1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

74 199 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênÁp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương phượng) giai đoạn 1 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

TRẦN VĂN ĐỨC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 – TY - N03 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Ngô Nhật Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy, cô giáo Nhờ vậy, em đã được các thầy cô giáo trang bị những kiến thức khoa học

kỹ thuật cũng như đạo đức tư cách người cán bộ tương lai Thầy cô đã trang bị cho em đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống và sự nghiệp sau này

Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân Em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong

khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng, đã giúp em hoàn thành khóa luận này

Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của

thầy giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng đã trực tiếp hướng dẫn để em

hoàn thành tốt khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2017

Sinh viên

Trần Văn Đức

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà thí nghiệm 32

Bảng 4.1: Chuẩn bị điều kiện để nuôi gà 35

Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các ngày 38

Bảng 4.3 Sinh trưởng tích lũy của gà khảo nghiệm qua các ngày tuổi 40

Bảng 4.4 Khả năng tiêu thụ thức ăn (tính chung trống mái) 41

Bảng 4.5 Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh 42

Bảng 4.6 Kết quả công tác phòng bệnh bằng thuốc 44

Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin cho gà 47

Bảng 4.8.Tình hình mắc bệnh ở đàn gà tại trại 52

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà thịt lông màu 56

Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế khi áp dụng đúng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho gà 58

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Hệ tiêu hoá của gia cầm 8

Trang 6

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs: Cộng sự CRD: Chronic Respiratory Disease ĐVT: Đơn vị tính

E.coli: Escherichia coli

Nxb : Nhà xuất bản SS: Sơ sinh

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.2 Đặc điểm của gia cầm 6

2.2.1 Đặc điểm chung của gia cầm 6

2.2.2 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà 8

2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 12

2.2.4 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà mía, gà Lương Phượng 16

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 17

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 18

2.4 Giới thiệu vài nét về gà lai (Mía x Lương Phượng) 19

Trang 8

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 30

3.1 Đối tượng 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung thực hiện 30

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 31

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Công tác chăn nuôi gà tại trại 34

4.1.1 Công tác chuẩn bị khi nuôi gà 25

4.1.2 Sinh trưởng tích luỹ của gà khảo nghiệm 39

4.2 Công tác phòng bệnh 42

4.2.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 42

4.2.2 Công tác phòng bệnh bằng thuốc 43

4.2.3 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin 44

4.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà lông màu 48

4.3.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn gà thịt lông màu tại cơ sở 48

4.3.2 Kết quả điều trị bệnh cho đàn gà tại trại 52

4.4 Công tác khác 57

4.5 Hiệu quả kinh tế khi áp dụng đúng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 58

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

Trang 9

Phần 1

Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước có nền kinh tế phát triển từ lâu đời, trong đó sản xuất nông nghiệp đã trở thành ngành nghề truyền thống và góp phần không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân Cùng với trồng trọt thì chăn nuôi cũng là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập hiệu quả cao góp phần cải thiện đời sống xã hội của nhiều người lao động trong thời gian qua Tổng đàn gia cầm của nước ta hiện nay khoảng 100 triệu con, trong đó gà chiếm khoảng 88%, vịt 9%, còn lại là các loại gia cầm khác… Cùng với số lượng lớn thì cơ cấu loài của chăn nuôi gia cầm cũng rất đa dạng, điều này đã đưa ngành chăn nuôi gia cầm lên

vị trí thứ nhất trên cả các ngành chăn nuôi khác như: chăn nuôi lợn, chăn nuôi trâu bò … Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam

là một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 13 thế giới và vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á Với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì ngành nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong lền kinh tế nước ta Bên cạnh đó xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về thực phẩm như thịt, trứng ngày càng cao vì vậy các nhà chăn nuôi gia cầm phải không ngừng áp dụng những tiến bộ vào quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gia cầm góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Nhằm đạt được hiệu quả chăn nuôi có chất lượng tốt, sản lượng cao và hiệu quả kinh tế lớn Trong những năm gần đây với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Ðảng và Nhà nước, ngành chăn nuôi đã có được sự đầu

tư về khoa học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có năng suất, chất lượng hiệu quả cao vào sản xuất góp phần vào thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn Với

Trang 10

những chính sách thuận lợi và phù hợp của nhà nước, nên ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều trại nuôi gia cầm với nhiều quy mô Chăn nuôi gà là một phương hướng phát triển lớn trong phương hướng phát triển ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng Bên cạnh những giống gà và phương thức nuôi truyền thống thì đã xuất hiện những giống gà mới và phương thức nuôi hiện đại, trong số

đó thực hiện nuôi gà theo phương thức chuồng kín đang được áp dụng ngày càng rộng rãi Xuât phát từ yêu cầu thưc tế đó, em tiến hành thực hiện chuyên

đề “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà lông màu (Mía x Lương

phượng) giai đoạn 1 - 75 ngày tuổi tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe

Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

Trang 11

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Vị trí địa lý

Trại gà thịt Ngô Nhật Thắng được xây dựng năm 2013, là trại với quy

mô xây dựng có khả năng nuôi 4000 gà thịt Trại được xây dựng tại xã Khe

Mo, huyện Đồng Hỷ , tỉnh Thái Nguyên với diện tích 800m2

Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21o32’ đến 21o51’độ vĩ bắc,

105o46’ đến 106o04’ độ kinh đông Phía bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn, phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên.Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lợn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hớng bắc - nam xuống đến đập Thác huống

Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 520.59km2 Trong đó đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất cha sử dụng chiếm 25,7%.Núi Chùa Hang-

xa còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên

Núi Voi, còn có tên là núi Thạch Tượng, núi Tượng Lĩnh, ở xã Hoá Thượng Thế núi hiểm trở, giống hình con voi Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc lấy núi làm căn cứ chống nhau với quan quân nhà Lê - Trịnh

Huyện Đồng Hỷ được đặt từ thời nhà Trần Năm 1469, dưới triều vua

Lê Thánh Tông đổi thành Đồng Hỷ, sau đổi là huyện Đồng Gia, rồi lại đổi thành Đồng Hỷ; là một trong 7 châu, huyện thuộc phủ Phú Bình Trong thời nhà Nguyễn (TK XIX), huyện Đồng Hỷ gồm: 9 tổng, 33 xã, thôn, trang,

Trang 12

phường; huyện lỵ đặt ở xã Huống Thượng

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Trang trại thuộc tỉnh Thái Nguyên nằm trong khu vực trung du và miền núi bắc bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, trại Ngô Nhật Thắng cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng, nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt

Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 8), mùa đông lạnh, khô (từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau) Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4oC Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,7oC; nhiệt độ tối cao lên tới

41oC Ở độ cao 400 m nhiệt độ trung bình năm 20,6oC; Từ độ cao 1.000 m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16oC Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,2oC Nhiệt

độ cao tuyệt đối 33,1o

C

Lượng mưa trung bình 2.500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8, độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400 m trở lên, không có mùa khô Mùa Đông có gió Bắc với tần suất > 40% Mùa Hạ có gió Đông Nam với tấn suất 25% và hướng Tây Nam Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho nghành chăn nuôi phát triển

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức trại gà

Trại gồm có 2 người trong đó có:

+ 1 quản lý

+ 1 công nhân

2.1.3.2 Cơ sở vật chất của trại

Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quan tâm và chú trọng

Trang 13

+ Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,

+ Những vật dụng cá nhân như: kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại chuẩn bị

+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư hơn hết

- Trại được xây dựng trên vùng đất rộng với diện tích 250 m2 với dãy chuồng lớn tách rời riêng biệt Mỗi chuồng lớn lại được chia thành 3 ô nhỏ

- Trong các dãy chuồng đều có các ô ngăn cách nhau bởi hàng rào

- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, máng uống nước cho gà tự động

- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho gà con khi mới nhập

- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt : khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

- Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho gà và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc,vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn gà của trại

- Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao,

dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân

Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp

về mùa đông Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái gồm dãy chuồng chạy dài, được tách ra làm 3 ô chuồng Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống máng uống nước tự động ở mỗi dãy chuồng Mùa

hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại

Trang 14

2.1.3.3.Thuận lợi và khó khăn của trại

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay

- Khó khăn:

+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn

2.2 Đặc điểm của gia cầm

2.2.1 Đặc điểm chung của gia cầm

- Ngoại hình: Là một tính trạng chất lượng của gia cầm Nó đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi

+ Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm

di truyền của giống Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ Trong quá trình phát triển, lông tơ sẽ dần được thay thế bằng bộ lông cố định Tốc độ mọc lông có liên quan chặt chẽ với cường độ sinh trưởng Theo Brandsch và Bichel (1978) [18], những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh Màu sắc lông da là mã hiệu của giống, là một tín hiệu để nhận dạng con giống, là một chỉ tiêu cho chọn lọc Thông thường, màu sắc đồng nhất là giống thuần Màu sắc lông da do một số ít gen kiểm soát, có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc (Đặng Hữu Lanh Và

cs (1999) [17]) Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau Sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogene) trong tế bào lông Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom

Trang 15

(larotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng.

+ Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi là có độ tin cậy cao nhất trong việc

đánh giá đầu của gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra sự kết luận về sự phát triển của mô mỡ và mô liên kết

+ Mỏ: Là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum)

Mỏ phải ngắn và chắc chắn Gà có mỏ dài và mảnh có khả năng sản xuất không cao Màu sắc của mỏ có nhiều loại như: Vàng, đỏ, đen, hồng Màu của

mỏ thường phù hợp với màu của chân Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng Ở gà mái, màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng

+ Chân: Gia cầm có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng

Việt, 1998 [19] Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân

và da Chân thường có vuốt và cựa Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài (Trần Thị Nguyệt Thu, 1999 [20] Gà có chân cao thường cho năng suất thịt thấp và chậm phát dục

+ Mào và tích: Là dẫn xuất của da, là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của

gà Nhờ vậy có thể phân biệt gà trống, gà mái Mào gà rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc; có thể đặc trưng cho từng giống gà Theo Phan Cự Nhân (1971) [21], ở gà trống, sự phát triển của mào, tích phản ánh sự thành thục tính dục sớm hay muộn; ở gà mái, mào và tích phát triển không rõ là dấu hiệu xấu cho khả năng sinh sản của gà

- Hình dáng, kích thước các chiều đo cơ thể:

Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại hình là: Hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng Gà hướng thịt thường có hình dạng cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác

Trang 16

Theo tài liệu của Chambers (1990) [22], thì kích thước các chiều đo có tương quan tới sức sản xuất của gà broiler Tác giả cũng cho biết, độ lớn góc ngực, dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng

cơ thể Siegel và Dunington (1978) [23], cho biết tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối lượng cơ thể khoảng 0,4 - 0,68; trung bình là 0,42

2.2.2 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà

Hình 2.1: Hệ tiêu hoá của gia cầm (Nguồn: caytrongvatnuoi.com [16])

1.Thực quản; 2 Diều; 3 Dạ dày tuyến; 4 Dạ dày cơ; 5 Lá lách; 6 Túi mật;

7 Gan; 8 Các ống mật; 9 Tuyến tụy; 10 Ruột hồi manh tràng; 11 Ruột non;

12 Ruột thừa; 13 Ruột già; 14 Ổ nhớp

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật

có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm (V M Xelianxki, 1986) Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác, do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001 [3])

Trang 17

* Tiêu hóa ở miệng

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm xúc

Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt

là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác dụng tiêu hóa

Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt

*Tiêu hóa ở diều

Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với một phần tinh bột được thủy phân

*Tiêu hóa ở dạ dày

Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: Màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch Màng nhầy rất phát triển Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 – 4,5

Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzim và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric Các

tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên

Trang 18

Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan

Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua)  Thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều) Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dà dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)

Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diềuThời gian thức ăn ở diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút còn khối lượng lớn thì vài giờ

Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30 phút: Gà 11,3 ml còn ở ngỗng là 24 ml ở giờ thứ nhất sau khi ăn dịch vị tiết nhiều hơn

*Tiêu hóa ở ruột

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với

tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )

Trang 19

Dịch tuỵ của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza, invertaza và lipaza

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này

Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo

Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu

Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào

để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn

Trang 20

2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

2.2.3.1 Khái niệm sinh trưởng

Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc trưng cơ bản của sự sống Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng

là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [22], thì tác giả Mozan (1997)

đã đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác Trần Đình Miên (1992) [7], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”

2.2.3.2 Những chỉ tiêu sản xuất của gà thịt

- Tỷ lệ nuôi sống: Là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này không những là thước đo việc thực hiện qui trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn đánh giá sức sống, sức sản xuất và khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm

- Sinh trưởng:

+ Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Cân vào các thời điểm 1 ngày tuổi, cân hàng tuần từ 1 tuần tuổi cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân từng con một Đồ thị sinh trưởng tích lũy

có hình chữ S

Trang 21

+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là hiệu số của khối lượng cơ thể cuối kỳ và khối lượng cơ thể đầu kỳ chia cho thời gian giữa hai kỳ cân Đồ thị sinh tuyệt đối có hình parabol

+ Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước

và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi

- Tiêu thụ thức ăn: Lượng thức ăn thu nhận là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm theo phương thức công nghiệp, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nồng độ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của mỗi loại gia cầm, chất lượng giống, mùa vụ Thông qua chỉ tiêu này, có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của đàn gia cầm, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Dựa vào lượng thức ăn thu nhận và năng suất của mỗi đàn gia cầm, người ta tính được tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm chăn nuôi (FCR) Vì vậy, lượng thức ăn thu nhận có một ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong sản xuất của ngành chăn nuôi gia cầm

- Hệ số chuyển hóa thức ăn: Thức ăn chiếm đến 70% trong tổng giá thành sản phẩm chăn nuôi Chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg thịt là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia cầm lấy thịt Hiện nay ở các nước tiên tiến, người ta thường giết thịt gia cầm ở độ tuổi từ 35 - 60 ngày tuỳ theo các giống khác nhau

- Thành phần và tỷ lệ cấu thành thân thịt gà khi giết mổ:

+ Tỷ lệ thân thịt (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối lượng sống

Trang 22

+ Tỷ lệ thịt lườn: Rạch một lát cắt dọc theo xương lưỡi hái đến xương ngực, cắt tiếp từ xương đòn đến vai Bỏ da ngực, tách cơ ngực nông và cơ ngực sâu bên trái, bỏ xương, cân

+ Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi, thịt ngực với khối lượng thân thịt

+ Tỷ lệ mỡ bụng (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng sống hoặc là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối

lượng thân thịt

- Chỉ số sản xuất (Performance index - PI): Chỉ số sản xuất là một đại lượng biểu thị mối quan hệ tổng hợp giữa khối lượng cơ thể, tỷ lệ nuôi sống, FCR và thời gian nuôi

- Chỉ số sản xuất (Economic number – EN): EN càng cao thể hiện hiệu quả kinh tế càng lớn

2.2.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm

- Ảnh hưởng của dòng giống

Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau

Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [22], thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ

- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể con do yếu tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái

Theo Phùng Đức Tiến (1997) [8], thì Hayers J F (1979) đã xác định biến dị di truyền về tốc độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính Theo Siegel và Dumington (1978) [23], thì những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù

Trang 23

hợp với tăng khối lượng cao Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn gà trống

Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm

có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính (Bichell và Brandsch, 1978) [1]

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống

Theo Chanbers J R (1990) [22], thì tương quan giữa trọng lượng của

gà và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 – 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng lượng

Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm

- Ảnh hưởng của môi trường

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm

Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới (Wesh Bunr K W ET – AT, 1992 [24])

Trang 24

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như:

Độ ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn

2.2.4 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà mía, gà Lương Phượng

2.2.4.1 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà mía

*Nguồn gốc đặc điểm gà Mía

Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) [13] cho biết:

Gà mía có nguồn gốc từ Trùng Thiên, Sơn Tây

Gà trống có màu lông đỏ sẫm xen kẽ lông đen ở đuôi, đùi, lườn, hai hàng lông cánh chính xanh biếc Con cái có màu lông vàng nhạt xem kẽ lông đen ở cánh và đuôi, lông cổ màu nâu

Gà Mía là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to, ngoại hình thô, đi lại chậm

* Đặc điểm gà lai F1 (trống Mía × mái Lương Phượng):

Gà lai F1 giữa trống Mía và mái Lương Phượng là gà giống màu có chất lượng cao, có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta, tốc

độ sinh trưởng và trao đổi chất nhanh, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, hiệu quả kinh tế lớn, thích hợp với phương thức nuôi nhốt, bán chăn thả, chăn thả

Trang 25

2.2.4.2 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng

* Nguồn gốc

Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa Trung Quốc do lai tạo giữa giống gà nội của Trung Quốc với gà nhập nội, được nhập vào nước ta từ sau năm 1997

* Đặc điểm ngoại hình

Gà Lương Phượng có hình dáng bên ngoài gần giống với gà Ri của ta Lông màu vàng tuyền, vàng đen hoặc đốm hoa Sở dĩ gọi là gà Lương Phượng

vì trong đàn có nhiều màu lông khác nhau Mào, yếm, mặt và tích tai màu đỏ

Gà trống mào đơn ngực nở, lưng thẳng lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon

Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ thể 2700 g, gà mái đạt khối lượng 2100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu vào đẻ lúc 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1500 – 1600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 – 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95% Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam Nuôi công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời với quy mô nhỏ, mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con, chăn nuôi theo phương thức quảng canh nên năng suất thấp

Trong những năm gần đây, do áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã phát triển nhanh và đạt được những tiến bộ rõ rệt

Trang 26

Để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng muốn có giống gà có chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc và ngoại hình giống với gà địa phương, các nhà khoa học nước ta đã dày công lai tạo các giống gà lông màu nhập nội với gà địa phương nhằm tạo ra con lai có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng phải đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng

Gần đây có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề

này, một trong những công trình đó là công trình nghiên cứu về: “Đặc điểm

ngoại hình và khả năng sinh trưởng cho thịt của gà lai F1 (Mía x Kabir), nuôi nhốt và nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Văn Đại và cs (2001) [14], sau khi nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra kết luận: Gà lai F1 - MK

có màu lông phong phú, chân, da, mỏ vàng, gà rắn chắc, ham chạy nhảy, đến

12 tuần tuổi khối lượng trung bình là: 1.851,24 g ở phương thức nuôi nhốt

Gà lai có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao nhất ở giai đoạn 8 – 9 tuần tuổi, đạt 33,92 g/con/ngày ở phương thức bán chăn thả và đạt 35,49 g/con/ngày

ở phương thức nuôi nhốt Sinh trưởng tương đối cao nhất ở tuần 0 - 1 đạt 37,35 % ở phương thức nuôi bán chăn thả và 67,02 % ở phương thức nuôi nhốt, thấp nhất là ở 11 - 12 tuần tuổi đạt tương ứng là 6,74 % và 6,41 % Theo Đào Văn Khanh (2000) [15], các giống gà lông màu được nuôi tại Thái Nguyên như: Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng được nuôi ở các địa phương đều thích nghi với điều kiện nuôi chăn thả và có mức nhiễm bệnh thấp, dễ nuôi, giống Kabir có sự sinh trưởng nhanh nhất sau đó đến Lương Phượng, Tam Hoàng, tiêu tốn thức ăn của cả 3 đều thấp, phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nông thôn

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Tình hình ngành sản xuất chăn nuôi gia cầm tăng lên, các nước trên thế giới không ngừng cải tiến con giống cũng như dinh dưỡng để đưa năng suất

Trang 27

chất lượng chăn nuôi gia cầm phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn nhưng khắt khe của thị trường

Với việc đưa các giống gà siêu thịt như: Hybro (Hv 85 – Hà lan), AA (Abor Acres, Mỹ) Avian (Mỹ), Lohman meat (Đức)…các giống hướng trứng như: Goldline 54 (Hà Lan), Leghorn (Italia)…giống gà kiêm dụng: Tam Hoàng, Lương Phượng (Trung Quốc), Sasso (Pháp), Kabir (Israel)…vào nuôi thâm canh đã đưa năng suất chăn nuôi lên rất cao, song các giống gà trên chỉ thích nghi trong một số điều kiện nhất định của môi trường

Sau những thành công về chăn nuôi công nghiệp ở trình độ cao, từ năm

1980 trở lại đây một số nước như: Nhật Bản, Pháp, Israel…có xu hướng thay đổi phương thức chăn nuôi để sản phẩm gia cầm có mùi vị thơm ngon hơn Việc lai tạo các giống gà với nhau cũng được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm giữ lại các đặc điểm quý, cải thiện những tính trạng còn hạn chế và dần hình thành một số giống mới có khả năng sản xuất tốt, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của con người

2.4 Giới thiệu vài nét về gà lai (Mía x Lương Phượng)

Gà Lương Phượng được nhập khẩu vào nước ta qua cửa khẩu quốc tế Quảng Ninh năm 1998 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc đã nhập

1900 con nuôi tại trại nuôi thí nghiệm và được nhân dân ta nuôi ở nhiều nơi Theo tài liệu Trần Thanh Vân và cs (2015) [16], gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt bán công nghiệp hay thả vườn Do có những ưu điểm trên hiện nay gà Lương Phượng đã được nuôi nhiều ở các trang trại và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị và được người chăn nuôi ưa chuộng

Gà Mía có nguồn gốc xuất xứ từ thôn Đường Lâm huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây Tầm vóc tương đối to mào đơn hoặc mào cờ, gà trống có lông màu đen,

Trang 28

gà mái có màu nâu sẫm và có yếm ở lườn ở tuổi trưởng thành con trống có khối lượng 3- 3,4 kg, con mái từ 2 - 2,5kg, khả năng sinh sản thấp gà mái đẻ trứng muộn, sản lượng trứng đạt từ 55 - 60 quả/mái/năm, khối lượng trứng thịt ăn ngon Ở tuổi trưởng thành, con trống nặng 1,8 - 2,5 kg, con mái nặng 1,8 - 2,0 kg

Gà lai (Mía x Lương Phượng) được tạo ra từ công thức lai gà trống Mía lai với gà mái Lương Phượng Gà lai có màu lông đẹp, tỷ lệ nuôi sống từ 1-19 tuần tuổi là 89 - 91 %, khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi đạt 1,9 - 2,2 kg Gà lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 95 - 97%, khối lượng cơ thể 1,7 - 2,0 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 3,2 - 3,3 kg Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 94 - 96%, khối lượng cơ thể 1,8-2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 2,233 – 2,5 kg, chất lượng thịt ngon như gà Ri

2.5 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh

Chỉ dùng thuốc kháng sinh khi gia súc bị bệnh truyền nhiễm hay các tổ chức cơ thể bị nhiễm trùng

- Khi động vật đã có triệu chứng thay đổi rõ ràng

- Các phản ứng bảo vệ của gia súc vô cùng quan trọng Nó không chỉ phòng chống được bệnh mà còn là cơ sở để tìm ra đượccác nguyên nhân gây bệnh Quá trình điều trị bắt buộc phải quan tâm tới cơ chế này

- Bệnh truyền nhiễm thường hay xảy ra dưới dạng kết hợp cùng với sự thay đổi của nhiều yếu tố tác động khác nhau

- Việc quản lý (tổ chức, chănm sóc) và điều trị cho động vật vô cùng quan trọng Trong nhiều trường hợp thời gian điều trị và chế độ chăm sóc lại quan trọng hơn việc lựa chọn thuốc

Các phản ứng phòng vệ của cơ thể

- Tuân theo những cơ chế để bảo vệ, che chở sự toàn vẹn những tế bào,

mô bào và hệ thống cơ quan

Trang 29

+ Hàng rào bảo vệ: Da, niêm mạc, các chất tiết từ niêm mạc, nước mắt,

hệ thống cơ quan, hệ tiết niệu, mí mắt (tuyến lệ)

+ Hệ thống hô hấp: Ho, hắt hơi, dịch tiết trên niêm mạc đường hô hấp, lớp lông nhung bảo vệ trên niêm mạc Đề phòng gia súc thở mạnh, nhanh

+ Phản ứng viêm: Tăng sự chuyển dịch của huyết tương và các tế bào đến vùng có tác nhân gây viêm, tổn thương giúp cơ thể phòng vệ, nhằm khôi phục lại những gì đã bị gây hại Tại nơi mầm bệnh xâm nhập cũng có thể gây thành ổ nhiễm trùng, (áp se)

Mối quan hệ qua lại giữa bệnh truyền nhiễm với các thuốc kháng sinh

a/ Chế độ hộ lý chăm sóc nuôi dưỡng (Reginmen) 3 Quan sát mối liên

hệ giữa chế độ chăm sóc và khả năng phòng vệ của cơ thể theo sơ đồ:

- Hệ thống miễn dịch dịch thể sẽ sản xuất kháng thể di chuyển trong vòng tuần hoàn và đến nơi tác dụng

- Hệ thống miễn dịch tế bào sản sinh hiện tượng interferon Có sự truyền kháng thể từ mẹ sang con, nhất là qua sữa đầu

- Cuối cùng là mối tương quan được khép lại, gia súc có thể sống hay chết tùy theo sức đề kháng

- Sự truyền tải thông tin sinh học bị ngưng lại cộng thêm với việc đào thải các thuốc ngoại lai

- Hệ thống thần kinh, hormon thể dịch: tìm các ngăn chặn các tác nhân

có hại hay lẩn tránh nó Tuyến thượng thận tăng tiết hormon, nó có thể thắng (sống) hay bại (chết) Nếu thắng những triệu chứng thích nghi chung sẽ xuất hiện,làm xuất hiện trạng thái stress tiết hydrocortisone

b/ Các cơ chế phòng vệ, bảo vệ cơ thể

Thuốc kháng sinh

Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng

Dinh dưỡng kém + tác nhân stress

Hàm lượng thuốc kháng sinh tại nơi tác động

Trang 30

Vi khuẩn gây bệnh Tấn công tổ chức tế bào Gây tổn thương tế bào Thay đổi bệnh lý tế bào Virus Tế bào bị tổn thương Giết vi khuẩn Ức chế vi khuẩn Sản phẩm biến đổi của thuốc kháng sinh

(-) Ức chế khả năng phòng vệ 4

- Quan trọng nhất là việc phát hiện động vật ốm vì bệnh truyền nhiễm

để điều trị cùng với các thuốc kháng sinh

- Kháng sinh sẽ có hiệu quả tốt với động vật ốm ở mô bào với nồng độ thấp hơn MIC (nồng độ tối thiểu tác dụng của thuốc) của thuốc trong phòng thí nghiệm

c/ Nếu cơ thể đã đề kháng với thuốc cần thiết phải sử dụng kháng sinh liều cao (không phải là vi khuẩn kháng thuốc) Nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong trị liệu: Kháng sinh có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng trị bệnh cho người và động vật nuôi Hiện tại trong nước đã có tới trên 60 – 70 % tổng giá trị các thuốc đang dùng để phòng trị bệnh cho động vật nuôi là các thuốc hóa học trị liệu, trong đó chủ yếu là các loại kháng sinh Kháng sinh, thuốc trị căn nguyên gây ra bệnh nhiễm trùng nên luôn là loại thuốc được kê đơn hàng đầu quan trọng nhất, không thể thiếu được trong quá trình điều trị bệnh truyền nhiễm do vi trùng hay cơ thể có nguy cơ bị nhiễm trùng: trong phẫu thuật, thiến hoạn gia súc và điều trị các vết thương ngoại sản khoa Hiện nay để khống chế các bệnh nguy hiểm, đặc biệt các bệnh chung giữa người và vật nuôi do vi khuẩn không thể thiếu vai trò của kháng sinh được Các tác nhân gây bệnh cho người và vật nuôi: virus, vi khuẩn, nấm, sinh vật đơn bào ( cocicoid – cầu trùng đường tiêu hóa; protozoa – ký sinh trùng đường máu) hay các loài nội, ngoại ký sinh trùng Các kháng sinh thông dụng chỉ có tác dụng với vi khuẩn mà không có hoặc có ít tác dụng với tác nhân gây bệnh còn lại Trong khi đó mỗi nhóm kháng sinh lại chỉ có tác dụng đặc hiệu với một số loại vi khuẩn gây bệnh nhất định Việc hỏi bệnh, chẩn đoán đúng bệnh tất nhiên sẽ dùng đúng thuốc Nắm vững bốn nguyên tắc cơ bản khi sử dụng kháng sinh sẽ giúp cho các bác sỹ điều trị lâm sàng trong việc lựa chọn và

Trang 31

phối hợpkháng sinh khi kê đơn Đồng thời cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm thuốc

- Chỉ sử dụng kháng sinh khi đã xác định được căn nguyên là vi khuẩn hoặc trong trường hợp có nguy cơ nhiễm khuẩn cao (phẫu thuật)

- Phải biết lựa chọn kháng sinh hợp lý, (đúng chủng loại)

- Phải nắm vững được nguyên tắc khi cần thiết phải sử dụng phối hợp kháng sinh (nắm chắc tác dụng cộng dồn, tác dụnghiệp đồng hoặc tác dụng đối kháng – không bao giờ được sử dụng phối hợp kháng sinh diệt khuẩn với một loại kháng sinh kìm khuẩn)

- Phải sử dụng kháng sinh đúng thời gian, đủ liệu trình Do việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi: làm thuốc tăng trọng, bảo quản thức ăn, phòng ngừa dịch bệnh (liều thấp); hay sử dụng sai nguyên tắc: dùng sai liều, sai 5 phổ, không đủ liệu trình, thường xuyên chỉ dùng một loại thuốc; đặc biệt việc phối hợp kháng sinh sai nguyên tắc … đã tạo ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc, nhất là hiện tượng đa kháng (vi khhuẩn gây bệnh cùng một lúc kháng với nhiều loại kháng sinh) Tác hại của vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng: sẽ tạo ra các dòng vi khuẩn đa kháng thuốc Hiện nay yếu tố kháng thuốc được coi như là độc lực của vi khuẩn gây bệnh Chính nó làm cho quá trình điều trị phức tạp, thậm chí còn làm vô hiệu hóa kháng sinh Vi khuẩn gây bệnh cho đông vật vật sẽ chuyển sang gây bệnh cho người Nếu không có chiến lược sử dụng kháng sinh trước nhất là trong chăn nuôi, thú y sau đó cho người, vi khuẩn kháng thuôc sẽ bất ngơ gây dịch lớn mà chưa có thuốc kháng sinh thay thế để điều trị Để đối phó với hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn, nhiều nhà khoa học và nhà đầu tư đã tốn nhiều công sức và tiền bạc trong việc tìm ra các loại kháng sinh thế hệ mới từ vi snh vật hay các dạng thuốc tổng hợp và dạng bào chế mới

* Nguyên tắc lựa chọn kháng sinh

- Dựa vào kết quả của việc hỏi diễn biến của bệnh, thăm khám, chẩn đoán bệnh để dự đoán thuốc sẽ dùng Sau đó dựa vào các triệu chứng lâm

Trang 32

sàng, dịch tễ học…dự đoán căn nguyên gây bệnh Trên cơ sở đó để chọn thuốc điều trị Đây là phương pháp tối ưu để cho thuốc

- Chọn thuốc dựa trên hoạt phổ kháng sinh đẫ được giới thiệu trong các thuốc hay nhóm thuốc (thường các thuốc đều có bảng phụ lục về phổ kháng sinh)

- Kiểm tra kháng sinh đồ tìm thuốc mẫn cảm với vi khhuẩn gây bệnh Mặc dù vậy, kết quả mẫn cảm trong phòng thí nghiệm đôi khi không đúng như thực tế điều trị bệnh truyền nhiễm Điều này chưa được giải thích rõ do

nó con phụ thuộc vào nhiều yếu tố

- Nhuộm tiêu bản, xem kính hiển vi giúp đỡ thêm cho việc chẩn đoán chính xác

- Chú ý đích của phép điều trị: trong khi chọn thuốc cần chú ý đến đích – nơi vi khuẩn đang cư trú trong cơ thể bệnh súc: máu, tim, gan, …để chon thuốc, chọn đường đưa thuốc thích hợp làm sao cho thuốc kháng sinh nhanh chóng đến được nơi tác dụng (nơi vi khuẩn cư trú) với nồng độ cao nhất và thời gian tồn tại lâu 7 - Sử dụng kháng sinh cho hiệu quả tốt nhất Chọn thuốc đơn trị dựa trên hoạt phổ của nó sẽ cho kết quả mong muốn Trường hợp này

có kết quả rất cao trong điều trị các bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn gây ra

- Chỉ phối hợp kháng sinh trong trường hợp thật cần thiết: chống lại nguy cơ gây vi khuẩn kháng thuốc hoặc gia súc bị bệnh ghép

* Kết quả của phối hợp kháng sinh

Mỗi loại kháng sinh, ngoài tác dụng chính còn ít nhiều tác dụng phụ không mong muốn Khi phối hợp chúng lại, những tác dụng phụ này cũng sẽ cộng lại hay tăng thêm Dùng liều lượng sai cũng sẽ có thể dẫn đến nguy cơ xuất hiện vi khuẩn kháng đa thuốc Sự phối hợp kháng sinh sẽ dẫn đến các kiểu tác dụng: đối kháng, hiệp đồng cộng và hiệp đồng tăng mức

- Tác dụng đối kháng: Các thuốc phối hợp ngược nhau về cơ chế tác dụng như: dùng Tetraxycllin cùng với Penicillin sẽ dẫn tới đối khngs vì:

Trang 33

Penicillin tác dụng lên tế bào vi khuẩn đang nhân lên trong khi đó Tetraxycllin lại ức chế sự phát triển của vi khuẩn Phối hợp kháng sinh có cùng đích tác dụng, vì chúng sẽ đẩy nhau ra khỏi đích như: Erythromycin với Lincomycin (hay Clindamycin) và Chloamphenicol Dùng thuốc kháng sinh

có tính chất tương kỵ nhau như: khi truyền vào tĩnh mạch chữa các bệnh nhiễm khuẩn do ghép nhiều vi khuẩn, nếu trộn lẫn Penicillin với Gentamycin thì hiệu quả điều trị sẽ giảm đi do các thuốc này có tính tươg kỵ, Penicillin làm mất hoạt tính của Gentamycin

- Tác dụng hiệp đồng: Các thuốc có tác dụng ức chế những khâu khác nhau trong cùng một chu trình chuyển hóa của căn nguyên gây bệnh (vi khuẩn hay protozoa – ký sinh trùng đường máu), với vi khuẩn như: sự phối hợp của Sulfamethoxazole và Trimethoprim (co – trimoxazole) Thuốc này có tác dụng vào hai khâu khác nhau trong quá trình tạo acid tetrahydrofolic cần cho

sự sinh sản và nhân lên cảu vi khuẩn Sự phối hợp này làm tăng hiệu quả chữa bệnh rõ rệt Với protozoa có Sulfadoxine (fanasil) với Pyrimethamine (daraprin) để tạo fasidar có hoạt tính chống ký sinh trùng sốt rét cao Phối hợp một thuốc có tác dụng ức chế men ß – lactamase, giúp cho vòng ß – lactam của thuốc không bị phân hủy sẽ phát huy tác dụng mạnh Phối hợp Amoxicilin cới axit Clavulanic (augmentin), hay dùng Ampicilin cùng Sulbactam (unasyn) Các thuốc Clavulanic và Sublactam khi dùng đơn độc ít

có tác dụng kháng sinh, vì nó chỉ ức chế sự sản sinh ra men ß – lactamase do các plasmid của tụ cầu và nhiều vi khuẩn đường ruột khác sinh ra Phối hợp kháng sinh cùng ức chế sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: sự tạo vách tế bào

vi khuẩn gồm nhiều khâu và rất nhiều phản ứng Khi phối hợp, mỗi thuốc sẽ

có tác dụng vào một khâu hay một phản ứng nhất định, nên khi dùng chung sẽ

có tác dụng hiệp đồng như: dùng Ampicillin với Oxacillin hay Cloxacillin; Ampicillin với Tircarcillin; Ampicillin với Mecillinam Phối hợp kháng sinh

có tác dụng lên vách tế bào, tạo điều kiện cho nhóm kháng sinh Aminoglucozid thấm nhanh, thấm sâu vào nguyên sinh chất tế bào vi khuẩn

Trang 34

Dùng chung kháng sinh Penicillin với các nhóm kháng sinh thuộc nhóm Aminoglucozid (AG): Streptomycin hay Gentamycin để chống các liên cầu mẫn cảm với Penicillin; Oxacillin với Gentamycin hay Tobramycin để chống

tụ cầu kháng Methicillin; Cephalothin với Gentamycin chống Klebsialla

- Tác dụng cộng Khi phối hợp hai hay nhiều thuốc trong một hỗn hợp, dẫn đến quá trình chuyển hóa tế bào, tác dụng cộng đơn giản do tăng liều Hỗn hợp này rất có lợi khi mà tăng liều của một tác nhân nào đó lại có tác dụng phụ Phối hợp này sẽ mở rộng phổ kháng sinh

- Tác dụng độc lập: Sản phẩm được tạo ra khi tác dụng của thuốc có hiệu lực ngang bằng với tác dụng của một thuốc Về cơ bản một kháng sinh

đã không được tác dụng

2.6 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin

- Nguyên tắc sử dụng vắc xin

+ Đối tượng sử dụng vắc xin:

Dùng vắc xin chủ yếu là phòng bệnh Sau khi dùng vắc xin một thời gian nhất định động vật mới có miễn dịch Cần chú ý các trường hợp sau Ở nơi có ổ dịch cũ, do nhiều bệnh truyền nhiễm phát sinh theo mùa nên hàng năm cần phải tiêm phòng cho đàn gia cầm trước mùa phát bệnh Ở nơi bệnh đang phát thì đối với động vật đã mắc bệnh cấm không được sử dụng vắc xin ngay mà phải dùng kháng huyết thanh hoặc kháng sinh thích hợp điều trị Đối với động vật còn khỏe nhưng dễ bị lây nhiễm (do tiếp xúc với con bệnh) có thể tiêm kháng huyết thanh cùng một lúc với vacxin (nhưng ở vị trí khác nhau trên cơ thể) Đối với động vật khỏe mạnh hoặc ở động vật khu vực xung quanh ổ dịch thì tiêm ngay vắc cxin để tạo vành đai miễn dịch Đối với động vật khác loài nhưng có cảm thụ với bệnh cũng có thể cần tiêm vắc xin phòng bệnh đó

Động vật được tiêm nói chung phải khỏe mạnh Không tiêm vắc xin cho những con đang nung bệnh, những con quá gầy yếu, quá non, con mẹ mới

Trang 35

đẻ, những con mới thiến chưa lành vết thiến, những con có nhiều ký sinh trùng Cũng không nên tiêm vắc xin virut nhược độc cho động vật cái đang có chửa ở thời kỳ thai sớm (1/3 kỳ thai đầu tiên) Súc vật sau khi tiêm cần được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt

Phải phòng liên tục (nhắc lại) do sau một thời gian kháng thể được tạo

ra bởi sự cảm ứng của vắc xin thường suy giảm đến mức hết hiệu lực và phải tiêm đạt tỷ lệ cao cho động vật thuộc diện phải tạo miễn dịch tập đoàn bền vững Liều lượng phải đúng theo sự chỉ dẫn của nơi chế tạo

Đường đưa vắc xin:

vắc xin thường được tiêm dưới da, nhỏ mắt hoăc cho uống Có loại phải tiêm đúng dưới da để tránh phản ứng (vắc xin nhược độc nhiệt thán) Các vắc xin nhược độc (dịch tả trâu bò, dịch tả lợn qua thỏ) tiêm liều lượng nhỏ thì có thể tiêm dưới da hoặc bắp thịt Một số vắc xin có thể dùng cho uống, nhỏ mắt, nhỏ mũi, chủng vào dưới da, xát vào da, bơm vào không khí cho gia cầm hít (khí dung) Không tiêm vacxin vào mạch máu

Bảo quản vắc xin:

vắc xin phải được bảo quản tốt, ở trạng thái chuẩn bị tiêm cần để ở chỗ tối, râm mát, nhiệt độ bảo quản thích hợp (20 - 25 °C) vắc xin nhược độc chế

từ virut trong quá trình tích trữ và vận chuyển phải bảo quản ở nhiệt độ thấp

(-15 °C), nhưng nếu ở trạng thái đông khô thì chỉ được bảo quản lạnh (2 - 8

°C) Trước khi dùng phải kiểm tra phẩm chất thuốc, phải hủy bỏ vắc xin quá hạn dùng, vắc xin mất phẩm chất Khi dùng các loại vắc xin nhược độc, nhất

là các loại có nha bào tránh làm vương vãi vắc xin

- Phản ứng sau khi tiêm vắc xin

Súc vật có thể bị phản ứng do chất phụ trong vắc xin do tiêm vào cơ thể đang nung bệnh, tiêm sâu vào bắp thịt Tiêm vắc xin còn có thể làm tái phát các quá trình bệnh lý sẵn có trong cơ thể (bệnh lao), do làm những mầm bệnh

Trang 36

có sẵn trong cơ thể trỗi dậy gây bệnh (tụ huyết trùng) gây ra những bệnh theo

cơ chế dị ứng (viêm thận, viêm não) Tính phản ứng của động vật quá mạnh cũng gây nên phản ứng khi tiêm Cần biết rõ nguyên nhân gây phản ứng để đề phòng hoặc can thiệp khi xảy ra

Kế hoạch tiêm phòng phải định rõ:

- Các bệnh cần tiêm phòng: Phải dựa vào kế hoạch của Nhà nước kết hợp với tình hình dịch bệnh của địa phương và các vùng lân cận mà quyết định các bệnh cần tiêm phòng

- Các vùng cần tiêm phòng: Phải dựa vào đặc điểm địa phương kết hợp với tính chất của bệnh mà quyết định vùng tiêm phòng cụ thể cho từng loại bệnh Nói chung, cần phải tiêm ở những vùng có ổ dịch cũ, những vùng hàng năm bị dịch đe dọa, những vùng ở hai bên đường giao thông trọng yếu, quanh các chợ, các xí nghiệp chế biến thú sản, vùng biên giới Các trại chăn nuôi tập trung phải được tiêm phòng triệt để

- Tỷ lệ tiêm phòng: Tùy theo tính chất của từng bệnh, mức độ uy hiếp của bệnh đó, tùy theo vùng, tùy loại động vật nuôi, tùy theo phương hướng và nhiệm vụ phát triển loại động vật nuôi mà quyết định cụ thể tỷ lệ tiêm phòng Nói chung phải đạt tỷ lệ thấp nhất là 80% Ở các vùng bị dịch uy hiếp phải đạt

tỷ lệ từ 90 - 95%

- Lịch tiêm phòng: Lịch tiêm phòng được xây dựng dựa vào mùa phát bệnh của từng bệnh (tiêm phòng nhiệt thán trước mùa mưa ở vùng đồng bằng

và trước mùa hanh khô ở miền núi) và thời gian cho miễn dịch của vắc xin (ví

dụ, vắc xin dịch tả lợn cho miễn dịch một năm, nên chỉ cần tiêm mỗi năm một lần nhưng phải tiêm thường xuyên, tiêm bổ sung cho những đầu gia súc mới sinh) Có khi phải dựa vào tính chất của vắc xin nếu vắc xin đòi hỏi phải dùng vào thời tiết thích hợp

Trang 37

Nói chung đối với động vật nông nghiệp, nên tiêm phòng trước mùa phát bệnh độ một tháng, tránh lúc gia súc phải làm việc mệt nhọc hoặc thiếu thức ăn Ngoài đợt tiêm chính, trong năm cần có những đợt tiêm bổ sung

- Kế hoạch về nguyên liệu, dụng cụ phương tiện dùng cho tiêm phòng: Căn cứ vào số đợt tiêm phòng, diện tiêm, số lượng động vật, loại bệnh tiêm

mà dự trù số lượng vacxin hay kháng huyết thanh, hóa chất, dụng cụ,

Ngày đăng: 20/09/2018, 08:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm