại, ứng dụng nhiều thành tựu KHKT vào sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm dần những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường

Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp đạt hiệu quả, đòi hỏi nhà nước phải xác định xu hướng vận động, định hướng sự chuyển dịch, có bước

đi, giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp phù hợp Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là nội dung cơ bản, quan trọng hàng đầu, là vấn đề có tính chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp gắn với phát triển kinh tế chính

là khai thác thế mạnh của từng ngành sản xuất trong nội bộ ngành công nghiệp,

ưu tiên phát triển các ngành trọng điểm, sản xuất các sản phẩm mũi nhọn, đồng thời kết hợp tối ưu quy mô sản xuất với kỹ thuật công nghệ và chuyên môn hóa hợp lý trong từng ngành sản xuất, làm tăng nhanh tỷ trọng giá trị của công nghiệp, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến bằng cách ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại với sự phát triển cơ khí hóa, tự động hóa, hóa học hóa vào SXCN Ngoài ra phải kết hợp sử dụng công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại, đi tắt đón đầu, phát triển theo chiều sâu, tạo ra những ngành công nghiệp mũi nhọn theo kịp trình độ KHCN tiên tiến thế giới

1.1.2.2 Nội dung chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế

Chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ, toàn diện tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, Phải tập trung chuyển nền công nghiệp mang tính thủ công, nửa

cơ khí sang nền công nghiệp hiện đại, gắn với điện tử, tin học, số hóa

Đây là nội dung rất quan trọng đối với tất cả các nước phát triển kinh tế nhanh Cơ sở vật chất của nền kinh tế nói chung và cơ sở vật chất cho công nghiệp nói riêng kém phát triển, phương thức sản xuất công nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ, có tính chất khép kín, tư liệu sản xuất, trình độ sản xuất thấp, sản

Trang 23

phẩm không có khả năng cạnh tranh nên giá trị sản xuất công nghiệp thấp

Vì vậy, chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế phải phát huy nội lực, đồng thời triệt để tận dụng thời cơ, phát huy cao nhất thành quả của cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là thành quả của công nghệ thông tin Trong thời đại ngày nay, cách mạng khoa học kỹ thuật và thông tin bùng

nổ, phải biết tranh thủ kinh nghiệm, tiếp thu thành quả của khoa học - công nghệ của các nước phát triển, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại với sự phát triển của cơ khí hóa, tự động hóa, hóa học hóa, số hóa để đi tắt, đón đầu, phát triển theo chiều sâu, tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn tạo ra sản phẩm có lợi thế so sánh, chất lượng đạt trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới, tức là thực hiện chuyển dịch CCKT công nghiệp bảo đảm chuyển nền công nghiệp từ chỗ còn mang nặng tính thủ công, nửa cơ khí sang nền công nghiệp hiện đại, cơ khí hóa, tự động hóa gắn với điện

tử hóa, tin học hóa, số hóa để đạt mục tiêu phát triển kinh tế nhanh

Hai là, Chuyển nền công nghiệp sử dụng nhiều lao động sống sang nền

công nghiệp có hàm lượng khoa học và công nghệ cao

Lực lượng lao động là một nguồn lực quan trọng đối với phát triển KTXH

và phát triển công nghiệp, ở các nước đang phát triển, đây là một lợi thế lớn vì

cơ sở vật chất kỹ thuật của công nghiệp lạc hậu do đó phải sử dụng lao động sống là chủ yếu, nhất là đối với công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến

Ví dụ như ngành công nghiệp khai thác than trước đây chủ yếu là sử dụng sức lao động của công nhân, hiện nay công nghiệp dệt may, da giày chủ yếu sử dụng lao động sống, lao động trực tiếp, giản đơn, hàm lượng khoa học công nghệ kết tinh trong sản phẩm ít, giá trị sản xuất công nghiệp thấp, đặc biệt là đối với một số ngành công nghiệp làm gia công cho nước ngoài, thu nhập của người lao động thấp, không bảo đảm cuộc sống là một trong những nguyên nhân dẫn đến ngừng việc tập thể, đình công Vì vậy, một trong những nội dung quan trọng của chuyển dịch CCKT công nghiệp là phải trên cơ sở các thành tựu

Trang 24

khoa học và công nghệ tiên tiến, đầu tư cơ sở vật chất hiện đại cho ngành công nghiệp, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất công nghiệp, đi đôi với đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế Phải chuyển đổi công nghiệp theo hướng: giai đoạn đầu chủ yếu sử dụng lao động sống, lao động giản đơn, năng xuất thấp sang nền CN có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sản xuất ra các sản phẩm CN có giá trị, kết tinh hàm lượng chất xám cao, giải phóng sức lao động, tạo ra bước chuyển quan trọng sang nền CN hiện đại, văn minh

Ba là, Chuyển dịch nền công nghiệp mang nặng tính lắp ráp sang nền công nghiệp chế tạo các sản phẩm có giá trị cao

Kinh nghiệm của một số nước phát triển và thực tế của Việt Nam những năm đầu của thời kỳ đổi mới cho thấy: Giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế chuyển dịch nền kinh tế tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ đầu tư

ít vốn, trình độ kỹ thuật trung bình, sử dụng nhiều lao động, tận dụng lợi thế so sánh về lao động giá rẻ để sản xuất những mặt hàng cạnh tranh trên thị trường bằng giá rẻ, tính chất sản xuất chủ yếu mang tính gia công lắp ráp (ví dụ như ở Thái Nguyên công nghiệp dệt may, lắp ráp điện tử) sử dụng nhiều nguyên liệu gây ô nhiễm môi trường, tỷ lệ nội địa hóa thấp, chủng loại hàng hóa đơn điệu, giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp, sản xuất công nghiệp với quy mô nhỏ, năng lực, trình độ kỹ thuật sản xuất thấp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm yếu; mới đạt được mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động

Vì vậy, phải đầu tư phát triển tạo bước đột phá nhanh chóng theo hướng nâng cao trình độ công nghệ, chế tác, phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin viễn thông điện tử, tự động hóa, chú trọng phát triển công nghiệp phần mền, tin học, có tốc độ tăng trưởng vượt trội; phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, hình thành các khu kinh tế, khắc phục tình trạng nền công nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ và vừa, chất lượng sản phẩm và giá trị sản phẩm thấp Qua trình phát triển

Trang 25

kinh tế phải đi vào công nghiệp hiện đại, đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất của ngành công nghiệp, chuyển công nghiệp từ gia công cho nước ngoài sang sản xuất, chế biến từ nguyên liệu trong nước Phát triển các ngành có yêu cầu công nghệ cao, khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước, chấm dứt tình trạng khai thác với hệ số hữu ích thấp, sản xuất, xuất khẩu khoáng sản dạng thô Cần tập trung phát triển các ngành điện, hóa dầu, các ngành chế tạo máy, điện tử, công nghệ thông tin (sản xuất phần mền) công nghệ sinh học và tự động hóa, đẩy mạnh xuất khẩu; tin học hóa các ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm có giá trị cao

Đây là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đạt được mục tiêu, tạo tiền đề cho nền kinh tế cất cánh và đẩy mạnh phát triển kinh tế để đến năm

2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp

Bốn là, Chuyển dịch các ngành công nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên

thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường sang nền công nghiệp sử dụng các vật liệu nhẹ và thân thiện với môi trường

Thực tế quá trình phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới và những năm đầu của thời kỳ phát triển kinh tế ở Việt Nam cho thấy: Khi công nghiệp phát triển tất yếu dẫn đến tiêu hao nhanh nguồn tài nguyên thiên nhiên, lãng phí tài nguyên thiên nhiên, trong khi đó nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, sản xuất công nghiệp tiềm ẩn hiểm họa ô nhiễm môi trường sinh thái (rác thải, khí thải, nước thải ) Vấn đề này đang diễn ra rất phức tạp, là thách thức to lớn đối với quá trình phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển bền vững của một đất nước nói chung và của toàn cầu Ở các thành phố lớn của Việt Nam và Thái Nguyên đang phải gánh chịu và đang phải khắc phục hậu quả rất lớn về ô nhiễm môi trường do quy hoạch phát triển công nghiệp không đồng bộ, những năm đầu của quá trình phát triển kinh tế, thu hút đầu tư đã không quan tâm thỏa đáng

Trang 26

đến vấn đề môi trường

Vì vậy, chuyển dịch CCKT công nghiệp phải là quá trình chuyển nền công nghiệp từ chỗ công nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường sang nền công nghiệp sử dụng các vật liệu nhẹ và thân thiện với môi trường, phát triển mạnh các ngành sản xuất có trình độ tinh xảo, chính xác, phát triển các sản phẩm chứa hàm lượng chất xám cao, công nghệ cao, giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế cao Công tác bảo vệ môi trường phải được quan tâm đồng bộ, nghiêm ngặt ngay từ khi quy hoạch, xét duyệt chủ trương đầu tư, duyệt dự án đầu tư, thực hiện dự án đầu tư phát triển công nghiệp và kiểm tra, kiểm soát quá trình sản xuất công nghiệp

1.1.2.3 Sự cần thiết phải chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế

a Do yêu cầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu của Việt Nam so với khu vực

b Do yêu cầu của sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH

Là nước kém phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động thấp, vốn đầu tư có hạn, nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật cho một nền

Trang 27

kinh tế công nghiệp còn rất thấp Vì vậy Đảng ta chủ trương tiến hành phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, mà cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH được hiểu là nền đại cơ khí với trình độ cơ khí hóa, tự động hóa, tin học hóa cao, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Vì vậy phải tập trung phát triển công nghiệp, chuyển dịch CCKTcông nghiệp

c Do yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển và sự bùng nổ của thông tin đã làm thay đổi phương thức sản xuất, sản phẩm làm ra giá trị kết tinh bởi các yếu

tố chất xám thay vì cho yếu tố nguyên liệu, sức lao động Đó là nền kinh tế tri thức, chính là chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức Đây là một thách thức to lớn đối với Việt Nam, đòi hỏi Việt Nam phải chuyển dịch kinh tế theo hướng xây dựng và phát triển kinh tế tri thức Muốn vậy, phải chuyển dịch CCKT, trước hết là CCKT công nghiệp, tập trung phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật mới với công nghệ cao như: công nghệ sinh học, vật liệu mới, điện tử, tin học tạo sự chuyển dịch căn bản, tác động sâu sắc đến hoạt động KT-XH hướng tới nền văn minh thông tin và tri thức trên cơ sở sự dịch chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức đang trở thành thời cơ và thách thức to lớn đối với các nước đang phát triển, đòi hỏi định hướng sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại, sản xuất ra sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, ít tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu, sức lao động, thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển bền vững

d Do yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành xu thế tất yếu do sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất quốc tế, tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng

Trang 28

khoa học và công nghệ hiện đại, làm cho tính xã hội hóa của hoạt động sản xuất tăng lên và phân công lao động sâu sắc hơn, vượt ra khỏi phạm vi của địa phương, quốc gia, hướng tới phạm vi toàn cầu, từ đó các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các quốc gia và khu vực ngày càng sâu rộng hơn, vừa hợp tác vừa cạnh tranh Việt Nam là một nước đang phát triển, đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế đang từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đang đặt ra cho chúng ta những khó khăn rất lớn Đây là quá trình phức tạp, có mặt tích cực và không ít tiêu cực, có cả thời cơ và thách thức, đòi hỏi phải chuyển dịch CCKT, tập trung chuyển dịch CCKT công nghiệp, thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ, tự do hóa thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển dịch CCKT, nhất là nội bộ ngành công nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, kết hợp khai thác nguồn lực trong nước với mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế; ứng dụng công nghệ mới, mở rộng sản xuất kinh doanh, vươn ra nước ngoài tìm kiếm thị trường tiêu thụ, tạo ra sự cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu để tồn tại

và phát triển

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCKT ngành công nghiệp gắn với phát triển kinh tế

1.1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan

a Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội

Thị trường là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, nơi mà nhà kinh doanh và người tiêu dùng gặp nhau nhằm xác định ba vấn đề chính là: sản xuất cái gì, số lượng bao nhiêu, sản xuất như thế nào và sản xuất hàng hóa bán cho ai? Căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất hàng hóa phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, thị trường là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế, sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp của một nước, địa phương ở các khía cạnh sau:

- Tạo ra quá trình mở rộng và khai thác những tiềm năng phát triển của

Trang 29

ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Thúc đẩy phân công LĐXH, đa dạng hóa ngành nghề, khuyến khích mở rộng đầu tư trong và ngoài nước tạo ra tăng trưởng nhanh ngành công nghiệp

- Sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao trên thị trường kích thích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ ở trong ngành công nghiệp và trong nội bộ từng ngành công nghiệp

- Kích thích lợi ích kinh tế và tạo ra động lực mới phát triển ngành công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường hiện có một số loại thị trường: thị trường hàng hóa dịch vụ, khoa học - công nghệ, thông tin, vốn, bất động sản, lao động

và thị trường chứng khoán Nhà nước quản lý thị trường bằng các công cụ quản

lý gián tiếp, đó là thể chế, chính sách kinh tế tạo điều kiện để thị trường hoạt động, tác động các doanh nghiệp chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất ra hàng hóa phù hợp với nhu cầu của xã hội Vì vậy, thị trường tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Khi nhu cầu tiêu dùng tăng làm cho SXCN phát triển, đáp ứng sản phẩm tiêu dùng xã hội; thu nhập bình quân đầu người tăng, kéo theo sự dịch chuyển lao động từ nông thôn vào thành thị, cơ cấu SXCN tăng lên, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành CN nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng cao và đa dạng

b Nhân tố các nguồn lực

Nguồn lực của một quốc gia, địa phương có vai trò quan trọng hình thành

và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Nguồn lực tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp gồm:

- Vị trí địa lý của một quốc gia, địa phương góp phần hình thành và chuyển dịch CCKT Những nước và địa phương có biển, thuận lợi về đường biển, đường hàng không, nhất là nằm trong một khu vực phát triển năng động về kinh tế cho phép phát triển mạnh ngành công nghiệp khai thác các nguồn lợi tự nhiên trong

Trang 30

đại dương, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp đánh bắt và chế biến thủy hải sản Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về biển, lại nằm trong khu vực ASEAN với nền kinh tế phát triển năng động, tạo điều kiện cho Việt Nam đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH Đây là yếu tố quan trọng tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch CCKT và cơ cấu ngành công nghiệp

- Tài nguyên thiên nhiên: là một trong các nguồn lực cơ bản của quá trình sản xuất, là điều kiện cần thiết cho sản xuất công nghiệp, một quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú, nếu khai thác và sử dụng có hiệu quả sẽ cho phép phát triển các ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản để thỏa mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu Tuy vậy, tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, phải sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

- Dân số, sức lao động là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế và công nghiệp Dân số và tốc độ tăng dân số của một nước có ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch CCKT của một nước Nếu tốc

độ tăng dân số quá cao, không phù hợp, sẽ làm kinh tế chậm lại Chất lượng nhân lực là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao Quy mô dân số và thu nhập của dân cư tăng sẽ tạo ra một thị trường tiêu thụ rộng lớn, đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng cho xã hội, làm tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp

- Vốn đầu tư là nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, Nhà nước

sử dụng vốn ngân sách và huy động vốn xã hội, trong nước và ngoài nước đầu

tư phát triển sản xuất, tạo sự chuyển dịch CCKT, nhất là chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp; mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ làm tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang tiến hành CNH, HĐH cần một khối lượng vốn lớn, cần huy động từ trong nước và nước ngoài Vốn trong nước có tính quyết định để đầu tư vào sản xuất, thúc đẩy nhanh, bền vững quá trình chuyển dịch CCKT và cơ cấu ngành công nghiệp Nguồn vốn nước ngoài gồm: vốn viện

Trang 31

trợ phát triển chính thức ODA, vốn FDI, vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ, vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài Các nguồn vốn này bù đắp những thiếu hụt của vốn trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, qua đó có thể tiếp nhận chuyển giao công nghệ, mô hình quản lý tiên tiến, tiếp cận thị trường tiêu thụ, thực hiện chuyển dịch CCKT và hội nhập kinh tế quốc tế Nhà nước phải có chiến lược đầu tư hợp lý, phân bổ và sử dụng vốn có hiệu quả để nền kinh tế phát triển và chuyển dịch CCKT đúng hướng

- Nhân tố tiềm năng khoa học kỹ thuật công nghệ

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đang phát triển như vũ bão trên thế giới, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch CCKT của mỗi quốc gia, từng địa phương, ngành Đối với cơ cấu ngành công nghiệp, sự phát triển khoa học công nghệ tác động đến phân công lao động xã hội và phân chia cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp thành nhiều ngành nhỏ hơn, chuyên môn hóa sâu, làm xuất hiện nhiều ngành mới với quy mô sản xuất có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao như: điện tử, tin học, viễn thông, sinh học, chế tạo vật liệu mới Các ngành công nghiệp truyền thống sử dụng nhiều lao động dần dần giảm trong tỷ trọng và giá trị sản xuất công nghiệp

c Định hướng chiến lược phát triển kinh tế và môi trường thể chế của mỗi nước trong từng giai đoạn

Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và tính lịch sử xã hội, nhưng chịu

sự tác động, chi phối của nhà nước Nhà nước tác động gián tiếp bằng cách định hướng chiến lược phát triển kinh tế, khuyến khích mọi lực lượng sản xuất xã hội nhằm đạt được mục tiêu đề ra, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế cũng như nội bộ cơ cấu ngành công nghiệp Nhà nước có thể tập trung vốn đầu

tư phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn, trọng điểm, có lợi thế cạnh tranh cao, đồng thời hướng dẫn cho mọi thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất theo mục tiêu KT-XH theo ý chí của nhà nước

Bên cạnh đó, nhà nước điều hành nền kinh tế thông qua hệ thống pháp

Trang 32

luật, chính sách kinh tế và các công cụ điều tiết, chủ yếu qua chính sách thuế như: đối với những ngành hoặc sản phẩm cần hạn chế thì nhà nước đánh thuế cao, những ngành sản xuất hoặc sản phẩm cần phát triển thì nhà nước miễn giảm thuế hoặc đánh thuế thấp; đối với những ngành sản xuất không có lãi hoặc nhà đầu tư không muốn đầu tư nhưng sản phẩm cần cho xã hội, để bảo đảm an sinh xã hội thì nhà nước đầu tư sản xuất Sự ổn định về chính trị xã hội của một đất nước, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sẽ tạo ra lợi thế trong việc chuyển dịch CCKT, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Định hướng chiến lược kinh tế và thể chế chính sách của nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển và chuyển dịch CCKT và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp

1.1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan

a Xu hướng chính trị xã hội của khu vực và thế giới

Sự biến động về chính trị xã hội của một nước hay một số nước có tác động mạnh mẽ đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ của các nước, buộc các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế và CCKT, để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định Ví dụ như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra vào năm 1997 ở châu Á, bắt đầu

từ Thái Lan, sau đó lan ra hầu hết các nước trong khu vực đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho các nước này hay tình hình suy giảm kinh tế của Mỹ hiện nay đang tác động hàng ngày đến tình hình kinh tế của thế giới hoặc những thay đổi trong hệ thống chính trị ở một số nước cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh

tế

b Tác động của cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức

Hiện nay, cách mạng khoa học công nghệ và sự bùng nổ của thông tin đang làm xuất hiện nhiều ngành kỹ thuật mới với công nghệ cao, tác động rất lớn đến sự phát triển KT-XH của các nước, chi phối mọi lĩnh vực từ sản xuất đến lưu thông, tiêu dùng và đời sống xã hội, sinh hoạt của mỗi người dân

Trang 33

Cách mạng thông tin đang diễn ra sôi động hiện nay tác động sâu sắc vào hoạt động KT-XH thế giới, làm cho nền văn minh công nghiệp truyền thống chuyển thành nền văn minh thông tin và tri thức trên cơ sở sự dịch chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức đang trở thành thời cơ và thách thức to lớn đối với các nước đang phát triển Công nghệ thông tin đang được áp dụng mạnh trong hoạt động kinh tế một cách tự động hóa giúp các nhà đầu tư nắm bắt nhu cầu thị trường, định hướng sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại, sản xuất ra sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, ít tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu Thành tựu của khoa học công nghệ đã tạo ra động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển sức sản xuất, nâng cao mức sống của người dân

Từ những phân tích trên, cho thấy nhân tố bên ngoài là nhân tố quan trọng tác động đến hình thành và chuyển dịch CCKT, nhất là đối với các nước đang phát triển nhưng nhân tố bên trong vẫn giữ vai trò quyết định đối với chuyển dịch CCKT, bảo đảm cho kinh tế phát triển bền vững

c Xu thế toàn cầu hóa kinh tế và khu vực hóa

Ngày nay toàn cầu hóa về kinh tế trở thành xu thế khách quan của thế giới, tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống KT-XH Do sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất quốc tế, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, làm cho xã hội hóa hoạt động sản xuất tăng lên và phân công lao động sâu sắc hơn, các vùng tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau trong nền kinh tế, vượt ra khỏi phạm vi của một nước, hướng tới phạm vi toàn cầu

Toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn, có mặt tích cực

và không ít tiêu cực, có thời cơ và cả thách thức đối với mỗi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển; tạo ra sự phát triển kinh tế thông qua thu hút đầu tư, chuyển giao KHCN, tự do hóa thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển dịch CCKT, nhất là nội bộ ngành công nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, khai thác nguồn lực trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 34

Việc di chuyển nguồn vốn đầu tư giữa các quốc gia tạo ra việc quốc tế hóa nguồn vốn đầu tư, phân công lao động quốc tế trên cơ sở chuyên môn hóa diễn ra trong nội bộ của từng ngành công nghiệp, làm cho quá trình sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh được chia thành nhiều công đoạn, được thực hiện bởi những công ty khác nhau ở những nước khác, hình thành nên việc quốc tế hóa lực lượng sản xuất Sản phẩm sản xuất ra tiêu dùng nội địa và cả thị trường nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu Để tồn tại và phát triển được trong môi trường tự do hóa thương mại quốc tế, các quốc gia chủ động, tích cực tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thông qua chuyển giao công nghệ, mua phát minh sáng chế, thu hút chuyên gia giỏi để sản xuất ra sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường

1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của một số quốc gia và một số địa phương trong nước

1.2.1 Tổng quan về kinh nghiệm chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của một số quốc gia

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc [28]

Sau hơn 20 năm mở cửa, cải cách từ nền kinh tế tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế Trung Quốc đã phát triển nhanh với mức tăng GDP bình quân hàng năm từ 10 - 11% Có được tăng trưởng này là do Trung Quốc đã thực hiện chuyển đổi CCKT, lấy ngành công nghiệp làm trọng tâm, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp

Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của ngành chủ lực: công nghiệp chế tạo, cơ khí, dầu mỏ, điện tử, thiết bị thông tin, chế tạo ô tô giảm tỷ trọng một số ngành công nghiệp truyền thống Trung Quốc đã sản xuất nhiều sản phẩm có sản lượng đứng hàng đầu thế giới: sản xuất thép, vải, xi măng, máy thu hình, phân hóa học Với chính sách đầu tư thông thoáng Trung Quốc đã thu hút đầu tư nước ngoài với số lượng lớn, trở

Trang 35

thành nước đứng đầu các nước đang phát triển về thu hút đầu tư nước ngoài Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên nhanh, đứng hàng thứ 6 trên thế giới; đã tập trung vào đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật cao tạo ra những bước đột phá phát triển ngành hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin, điện tử Ngoài ra với sức cạnh tranh cao, giá rẻ, giá lao động và tài nguyên thấp đã giúp hàng hóa của Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường thế giới

Tuy nhiên, Trung Quốc đang đối mặt với một số vấn đề tồn tại cần giải quyết là: sự tiềm ẩn hiểm họa ô nhiễm môi trường sinh thái, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các khu vực ngày càng gia tăng, giữa miền Đông với miền Tây, miền Trung và vấn đề chống tham nhũng, giải quyết lạm phát, thất nghiệp, Trung Quốc đang có các biện pháp, chính sách phù hợp để có thể tiếp tục phát triển bền vững nền kinh tế

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan [13]

Trong 4 thập kỷ qua, nền kinh tế Thái Lan đã có sự chuyển đổi nhanh chóng từ cơ cấu đến tốc độ phát triển kinh tế Trong 2 thập kỷ 60, 70 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt từ 7% - 8%, nhưng năm 1997 tăng trưởng -1,75% do cơn bão khủng hoảng tài chính châu Á, sau đó đã phục hồi và giữ được đà tăng trưởng

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Thái Lan gắn liền với sự chuyển đổi CCKT trong nước theo hướng CNH thay thế nhập khẩu, phát triển mạnh sản xuất hàng tiêu dùng để phục vụ thị trường nội địa Năm 1970 khi thị trường nội địa bão hòa, Thái Lan đã điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế sang hướng về xuất khẩu, đã đem lại những thay đổi quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu Cơ cấu công nghiệp chuyển biến mạnh; các ngành CN chế tạo sử dụng nhiều vốn, có trình độ tinh xảo tăng nhanh và giảm dần những ngành sử dụng nhiều lao động

và dựa vào sản phẩm nông nghiệp Tỷ trọng các ngành điện tử, thép, các thiết bị ngành chế tạo Các sản phẩm như lọc dầu, máy điện tăng nhanh

Do lợi thế so sánh về chi phí lao động, chi phí sản xuất và cơ sở hạ tầng

Trang 36

tốt, sức mua của thị trường nội địa lớn nên từ những năm 1980 đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào Thái Lan tăng nhanh, vốn FDI đầu tư tập trung vào ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghệ chế tạo, điện máy, thiết bị vận tải, hóa chất, thép góp phần tạo ra sự chuyển dịch CCKT hướng về xuất khẩu, từ hàng hóa xuất khẩu sơ chế được thay thế bằng hàng hóa đã qua chế tạo như máy tính, hàng điện và điện tử, ô tô, hàng dệt may, thực phẩm đã qua chế biến góp phần cho nền kinh tế tăng trưởng cao trong gần 4 thập kỷ qua, nhưng điều này cũng đã kích thích đầu cơ và đã trở thành một trong những nguyên nhân

gây ra khủng hoảng tài chính ở Thái Lan năm 1997

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc [2]

Sau chiến tranh Triều Tiên 1945, Hàn Quốc bước vào thời kỳ hậu chiến tranh với tình trạng nghèo nàn, thu nhập bình quân đầu người thấp Chính phủ Hàn Quốc bắt tay vào cải cách kinh tế vào đầu những năm 1960, chú trọng vào phát triển các ngành công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động và đẩy mạnh làm hàng xuất khẩu, đồng thời thực hiện cải cách tiền tệ, tăng cường thể chế tài chính, áp dụng quản lý kinh tế một cách linh hoạt, kết hợp chặt chẽ giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, phát triển thị trường tài chính hiệu quả Sang thập kỷ

70, chính phủ tập trung đầu tư phát triển mạnh các ngành công nghiệp có lượng vốn lớn, với hàm lượng kỹ thuật cao như ngành công nghiệp hóa chất, luyện thép, đóng tàu biển, chế tạo ô tô đã góp phần làm tăng trưởng GDP bình quân hàng năm gần 10% từ năm 1963 đến năm 1978 Bước vào thập niên 80, Hàn Quốc đi sâu vào lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông để làm bàn đạp cho việc phát triển nhanh chóng nền kinh tế, trở thành một lực lượng mới trong nền kinh tế thế giới và là một trong những nước CNH mới hùng mạnh của thế giới thứ ba

1.2.2 Tổng quan về kinh nghiệm chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế của một số địa phương trong nước

1.2.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

Trang 37

Để phát huy vai trò đầu tầu của Thủ đô Hà Nội đối với phát triển kinh tế, tiếp theo Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XI, Đại hội XII đã xác

định: "Cơ cấu kinh tế ở Hà Nội là: Công nghiệp - thương mại, du lịch - nông

nghiệp nhưng thay đổi quan hệ tỷ lệ nội bộ và các trọng điểm phát triển" Trong

đó "Công nghiệp Hà Nội phải phát triển với tốc độ nhanh, hiệu qủa kinh tế lớn,

trên cơ sở cải tiến cơ cấu sản xuất với phương châm ưu tiên những ngành đòi hỏi công nghệ và hàm lượng chất xám cao " [29]

Đại hội XIII Đảng bộ thành phố Hà nội (năm 2000)đã chủ trương

chuyển dịch CCKT công nghiệp: "Tiếp tục phát triển công nghiệp có chọn

lọc; ưu tiên phát triển những ngành, sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại,

kỹ thuật tiên tiến, có hàm lượng chất xám cao; coi trọng sản xuất tư liệu sản xuất, các mặt hàng xúât khẩu, thay thế hàng nhập khẩu, các ngành hàng có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của các tỉnh lân cận và

cả nước Những năm trước mắt lực chon phát triển một số sản phẩm chủ lực thuộc các ngành: Điện - điện tử - thông tin, cơ khí, dệt - may - da, chế biến thực phẩm, vật liệu mới Phát triển các ngành công nghiệp mới phù hợp với tiềm năng, lợi thế của Thủ đô " [30]

Qua nghiên cứu chuyển dịch CCKT ngành công nghiệp Hà Nội những năm đổi mới, có thể rút ra một số nhận xét sau:

- Những năm trước đổi mới, cơ cấu ngành công nghiệp Hà Nội theo mô hình của các nước XHCN, phát triển công nghiệp khai thác, công nghiệp cơ khí, chế tạo máy, hoá chất ít quan tâm phát triển công nghiệp tiêu dùng; hầu hết thiết bị, công nghiệp, nguyên nhiên liệu, phụ tùng thay thế phụ thuộc vào nhập khẩu Sang giai đoạn đổi mới, công nghiệp Hà Nội chuyển sang phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, tận dụng tiềm năng thế mạnh của Hà Nội và phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường

- Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao so với dịch vụ và nông nghiệp

Cơ cấu sản xuất công nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành

Trang 38

công nghiệp chế biến, xây dựng, giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác

- Từ năm 1993 trở đi, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng, đóng góp quan trọng phát triển công nghiệp Cơ cấu thành phần kinh tế có sự chuyển dich theo hướng phát triển mạnh kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế công nghiệp ngoài nhà nước

- Thành phố phát triển công nghiệp có chọn lọc, hướng vào những ngành

có hàm lượng chất xám Tuy vậy, trong cơ cấu GTSX nội ngành công nghiệp, tốc độ tăng trưởng không đều và thiếu ổn định giữa các nhóm ngành

- Xuất khẩu hàng công nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào một số doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trên địa bàn thành phố có 06 khu công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 60% diện tích, giải quyết việc làm cho khoảng 12.000 lao động, đóng góp gần 1/4 kim ngạch xuất khẩu Thành phố có

16 dự án cụm công nghiệp vừa và nhỏ

Tuy nhiên, do chậm quy hoạch phát triển một số lĩnh vực công nghiệp

và đổi mới thiết bị công nghệ, nhất là tại các làng nghề tiểu thủ công nghiệp dẫn đến ô nhiễm môi trường về không khí, bụi, khói, nước, chất thải đang là vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết

1.2.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 188/2004/QĐ-TTg ngày 01/11/2004 về phê chuẩn phát triển công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, có tính đến năm 2020 Nội dung cơ bản là: Phát triển thành phố Hồ Chí Minh trở thành thành phố công nghiệp vào trước năm 2015 - 2017, là trung tâm công nghiệp, giữ vai trò đầu tầu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và

cả nước; phát triển mạnh các ngành công nghiệp và đẩy mạnh chuyển dịch CCKT công nghiệp theo hướng ưu tiên và tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, có lợi thế cạnh tranh, đặc biệt

là ngành công nghiệp điện tử, tin học, viễn thông, công nghiệp hóa chất, công nghiệp cơ khí chế tạo máy

Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung phát triển trở thành một trung tâm

Trang 39

công nghiệp lớn của cả nước, các ngành sản xuất khá tiên tiến với quy mô sản xuất hàng hoá lớn Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp rất phong phú, với lực lượng khoa học đông đảo, được đào tạo ở các nước tiên

tiến là nhân tố rất quan trọng phát triển thành phố CCKT là: dịch vụ - công

nghiệp, xây dựng - nông nghiệp, trong ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ

trọng cao Sản phẩm công nghiệp phục vụ tốt nhu cầu thị trường nội địa, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Hiện nay công nghiệp thành phố chiếm 1/3 giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, 50% giá trị sản xuất công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Thành phố đã tiến hành quy hoạch và và thực hiện các chương trình mục tiêu chuyển đổi đầu tư theo hướng tập trung các ngành công nghiệp chủ lực có lợi thế cạnh tranh, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ, HĐH trang thiết bị, đưa các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường vào các khu quy hoạch Tập trung đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị của các ngành khai thác, chú trọng đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho hàng xuất khẩu Số lượng và giá trị sản xuất khu vực công nghiệp nhà nước có

xu hướng giảm, khu vực ngoài nhà nước tăng cả về số lượng, giá trị và lao động; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao

Từ năm 2000 đến nay, công nghiệp Thành phố đã chuyển mạnh sang sản xuất các hàng xuất khẩu, giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp năm 2006 đã tăng lên 2,5 lần so với năm 2003 Công nghiệp chế biến phát triển tốt, chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá cả cạnh tranh và đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới Thành phố tập trung đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp trọng điểm nên đã xuất hiện thêm nhiều ngành công nghiệp mới có tốc độ tăng trưởng nhanh, nhiều năng lực sản xuất mới đưa vào sản xuất với trang thiết bị hiện đại, làm tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của ngành công nghiệp; đã chú trọng 03 ngành công nghiệp chủ lực là: cơ khí, điện tử và hoá dược; từng bước chuyển dịch các ngành sử dụng nhiều lao động

và gây ô nhiễm ra khu vực ngoại thành; thực hiện hợp tác giữa các ngành công

Trang 40

nghiệp của thành phố với các tỉnh, thành phố trong cả nước

1.2.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

Qua 30 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đã hoàn toàn thay đổi từ một tỉnh có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trở thành một tỉnh có ngành công nghiệp cơ bản hiện đại trong cả nước Bên cạnh đó, bộ mặt

đô thị cũng được quan tâm đầu tư, tạo lập hệ thống cơ sở hạ tầng thông thoáng, hiện đại, đáp ứng nhu cầu sống, học tập và làm việc của người dân và các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Nhìn lại năm 1997, Bình Dương có cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ

và nông nghiệp với tỷ lệ tương ứng là 50,45% - 26,8% - 22,8% Tuy giá trị công nghiệp chiếm 50,45% nhưng lúc bấy giờ giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh chỉ khoảng 4.000 tỷ đồng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 3.042 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 363 triệu USD gói gọn trong các ngành hàng công nghiệp nhẹ và thủ công mỹ nghệ, thu ngân sách đạt 817 tỷ đồng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước còn khiêm tốn, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 24%…

Đến nay, Bình Dương phát triển vượt bậc với những chỉ tiêu kinh tế cao gấp hàng chục lần so với ngày tái lập Cụ thể, đến cuối năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt 187.531 tỷ đồng, tăng gấp hơn 34,3 lần so với thời điểm

1997 Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 103.493 tỷ đồng, tăng gấp 34 lần; kim ngạch xuất khẩu đạt 17.741 triệu USD, tăng gần 49 lần; thu ngân sách đạt 32.000 tỷ đồng, tăng gần 39,6 lần, tỷ lệ đô thị hóa đạt 82%, tăng 3,4 lần Cơ cấu kinh tế của tỉnh với công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ đạo theo tỷ lệ công nghiệp 60,8% - dịch vụ 36,2% - nông nghiệp 3,0%

Đạt được kết quả như hôm nay là do trong quá trình phát triển kinh tế, Bình Dương luôn lấy công nghiệp làm nền tảng đột phá mà hạt nhân chính là xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp gắn với đô thị hóa Nếu năm 1997, Bình Dương

có 6 KCN tập trung ở hầu hết phía nam với diện tích quy hoạch 800 ha thì đến nay,

đã phát triển lên 28 KCN và 8 cụm công nghiệp tập trung có tổng diện tích trên

Ngày đăng: 20/09/2018, 09:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w